Nghiên cứu toàn diện, khoa học về ảnh hưởng của việc duy trì và phát bền vững vườn quốc gia Tam Đảo đến phương thức kiếm sống của người dân khu vực vùng đệm thuộc Huyện Sơn Dươn
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN THỊ GẤM
THÁI NGUYÊN, 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững Vườn
quốc gia Tam Đảo đến sinh kế của người dân vùng đệm khu vực huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang'' được thực hiện từ tháng 6/2007 đến tháng
8/2009 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , đa số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương , số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên các ph ần mềm thống kê SPSS 15
Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này là hoàn toàn trung thực v à chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào tại Việt Nam
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bách
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, QHQT, Khoa Sau Đại học cùng các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Gấm đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang, Trạm Khuyến nông, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Thống kê, Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ, nhân dân các xã Ninh Lai và Thiện Kế đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bách
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
7 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, SINH KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 5
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 14
1.2 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá 27
1.2.1.Các vấn đề mà đề tài cần nghiên cứu 27
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
1.2.3 Một số công cụ sử dụng trong nghiên cứu 31
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá 32
Chương 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỰ ÁN TẠI VÙNG ĐỆM VQG TAM ĐẢO KHU VỰC HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG 35
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của huyện Sơn Dương 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế 38
2.2 Thực trạng triển khai dự án tại địa bàn nghiên cứu 38
2.2.1 Các hoạt động hỗ trợ của dự án phát triển các làng nghề 38
2.2.2 Thông tin về các hộ điều tra 41
2.2.3 Nghề nghiệp của chủ hộ 45
2.2.4 Đánh giá về điều kiện kinh tế 46
2.2.5 Đánh giá về điều kiện nhà ở 47
2.2.6 Nguồn nước sinh hoạt 48
2.2.7 Diện tích bình quân đất đai của hai nhóm hộ 49
2.3 So sánh sự thay đổi về cơ cấu kinh tế giữa hai nhóm hộ 50
2.3.1 Thu nhập bình quân năm 2008 của hai nhóm hộ 50
2.3.2 Thu từ nhóm cây hàng năm 52
2.3.3.Thu nhập từ ngành chăn nuôi 55
2.3.4 Thu nhập từ rừng 57
2.3.5 Thu nhập từ ngành nghề 58
2.3.6 Cơ cấu các nguồn thu nhập của hộ 59
2.3.7 Tỷ lệ số hộ tham gia và thu nhập của hai nhóm hộ 61
2.4 Sử dụng tài nguyên và nhận thức của các hộ về bảo vệ tài nguyên 64
2.4.1 Các hoạt động khai thác rừng thường xuyên của hai nhóm hộ 64
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.2 Thông tin và truyền thông 66
2.4.3 Ý thức bảo vệ môi trường 67
2.5 Đánh giá tác động của dự án GTZ đến sinh kế của người dân vùng đệm tại địa bàn nghiên cứu 68
2.5.1 Đánh giá sự thay đổi về thu nhập của hai nhóm hộ 68
2.5.2 Đánh giá sự thay đổi về cuộc sống của hai nhóm hộ 70
2.5.3 Thay đổi nhận thức về tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường 71
2.5.4 Sự khác biệt và hướng chuyển dịch sinh kế của hai nhóm hộ 75
2.6 Đánh giá tác động và sinh kế 78
2.6.1 Phương pháp luận đánh giá tác động và sinh kế 78
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động và sinh kế 80
2.7 Đánh giá rủi ro 86
2.8 Đánh giá chung 86
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC NGUỒN LỰC 87
3.1 Phương hướng xây dựng giải pháp 87
3.1.1 phương hướng phát triển 87
3.1.2 Thực tế tại khu vực vùng đệm 88
3.1.3 Mục tiêu 89
3.2 Các giải pháp cụ thể 90
3.2.1 Các nguyên tắc cần chú ý khi xây dựng giải pháp 90
3.2.2 Các giải pháp về phía nhà nước 92
3.2.3 Các giải pháp về phía địa phương 93
3.2.4 Các giải pháp cho người dân 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thông tin chung về chủ hộ 42
Bảng 2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 44
Bảng 2.3 Diện tích đất bình quân của hai nhóm hộ 49
Bảng 2.4 Thu nhập trung bình năm 2008 của hai nhóm hộ 51
Bảng 2.5 Thu nhập bình quân từ nhóm cây hàng năm 52
Bảng 2.6 Thu từ chăn nuôi của hai nhóm hộ 55
Bảng 2.7 Thu nhập từ rừng của hai nhóm hộ 57
Bảng 2.8 Thu từ các hoạt động ngành nghề 58
Bảng 2.9 Sử dụng tài nguyên rừng phân theo nhóm hộ 64
Bảng 2.10 Các phương tiện truyền tải thông tin 66
Bảng 2.11 Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm 67
Bảng 2.12 Sự thay đổi thu nhập của hộ theo đánh giá của người dân 69
Bảng 2.13 Sự thay đổi cuộc sống theo đánh giá của người dân 70
Bảng 2.14 Kết quả điều tra 5 nguồn vốn của hai nhóm hộ 82
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1 Nghề nghiệp của chủ hộ trong mẫu điều tra 45
Biểu 2.2 Điều kiện kinh tế của chủ hộ trong mẫu điều tra 46
Biểu 2.3 Điều kiện nhà ở của chủ hộ 47
Biểu 2.4 Nguồn nước sinh hoạt của chủ hộ 48
Biểu 2.5: Các nguồn thu hàng năm của hai nhóm hộ 59
Biểu 2.6 Sự tham gia và các nguồn thu trung bình năm 2008 61
Biểu 2.7 Đánh giá mức độ quan trọng của rừng đối với cuộc sống 72
Biểu 2.8 Đánh giá của người dân về sự thay đổi môi trường 74
Biểu 2.9 Sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa hai nhóm hộ 76
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Tài sản của người dân 78
Sơ đồ 2.2 Đánh giá tác động các nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu 83
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong phát triển kinh tế - xã hội, môi trường là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Cùng với sự phát triển của lịch sử, con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của môi trường đối với tồn tại xã hội Nhà nước Việt Nam đang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội luôn ở từng giai đoạn đã có chính sách, kế hoạch bảo vệ tài nguyên, môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững
Trong chương trình nghị sự 21 của Chính phủ ngày 17 tháng 8 năm
2004 đã đưa ra quan điểm định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt
Nam "Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái” Phát triển bền vững đã được đề cập tới như một yêu
cầu cấp thiết trong hoạch định tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới của đất nước (2001-2010) quan
điểm phát triển đầu tiên được Đảng xác định là: "Tăng cường công tác bảo vệ
môi trường trong thờì kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước" Cũng là
yêu cầu cấp bách, các ngành, các địa phương cần nắm vững quan điểm về phát triển bền vững, chỉ có như vậy, trong việc hoạch định chính sách, tổ chức các hoạt động thực tiễn ở cơ quan đơn vị mới đảm bảo sự phát triển bền vững
Ở Việt Nam, Chính phủ và người dân cùng đã nhận thức được tầm quan trọng phải bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài về kinh nghiệm, phương pháp kỹ thuật vốn Chính phủ Việt Nam và các ban ngành có liên quan đã triển khai các dự án tại khu vực vùng đệm nhằm duy trì và bảo tồn thiên nhiên, cải thiện môi trường sống, nâng cao nhận thức và mức sống của người dân trong khu vực vùng đệm nhằm duy trì và bảo vệ các khu vực bảo tồn
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thiên nhiên Việc xem xét và đánh giá tác động của dự án thuộc tổ chức GTZ (German Agency for Technical Cooperation or Deutsche Gesellschaft für Technische Zummenarbeit) đang triển khai tại khu vực vùng đệm thuộc khu vực vườn quốc gia Tam Đảo tới đời sống văn hoá, chính trị, xã hội của người dân là hết sức cấp bách và cần thiết Với mục đích duy trì và phát triển bền vững vườn quốc gia Tam Đảo nên việc xem xét đến hiệu quả của dự án GTZ triển khai tại khu vực vùng đệm là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc, vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tác động của dự
án duy trì và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Tam Đảo đến sinh kế của người dân vùng đệm khu vực Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang''
Nghiên cứu toàn diện, khoa học về ảnh hưởng của việc duy trì và phát bền vững vườn quốc gia Tam Đảo đến phương thức kiếm sống của người dân khu vực vùng đệm thuộc Huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang nhằm góp phần thực hiện hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển bền vững của dự án GTZ đối với khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo nói chung và khu vực Huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang nói riêng
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tìm hiểu và đánh giá sự ảnh hưởng của dự án duy trì và phát triển của dự án đến đời sống kinh tế của người dân khu vực vùng đệm Huyện Sơn Dương
- Tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất những giải pháp nhằm duy trì và phát triển bền vững nguồn lực (nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực tài chính, ) tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo thuộc Huyện Sơn Dương nói riêng và các khu vực vùng đệm khác nói chung
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu một số các đối tượng sau đây:
- Các hộ nông dân trong khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang
- Môi trường tự nhiên và xã hội thuộc khu vực vùng đệm
- Các nguồn lực tại khu vực vùng đệm của dự án
4 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của việc duy trì và phát triển bền vững Vườn quốc gia Tam Đảo đến phương thức kiếm sống của người dân khu vực vùng đệm thuộc Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang thông qua các tiêu chí sau giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án:
- So sánh thu nhập bình quân giữa hai nhóm hộ
- Cơ cấu thu nhập trong đó phân tích thu nhập từ việc khai thác các tài nguyên từ rừng giữa hai nhóm hộ
- Ý thức bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường
- Khả năng tạo công ăn việc làm khi người dân bị cấm vào khai thác các tài nguyên rừng
- Sự khác biệt về kỹ năng, kiến thức trong sản xuất nông, lâm nghiệp cho người dân tham gia dự án hay không?
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả hoạt động của dự án tại vùng đệm Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang, xem xét việc duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất của các hộ gia đình, nguồn lực tài chính trên địa bàn nghiên cứu Từ việc nghiên cứu đó đề xuất các giải pháp để duy trì và phát triển các nguồn lực nói trên cho các cấp lãnh đạo địa phương nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội cho người dân vùng đệm, từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào việc khai thác các tài nguyên rừng trong sinh
kế của người dân vùng đệm Lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, trồng rừng và bảo vệ rừng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng triển khai dự án GTZ tại khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực tại vùng đệm
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG, SINH KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Vấn đề phát triển bền vững được nhận thức cùng với sự phát triển kinh
tế - xã hội và con người Năm 1972 tại Hội nghị Xtốckhôm - Thụy Điển khái niệm về phát triển bền vững đã được đề cập đến Đến năm 1992, với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng các tổ chức phi chính phủ một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững đã được ban hành - Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Tại hội nghị này, Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển đã thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung hiệp định về sự biến đổi khí hậu, quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi đã đánh giá 10 năm thực hiện Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 Đồng thời đưa ra những mục tiêu trước mắt về phát triển biền vững Những mục tiêu đó là xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới vấn đề toàn cầu hóa và tác động của nó đối với sức khỏe và phát triển Các quốc gia tham gia hội nghị đã cam kết xây dựng chiến lược về phát triển bền vững ở mỗi quốc gia trước năm 2005
Tại hội nghị này, Việt Nam đã cam kết và bắt tay vào hành động với
Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005
nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21
Khái niệm phát triển bền vững là một khái niệm mới Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận, định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững nhưng vẫn chưa có một khái niệm nào được sử dụng một cách thống nhất Chúng tôi xin nêu ra một số khái niệm về phát triển bền vững của Khoa học môi trường và phát triển bền vững:
Theo Ủy ban Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững
Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission
Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát
triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Theo GS.Grima Lino: “Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi
mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai” [2]
Cả hai khái niệm này phản ánh mối quan hệ giữa các nhu cầu của con người với những giới hạn về khả năng của môi trường trong việc đáp ứng nhu cầu của con người ở hiện tại và tương lai
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng đưa ra quan niệm về phát triển bền
vững “Phát triển bền vững là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng
hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm tổn hại cho thế hệ mai sau” [3]
- Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái môi trường trong tương lai và làm giảm sự đói nghèo
- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế - xã hội
Như vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu của con người với khả năng đáp ứng của thiên nhiên trong hiện tại và tương lai chính là giải quyết các mâu thuẫn giữa sản xuất với nhu cầu, tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến cho sản xuất
Mặt khác, các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến hiện tượng
có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước công nghiệp chậm phát triển Do vậy, khi xem xét nghiên cứu về phát triển bền vững cần phải quan tâm tới cả vấn đề con người, kinh tế, môi trường và công nghệ Qua đó phân tích sự phát triển bền vững có đạt các mục tiêu phát triển bền vững đặt ra hay không
Trên lĩnh vực kinh tế, ngoài mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ
em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội
Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững trước hết cần nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, đến lượt nó - người dân sẽ
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trên lĩnh vực môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước, không khí và lương thực
Về công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất
Phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển cùng một lúc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá - môi trường Mỗi mục tiêu phát triển
có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người
1.1.1.2 Xu hướng phát triển bền vững
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào
khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù đề cập muộn, nhưng vấn
đề phát triển bền vững được các nhà khoa học Việt Nam đặc biệt quan tâm
Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường
bền vững” (1995) của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Tổng
hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững
về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí
phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện
Môi trường và Phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, Đức, Pháp các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường, đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam [4]
"Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000)” do Lưu Đức Hải
và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá, đã tổng hợp từ nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình
3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh
tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của ngân hàng thế giới (World Bank) [3]
Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với
các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp
(1997)” của Phạm Xuân Nam Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tiêu thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh
tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là dự báo quốc tế về phát triển [5]
1.1.1.3 Khái niệm về sinh kế
Khái niệm sinh kế được hiểu theo nhiều cách khác nhau Sinh kế có thể hiểu là bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá ) và các hoạt động cần có để kiếm sống Hay nói cách khác, sinh kế là chỉ hoạt động có mục đích của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần trong một điều kiện cụ thể về tiềm năng và tài sản Như vậy, sinh kế của một cá nhân hay cộng đồng người đều có tác động gián tiếp hoặc trực tiếp đến hoạt động của con người mà kết quả của nó là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên [1]
- Một sinh kế bao gồm những tài sản (điều kiện tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến những tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế, chính sách và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)
- Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển
đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện
- Một sinh kế gồm có: Những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Phỏng theo Chambers, R And G Conway (1992) Sustainable rural livelihoods: Practical concepts for the 21 st century IDS Discussion Paper 296 Brighton: IDS
Từ cách tiếp cận như vậy, chúng ta có thể hiểu sinh kế bền vững là một sinh kế khi một mặt nó phát huy được tiềm năng của con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Mặt khác, lại có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững trong thực tiễn không khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai mà ngược lại thì nó thúc đẩy sự hoà hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai
Theo R Chamber (1989); T Reardon, and J.E Taylor, (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi đó không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên
Như vậy, sinh kế bền vững phải hội tụ đủ những nguyến tắc lấy con người làm trung tâm; dễ tiếp cận; có sự tham gia của người dân; xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động [1]
1.1.1.4 Khái niệm về vùng đệm
Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ:
"Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với UBND các cấp và các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm - nông - ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân” [6]
Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trường quốc doanh tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên nên được đưa vào trong vùng đệm vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn Trong những trường hợp như thế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn
Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo một khuôn khổ thống nhất Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xẩy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã buộc các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư ở đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
quyết những mâu thuẫn xẩy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v.v Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua được Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản
lý vùng đệm
Để giải quyết những vấn đề đặt ra liên quan đến vùng đệm, chúng ta đã
tổ chức 3 hội thảo về vùng đệm Tại Hội thảo “Phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm VQG Cúc Phương” tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đưa
ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm" [7]
Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm [7]
Định nghĩa trên đã nói rõ chức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn
Vùng đệm của vườn quốc gia Tam Đảo được xác định nằm trên địa bàn của 27 xã và thị trấn thuộc 6 huyện và 3 tỉnh, cụ thể là:
- Tỉnh Tuyên Quang: Bao gồm các xã Ninh Lai, Thiện Kế, Hợp Hoà, Kháng Nhật, và Hợp Thành thuộc huyện Sơn Dương
- Tỉnh Vĩnh Phúc: Bao gồm các xã Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang, Đại Đình, Tam Quan thuộc huyện Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo; xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên; và xã Ngọc Thanh thuộc huyện Mê Linh
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tỉnh Thái Nguyên: Bao gồm các xã Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên, Hoàng Nông, Phú Xuyên, La Bằng, Mỹ Yên, Khôi Kỳ, Yên Lãng
và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ; xã Phúc Thuận và Thành Công thuộc huyện Phổ Yên
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.2.1 Thông tin chung về tổ chức GTZ
Tổ chức German Agency for Technical Cooperation or Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit (GTZ) là một tổ chức thuộc chính phủ Đức hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế Chức năng, nhiệm vụ của GTZ là chuyển giao khoa học, công nghệ góp phần tác động tích cực vào sự phát triển về kinh tế, sinh thái và xã hội đối với các nước đối tác; góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân ở 130 nước đối tác Trong đó, chủ yếu góp phần duy trì sự phát triển bền vững, đảm bảo sự phát triển kinh tế
- xã hội gắn liền với bảo tồn và phát triển môi trường tự nhiên [17]
Hoạt động của tổ chức GTZ được bảo hộ bởi các cơ quan chính phủ của Đức, như Bộ hợp tác Kinh tế phát triển Đức (BMZ); chính phủ các nước hợp tác và Ủy ban Châu Âu (European Commission), tổ chức Liên Hợp Quốc (United Nations) và Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng như các tổ chức
cá nhân khác
GTZ đã có mặt ở Việt Nam vào năm 1993 và hiện đang hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc triển khai hơn 20 chương trình dự án trong nhiều lĩnh vực khác nhau tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước Hiện tại, hoạt động hợp tác kỹ thuật của GTZ tại Việt Nam tập chung vào ba lĩnh vực chính: Phát triển kinh tế bền vững, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Chăm sóc sức khoẻ và lĩnh vực đan xen giảm nghèo
1.1.2.2 Một số hoạt động của tổ chức GTZ trên thế giới
Tại Indonesia: Dự án cung cấp nước sạch cho nông thôn tại Nusa Tenggara
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Timur and Nusa Tenggara Barat Dự án thực hiện từ tháng 7/2002 đến tháng 12/2008 [22]
Nội dung của dự án:
Rất nhiều các khu vực nông thôn của các tỉnh miền Đông và miền Tây của tỉnh Nusa Tenggara Timur và Nusa Tenggara Barat của Indonesia chưa được cung cấp nước sạch Hiện tượng thiếu nước trầm trọng trong 8 tháng mùa khô thường xuyên sảy ra, gần như không có quá trình xử lý nước thải và điều kiện vệ sinh yếu kém đã làm tăng nhanh số người bị mắc bệnh tật, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu vực
Mục tiêu của dự án:
Người dân địa phương tổ chức tự cung cấp hệ thống nước sạch độc lập dựa trên cơ sở có thể thực hiện được Chính quyền địa phương thực hiện theo sự thành công về tổ chức và quản lý theo chiến lược, kế hoạch và phổ biến cách làm của họ cho những địa phương khác
Thực hiện: Dự án được tài trợ bởi ngân hàng phát triển KfW KfW có
trách nhiệm xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch trong khi đó GTZ liên kết với các thành viên địa phương trở thành người đứng ra quản lý, xác nhận sự cải thiện về hệ thống cung cấp nước tại địa phương Huấn luyện cách đo lường và cung cấp thông tin về cung cấp nước tại địa phương là cơ sở cho họ quản lý hệ thống cung cấp nước cả trên phương diện khoa học và tài chính và thực hiện nó một cách độc lập Trong trường hợp này, họ trở nên tốt hơn khi nắm được tình hình về thực tế cải thiện vệ sinh và sự bảo tồn các tài nguyên Dự án cũng chuẩn bị cho lãnh đạo địa phương đối với luật để quản lý việc cung cấp nước một cách chính xác và phương pháp để bảo tồn tài nguyên
Kết quả đạt được:
Đến tháng 10/2005, trên mỗi huyện đã có 10 đơn vị quản lý và 40 tổ chức sử dụng nước tuân thủ theo luật của từng cấp tại địa phương Đơn giản
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
việc cung cấp nước chính xác theo kế hoạch và được xây dựng với sự tham gia của người dân Người sử dụng nước máy có thể quản lý tài chính và chi phí độc lập Trung bình mỗi ngày lượng nước cung cấp tăng tới 40 lít/người/ngày Người dân tham gia cho biết tốt hơn về tầm quan trọng của việc vệ sinh cá nhân khi dùng nước Những người trong nhóm sử dụng nước thường xuyên thảo luận về bảo tồn tài nguyên trong các cuộc họp và thực thi giảm ô nhiễm đến nguồn tài nguyên nước
Tại Thái Lan:
Dự án GTZ tập trung Quản lý hệ thống thông tin để hạn chế ô nhiễm Công nghiệp Dự án thực hiện từ tháng 6/2005 đến tháng 5/2007
Nội dung:
Các cơ quan của chính phủ thiếu những thông tin chính xác về ảnh hưởng đối với môi trường bởi quá trình công nghiệp hoá và đó chính là cơ hội lớn để cải thiện trong năng lực quản lý khí thải công nghiệp
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
các nhà máy Gần đây, các dữ liệu này được báo cáo và xử lý theo định dạng tương tự (trên giấy) Kết quả là việc giới thiệu Hệ thống thông tin môi trường (MIS) ban đầu lại tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của các cải cách có liên quan và của các quy trình xét duyệt Hơn thế nữa việc này còn giúp cho Cục công nghiệp có thể kiểm tra độ tin cậy của các dữ liệu được báo cáo một cách liên tục và kiểm soát, phân tích sự phát triển của các vấn đề môi trường công nghiệp theo từng lĩnh vực và khu vực Các dữ liệu về ô nhiễm công nghiệp sẽ cung cấp một cách cơ bản cần thiết cho việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp Theo quan điểm của lĩnh vực công nghiệp, hệ thống sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng cung cấp từ Cục công nghiệp
Nhiệm vụ thứ hai tập trung vào việc thực hiện về hệ thống thông tin môi trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã lựa chọn Đối với tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan, hệ thống thông tin môi trường là một công cụ hoàn toàn mới Có rất ít công ty có kinh nghiệm về hệ thống thông tin môi trường Hệ thống của hộ tập trung chính vào các vấn đề về tài chính, như là sự chiếm lĩnh về nguồn vật chất
Nhiệm vụ chính thứ ba: Các hệ thống của nước này tập trung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến kế toán, như việc mua các vật liệu thô và buôn bán Hệ thống quản lý thông tin được dự án phát triển và thúc đẩy sẽ chú trọng vào phân tích dòng nguyên liệu và cung cấp những thông tin có giá trị cho những nhà hoạch định, nhằm cải thiện tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh của các công ty Yếu tố sau sẽ là mấu chốt để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai và sử dụng hiệu quả những hệ thống như vậy Mặc dù ban đầu chỉ có vài công ty trong các phân ngành được lựa chọn sẽ giới thiệu MIS, nhưng các công ty khác chắc chắn sẽ theo sau Nhiệm vụ chính thứ ba nêu lên thực tại rằng cho đến nay, hầu như không có dịch vụ tư vấn sở tại liên quan đến MIS nào cho các SME Thái Lan Những dịch vụ này
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sẽ rất quan trọng nhằm đảm bảo tính bền vững của kết quả thứ 2, vì các SME
sẽ cần nhiều hỗ trợ hơn trong việc triển khai và sử dụng đầy đủ những hệ thống này Do vậy, dự án sẽ triển khai một chương trình đào tạo và đánh giá cho những tư vấn viên địa phương và khuyến khích họ hỗ trợ quá trình triển khai MIS trong 2 phần ngành được lựa chọn Có thể giả định rằng các tư vấn viên địa phương sẽ muốn tham gia Hơn nữa, các tư vấn viên sẽ muốn mở rộng dịch vụ của họ tới các ngành công nghiệp khác[23]
Tại Trung Quốc:
Nội dung:
Trong những năm qua Chính phủ Trung Quốc đã giành nhiều công sức nhằm cải thiện an toàn thực phẩm Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, những vấn đề rất nghiêm trọng vẫn còn có nhiều tồn tại trong ngành nông nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản, đặc biệt là về lĩnh vực sản xuất thức ăn cho thị trường Trung Quốc Không biết phải làm thế nào cũng như phải tuân theo công nghệ nào thì mới đạt được tiêu chuẩn quốc tế Việc tích trữ, bảo quản và hệ thống phân phối không được phát triển Các vấn đề nhiễm khuẩn và nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu và nhiễm một số kim loại nặng cho thấy kết quả là những thất bại, những rủi ro sức khoẻ đáng quan tâm đối với người tiêu dùng và dẫn tới sự bài trừ những sản phẩm thức ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc trên nhiều thị trường thế giới
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhà nước nên phác thảo và thực thi một hệ thống quản lý để đảm bảo rằng các xí nghiệp tự có trách nhiệm với sản phẩm của mình Như vậy, hệ thống thông thường bao gồm những yếu tố sau:
Đánh giá rủi ro để xác định xem có bao nhiêu người bị ảnh hưởng và mức độ nghiêm trọng nếu một công ty bán ra các sản phẩm bị nhiễm độc
Dựa vào đánh giá rủi ro này, một hệ thống quản lý rủi ro sẽ được thiết
kế và triển khai Điều này có thể cũng đòi hỏi sự điều chỉnh một số quy tắc hành chính nhất định Một phần là sự giám sát theo hoạch định của các sản phẩm của các doanh nghiệp
Một bộ phận không thể thiếu của hệ thống quản lý rủi ro là hệ thống khẩn cấp cho phép việc nhận dạng và xóa bỏ tất cả các sản phẩm bị nhiễm độc khỏi hệ thống phân phối ngay khi mẫu xét nghiệm cho thấy có gây nguy hại tới sức khỏe cộng đồng
Dự án GTZ sẽ tập trung và các sản phẩm được lựa chọn (hoa quả, rau
và thịt lợn) của 3 hạt của tỉnh Hebei và sẽ xem xét toàn bộ chuỗi từ sản xuất ban đầu đến tiêu thụ Thời gian triển khai dự án từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 4 năm 2010 [24]
1.1.2.3 Một số hoạt động của GTZ triển khai tại Việt Nam
a Các dự án của GTZ triển khai tại khu vực phía Nam 1
Như trên đã trình bày, hoạt động chủ yếu của GTZ tại Việt Nam chủ yếu tập trung trên ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế bền vững, quản lý tài nguyên thiên nhiên và chăm sóc sức khỏe, giảm nghèo Chính vì vậy, chúng tôi tập trung nêu khái quát những dự án trên ba lĩnh vực mà GTZ đã triển khai tại Việt Nam, bước đầu đã đem lại những kết quả
* Thứ nhất, Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk bắt đầu triển khai năm
2003 Dự án này được chia làm hai giai đoạn Giai đoạn I tập trung huy động sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế ở địa
1
Số liệu do Văn Phòng đại diện GTZ tại Đắk Lắk cung cấp
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phương Giai đoạn II là giới thiệu phương pháp lập kế hoạch phát triển chung dựa theo nhu cầu để phân phối nguồn lực Khâu đột phá trong việc triển khai dự án nhằm điều chỉnh khung pháp lý để phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên là cải thiển căn bản điều kiện văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở nông thôn tỉnh Đắk Lắk
Để thực hiện mục tiêu trên, GTZ đã triển khai các hoạt động hỗ trợ giới thiệu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia trong giao đất, điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan liên quan xây dựng và thí điểm các thủ tục hành chính và tài chính cần thiết để thể chế hóa thủ tục và nhân rộng mô hình trong toàn tỉnh Cùng với các cơ quan khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp&PTNT và với sự tham gia của nông dân là dân tộc thiểu
số vùng nông thôn Dự án đã triển khai thí điểm và phổ biến các mô hình canh tác đất dốc và chăn nuôi gia súc phù hợp Đồng thời giới thiệu các phương pháp khuyến nông có sự tham gia và hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn tín dụng quy
mô nhỏ nhằm tạo cơ hội tăng thu nhập thêm cho người dân
Mặt khác, GTZ cũng đẩy mạnh việc xúc tiến xây dựng mối liên kết giữa sản xuất và chế biến và tiêu thụ thông qua xây dựng chuỗi giá trị: Hợp tác công - tư Đồng thời, dự án tập trung vào việc đào tạo, huấn luyện cho cán bộ ở các cơ quan và tổ chức cấp xã, huyện, tỉnh có liên quan về qui trình, mô hình, phương án thực hiện
Dự án đã được thực hiện thí điểm ở 4 xã của huyện Lak và Ea H’Leo Phân bổ tài chính công cho các buôn người dân tộc thiểu số ở 2 huyện mục tiêu vùng dự án (Lak và Ea H'Leo) tăng từ 23 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,15 triệu Euro vào năm 2005) lên 35 tỉ đồng (tương đương 1,75 triệu Euro)
* Thứ hai, Dự án Bảo vệ môi trường và quản lý bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên tại tỉnh Đắk Nông2.
2
Theo Văn phòng UBND tỉnh Đắk Nông
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngày 16/4/08 tại Hà Nội, Tiến sĩ Guenter Riethmacher, Giám đốc Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức tại Việt Nam (GTZ Vietnam) đã ký kết các văn bản thoả thuận thực hiện Dự án Bảo vệ Môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đắk Nông với Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức, do ông Đỗ Thế Nhữ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông làm đại diện
- Mục tiêu của Dự án:
+ Cải thiện sự tham gia của người dân nghèo ở nông thôn, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vào công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Đắc Nông Hướng đi của dự án sẽ tập trung vào việc cải thiện nông nghiệp vùng cao, đưa vào áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, chú trọng phương pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng… để các hộ dân và người dân tộc thiểu số cùng thực hiện Phương pháp này cũng sẽ được nhân rộng trên toàn tỉnh Không chỉ góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia, dự án còn giúp xây dựng các phương pháp và cách tiếp cận mới để thực hiện ở cấp trung ương và tỉnh Kết quả của dự án không chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ phát triển mà còn tác động đến được với đời sống người dân
+ Về phía UBND tỉnh Đắk Nông, Phó Chủ tịch Đỗ Thế Nhữ nêu rõ, với gần 90% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, 35% dân số của tỉnh là người dân tộc thiểu số nghèo, Đắk Nông nhận thức rất rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên gắn với sản xuất kinh doanh Dự án Bảo vệ môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng rất lớn đối với tỉnh Đắk Nông, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của tỉnh UBND tỉnh Đắk Nông cam kết tổ chức thực hiện đúng các cam kết trong dự án đồng thời thành lập một Ban Chỉ đạo của tỉnh để giám sát và thực hiện
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Thứ ba, Kết hợp Bảo tồn và Phát triển Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh
Kiên Giang3.
Dự án sẽ tập trung triển khai hoạt động tại ba trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang mà đã được UNESCO công nhận năm 2006, gồm Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc Kiên Lương và Hòn Chông
Mục tiêu của Dự án là quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang và cải thiện quản lý các khu rừng phòng hộ
Giai đoạn đầu của Dự án sẽ đặt trong tâm vào quản lý hiệu quả các khu rừng phòng hộ và rừng ven biển
Một số khảo sát ban đầu sẽ được thực hiện để điều tra động thực vật trong vùng lõi các vườn quốc gia và các khu rừng phòng hộ ven biển Đây sẽ là cơ sở để giám sát tác động của Dự án cũng như việc triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức
Các nhóm đối tượng của Dự án gồm người dân nghèo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc rừng phòng hộ ven biển, đất ngập nước và các khu bảo vệ cũng như cán bộ trực thuộc các vườn quốc gia, các sở, ban, ngành liên quan của tỉnh và huyện
Tham gia Dự án còn có người dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ địa phương và các cơ quan đoàn thể Dự án sẽ giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo thông qua các cơ hội cải thiện và đa dạng sinh kế, đặc biệt cho người dân các dân tộc thiểu số như người Khmer và phụ nữ
Lợi ích trực tiếp của Dự án là sự phối kết hợp giữa các bên tham gia được cải thiện Sẽ tổ chức những hội thảo với các bên tham gia để tiến hành lập kế hoạch cho các chiến lược quản lý, và cùng phối hợp với Dự án Quản lý
3
Theo tác giả Phạm Trung Thủy, Luận văn “Nghiên cứu tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn Quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên”
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng để chia sẻ thông tin và áp dụng rộng rãi cho các hệ sinh thái khác nhau của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Đầu ra của Dự án gồm:
+ Đa dạng sinh học động, thực vật được đánh giá tại các điểm nóng + Các chiến lược quản lý sử dụng đất cho Khu Dự trữ sinh quyển được hoàn thiện
+ Năng lực và kiến thức kỹ thuật cho các cơ hội tạo thu nhập, gồm cả kiến thức thị trường được cải thiện
+ Nâng cao nhận thức về môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên + Xây dựng được các kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu Dự trữ Sinh quyển
+ Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý nước tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng
+ Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng cho Vườn Quốc gia U Minh Thượng và Phú Quốc
+ Năng lực lập kế hoạch, thiết kế và quản lý dự án được cải thiện
Tổng số tiền viện trợ 2 triệu Euro, chủ yếu là viện trợ không hoàn lại
* Thứ tư, Dự án quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển
tỉnh Sóc Trăng
Dự án hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Chi cục kiểm lâm thông qua việc phát triển các mô hình đồng quản lý các vùng ven biển bền vững, quản lý rừng ngập mặn thích ứng với sự biến đổi khí hậu, cũng như xây dựng một khuôn khổ chính sách điều tiết Chương trình sẽ được hỗ trợ thông qua xây dựng các đề án tài trợ bền vững cho các dịch vụ môi trường, cung cấp bởi các vùng đất ngập nước ven biển
Để bảo vệ và quản lý vành đai rừng ngập mặn hiệu quả, dự án sẽ áp dụng Phương pháp Hệ Sinh Thái, một chiến lược để quản lý tổng hợp đất,
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước và nguồn tài nguyên sinh vật nhằm hỗ trợ bảo tồn và sử dụng bền vững một cách hợp lý
- Mục tiêu dự án: Mục tiêu tổng thể của dự án là đảm bảo cho những
người nghèo được hưởng lợi cả về kinh tế và sinh thái từ việc quản lý và sử dụng các vùng ven biển bền vững Mục tiêu của giai đoạn đầu (2007 - 2010) là hỗ trợ việc cùng quản lý vùng ven biển giữa những người sử dụng nguồn tài nguyên (người dân địa phương, những người nuôi tôm) và chính quyền địa phương
- Các nhóm đối tượng của dự án là những người dân địa phương sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển Nhóm này bao gồm những người không có đất canh tác, phụ thuộc vào việc thu gom các nguồn tài nguyên chẳng hạn như cua, các loài động vật thân mềm, cá và mật ong để sinh sống cũng như những người nuôi tôm, phụ thuộc vào nguồn nước ven biển không bị ô nhiễm
b/ Các dự án của GTZ tổ chức tại phía Bắc 4
* Tại Hòa Bình
- Nội dung dự án:
+ Nâng cao năng lực trong quản lý và lập kế hoạch phát triển rừng cho cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, xã để có đủ trình độ tư vấn hướng dẫn cho các chủ rừng tư nhân và cộng đồng thực hiện được các hoạt động theo yêu cầu của dự án
+ Xây dựng mô hình điểm về sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động về quản lý bền vững diện tích rừng hiện có tại thôn bản của 04 huyện của mỗi tỉnh (ít nhất mỗi Huyện 01 mô hình được thực hiện có hiệu quả)
+ Nâng cao năng lực phát triển thể chế và tổ chức trong quản lý lâm nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã
4
Số liệu do Văn phòng dự án GTZ cung cấp
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Mục tiêu chính cần đạt là:
+ Nâng cao năng lực cho hệ thống các đối tác của dự án
+ Cải thiện năng lực tổ chức và phát triển thể chế về quản lý rừng tại cấp tỉnh, huyện và xã trong vùng dự án
+ Phát triển mô hình thí điểm về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động bền vững diện tích rừng hiện có tại hai tỉnh Hoà Bình - Sơn La
Tổng số tiền viện trợ không hoàn lại là 2 triệu Euro
Thời gian thực hiện dự án: Từ 5/2007 - 5/2010
* Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG Phong Nha-Kẻ Bàng
Bằng các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức hội thảo, và hỗ trợ tài chính, dự án hoạt động nhằm tăng cường cơ chế lập kế hoạch cấp huyện và xã theo đường hướng sử dụng các phương pháp thân thiện với môi trường và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nhằm thúc đẩy sinh kế cho vùng đệm của vườn quốc gia, dự án hỗ trợ việc lập kế hoạch của địa phương và các cơ quan thực hiện việc lập “kế hoạch phát triển bền vững kinh tế vùng đệm” Mục tiêu tổng thể của kế hoạch là phác thảo các cơ hội sinh kế thay thế mang tính bền vững và thân thiện với môi trường, giảm sự phụ thuộc của người dân trong vùng vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của vườn quốc gia
Thêm vào đó, dự án còn xây dựng “Quy hoạch phát triển du lịch” cho vùng dự án Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực Phong Nha Kẻ Bàng, từ đó xây dựng và phát triển một ngành du lịch mang tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh kế của nhân dân địa phương
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ngoài ra, dự án GTZ hỗ trợ ban quản lý vườn quốc gia tăng cường các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ không chỉ việc bảo vệ vườn mà còn tái sinh và bảo tồn các loài động thực vật đang bị đe dọa
Thời gian hoạt động của dự án là 8 năm, chia làm 3 giai đoạn, 2 giai đoạn đầu thực hiện trong 3 năm và giai đoạn cuối trong 2 năm Giai đoạn 1 của dự án tính từ 10/2007 đến 10/2010
1.1.2.4 Thực trạng triển khai tại vùng đệm VQG Tam Đảo
Dự án Phát triển rừng Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm (gồm ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên) do GTZ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện từ năm 2006 đến 2009 gồm có hai giai đoạn:
Giai đoạn 1 của dự án đã được thực hiện trong giai đoạn 2003-2006, phía Đức đã tài trợ 1,79 triệu euro, được thực hiện tại 26 làng thuộc 8 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ thiên nhiên môi trường
Giai đoạn 2: Ngày 4/7/07 tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các cơ quan ban ngành, ông Guenter Riemacher - Giám đốc văn phòng đại diện Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) tại Hà Nội và TS.Lê Văn Minh - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký kết Bản thỏa thuận thực hiện dự án Quản lý vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn 2 từ tháng 10/2006 - 9/2009
Theo đó, giai đoạn này của Dự án sẽ tập trung vào 3 nội dung chính như: Tiếp tục hoàn thiện, phổ biến các khái niệm và phương pháp luận về lập kế hoạch sử dụng tài nguyên bền vững vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và kế hoạch ngành; Nâng cao đời sống người dân thông qua việc giới thiệu các kỹ thuật bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn với lợi ích kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi; Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá đối với tác động từ các biện pháp bảo tồn tự nhiên ở VQG Tam Đảo
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHLB Đức viện trợ không hoàn lại 2 triệu euro cho dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn 2 [17]
1.2 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá
1.2.1.Các vấn đề mà đề tài cần nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đánh giá tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững khu vực vùng đệm vườn Quốc gia Tam đảo đến sinh kế người dân Huyện Sơn Dương Tỉnh Tuyên Quang Vì vậy, nội dung chủ yếu đề tài cần nghiên cứu là:
- Sự tác động của dự án đến sinh kế người dân các xã thuộc Huyện Sơn Dương thuộc khu vực vùng đệm như thế nào;
- Sự chênh lệch về đời sống (vật chất, tinh thần) giữa các hộ tham gia dự án với khu vực hộ dân không tham gia dự án như thế nào;
- Mức thu nhập và rủi ro về phương thức sống sau khi dự án kết thúc đối với các hộ dân tham gia dự án như thế nào;
- Sự khác biệt về nhận thức của người dân tham gia dự án với không tham gia dự án về bảo vệ tài nguyên, bảo vệ rừng và vấn đề môi trường;
- Sự đầu tư về kết cấu hạ tầng có tác động như thế nào đến sinh kế của người dân khu vực vùng đệm;
- Thái độ của người dân đã tham gia dự án, khả năng triển khai và tổ chức thực hiện các mục tiêu dự án đề ra của người dân;
- Sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương trong bảo vệ tài nguyên rừng
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Để có căn cứ thực tiễn trong nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập số liệu bằng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Bao gồm các số liệu khai thác
tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trường, Phòng Thống kê, Phòng Nội vụ và các phòng ban khác của Huyện Sơn Dương Các số liệu có liên quan đến các mặt đời sống xã hội của Huyện Sơn Dương do Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Nông nghiệp&PTNT, Sở Nội vụ, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch, cung cấp Nguồn số liệu được tổng hợp, so sánh và phân tích có chú thích rõ ràng Đảm bảo cơ sở thực
tế phục vụ cho việc nghiên cứu
- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Tiến hành thu thập số liệu thông
qua điều tra trên mẫu phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp bằng câu hỏi chuẩn bị trước Đề tài đã tiến hành xây dựng mẫu phiếu, với tổng số 150 phiếu điều tra Trong đó, 120 phiếu tiến hành điều tra, phỏng vấn đối với các hộ nông dân tham gia dự án và nhóm hộ nông dân không tham gia dự án là 30 hộ Số liệu điều tra sơ cấp được thu thập thông qua các phương pháp sau:
- Phương pháp phỏng vấn cấu trúc: Trên cơ sở mục tiêu đề tài đặt ra,
dựa trên các mẫu phiếu điều tra đã có những chỉ tiêu xây dựng sẵn, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp trên hộ nông dân Trước hết, tiến hành phỏng vấn thử để kiểm tra, rà soát lại toàn bộ hệ thống các chỉ tiêu theo nhóm các câu hỏi xem đã phù hợp chưa, nội dung cần điều tra có khả năng đáp ứng không Sau đó, tiến hành điều chỉnh nội dung câu hỏi trên mẫu phiếu điều tra để tiến hành điều tra
Phương pháp thực hiện là lựa trọn một thành viên trong hộ gia đình tiến hành phỏng vấn trực tiếp Các tiến hành như vậy sẽ đem lại những thông tin
có tính chính xác và tin cậy Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về sản xuất nông nghiệp của gia đình: Chủ hộ hoặc vợ/chồng của chủ hộ Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác
Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu theo các nhóm thông tin sau:
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ
4 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ
5 Nhóm thông tin về hiện trạng sử dụng các nguồn lực tự nhiên từ rừng quốc gia, rừng trồng của hộ
6 Nhóm thông tin đánh giá tác động của các hoạt động hiện nay đến sinh kế của người dân
7 Nhóm thông tin về các hoạt động hỗ trợ của dự án tại vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Huyện Sơn Dương Tỉnh Tuyên Quang
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:
Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi thêm các hộ dân trong quá trình phỏng vấn
Phương pháp này nhằm mục đích lấy thêm những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu, mở ra nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị Phương pháp này phát huy rất hiệu quả các câu hỏi mang tính chất định tính đến những vấn đề mà người dân quan tâm, có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ
- Phương pháp quan sát trực tiếp:
Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế Tác giả có thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan
* Mục tiêu chọn mẫu điều tra
Tiến hành khảo sát, điều tra nhằm thu thập thông tin một cách toàn diện
và chính xác về đời sống, các hoạt động sản xuất - kinh doanh, nhận thức về
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vấn đề bảo vệ và trồng rừng, vấn đề bảo vệ môi trường của các hộ dân tham gia dự án và không tham gia dự án trên địa bàn để từ đó có cơ sở thực tiễn đánh giá tác động của dự án đến sinh kế của người dân khu vực vùng đệm mà
đề tài nghiên cứu
* Cơ sở chọn mẫu điều tra
Với phương pháp điều tra ngẫu nhiên, tác giả đã tiến hành khảo sát, điều tra trên 2 xã thuộc Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang Đó là, xã Ninh Lai và Thiện Kế Đây là hai xã nằm trong khu vực vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo đang được dự án triển khai rất nhiều các hoạt động để phát triển sinh kế cho người dân
Chọn mẫu ngẫu nhiên 120 hộ từ danh sách các hộ tham gia dự án và 30 hộ không tham gia dự án tại hai xã trên Theo như danh sách mà chủ tịch hai
xã cung cấp, cứ cách 5 hộ chúng tôi chọn ra một hộ cho cả hai nhóm có và không tham gia dự án để làm danh sách điều tra
1.2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin
Sau khi tiến hành điều tra, khảo sát, các số liệu thu thập sẽ được tiến hành sử lý trên chương trình Excel 2007 của Microsoft đảm bảo chính xác và
có độ tin cậy cao
Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS 15.0 (Statistical Package For Social Sciences) để xử lý thống kê và xem xét mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê định lượng, định tính trong mô hình phân tích theo mục tiêu đề tài đặt ra
1.2.2.3 Phương pháp phân tích, đánh giá
- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện
tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ