Trong kế sinh nhai lâu đời của mình, cộng đồng các dân tộc gắn bó mật thiết với đất, với rừng; họ đã đúc kết được không ít kinh nghiệm bản địa trong quá trình thích ứng với các nguồn tài
Trang 1Ngô Văn Quyền – Địa lý học
Trong cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của đất nước, trong đó có nguồn tài nguyên đất và rừng ở vùng miền núi được khai thác với quy mô ngày càng lớn để đáp ứng với nhu cầu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Các nguồn tài nguyên này do bị khai thác từ rất sớm đã dần
bị cạn kiệt, hiện nay tới mức báo động Hậu quả tất yếu đã và đang diễn ra đó
là số lượng tài nguyên cũng như chất lượng môi trường sinh thái tiếp tục suy giảm Tình trạng này nếu chậm được khắc phục sẽ làm nảy sinh những khó khăn mới cho cộng đồng các dân tộc sống chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Thực tế phát triển kinh tế - xã hội ở Hòa Bình không đứng ngoài thực trạng nói trên của đất nước Hòa Bình là một tỉnh có cộng đồng các dân tộc đa dạng, trong đó người Mường chiếm tỉ lệ lớn nhất; người Kinh, người Thái…
Trang 2khăn, trình độ phát triển thấp Trong kế sinh nhai lâu đời của mình, cộng đồng các dân tộc gắn bó mật thiết với đất, với rừng; họ đã đúc kết được không ít kinh nghiệm bản địa trong quá trình thích ứng với các nguồn tài nguyên hiện
có, với môi trường sinh thái bao quanh Tuy nhiên yêu cầu cao của sự tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng dân số đang gây sức ép ngày càng lớn đến tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh này Nếu mối quan hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không được giải quyết tốt thì đời sống cộng đồng các dân tộc chậm được cải thiện, khó tránh khỏi nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng môi trường
Từ thực trạng nói trên đòi hỏi các nhà quản lí, các nhà khoa học, trong
đó có các nhà địa lý phải quan tâm nghiên cứu lí luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm tìm ra giải pháp sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên nói chung , trước hết là nguồn tài nguyên đất và rừng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho cộng đồng các dân tộc tỉnh Hòa Bình
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tác động của cộng đồng các dân tộc đến tài nguyên đất và rừng tỉnh Hòa Bình”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong vài ba thập kỷ gần đây, do sức ép về dân số và sự phát triển kinh tế, nhiều nguồn tài nguyên trên Trái đất đứng trước nguy cơ cạn kiệt, chất lượng môi trường bị giảm sút nghiêm trọng Hàng loạt các vấn đề như suy thoái đa dạng sinh học, suy giảm tài nguyên đất và nước ngọt, tài nguyên rừng bị tàn
phá đang là thách thức đối với sự tồn tại của loài người và Trái đất Vì vậy,
vấn đề quản lý tài nguyên, phát triển môi trường bền vững được nhiều nước trên thế giới chọn làm tiêu chí phát triển của toàn xã hội Nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về những vấn đề này đã được công bố như : “Dân số - môi trường : Một cái nhìn phổ quát” của Ban thư ký Liên hiệp quốc, “Dân số
Trang 3- môi trường và sự phát triển bền vững” của Uỷ ban các vấn đề kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương…
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển, Hội nghị môi trường khu vực được tổ chức định kỳ hoặc thường niên đã đề xuất các hướng nghiên cứu về chủ đề môi trường, tài nguyên, bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn thế giới Các hội nghị này đều ra tuyên bố và xuất bản các loại văn bản quan trọng Ví dụ như : Tuyên bố Hội nghị Rio de Janeiro (1992), Tuyên bố Hội nghị Johannesburg (2002)…
Ở Việt Nam, những vấn đề về mối quan hệ giữa con người và tài nguyên, môi trường đã được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây, nhất là từ năm
1986, khi Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước Hàng loạt các công trình cả về lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, đặc biệt là vùng miền núi dân tộc
đã được công bố
Vùng núi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích trong cả nước, là nơi cư trú của đại
bộ phận các dân tộc thiểu số, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên có giá trị Đây là vùng có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá về thực trạng sử dụng tài nguyên và sự biến đổi kinh tế bước đầu của khu vực miền núi Điển hình là các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Văn Khoa :
"Miền núi và phát triển bền vững", tác giả Bế Văn Đẳng và các cộng tác viên : "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội miền núi", tác giả Phạm Văn Vang : "Kinh tế miền núi và các dân tộc: thực trạng, vấn đề và giải pháp", tác giả Trần Đức Viên : "Nông nghiệp bền vững, lối đi cho tương lai" và "Hệ canh tác vùng cao nông nghiệp miền núi", tác giả Đào Thế Tuấn : "Sự phát
Trang 4chuyên gia nước ngoài đã trực tiếp tham gia nghiên cứu về miền núi Việt Nam như các tác giả N Jamieson, Tenry Rambo, L.T Cúc trong công trình:
"Những khó khăn trong công cuộc phát triển miền núi ở Việt Nam"
Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường đã xuất bản cuốn sách: “Một số vấn đề xã hội và nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam”
(Hà Huy Thành chủ biên) Trong đó, tác giả đề cập đến vấn đề: vùng miền núi
và dân tộc ít người, những phong tục tập quán và việc sử dụng hợp lý tài nguyên Tháng 4 năm 2006, tác giả Hoàng Hữu Bình đã có công trình nghiên
cứu: “Những tác động của yếu tố văn hoá - xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá”,
trong đó các tác giả đã đề cập đến tác động của văn hoá vùng và văn hoá tộc người, của tôn giáo tín ngưỡng, của tri thức dân gian… trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường một số nhµ khoa häc th× tiếp cận vấn
đề từ góc độ của một cộng đồng kết hợp với kinh nghiệm thực tế của địa
phương Nổi bật là công trình nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc trong sử dụng tài nguyên đất rừng” của tác giả Vương
Xuân Tình, trong đó tác giả đã khẳng định: nói tới vai trò của cộng đồng là phải chú ý đến vai trò tự quản của nó trên cơ sở vận hành của các luật tục; luật tục được xem như công cụ điều khiển các hoạt động của một đơn vị dân
cư, tuỳ theo từng bối cảnh xã hội mà cộng cụ này có tác dụng đến mức độ nào Với đất rừng, các cá nhân chỉ có quyền sử dụng, thừa kế mà không được đem bán hoặc chuyển nhượng Trong cộng đồng, trưởng bản là người có trách nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ và quyết định sử dụng đất, rừng Công trình
“Một số tri thức dân gian và nghi lễ tín ngưỡng liên quan đến canh tác nương rẫy của người Mông Trắng ở bản Mô Cổng, xã Phỏng Lái, huyện Thuận
Trang 5Châu, tỉnh Sơn La” của tác giả Trần Thị Thu Thủy (2004) · Nghiên cứu về tri
thức bản địa của một tộc người tại một địa phương cụ thể và đã khẳng định được trong quá trình đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn và phát triển, các tộc người thiểu số nói chung, tộc người Mông nói riêng không ngừng thích nghi với môi trường tự nhiên, xã hội và tạo dựng được những phương thức hoạt động kinh tế hợp lý, hữu hiệu Trong đó cách khai thác và
sử dụng đất truyền thống đã tiếp thu thêm nhiều kỹ thuật mới vừa hòa nhập với kinh tế thị trường vừa bảo vệ được đất sản xuất
Những công trình nêu trên rất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác động của cộng đồng các dân tộc đến tài nguyên đất và rừng tỉnh Hòa Bình”
3 Mục tiêu của đề tài
Đề tài phân tích những tác động của cộng đồng các dân tộc đến nguồn tài nguyên đất và rừng, đề xuất các quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế -
xã hội, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng các dân tộc tỉnh Hòa Bình theo hướng phát triển bền vững
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
- Phân tích đặc điểm của cộng đồng các dân tộc và nguồn tài nguyên đất, rừng ở tỉnh Hòa Bình
- Phân tích thực trạng sử dụng và đánh giá những tác động đến tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc ở Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lí tài đất và của cộng đồng các dân tộc theo hướng phát triển bền vững
Trang 65 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm phát triển bền vững: việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải gắn liền với chiến lược phát triển bền vững Khai thác tài nguyên sao cho hiệu quả nhất, đem lợi ích cho đồng bào các dân tộc và cho cả nước là điều cần được nghiên cứu Những gì thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, chúng ta nên tận dụng, nhưng phải sử dụng một cách hợp lí và không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: các hoạt động kinh tế trong vùng lãnh thổ là tổng hợp của nhiều điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng dân tộc Mỗi dân tộc tùy theo trình độ phát triển, tập quán sản xuất và văn hóa mà tác động khác nhau đến môi trường cũng như việc sử dụng tài nguyên theo cách thức của mình
- Quan điểm hệ thống: Hòa Bình được xem như một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội bao gồm hệ thống cấp thấp hơn – các đơn vị lãnh thổ hành chính: huyện, xã, bản, tiểu vùng; trong đó cộng đồng các dân tộc và tài nguyên có quan hệ tác động qua lại
- Quan điểm lịch sử: sự phát triển của cộng đồng các dân tộc và mối quan hệ của cộng đồng dân tộc với tài nguyên thiên nhiên không chỉ thay đổi theo không gian mà còn biến động theo thời gian Vì thế, khi nghiên cứu vấn
đề trên quan điểm lịch sử sẽ thấy được một cách sâu sắc sự biến đổi của chúng và phân tích đánh giá nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó, làm cơ sở
để đưa ra các dự báo phát triển cộng đồng và phương hướng sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong những năm tới
Trang 75.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tổng hợp và phân tích tư liệu
Tài liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp điều tra mẫu điển hình, chọn thôn, bản, hộ điều tra về các nội dung nghiên cứu của đề tài theo các bộ phiếu điều tra (lập bảng hệ thống câu hỏi phỏng vấn)
Tài liệu thứ cấp: thu thập các báo cáo khoa học và tài liệu hội thảo, các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, huyện, xã; các tài liệu về vấn đề dân tộc, số liệu thống kê của các ban, ngành; sách, báo, tạp chí
đã xuất bản… có liên quan đến nội dung của đề tài
- Phương pháp điều tra xã hội học
Con người là chủ thể hoạt động của xã hội đồng thời là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Con người (cá nhân, nhóm, cộng đồng…) luôn là đối tượng của việc nghiên cứu còn môi trường sống là nền tảng khách quan Chính vì vậy, sử dụng phương pháp điều tra xã hội học trong nghiên cứu đề tài nhằm lí giải mối quan hệ hữu cơ giữa con người, tài nguyên và môi trường Quan hệ này biểu hiện trong nhiều lĩnh vực và nhiều cấp độ khác nhau
Chọn điểm nghiên cứu:
- Phương pháp đánh giá nông thôn tham dự (PRA)
Phương pháp PRA được thực hiện thong qua việc thảo luận nhóm với những
Trang 8dân; phân tích những khó khăn hiện có trong cộng đồng, khảo sát những nguyên nhân và hệ quả của những tồn tài chưa được giải quyết, nâng cao nhận thức của người dân
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực văn hóa dân gian, nghiên cứu kiến thức bản địa;
sử dụng, bảo vệ tài nguyên và môi trường… qua đó để có thêm các thông tin quan trọng về vấn đề dân tộc, vấn đề quản lí và phát triển bền vững tài nguyên miền núi
- Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin địa lí (GIS)
Sử dụng phần mềm Mapinfo để thành lập các cơ sở dữ liệu địa lí và xây dựng các bản đồ chuyên đề: bản đồ hành chính, bản đồ phân bố dân cư, bản đồ phân bố một số dân tộc, bản đồ biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng, bản đồ độ che phủ rừng …
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bản đồ, bảng biểu và tranh ảnh, nội dung đề tài được trình bày thành 03 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về cộng đồng các dân tộc và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Chương 2 Cộng đồng các dân tộc và những tác động đến tài nguyên đất, rừng tỉnh Hòa Bình
Chương 3 Một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên đất và rừng ở tỉnh Hòa Bình theo hướng phát triển bền vững
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VÀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1 Cộng đồng các dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ dân tộc (tộc người) được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ
“ethnos” dung để chỉ những cộng đồng người hình thành và phát triển trong quá trình tự nhiên – lịch sử Mỗi cộng đồng người được đặc trưng bởi những dấu hiệu như: cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, đặc điểm lối sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc Trong một số trường hợp, những dấu hiệu như cùng chung lãnh thổ có thể đóng vai trò kém quan trọng hơn [7]
Một số nhà dân tộc học Việt Nam cho rằng, cộng đồng dân tộc hay tộc người phải được coi là một đơn vị cơ bản để tiến hành xác minh thành phần các dân tộc Thông qua nhiều hội thảo khoa học hầu hết ý kiến đều tán thành các chỉ tiêu xác định thành phần dân tộc là: tiếng nói, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác dân tộc [2; tr10 – 25]
Phần lớn các nhà dân tộc học Liên Xô (trước đây) cho rằng: cộng đồng tộc người đồng nghĩa với dân tộc Về nguyên tắc phân loại cộng đồng các dân tộc đều thống nhất rằng: các cộng đồng dân tộc khác nhau không phải theo một đặc trưng nào đó, mà theo tổng thể của một số đặc trưng, đó là [4]:
- Cùng nói một ngôn ngữ hay nói cách khác mỗi một dân tộc đều có tiếng nói riêng của mình Có thể nói rằng cộng đồng ít bị phân hóa hơn cả là cộng đồng về ngôn ngữ Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện
Trang 10nhất đối với đời sống văn hóa tinh thần của họ Chỉ có ngôn ngữ mẹ đẻ được tiếp nhận từ thời thơ ấu mới có thể giúp họ biết được những sắc thái tinh vi nhất của đời sống tinh thần, mới cho phép họ hiểu biết nhau thấu đáo Ngôn ngữ liên quan mật thiết đến bản tính tộc người, không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các tên gọi dân tộc lại trùng lập với ngôn ngữ của họ Vì vậy trong tất cả các đặc trưng của dân tộc thì ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng nhất
- Một trong những dấu hiệu quan trọng để phân định giữa các dân tộc là đặc điểm văn hóa Văn hóa được mỗi dân tộc xây dựng nên trong quá trình phát triển lịch sử của mình được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau Vì vậy, cho đến nay mỗi dân tộc đều có đặc điểm văn hóa riêng, các yếu tố văn hóa đặc thù thường trở thành biểu tượng của bản sắc văn hóa dân tộc Khi nói đến đặc điểm văn hóa có nghĩa là nói đến những thành tựu văn hóa dân tộc đó
đã đạt được những tri thức họ tích lũy được, những đóng góp của họ vào kho tang văn hóa nhân loại Vấn đề là, khi xác định một dân tộc không phải chỉ dựa vào cộng đồng văn hóa có tính đặc trưng, mà cần lưu ý những đặc trưng
ấy cùng với ngôn ngữ tạo ra một sắc thái riêng
- Ý thức dân tộc hay tự giác dân tộc, suy cho cùng là cái quyết định để xác định thành phần dân tộc Nó được xuất hiện khi con người ở cùng một cộng đồng, sử dụng một tộc danh thống nhất và nó cùng là một kết quả của sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cơ bản hình thành nên cộng đồng dân tộc Điều quan trọng của ý thức dân tộc là nó có tính độc lập cao hơn hẳn so với nguyên nhân hình thành nó
Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhấ định Lãnh thổ như một điều kiện vật chất, cơ bản để hình thành các cộng đồng dân tộc Để giao dịch với nhau, con người thường phải sống gần nhau, thậm chí các nhóm người khác nhau về ngôn ngữ, về xuất xứ, nếu sinh sống gần nhau trong cùng một lãnh
Trang 11thổ, họ có thể tạo thành một cộng đồng thống nhất Điều kiện tự nhiên của vùng lãnh thổ đó quyết định nhiều đặc điểm của dời sống con người
Với các đặc trưng trên và một số đặc trưng khác như nguyên tắc gọi tên các dân tộc, tức là gọi tên các dân tộc cũng phải theo đúng cách của họ, coi đó là sự thể hiện tính tự tin dân tộc, trong đó đặc biệt là 3 đặc trưng về: ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức dân tộc đã hình thành nên các cộng đồng dân tộc
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm cơ bản về cộng đồng các dân tộc như sau:
Cộng đồng các dân tộc là một khái niệm phát sinh do kết hợp hơn một đến nhiều dân tộc trên một không gian lãnh thổ nhất định Mỗi một cộng đồng dân tộc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định, với những đặc trưng cơ bản: cùng chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, lãnh thổ cư trú và ý thức tự giác dân tộc Tất cả hợp thành cộng đồng chính trị xã hội rộng lớn gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi [7]
1.1.1.2 Bản sắc văn hóa dân tộc và kiến thức bản địa của cộng đồng các dân tộc
a Bản sắc văn hóa dân tộc
Thuật ngữ “Bản sắc” (edentate) chỉ tính chất màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật [7] Thuật ngữ “Bản sắc” nhấn mạnh cái riêng tạo thành phẩm cách, tài năng
Khái niệm “văn hóa”, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa:
- Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần
Trang 12- Sự hiểu về sự vật hay về cách xử thế tích lũy bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và phép tắc lịch sử được lưu truyền qua các thế hệ
“Bản sắc văn hóa” là những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc Những giá trị đó có thể ở mọi dân tộc, song từng dân tộc có bản sắc văn hóa được biểu hiện đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn [8; tr40]
Việc nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc nhằm mục đích tìm đến cái nét riêng biểu hiện ở các mặt: nhận thức – thái độ hành vi của nhân cách Đồng thời, bản sắc văn hóa dân tộc còn được xem xét từ các góc độ: cái đúng, hay, tốt có ở mọi dân tộc, song nó được thể hiện ở dân tộc nào đậm nét, sâu sắc trở thành cái riêng của dân tộc ấy ở góc độ giá trị tinh thần xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ở lối sống, cách ứng xử, cách thể hiện, Ở nếp sinh hoạt, ngôn ngữ, giao tiếp - một cách đặc biệt, khó có thể trộn lẫn Nếu xét theo trên cơ sở xã hội, các giá trị được biểu lộ vững bền mà không phụ thuộc vào biến đổi của lịch sử
Khi nghiên cứu về vấn đề này, tiến sĩ Phạm Hồng Quang [8] đã đưa ra cách hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc như sau: “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống giá trị bền vững, mang tính truyền thống và hiện đại, gồm các giá trị tinh hoa của dân tộc, được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước; là quá trình tiếp nhận, bổ xung hoàn thiện những giá trị mới, đồng thời là gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời, để những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn xã hội”
Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc không phải chỉ là dấu hiệu hình thức
để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, mà quan trọng là đánh giá giá trị
Trang 13của những đặc trưng bản sắc đó theo tiêu chí nhân văn Cái được mọi người thừa nhận là bản sắc dân tộc thực chất là cái riêng được thẩm thấu vào máu thịt từng con người của dân tộc đó, trở thành lối sống cộng đồng dân tộc, nó được phản ánh một cách tự nhiên và đặc sắc
Bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang là một vấn đề rất nhạy cảm, có sự liên quan mật thiết đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Do đó,
để giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có vai trọ cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia
Đối với Việt Nam hiện nay, nền văn hóa vẫn đậm nét truyền thống dân tộc, đồng thời có bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm, phong tục tập quán, truyền thống sản xuất, tổ chức xã hội, địa bàn cư trú rất khác nhau Tất cả đã tạo nên cho mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng Từ đó đã trở thành niềm tin sâu sắc, trở thành lối sống của cộng đồng các dân tộc Điều này có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Thực chất, những nét độc đáo và sự phong phú của bản sắc văn hóa dân tộc đang trực tiếp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội: những sản phẩm hàng hóa mang tính dân tộc, văn hóa truyền thống sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường như các sản phẩm thủ công truyền thống, đan lát, may mặc, phát triển du lịch văn hóa lễ hội Đồng thời nền văn hóa truyền thống sẽ có sức giáo dục thế hệ trẻ ý thức cách mạng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc
b Kiến thức bản địa của các dân tộc
* Khái niệm:
Kiến thức bản địa (Idigenouse Knowledge), còn được gọi là kiến thức truyền thống (Traditional Knowledge), hay kiến thức địa phương (Local
Trang 14nhìn chung kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng, một khu vực cụ thể nào đó [7]
KTBĐ được hình thành tồn tại và phát triển lâu dài cùng với sự phát triển cụ thể của cộng đồng, với sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng Kiến thức này được phát triển trong nhiều năm và hiện vẫn đang tiếp tục được phát triển dựa vào những kinh nghiệm đã được thử nghiệm qua nhiều thế kỷ áp dụng phù hợp với môi trường văn hóa của từng địa phương; thay đổi theo cuộc sống của người bản xứ KTBĐ bao gồm tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội như: nông nghiệp, âm nhạc, sức khỏe, tín ngưỡng, đạo đức
* Đặc điểm của kiến thức bản địa
KTBĐ có nhiều đặc điểm nổi bật trong đó chứa đựng nhiều ưu điểm, nhưng có những hạn chế do không còn phù hợp với môi trường tự nhiên và xã hội hiện tại Kiến thức bản địa có những đặc điểm sau:
- KTBĐ được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định KTBĐ là sản phẩm tạo ra trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng Theo thời gian thì các kinh nghiệm truyền thống này được cải biến để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với sự thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội Trong quá trình giao lưu, nhiều tập quán sản xuất từ vùng khác đã được thu nhập vào Sau đó các kỹ thuật này được biến đổi để thích hợp với địa phương
và trở thành một phần của kiến thức bản địa Theo thời gian thì nhiều kiến thức cũ không còn ý nghĩa nên đã mất đi, và các kiến thức địa phương mới liên tục được nảy sinh và hoàn thiện
- KTBĐ có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương – nơi đã hình thành và phát triển kiến thức đó Do nó được hình thành
Trang 15từ địa phương, hoặc du nhập sau đó được biến cải nhiều lần để phù hợp với thiên nhiên và tập quán xã hội, nên kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện cụ thể ở nơi đang sử dụng chúng
- KTBĐ do toàn thể cộng đồng sang tạo ra qua lao động trực tiếp Kiến thức bản địa được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình lao động của
cả cộng đồng bao gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già… Nhưng mỗi nhóm người sẽ có những ưu điểm mạnh riêng trong một vài lĩnh vực
- KTBĐ được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau Đây là điểm khác biệt so với kiến thức khoa học và thường gây nhiều khó khăn cho người nghiên cứu kiến thức bản địa, nhất là người ngoài cộng đồng, người không cùng ngôn ngữ và văn hóa Có thể tìm thấy kiến thức bản địa trong cao dao, tục ngữ truyền khẩu ở hầu hết các dân tộc Việt ở miền xuôi cũng như miền ngược Ví dụ: để bảo vệ rừng cộng đồng, rừng đầu nguồn trong sử thi M’nông nói rõ luật tục có tính thần linh “Rừng nơi đây là rừng cấm Con suối này là suối thần Cây đa kia linh thiêng lắm nhé Ai phát rẫy cũng bị thần phạt Phát một lần Dớt chặt chân, phát một lần Deng bị chặt chân”
- KTBĐ luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương
Vì vậy, khả năng tiếp thu, ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng Trong thực tế chúng ta đã từng thấy rằng có những kỹ thuật mới, đưa lại hiệu quả cao hơn nhưng không được dân chúng chấp nhận vì trái với tập tục văn hóa của địa phương
- KTBĐ có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững Một số nhà nghiên cứu đã coi kiến thức bản địa là cơ sở quyết định trong các lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục… Hệ thống kiến thức bản
Trang 16các nhà khoa học cũng như chuyên gia lập kế hoạch và các cán bộ xây dựng chính sách Đã có không ít những thành tựu khoa học được khởi đầu bằng các
ý tưởng được rút ra từ kỹ thuật truyền thống của nông dân Ví dụ: kỹ thuật trồng khoai tây bằng hạt để phục tráng di truyền và sạch bệnh do virus mà các nhà khoa học đang phát triển trong những năm gần đây, thực chất được bắt nguồn từ một tập tục lâu đời của người thổ dân da đỏ Ở nước ta, mô hình nông dân về tạo rừng quế xen canh với cây lúa nương đã được đưa vào quy trình trồng rừng ở phía Bắc Mô hình kỹ thuật này được bắt nguồn từ phương pháp trồng quế của người Dao vùng Văn Chấn (Yên Bái)
- KTBĐ có tính đa dạng rất cao, vì kiến thức bản địa được hình thành trong những điều kiện tự nhiên khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng sáng tạo ra nên sự khác biệt giữa giới tính, tuổi tác, kỹ năng, kinh nghiệm làm cho hệ thống này hết sức phong phú
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và vấn đề sử dụng tài nguyên của cộng đồng các dân tộc
1.1.2.1 Khái niệm, phân loại và vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Trên hành tinh của chúng ta TNTN thật đa dạng và phong phú : trên đất nổi, trong lòng đất, đáy đại dương, trong các lớp thuỷ quyển, trong không khí Con người từ lúc xuất hiện trên trái đất như là một thực thể trí tuệ đã từng bước khai thác TNTN để làm tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt cùng với
sự tiến bộ của trình độ phát triển của xã hội loài người Hiện nay nhiều tác giả
có khái niệm khác nhau về TNTN, nhưng có thể hiểu chung nhất “Tài nguyên thiên nhiên là các dạng vật chất và năng lượng được con người khai thác và sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống”
Khái niệm TNTN được mở rộng cả về không gian và thời gian, theo chiều rộng và theo chiều sâu TNTN có thuộc tính kép, chúng có thể được
Trang 17phân biệt dựa theo các dạng vật chất, đó là các vật thể và các lực của tự nhiên
mà nguồn gốc phát sinh các thuộc tính và sự phân bố của chúng bị quy định bởi các quy luật tự nhiên Các tài nguyên cũng có thể phân biệt theo giá trị sử dụng mà điều này lại bị quy định bởi mức độ nghiên cứu, khả năng kỹ thuật, tính hợp lý về mặt kinh tế và về mặt xã hội
Hiện nay có nhiều cách phân loại TNTN khác nhau, người ta có thể dựa vào tính chất sử dụng như : các phương tiện lao động, nguồn năng lượng, nguồn nguyên vật liệu, các đối tượng tiêu dùng trực tiếp, hay dựa vào tính chất tự nhiên để chia thành tài nguyên : khoáng sản, nước, khí hậu, đất, sinh vật hoặc dựa vào mục đích kinh tế thì lại chia thành các loại tài nguyên : công nghiệp, nông nghiệp, du lịch Nhưng các phân loại tài nguyên thông dụng nhất hiện nay là người ta dựa vào khả năng khai thác và phục hồi của TNTN Phân loại theo cách này gồm có : Tài nguyên cạn kiệt không có khả năng phục hồi, tài nguyên có khả năng phục hồi và tài nguyên vô tận
Vấn đề sử dụng TNTN đã được con người biết đến từ lâu Ngay từ thời
xa xưa khi con người còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, người ta cũng đã biết sử dụng những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, đó là các động thực vật hoang dại trên cạn và dưới nước để làm thức ăn Dần dần khi con người biết làm nông nghiệp thì đất trở thành nguồn tài nguyên quan trọng Đặc biệt là khi có mặt của các ngành công nghiệp dẫn tới việc khai thác và sử dụng mạnh
mẽ các nguồn tài nguyên, trong đó nhiều nhất vẫn là nguồn tài nguyên khoáng sản Hiện nay, quá trình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên trên thế giới diễn ra rất mạnh mẽ Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế và
sự hiện đại của khoa học kỹ thuật con người đang tìm cách khai thác triệt để những gì mà tự nhiên ban tặng Bên cạnh những lợi ích của nó chúng ta cũng phải thừa nhận rằng những mặt hạn chế mà quá trình khai thác và sử dụng tài
Trang 181.1.2.2 Mối quan hệ giữa cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Khái niệm cộng đồng các dân tộc là một khái niệm phát sinh do kết hợp hơn một đến nhiều dân tộc trên một không gian lãnh thổ nhất định Các điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và trạng thái môi trường là
cơ sở vật chất khách quan tác động tới các dân tộc sinh tụ và phát triển trong môi trường tự nhiên đó Khi nói tới các dân tộc người ta hàm ý nhiều dân tộc, thì mỗi dân tộc, tùy theo trình độ phát triển, tập quán sản xuất và văn hoá mà tác động khác nhau tới môi trường và cũng sử dụng tài nguyên theo cách riêng của mình
Một dân tộc phát triển thường sử dụng tài nguyên theo chiều sâu biết khai thác tiết kiệm và có ý thức phát triển bền vững Nhưng với một dân tộc chậm phát triển thì thường khai thác tài nguyên theo chiều rộng, theo lối quảng canh, du canh du cư Thực ra những dân tộc thiểu số chậm phát triển không phải là họ có ý thức phát triển bền vững thấp kém, mà do cuộc sống của những dân tộc này quá khó khăn, lại có ít nguồn trợ cấp Chính vì thế mà cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên Song trong quá trình khai thác tài nguyên họ không biết cách và sử lý hợp lý nguồn tài nguyên đó Vai trò của pháp luật trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đối với cộng đồng các dân tộc có hiệu lực hay không là tuỳ thuộc vào sự tự giác chấp hành của các dân tộc và trình độ tiếp thu pháp luật, và điều rất quan trọng là điều kiện sống của các dân tộc này
Cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta chủ yếu sinh sống ở miền núi
và nông thôn - nơi tập trung chủ yếu các nguồn TNTN của đất nước, đặc biệt
là tài nguyên rừng, tài nguyên đất và tài nguyên nước Vì vậy giữa cộng đồng các dân tộc và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có mối quan hệ mật
Trang 19thiết với nhau Chính họ là những người trực tiếp khai thác các nguồn tài nguyên này vì mục đích kinh tế và thoả mãn nhu cầu của mình Nên họ chính
là những người có thể bảo vệ tài nguyên có hiệu quả nhất Ví dụ như đối với rừng, đa số người dân hầu như không nhận được sự đầu tư của Nhà nước Cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác các lợi ích của rừng
để trang trải các chi phí cho việc bảo vệ rừng, thậm chí ở một số nơi hàng năm các thành viên phải đóng góp một phần chi phí cho việc bảo vệ rừng cộng đồng Họ quan niệm rằng rừng là của chính họ, các gia đình được hưởng lợi ích từ rừng nên họ tự giác bảo vệ rừng, nhất là những khu rừng “thiêng” Nhưng ngược lại cũng xảy ra trường hợp là : Mặc dù có sự quản lý của Nhà nước, bằng nhiều quy định pháp lý nghiêm cấm việc khai thác tài nguyên nhưng người dân vẫn tiến hành khai thác bằng nhiều hình thức khác nhau Qua ví dụ trên cho chúng ta thấy một điều là giữa các dân tộc có cách khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên rất khác nhau và cũng nói lên mối quan hệ hữu cơ giữa cộng đồng các dân tộc đối với việc sử dụng tài nguyên
1.1.2.3 Vai trò của kiến thức bản địa trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
- KTBĐ đã hỗ trợ cho công tác nghiên cứu khoa học, có một phần vai trò trong các sáng kiến phát triển Việc ứng dụng nó trong phát triển được xem là giải pháp cho những vấn đề công nghệ Người dân địa phương rất quen thuộc với những thói quen và công nghệ của địa phương Họ có thể hiểu, nắm bắt
và nhớ được kiến thức đó dễ hơn các kinh nghiệm và công nghệ hiện đại Ví
dụ : người dân Eskimô đã đưa ra nhiều sáng kiến để buộc thẻ có ghi địa chỉ vào lưng cá voi ở Bắc cực Nhờ vậy mà các nhà khoa học giảm được nhiều công sức trong việc kiểm soát số lượng và sự di chuyển của loại động vật này
Trang 20- KTBĐ làm tăng thêm nguồn tư liệu cơ sở về môi trường Nó không nhất thiết chứa đựng một hệ thống tri thức toàn diện hoặc có nghĩa rằng tất cả các thành viên trong cộng đồng chia sẻ nó một cách đồng đều Thậm chí, khi những hoạt động bên ngoài quan tâm đến tri thức địa phương, không phải tất
cả các cá nhân đều được hưởng lợi từ đó, mà nó chỉ nói lên những hoạt động
đó là không công bằng hoặc bền vững về mặt xã hội Ví dụ : Những hiểu biết
về hệ sinh thái rộng lớn của Canada vẫn còn rất hạn chế Nhưng những thổ dân đi tìm đất mới có những hiểu biết về lịch sử địa phương, sự phân bố của động vật hoang dã theo không gian và thời gian rất đầy đủ Những thông tin này của người dân bản địa là rất đáng tin cậy để dự báo cho quá trình phát triển tương lai
- KTBĐ được sử dụng để đánh giá tác động của quá trình phát triển Nó
là một phương án thay thế có hiệu quả công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại, cung cấp cho người dân địa phương và cán bộ phát triển những giải pháp bổ sung khi xây dựng dự án Thay vì việc tìm kiếm những công nghệ hiện đại cho những giải pháp khả thi Ví dụ, ở nước ta : việc săn bắn, du lịch và khai thác tài nguyên đã ảnh hưởng lớn đến môi trường Người dân bản địa là người
có điều kiện quan sát kỹ càng nhất những thay đổi về sức khoẻ, môi trường
Vì vậy, đó là công cụ tốt nhất để đánh giá tác động của các dự án phát triển
- KTBĐ được sử dụng như một công cụ để lựa chọn, quyết định, là cơ sở
để nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của địa phương, được ứng dụng như một mô hình đối ngược với khoa học của thế giới Nhưng những hoạt động phát triển lại có nghĩa rằng các cơ quan bên ngoài địa phương sẽ can thiệp vào các hoạt động của người địa phương Vì vậy tri thức bản địa cần phải giao thoa với tri thức khoa học của thế giới, cái này dựa trên cái kia để
có sự thích ứng bền vững và hiệu quả với các môi trường tự nhiên và kinh tế -
xã hội khác nhau
Trang 211.2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VÀ VIỆC
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ĐẤT, RỪNG Ở VIỆT NAM
1.2.1 Một số vấn đề chung về cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Cho đến nay việc lí giải nguồn gốc các dân tộc từ đâu đến, hình thành như thế nào vẫn là một vấn đề phức tạp Trong những thập niên gần đây, cùng với những thành tựu của các ngành khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ, lịch
sử, nhân học, nhiều vấn đề đã được làm sang tỏ, nhưng ngược lại nhiều vấn
đề khác lại nảy sinh phức tạp hơn Điều đáng chú ý là hầu hết các dân tộc ở Việt Nam tuy rất đa dạng nhưng lại có chung một cội nguồn cùng sinh thành trong một khu vực – lịch sử văn hóa Tuy nhiên việc xác định các cuộc thiên
di và chuyển cư của từng tộc người, từng nhóm địa phương vô cùng phức tạp
và khó đoán định được niên đại [8; tr58 – 65]
Qua nghiên cứu của các nhà dân tộc học, khảo cổ học cho thấy: về lịch
sử hình thành của các dân tộc Việt Nam có 2 nguồn gốc: đó là nguồn gốc bản địa và nguồn gốc di cư Dân tộc bản địa là những cư dân đã ở Việt Nam, hay
ở một địa phương nào đó, trước các cư dân thuộc ngôn ngữ khác Trong đó tiêu biểu là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Môn – Khơ
Me Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Khoa đã chứng minh cho sức thuyết phục về loại hình nhân chủng nhóm Việt - Mường và nhóm Môn – Khơ Me được hình thành tại chỗ Hơn nữa, nhiều nhà khoa học khi nhiên cứu vấn đề này đã thống nhất một điểm là: ngôn ngữ Việt – Mường có những mối quan hệ cổ xưa với các ngôn ngữ Đông – Nam Á và Nam Đảo [8; tr 94 – 135]
Theo các tài liệu khảo cổ, sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian thì vùng Đông Bắc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngay từ thời kỳ đồ đá đã có con người cư trú Người Lạc Việt – tổ tiên của nhóm người cư dân Việt – Mường đầu thế
Trang 22hợp nhau lại lập ra nước Âu Lạc với thành phần cơ bản là cư dân Việt – Mường Cho đến nay, trong các dân tộc có nguồn gốc hiện đại, dân tộc Việt (Kinh) có số lượng đông nhất Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam luôn là trung tâm thu hút và đoàn kết các dân tộc an hem xây dựng và bảo vệ tổ quốc [12; tr 49 – 54]
Các dân tộc có nguồn gốc di cư là những dân tộc từ nơi khác đến (Trung Quốc, Lào, …) với những nguyên nhân do chiến tranh, loạn lạc, kiếm sống
Đó là các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao, Tạng – Miến, Hán Họ đến Việt Nam vào những khoảng thời gian khác nhau, từ nhiều địa phương, nhiều nước khác nhau nên có những dân tộc được chia thành rất nhiều nhóm địa phương Tuy nhiên họ cũng đã nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam
Bản danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố ngày 2/3/1979 đã xác định 54 dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ nước ta Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Kinh (Việt) chiếm đa
số (85,65% dân số cả nước – 2009) Các dân tộc còn lại sinh sống rải rác suốt
từ Bắc vào Nam, nhưng chỉ chiếm khoảng 14,35% dân số cả nước
Nếu nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử, các dân tộc Việt Nam không phải
là một cộng đồng chính trị - xã hội riêng rẽ cô lập nhau, mà là bộ phận không tách rời nhau, cấu thành một quốc gia – dân tộc Việt Nam thống nhất Tình trạng cư trú đan xen của các dân tộc trên lãnh thổ quốc gia là rất phổ biến Điều này đã dẫn đến sự giao lưu kinh tế, tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc Các dân tộc cùng cư trú trên một lãnh thổ (huyện, tỉnh) đều nương tựa vào nhau, đắp đổi cho nhau trong sự phân công lao động trên cơ sở cùng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tồn tại và phát triển
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, những dân tộc có dân số đông,
có lịch sử định cư rõ ràng và liên tục thì thường thống nhất, ít chia thành các
Trang 23nhóm địa phương Còn những dân tộc có lịch sử chuyển cư phức tạp, họ đến Việt Nam bằng những con đường và những khoảng thời gian khác nhau, cho
dù dân số không nhiều nhưng cũng chia thành các nhóm địa phương với những sắc thái văn hóa, có tính địa phương và tên gọi khác nhau
Lịch sử hình thành cộng đồng các dân tộc Việt nam với những thang bậc phát triển lịch sử khác nhau nên giữa các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội không đồng đều Dân tộc có trình độ phát triển cao nhất và luôn là lực lượng trụ cột trong mọi thời kỳ lịch sử đó là dân tộc Kinh Các dân tộc thiểu
số, đa phần có xuất phát điểm thấp, cuộc sống quá phụ thuộc vào tự nhiên nên trình độ phát triển kinh tế còn ở mức thấp, đời sống còn nhiều khó khăn [8; tr
134 – 140] Trong giai đoạn hiện nay, việc quan tâm đầu tư cho vấn đề dân tộc và miền núi là vô cùng cần thiết Nếu được giải quyết một cách đúng đắn
và kịp thời thì sẽ là một trong những yếu tố quyết định của sự nghiệp đổi mới đưa đất nước tiến lên, ngày một phát triển
1.2.2 Thực trạng nguồn tài nguyên đất và rừng ở Việt Nam
1.2.2.1 Thực trạng tài nguyên đất ở Việt Nam
Đất là một bộ phận của môi trường bao quanh chúng ta, có nguồn gốc phát sinh do sự tác động của khí quyển và của các sinh vật quần đến thạch quyển trong suốt một khoảng thời gian nhất định Sự hình thành đất
là kết quả tác động qua lại của các quá trình phân huỷ và thay đổi thành phần của các chất ở trình độ phức tạp khác nhau, thực tế là của các quá trình tổ chức lại thường xuyên của chúng Các quá trình này là kết quả của sự trao đổi hoặc hấp thụ năng lượng nhận được từ mặt trời cũng như từ các yếu tố khí quyển, chủ yếu là khí quyển quyết định độ ẩm của đất
Đất đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả các hệ sinh thái trên
Trang 24ngột về nhiệt độ và độ ẩm vốn là đặc tính của các quá trình trong khí quyển,
do đó điều chỉnh các điều kiện của môi trường mà ở trong đó sinh vật phát triển Vì thế đất có một ý nghĩa lớn và vai trò quan trọng trong đời sống con ngời
Toàn bộ quỹ đất đai của nước ta có trên 33 triệu ha (đứng thứ 58 trên thế giới), trong đố 3/4 diện tích là đất dốc- đất đồi núi, chỉ còn 1/4 diện tích là đồng bằng Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên các quá trình trao đổi vật chất xảy ra mạnh mẽ, nhiệt độ không khí cao nên đất đai nước ta rất đa
dạng và phức tạp Ở nước ta bao gồm 14 nhóm đất khác nhau: đất cát, đất mặn, đất phèn, đất lầy và than bùn, đất phù sa, đất xám bạc mầu, đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất mùn thô trên núi cao, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất pôtzon Trong đó chiếm diện tích lớn và có ý nghĩa kinh tế quan
trọng nhất đó là đất phù sa (3 triệu ha, chiếm 9% diện tích tự nhiên), kế đến là đất xám bạc màu 2,48 triệu ha chiếm 7,4%, loại đất đặc trưng của miền núi là đất đỏ vàng chiếm 50 % và đất mùn trên núi chiếm 9 % diện tích tự nhiên
Nhóm đất phù sa tập trung ở các đồng bằng châu thổ, tuỳ theo khu vực
sông mà thành phần cơ giới, đặc tính lý - hoá, độ phì của đất cũng rất khác nhau Đất phù sa sông Hồng có thành phần cơ giới chủ yếu từ cát pha đến thịt trung bình, tại các vùng ô trũng thì thành phần cơ giới là thịt nặng và sét Độ
pH 5,5-7,0 , giàu N, P, K, Ca, Mg và chất hữu cơ Đất phù sa ở đồng bằng sông Cửu Long có thành phần cơ giới nặng hơn, từ đất thịt đến đất sét, phản ứng từ chua đến trung tính, mùn và đạm trung bình, lân tương đối thấp, nhưng
độ phì cũng tương đối khá Đất phù sa đồng bằng duyên hải Miền Trung có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, đất chua, nghèo
Trang 25Nhóm đất đỏ vàng được hình thành trong quá trình phong hoá nhiệt đới
tạo thành nhiều loại đất đỏ vàng khác nhau: Đất bazan phong hoá từ đá bazan, đất đỏ vùng núi đá phong hoá từ đá vôi, đất đỏ vàng ở miền núi, trung du phong hoá từ nhiều loại đá mẹ khác nhau Nhóm đất đỏ vàng nhiệt đới là cơ
sở quan trọng để phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm và phát triển lâm nghiệp, đặc biệt trên 2 triệu ha đất bazan phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ - cơ sở tốt cho việc phát triển, phân bố các cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị
- Về tình hình sử dụng đất: hiện nay nước ta chia ra 5 loại đất theo mục
đích sử dụng, đó là: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở
và đất chưa sử dụng
Bảng 1.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2008 phân theo vùng
Tổng diện tích đất tự nhiên (%)
Đất sản xuất nông nghiệp (%)
Đất lâm nghiệp
có rừng (%)
Đất chuyên dùng (%)
Đất ở (%)
Đất chưa
sử dụng (%)
Trang 26Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, là tài sản quý của mỗi
quốc gia ở nớc ta, trong 7 vùng kinh tế lớn chỉ có hai đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long là có diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 50%
tổng diện tích đất của vùng Các vùng khác như Trung du miền núi phía Bắc,
Bắc Trung Bộ có diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp trong cơ cấu
sử dụng đất của vùng Nhìn chung, tài nguyên đất của nước ta rất hạn chế,
cha đến 0,5 ha/người, thấp vào bậc nhất thế giới Trong đó, diện tích đất nông
nghiệp chỉ bình quân 01 ha/ người, nhng phân bố không đều, ở nhiều vùng
con số này còn thấp hơn nhiều
Việc chuyển mục đích sử dụng đất, như từ đất lâm nghiệp sang nông
nghiệp, từ đất nông nghiệp thành đất thổ cư hay đất chuyên dùng đồng thời
là việc thay đổi hướng tác động của con người lên đất đai, thay đổi giá trị và
giá trị sử dụng của đất đai, điều này đòi hỏi phải cần tiến hành một cách thận
trọng, trên cơ sở quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai của cả nước hay một
vùng lớn
Với điều kiện tự nhiên của một vùng nhiệt đới, nước ta lại có nhiều đất
dốc, cùng với tập quán canh tác lâu đời của một số dân tộc thiểu số, cũng như
trong những năm gần đây do nhiều địa phương khai hoang không đúng kỹ
thuật đã làm cho tài nguyên đất bị thoái hoá, bạc mầu Đất trống đồi núi trọc
đang bị thoái hoá nghiêm trọng với các mức độ khác nhau Diện tích đất xấu
cần được cải tạo ở nước ta còn chiếm tới 20% diện tích tự nhiên Do đó đi đôi
với việc khai thác và sử dụng đất phải tiến hành bồi dưỡng, bảo vệ đất, thực
hiện các biện pháp bảo vệ tích cực và có hiệu quả
1.2.2.2 Thực trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam
Vốn được mệnh danh là "lá phổi" của trái đất, rừng có vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành
Trang 27tinh chúng ta Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra
Việt Nam là đất nước có diện tích đồi núi là chủ yếu, vì vậy rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Rừng đóng vai trò quan trọng trong phát triển KT - XH và bảo vệ môi trường sinh thái Năm 1943, nước ta có khoảng 14.325.000 ha rừng, với độ che phủ là 43,7% đạt 0,70 ha/người Đến năm
1990 rừng chỉ còn 9.175.600 ha với độ che phủ đạt 28%, cho đến năm 2000 Nhờ những nỗ lực to lớn của công tác phục hồi rừng (Trong đó rừng tự nhiên
là 9,4 triệu ha, rừng trồng mới là 1,4 triệu ha), độ che phủ là 33,2% đạt 0,14 ha/ người Đến năm 2005, độ che phủ rừng đã lên 36,7% với tổng diện tích 12.307.000 ha; năm 2009 diện tích rừng là 13.118.773 ha, độ che phủ đạt 38,7% Hiện nay, diện tích rừng vẫn tiếp tục tăng lên theo mục tiêu phát triển lâm nghiệp đến năm 2020 là thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát triển sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010, 47% vào năm 2020 Trên thực tế, diện tích rừng che phủ có tăng nhưng chất lượng rừng vẫn còn xa mức ổn định và vẫn còn đang chịu nhiều áp lực lớn
Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng/người, trong khi mức bình quân của thế giới là 0,97 ha/người Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng, ngành lâm nghiệp nước ta đã ngăn chặn được sự suy
Trang 28Bảng 1.2 Tình hình biến đổi diện tích rừng qua các mốc thời gian
rừng trồng 92,6 422,3 583,6 744,9 1.049,9 1.390,2 2.486,2 2.770,2
Tổng
cộng 11.169,3 10.608 9.891,9 9.175,6 9.302,2 10.884,5 12.663,9 13.118,7
(Nguồn: Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam và Niên gián thống kê, 2009)
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng cũng thấp Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng Hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đó khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U Minh Thượng
và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đó thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống - chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người - nói chung
Trong những thập kỷ gần đây do khai thác bừa bãi: chặt rừng lấy củi, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lậu gỗ , do cháy rừng và các nguyên nhân khác nên diện tích rừng tự nhiên của nước ta giảm đáng kể Hiện nay, đa số diện tích rừng nước ta là rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh chỉ còn từng đám
Trang 29nhỏ trên núi cao khó khai thác Cùng với diện tích, chất lượng rừng cũng bị giảm sút nghiêm trọng, tầng tán bị phá vỡ thành từng mảng lớn, cây gỗ lớn chất lượng tốt có giá trị kinh tế cao còn lại rất ít, một số loài trở nên khan hiếm Mất rừng làm cho thành phần loài và số lượng loài đông vật hoang dã
bị suy giảm, nhiều loìa động vật trước đây gặp những đàn với số lượng lớn, thì nay rất ít gặp hoặc đàn chỉ có vài ba con ( nai, bò rừng, bò tót, voi, báo ) Diện tích rừng bị thu hẹp, trữ lượng và chất lượng rừng bị suy giảm làm cho
sự cân bằng tối ưu của môi trường bị phá huỷ, tài nguyên bị cạn kiệt, lợi ích
mà con người thu được từ rừng bị giảm sút, giảm nguồn thức ăn của các quần lạc động vật và còn nhiều tổn thất khác do hậu quả của mất rừng đưa đến như
lũ lụt, hạn hán, xói mòn rửa trôi đất, mất khả năng canh tác Do vậy, việc khai thác rừng một cách đúng đắn và hợp lý, bảo vệ và phát triển rừng, là một vấn đề cần được chú trọng ở tất cả các địa phương, các vùng kinh tế của cả nước
1.2.3 Thực trạng về việc sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc ở vùng núi Việt Nam
Trong cộng đồng các dân tộc nước ta, dân tộc Kinh phân bố chủ yếu ở đồng bằng, ven biển với tỷ lệ lớn, chiếm số đông ở các vùng thấp, thành phố, thị xã, thị trấn các tỉnh trung du - miền núi và cửa khẩu biên giới; các dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc, sinh sống chủ yếu ở miền núi, thường phân bố theo những độ cao khác nhau và sinh tụ theo tộc người, dòng họ, cộng đồng đã tạo nên những tập quán truyền thống phong phú về sản xuất, đời sống, mang đậm bản sắc tộc người
Cho đến nay, đại bộ phận các tộc người thiểu số chủ yếu sống dựa vào nông- lâm nghiệp Ở vùng cao họ thường trồng lúa trên nương và rẫy Ở vùng
Trang 30săn thú và chăn thả trâu bò trong rừng theo đàn Ở ven suối họ làm nghề chài lưới, thường đi trên các loại thuyền độc mộc Ngoài ra, họ còn làm các nghề khác như đan lát, dệt, thêu, mộc
Vùng núi Việt Nam được đặc trưng bởi tính phức tạp và đa dạng cao, địa hình chia cắt mạnh, tạo nên sự đa dạng sinh thái Tuy nhiên sự đa dạng cảnh quan như vậy cũng gây ra những điều kiện sinh thái mong manh, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, cường độ mưa mạnh, mưa tập trung, gây ra hạn hán vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa Những trận lũ quét ở miền núi đã tàn phá nghiêm trọng TNTN và gây nhiều thiệt hại khác Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, cộng đồng các dân tộc thiểu số đang trong tình trạng khó khăn và chậm phát triển Nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, chưa thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp Tỉ lệ người mù chữ cao, tình trạng bỏ học còn nhiều, cơ sở hạ tầng thấp kém Cùng với những phong tục tập quán sản xuất lạc hậu, dân số tăng nhanh khiến cho đồng bào các dân tộc khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo nàn và lạc hậu Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số thì mong muốn đầu tiên là đ ủ ăn,
đủ lương thực để sinh sống Song một vấn đề đặt ra ở khu vực miền núi, dân tộc đó là an ninh lương thực mâu thuẫn với sự phát triển bền vững Đồng bào các dân tộc để sản xuất đủ lương thực và có thu nhập đáp ứng các nhu cầu, khi dân số tăng nhanh, việc phá rừng mở rộng diện tích nương du canh là không tránh khỏi Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu gây xói mòn và suy thoái đất Như vậy một loạt các thách thức đang tồn tại cho sự phát triển bền vững của khu vực miền núi, vùng cao nơi cư trú của các dân tộc thiểu số
Trên thực tế, diện tích rừng che phủ có tăng nhưng chất lượng rừng vẫn còn xa mức ổn định và đang tiếp tục chịu những áp lực lớn Khai thác
Trang 31rừng bừa bãi không tuân thủ các nguyên tắc lâm sinh gây thiệt hại lớn cho vốn rừng, nhất là khu vực rừng già, rừng đầu nguồn Canh tác nương rẫy đang làm cho diện tích rừng bị thu hẹp lại và nạn cháy rừng xảy ra thường xuyên Suy thoái tài nguyên rừng kéo theo suy thoái đất, mất rừng làm cho đất đai xói mòn rửa trôi Hiện tượng thiếu đất canh tác đang rất phổ biến, ảnh hưởng đến an toàn lương thực và đe dọa đến sự PTBV của miền núi Các số liệu thống kê cho thấy, trung bình từ năm 1960 đến nay, hàng năm đất nông nghiệp miền núi mất khoảng 1,5 cm đất mặt Sự suy thoái đất tại nhiều vùng còn kéo theo cả sự suy thoái về hệ thực vật, động vật
và môi trường địa phương, đồng thời làm cho diện tích đất nông nghiệp trên đầu người giảm xuống đến mức báo động
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên nhìn nhận vấn đề một cách bi quan, bởi vì mỗi một cộng đồng dân tộc, theo cách riêng của mình đã thích nghi với các đặc điểm tự nhiên và xã hội khác nhau, từ đó dẫn tới nhiều loại hình sử dụng tài nguyên và phương thức canh tác khác nhau Đồng thời, trong sản xuất và đời sống họ đã tích luỹ được một khối lượng lớn những kiến thức về môi trường nơi họ ở, và về các cách khác nhau để quản lý tài nguyên trong một môi trường chung đầy khó khăn Sức ép dân
số ngày một gia tăng, TNTN ngày một cạn kiệt, đã buộc con người phải
có những cách ứng xử mới với thiên nhiên, đồng thời phải biết bả o lưu những giá trị văn hoá, những KTBĐ của cộng đồng các dân tộc Để đảm bảo được tính bền vững về các phương diện tài nguyên môi trường, kinh tế, văn hoá, xã hội thì mỗi một cộng đồng dân tộc phải có sự ứng xử khác nhau, tuỳ thuộc vào môi trường địa lý, bản sắc văn hoá của mình và tuân thủ pháp luật của Nhà nước, quan tâm đến lợi ích chung của các dân tộc cư trú trong vùng và cả nước
Trang 32Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nền kinh tế trước mắt phải được thay thế bằng một chiến lược phát triển lâu dài và bền vững Để tạo
ra một chiến lược như vậy chúng ta cần sử dụng tối đa hệ thống kiến thức bản địa của các cộng đồng Nhờ có hệ thống kiến thức này mà các cộng đồng đã bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ hàng nghìn năm nay Mối quan hệ giữa môi trường, văn hoá và đặc biệt là vai trò của kiến thức bản địa trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cần phải được các nhà quy hoạch quan tâm đúng mức
Trang 33Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một vùng hay một quốc gia, chúng ta không thể không khai thác tài nguyên thiên nhiên Cùng với quá trình phát triển đó thì nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng
bị cạn kiệt, môi trường ngày cành bị ô nhiễm trầm trọng Nếu không có biện pháp khai thác, bảo vệ và sử dụng hợp lí thì chính con người chúng ta phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do tự nhiên mang lại
Một trong những giải pháp khai thác, sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất và rừng hiện nay là dựa vào những kiến thức bản địa của đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đối với những địa phương thuộc vùng núi Vấn đề là phải biết phát huy những giá trị, những kiến thức có ảnh hưởng tích cực của cộng đồng các dân tộc trong việc khai thác, sử dụng cả bảo vệ tài nguyên
Trang 34CHƯƠNG 2 CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN TÀI NGUYÊN ĐẤT, RỪNG CỦA TỈNH HÒA BÌNH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH
2.1.1 Vị trí địa lý
Hoà Bình là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, giáp Đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc; phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Sơn La, phía Nam giáp Thanh Hoá và Ninh Bình, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam Tỉnh Hoà Bình trải dài từ 20018’ đến 2108’ vĩ độ Bắc và từ 104050’ đến 105052’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên của Hoà Bình là 4.595,9 km2 (chiếm 1,4% diện tích tự nhiên cả nước) và dân số là 788
274 người (đứng thứ 49/63 tỉnh, thành phố và chiếm 0,9% dân số cả nước) – theo số liệu năm 2008
Hoà Bình nằm án ngữ cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ đô
Hà Nội khoảng 80 km về phía Tây theo quốc lộ 6 Hoà Bình có vị trí địa lí quan trọng, là đầu mối giao thông nối liền miền xuôi với miền núi Tây Bắc theo trục kinh tế Hà Nội - Hà Đông - Hoà Bình - Mộc Châu - Sơn La - Lai Châu; theo đường 15 Hoà Bình là điểm xuất phát của tuyến đường Trường Sơn lịch sử, nối Hoà Bình với miền Tây Thanh Hoá Theo các tuyến đường 12A, 12B, 21A; Hoà Bình ở vào vị trí trung chuyển giữa miền Tây Bắc núi non trùng điệp, giàu tiềm năng tài nguyên thiên nhiên nhưng thiếu lao động, đặc biệt là lao động trình độ cao với đồng bằng châu thổ sông Hồng phì nhiêu
có tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng và có nguồn lực lao động lớn nhất
cả nước
Trang 35Về phân chia hành chính, tỉnh Hoà Bình được thành lập từ năm 1886, năm 1888 đổi tên thành tỉnh Phương Lâm, năm 1991 đổi tên thành tỉnh Hoà Bình Năm 1976 Hoà Bình sáp nhập với tỉnh Hà Tây (cũ) thành tỉnh Hà Sơn Bình Tháng 10 năm 1991 tỉnh Hoà Bình được tái lập từ tỉnh Hà Sơn Bình và tỉnh lị là thị xã Hoà Bình (nay là thành phố Hòa Bình)
Hiện nay, tỉnh Hoà Bình gồm 1 thành phố (thành phố Hoà Bình thành lập năm 2006) và 10 huyện (Đà Bắc, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, Lạc Sơn, Yên Thuỷ và Lạc Thuỷ) với 214 xã, phường, thị trấn
Bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh đã thay đổi trong những năm gần đây
do tác động của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá và sự nghiệp đổi mới đang diễn ra trên phạm vi cả nước Quá trình đô thị hoá kéo theo sự thay đổi trong phân bố không gian sản xuất, cư trú; từ đó dẫn đến sự thay đổi về phân bố dân cư, cơ cấu ngành nghề
Trang 36Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hòa Bình
Trang 37(Nguồn:Cục thống kê Hòa Bình)
Năm 1976, khi còn là một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình, dân số khi đó của Hoà Bình là 432,0 nghìn người; năm1999 số dân tăng lên 756,713 nghìn người; và 2009 là 788 724 nghìn người (tương đương dân số của hai tỉnh trong khu vực Tây Bắc là Điện Biên và Lai Châu Ngày 6 - 11 - 1979 khởi công xây dựng công trình thủy điện Hoà Bình cũng là mốc bắt đầu một giai
Trang 38việc tái phân bố dân cư khi quần cư vùng hồ bị ngập chìm trong nước Mức tăng dân số cao (3 - 4%) và liên tục trong suốt thập kỉ 70 thế kỉ XX; bước sang thập kỉ 90 mức tăng dân số bình quân mỗi năm là 1,39% cũng là lúc công trình thủy điện Hòa Bình hoàn thành; đến 2009 mức tăng dân số là 1,17%
Bảng 2.2 Hiện trạng dân số tỉnh Hòa Bình
Dân số nông thôn Nghìn người 667,4 685,7 668,6
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020)
Tốc độ tăng dân số chung tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2001-2005 khá thấp, chỉ khoảng 1,01%/năm; tuy nhiên trong các năm 2006-2007 tỷ lệ này tăng lên bình quân 1,19%/năm Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh giảm từ 1,32% năm
2000 xuống còn 1,14% năm 2005 nhưng lại tăng lên 1,17% năm 2009 Các năm 2006, 2007 tỷ lệ tăng dân số cao lên do nguyên nhân chính là tâm lý muốn có nhiều con, chọn năm tốt để sinh con, muốn có con trai và do một số người hiểu sai lệch pháp luật về dân số về quyền quyết định số con và số lần sinh con đã dẫn đến nhiều người sinh con thứ 3
2.1.2.2 Phân bố dân cư và dân tộc
a Phân bố dân cư
Là tỉnh miền núi nhưng mật độ dân số Hoà Bình khá cao (171
Trang 39năm 2009) Tương tự đặc điểm chung của cả nước và các địa phương khác, dân cư Hoà Bình phân bố không đều giữa các địa phương trong tỉnh Dân cư tập trung đông tại thành phố và các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Sơn; các huyện có quy mô dân số nhỏ là; Cao Phong; Lạc Thủy Trên địa bàn tỉnh, địa phương có mật độ dân số cao nhất là thành phố Hoà Bình 571 người/km2
(tính riêng các phường nội thị khoảng 1.200 người/ km2), địa phương có mật độ dân số thưa nhất là huyện vùng cao Đà Bắc 69 người/ km2
, các huyện đông dân có mật độ cao hơn như Kim Bôi 257 người/ km2
, Lạc Sơn 228 người/ km2 (số liệu năm 2009)
Bảng 2.3 Mật độ dân số trung bình của các địa phương năm 2009
Đơn vị: người/km 2
(Nguồn: Niên giám thống kê Hòa Bình, năm 2009)
Phân bố dân cư giữa khu vực thành thị (các phường nội thị thành phố Hoà Bình, các thị trấn trung tâm huyện lỵ) với khu vực nông thôn, giữa các huyện vùng thấp với các huyện vùng cao có sự chênh lệch rất lớn Khu vực thành thị đất chật người đông, khu vực nông thôn mà đặc biệt là vùng núi cao huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn dân cư ít, phân tán Do đặc điểm phân bố dân cư mang tính đặc thù của khu vực nông thôn miền núi và các yếu
Trang 40khó khăn; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất
b Dân tộc
Do những thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cách đây hàng vạn năm, đất Hòa Bình được người cổ xưa chọn làm nơi sinh sống Cho tới hiện nay, nhiều bằng chứng khảo cổ học về dấu tích cư trú của loài người trong thời đại cổ đó được tìm thấy ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh
Bảng 2.4 Dân số và cơ các cấu dân tộc ở Hòa Bình
Dân tộc Số dân
(người)
Tỷ lệ (%)
Số dân (người)
Tỷ lệ (%)
Số dân (người)
Tỷ lệ (%) Mường 397 283 60,27 479 197 63,26 490 069 62,17
(Nguồn: Cục thống kê Hòa Bình)
Ngày nay, Hòa Bình là một trong các tỉnh ở miền núi phía Bắc có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
có 15 dân tộc sinh sống (nếu tính các dân tộc có tổng số dân từ chục người trở lên) Tuy nhiên, thực chất 6 dân tộc Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông đó chiếm 99,92% dân số của toàn tỉnh Ngoài người Mường được coi là dân cư bản địa và là chủ nhân chính của vùng đất này, các dân tộc khác cũng trở thành các bộ phận dân cư không thể thiếu được trong công cuộc xây dựng và