Phương pháp so sánh, đối chiếu Dựa trên các kết quả về kiểu loại so sánh, đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của cái được so sánh và cái đem ra làm chuẩn để so sánh, luận văn sẽ đi
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 9
Chương I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9
I.1 Khái quát về truyện ngắn 9
I.1.1.Khái niệm truyện ngắn 9
I.1.2 Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn 10
I.2 Khái quát về phép so sánh 11
I.2.1 Khái niệm so sánh và cấu trúc cấu trúc của phép so sánh 11
I.2.2 Các kiểu quan hệ so sánh 22
I.2.3 Quan niệm của luận văn 24
Chương II: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – CẤU TRÚC CỦA PHÉP SO SÁNH VÀ CÁC KIỂU SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN 30
II.1 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của phép so sánh 30
II.1.1 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế cần được so sánh 30
II.1.2 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của yếu tố thể hiện quan hệ so sánh 36
II.1.3 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế được đem ra làm chuẩn để so sánh (B) 41
II.2 Phân loại các kiểu so sánh 46
II.2.1 Dựa vào cấu trúc 46
II.2.2 Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa vế A và vế B 50
II.2.3 Dựa vào trường ngữ nghiã của yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh 53
II.2.4 Dựa vào mục đích so sánh 59
Chương III: GIÁ TRỊ CỦA PHÉP SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN 64
III.1 Phép so sánh với giá trị nhận thức 64
III.1.1 Nhận xét chung 64
Trang 4III.1.3 Giá trị nhận thức trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan 68
III.2 Phép so sánh với giá trị gợi cảm 71
III 3 So sánh như là yếu tố tạo nên phong cách tác giả 73
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản đã được hầu hết các nhà ngôn ngữ học thừa nhận – đó là phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy Tuy nhiên, ngôn ngữ còn có những chức năng khác mà một trong số đó tồn tại dưới nhiều hình thức diễn đạt của lời nói hàng ngày của nhân dân, đặc biệt cô đúc trong ngôn ngữ văn chương, thường được gọi là “chức năng thẩm mĩ” Nhờ chức năng này ngôn ngữ đã trở thành yếu tố đầu tiên và là chất liệu duy nhất trong các tác phẩm văn chương Đồng thời thông qua chức năng này, nhà văn đã xây dựng được các hình tượng nghệ thuật độc đáo và nhờ đó mà chuyển tải được những ý tình của mình tới các độc giả
Các nhà văn nổi tiếng - những nghệ sĩ bậc thầy về ngôn từ - luôn luôn
có ý thức tạo dựng cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng Để có được điều này thì người nghệ sĩ (bên cạnh việc tích lũy một vốn sống phong phú, một trình độ văn hoá cao) họ còn phải luôn luôn đổi mới cách diễn đạt của mình thông qua những phương tiện và thủ pháp nghệ thuật - đặc biệt là thủ pháp so sánh
1.2 So sánh là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, là một trong những phương thức chủ yếu để làm cho sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm được tốt hơn, hay hơn Nghiên cứu phép so sánh - nghĩa là một cách để chúng ta tìm hiểu nội dung bên trong của tác phẩm và những tư tưởng, tình cảm, những ngụ ý, tâm sự mà tác giả gửi gắm qua ngôn ngữ trong tác phẩm của mình
Hiện nay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày hay trong các tác phẩm văn chương, thủ pháp so sánh được sử dụng rất nhiều và trở nên quen thuộc với mọi người Chính vì nó đã trở nên quen thuộc như thế, nên các nhà văn, nhà
Trang 6thơ cũng sử dụng nhiều trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình Vì vậy, chúng ta rất cần nghiên cứu về phép so sánh một cách có hệ thống để làm nổi bật giá trị nhận thức và giá trị thẩm mĩ của phương tiện tu từ ngữ nghĩa này
1.3 Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi, những chuyện bất công, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ Một trong những yếu tố làm nên thành công trong các sáng tác của ông là lối so sánh ví von
Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được chọn lọc và giảng dạy trong trường phổ thông
Vì tất cả các lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn Nguyễn Công Hoan và
các truyện ngắn của ông, tiến hành luận văn với đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu
phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan”
2 Sơ lược lịch sử vấn đề:
Nói đến lịch sử nghiên cứu phép so sánh, đầu tiên nhất phải nhắc đến tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp cổ đại Arisstotle
Trang 7(384- 322 TCN) Trong cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu,
phổ dụng, Arisstotle đã chú ý đến so sánh tu từ và coi đó là một trong những biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong văn chương, đặc biệt là rất đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và thẩm mĩ
Ở Trung Hoa cổ đại, qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc, người ta cũng nói tới, cùng với ẩn dụ, lí luận về
so sánh Các học giả Trung Hoa thường dùng khái niệm “tỉ” và “hứng” như một phương thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió Ở Việt Nam, cho đến nay, đã có hàng loạt nghiên cứu về các phương thức tu từ - trong đó
có so sánh tu từ, tiêu biểu là các tác giả sau: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình
Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb
GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD,1998); Cù Đình Tú với cuốn
Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH ∞ THCN, 1983); Hữu
Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001)
Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên, đã hình thành khái niệm cũng như sự phân loại và xác định giá trị của các phương thức tu từ nói chung và so sánh tu từ nói riêng Đây là cơ sở lí thuyết vô cùng quý báu giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu về phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng đầu tiên để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các kiểu so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, từ đó có được tư liệu để phân tích, miêu tả, nhận xét, đánh giá những kiểu loại hình thức, đặc trưng về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu
Trang 83.2 Phương pháp phân tích, miêu tả
Đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn Phương pháp này đi sâu vào miêu tả để khái quát các kiểu cấu trúc so sánh, chỉ ra các đặc điểm ngữ nghĩa cùng các vai trò của chúng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của truyện ngắn đồng thời làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị gợi cảm mà phương pháp này đem lại cho người tiếp nhận văn bản nghệ thuật
3.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Dựa trên các kết quả về kiểu loại so sánh, đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của cái được so sánh và cái đem ra làm chuẩn để so sánh, luận văn sẽ đi đến kết luận phong cách của nhà văn
4 Mục đích của luận văn
4.1 Xác định cơ sở lí thuyết của phép so sánh, góp phần xác định giá trị của biện pháp tu từ ngữ nghĩa này trong văn chương; đưa ra những vấn đề
lí thuyết về truyện ngắn, góp phần giúp cho có được cái nhìn toàn diện về ngôn từ truyện ngắn
4.2 Khảo sát tần số xuất hiện và tiến hành thống kê, phân loại, phân tích các biểu hiện cụ thể về đặc điểm hình thái - cấu trúc của phép so sánh trong các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan
4.3 Từ những sự phân tích trên nêu bật giá trị của phép so sánh trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, nâng cao năng lực thẩm mĩ, khả năng nhận thức và giá trị trong việc tạo dấu ấn phong cách tác giả
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 9Trong luận văn này, phép so sánh sẽ được tìm hiểu với tư cách là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa từ góc nhìn của ngôn ngữ học và phong cách học Luận văn sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm hình thái – cấu trúc, phân loại các kiểu so sánh để từ đó thấy được giá trị của phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan
* Luận văn giới hạn phạm vi tư liệu trong Nguyễn Công Hoan toàn tập, tập I, II – truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học, 2003
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về mặt lí luận
Luận văn là một cố gắng nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống, theo cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ học - văn học - phong cách học, về phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Những kết quả thu được sẽ góp phần vào việc nghiên cứu phương tiện tu từ ngữ nghĩa này sâu hơn ở những công trình khoa học tiếp sau
6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu phong cách nhà văn Nguyễn Công Hoan từ nhiều phương diện khác nhau Đồng thời luận văn cũng góp thêm vào hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu các tác phẩm văn chương nghệ thuật: đó là con đường khảo sát đi từ thủ pháp nghệ thuật tới phân tích giá trị nội dung Cách tiếp cận mới này cũng giúp ích cho các Thày
Cô dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương
Chương I: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Trang 10Đây là chương có tính lí luận làm nhiệm vụ định hướng cho toàn bộ luận văn, làm tiền đề để khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả các kiểu so sánh ở chương tiếp theo
Chương này có nhiệm vụ xác định khái niệm truyện ngắn, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn
Đồng thời trong chương một luận văn đặc biệt chú trọng đến các quan niệm của giới nghiên cứu về so sánh và đưa ra quan niệm của luận văn về phép so sánh
Chương II: Đặc điểm – hình thái cấu trúc và các kiểu so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Chương này có nhiệm vụ phân tích đặc điểm hình thái - cấu trúc của các yếu tố trong cấu trúc so sánh và tiến hành phân loại các kiểu so sánh dựa vào: cấu trúc so sánh, quan hệ ngữ nghĩa giữa cái cần so sánh và cái được dùng làm chuẩn để so sánh, mục đích của so sánh và đặc điểm ngữ nghĩa trong cái được dùng làm chuẩn để so sánh
Chương III: Giá trị của phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Từ cơ sở lí thuyết của chương I, kết quả của chương II, chương III có nhiệm vụ làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ và phong cách của nhà văn Nguyễn Công Hoan
Trang 11NỘI DUNG Chương I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I.1 Khái quát về truyện ngắn
I.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng
tiếng Việt (Nxb Văn hóa thông tin, 1995) đã quan niệm: “Truyện ngắn là tác phẩm văn học có ít nhân vật tập trung vào một sự kiện duy nhất qua đó thể hiện, không phải toàn diện, mà chỉ một mặt tâm lí của nhân vật chính trong
một hoàn cảnh riêng biệt”
Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) đã trình
bày: Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với những bài kí ngắn Nhưng thực ra không phải Nó gần gũi với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung của truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về một đoạn đời một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn” mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nhân vật truyện ngắn thường
là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái
Trang 12tồn tại của con Cốt truyện của truyện ngắn có thể nổi bật hấp dẫn, nhưng chức năng của nó là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết
Nghiên cứu các truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan dưới góc
độ ngôn ngữ học sẽ giúp cho việc cảm nhận cái tài của tác giả, cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm
I.1.2 Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn
Khi nghiên cứu đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn chúng ta không thể tách rời ngôn ngữ nghệ thuật Bởi vì những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật cũng là những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn
Ngôn ngữ nghệ thuật nó đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo Nó không chỉ nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật Ngôn ngữ đó đông thời cũng mang dấu ấn cá tính và phong cách nghệ sĩ rất
rõ
Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong sự phối hợp giữa các
từ sao cho mỗi từ ngoài biểu tượng trực tiếp của nó ra còn kéo theo cả một loại biểu tượng khác hiện lên trong tâm hồn người đọc Để đạt được điều trên, các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ học trong đó không thể không kể đến phép so sánh Phép so sánh góp phần mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể và sinh động
Trang 13Với mỗi độc giả để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành
Trong truyện ngắn, các hình thức tổ chức ngôn ngữ bao gồm: Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ xen kẽ “vừa tác giả vừa nhân vật” Các yếu tố này đan cài nhau nhằm phản ánh một cách toàn vẹn nhất hiện thực của xã hội Vì vậy ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ miêu tả một cách chính xác những đối tượng được phản ánh, tác động trực tiếp đến người đọc và có
ảnh hưởng kịp thời trong đời sống
I.2 Khái quát về phép so sánh
I.2.1 Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh
So sánh là một thao tác của tư duy, đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác, để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng Không phải ngẫu nhiên
mà người phương Tây có câu châm ngôn nổi tiếng: “Chân lý chỉ được nhận thức ra trong sự so sánh”!
Về khái niệm phép so sánh, chúng ta có thể thấy rằng: Những trình bày của các tác giả bên cạnh những điểm chung cũng có những điểm khác nhau
nhất định và điểm khác nhau chủ yếu là ở các mô hình so sánh được đưa ra
Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo trình
Phong cách học tiếng Việt đã định nghĩa về so sánh như sau: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn
là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [9,
tr189] Theo các tác giả này, hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố sau:
Trang 14- Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t)
- Từ so sánh, kí hiệu là (tss)
- Cái được dùng làm chuẩn so sánh, kí hiệu là (B)
Ta có thể khái quát lên thành bảng sau:
Ví dụ
Hai cánh tay Ông ấy Trận đánh này
trơn khoẻ kịch liệt
như như hơn
phết mỡ vâm trận trước Nghĩa là mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ sẽ là:
A (t) tss B
Tuy nhiên, trên thực tế, tuỳ từng trường hợp người ta có thể đảo trật tự
so sánh hoặc bớt một yếu tố trong mô hình; cụ thể là ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên:
Trang 15Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh
(Tố Hữu) Tác giả Nguyễn Thế Lịch trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật” (đăng trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1988) đã đưa ra
Trang 16định nghĩa như sau: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối
chiếu về một mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng hơn” Như vậy, theo Nguyễn Thế Lịch điều kiện để một so sánh tu từ tồn tại
là hai sự vật đem ra đối chiếu phải khác loại Tác giả cũng đưa ra một cấu trúc
so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố giống như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà ở trên, cụ thể là:
- Yếu tố cần so sánh hay yếu tố được/bị so sánh (YTĐ/BSS): (A)
- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPDSS): (t)
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH): (tss)
- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS); (B)
Do đó mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh sẽ là:
Trang 17có vai trò xác định ý nghĩa của so sánh, thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu
tố được so sánh biểu thị, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định được là đã so sánh về phương diện nào
+ Yếu tố quan hệ được xem như là đơn giản nhất trong CTSS Nó bao gồm các từ so sánh, từ “là” và cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu” Các từ
so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa
như, hồ như…
Ví dụ:
Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau
(Ca dao)
Trang 18Chú ý rằng: từ là trong CTSS có giá trị tương đương từ như, nhưng là đem đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định khác với như mang sắc thái giả định
Ví dụ:
“Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông mát lấp loáng”
(Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương)
Các cặp từ có quan hệ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu
Ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu
(Ca dao) + Yếu tố cuối cùng của CTSS là YTSS Đây được xem là yếu tố quan trọng nhất của CTSS vì nó là chuẩn của so sánh (mà không có chuẩn thì không thành so sánh) Chính vì thế nó là yếu tố không thể thiếu trong CTSS
Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng, lựa chọn và thông qua quá trình đó nó có thể bộc lộ ra sắc thái tâm lí, tư duy, văn hóa của dân tộc
Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào một so sánh cũng hội tụ đủ
cả 4 thành phần trên Theo tác giả Nguyễn Thế Lịch, có 4 trường hợp CTSS không hoàn chỉnh Cụ thể là:
+ Vắng yếu tố phương diện:
Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau
Trang 19(Ca dao) + Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ:
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
(Xuân Diệu, Lời kĩ nữ) + Vắng yếu tố bị/được so sánh:
Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(Hồ Xuân Hương, Mời trầu) Theo tác giả, thuộc vào kiểu cấu trúc này có vô vàn các thành ngữ so
sánh như: cao như núi, mềm như bún, dai như đỉa, ngọt như mía lùi, đỏ như
son…Kiểu cấu trúc so sánh này giúp cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng vì
phương diện so sánh được nói ra thành lời rất hiển ngôn Nói chung, những so sánh loại này rất chân phương
+ Vắng yếu tố bị/được so sánh và yếu tố phương diện:
Như diều gặp gió Như nước vỡ bờ
(Thành ngữ) Với kiểu cấu trúc so sánh này, gánh nặng ngữ nghĩa dồn cả vào yếu tố đem ra làm chuẩn để so sánh Vì thế, yếu tố này thường là phải do một ngữ (chứ không phải một từ) thể hiện
Tác giả Nguyễn Hữu Đạt trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt
hiện đại” đã định nghĩa như sau về so sánh: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự
Trang 20vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau
và khác biệt giữa chúng” [19, tr294] Theo tác giả, về thực chất, phép so sánh
tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính, tình trạng của sự vật khác
Tác giả đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là:
A - X - B
trong đó:
- A: Cái chưa biết được đem ra so sánh
- B: Cái đã biết được đem ra để so sánh
- X: Phương tiện so sánh được biểu thị bằng các từ: như, giống như, là, như là, tựa hồ, bằng, hơn, kém…
Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, X có thể có mặt hoặc vắng mặt Khi X vắng mặt người ta có thể nhận diện được A và B nhờ vào dấu phẩy ngăn cách hoặc nhờ vào độ ngắt nhịp, ngữ điệu của câu nói
Ví dụ:
(a) Đẹp như tiên (Thành ngữ)
(b) Rách như tổ đỉa (Thành ngữ)
(c) Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm
(Ca dao)
Ở các ví dụ (a), (b) ta có phép so sánh có X, còn ví dụ (c) là phép so sánh không có X Theo tác giả, đối với những trường hợp thiếu từ thể hiện
Trang 21quan hệ so sánh kiểu này, chúng ta có thể khôi phục được một cách dễ dàng, chẳng hạn như đối với ví dụ (c) ở trên:
“Gái thương chồng như buổi chợ đông Trai thương vợ như nắng quái chiều hôm”
Như vậy mô hình cấu trúc so sánh của tác giả Hữu Đạt, nếu so với các tác giả khác, thiếu vắng yếu tố chỉ phương diện so sánh Do đó mô hình cấu trúc so sánh mà tác giả đưa ra chỉ gồm 3 yếu tố, và biến thể của cấu trúc này chỉ có 2 loại là:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non
(Tố Hữu, Sáng tháng Năm) + So sánh có từ so sánh
Mô hình: A – X – B
Biến thể: A – X – B1, B2
A1, B1 – X – B
A1, B1 – X – B1, B2
Trang 22Ví dụ:
Lũ Đế quốc như bầy quỷ sống
Nướng người ăn, nhảy nhót, reo cười
(Tố Hữu, Theo chân Bác) Đáng chú ý là quan niệm của tác giả Cù Đình Tú về phép so sánh Nếu như các tác giả đã dẫn trên nói chung đều xếp phép so sánh vào nhóm các biện pháp tu từ ngữ nghĩa, thì riêng Cù Đình Tú lại xếp nó vào nhóm của những phương thức chuyển nghĩa là ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá và một phần nào đó trong các phương thức tượng trưng, liên dụ, phúng dụ Mặc dù tác giả cũng khẳng định rằng về thực chất thì so sánh không phải là chuyển nghĩa, song theo tác giả thì nó lại là cơ sở của nhiều phương thức chuyển nghĩa về so
sánh, cụ thể là như sau: “So sánh tu từ là công khai đối chiếu hai hay nhiều
đối tượng có cùng một dấu hiệu chung nào đó (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh, đặc điểm của đối tượng”
so sánh
Ví dụ:
Tóc nó như chổi xuể (đồ vật)
Trang 23Ở ví dụ này, tóc và chổi xuể là hai đối tượng khác loại, được đem ra so
sánh nhằm làm nổi bật độ cứng và rối của tóc
Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra căn cứ để xác định và bình giá một so sánh tu từ là: các đối tượng được đưa ra so sánh, một mặt, phải khác loại, nhưng, mặt khác, lại phải có nét cá biệt giống nhau Chính cái nét cá biệt giống nhau này là cơ sở để phép so sánh có thể hình thành được và tạo nên hạt nhân của phép so sánh Tác giả cũng nêu ra yêu cầu của một so sánh tu từ; theo ông, một so sánh tu từ được gọi là “đắt” phải đồng thời thoả mãn hai yêu cầu về mặt nội dung:
1 Tài liệu so sánh là những đối tượng quen thuộc và khác loại
2 Phát hiện ra một cách chính xác nét cá biệt giống nhau giữa những đối tượng khác loại
Về cấu tạo của so sánh tu từ, theo tác giả cù Đình Tú, bao giờ nó cũng phô bày hai vế: vế so sánh và vế được so sánh Mỗi vế này có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng và gắn với nhau, tạo thành những kiểu hình thức so sánh sau:
+ A như (tựa như, như là…) B
Trang 24Ví dụ:
Em là con gái Bắc Giang (khẳng định)
Em như là con gái Bắc Giang (không khẳng định)
Trong kiểu cấu trúc này, là có ý nghĩa và giá trị tương tự như, nhưng ý nghĩa sắc thái của hai từ này khác nhau Như có sắc thái giả định, còn là có sắc thái khẳng định: trong ví dụ trên, nếu ta thay là bằng như là , thì nội dung
cơ bản của mệnh đề bị thay đổi
Qua các tác giả và các định nghĩa trên, chúng ta có thể khái quát lại, nêu lên một vài đặc điểm chính yếu nhất của phép so sánh như sau:
1 So sánh là việc đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất là hai
sự vật
2 Hai sự vật đối chiếu đưa ra phải khác loại
3 Hai sự vật đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng mà giác quan có thể nhận biết được
4 Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các sự vật
I.2.2 Các kiểu quan hệ so sánh
Về phương diện phân loại các kiểu quan hệ so sánh, đáng chú ý là quan niệm riêng, độc đáo của tác giả Đào Thản Nếu như các tác giả khác đều nhìn nhận so sánh ở mặt cấu trúc, thì Đào Thản lại nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và tiến hành phân chia các quan hệ so sánh dựa vào mục đích Tác giả đưa ra 8 kiểu quan hệ so sánh như sau:
Trang 25+ So sánh để miêu tả
Ví dụ:
Ánh nắng tháng năm rát như lửa chàm vào mặt
(Ngô Tất Tố) + So sánh để đánh giá
Ví dụ:
Thế địch như lửa, thế ta như nước
(Hồ Chí Minh) + So sánh để biểu lộ tình cảm
Ví dụ:
Chúng ta hãy phấn đấu như mùa xuân, với nhiệt tình như ánh nắng
(Hồ Chí Minh) + So sánh liên tiếp
Ví dụ:
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
(Ca dao) + So sánh phát triển
Ví dụ:
Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
(Ca dao) + So sánh hơn - kém
Ví dụ:
Ngọc nào bằng tay em
(Tố Hữu)
Trang 26Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu quan hệ so sánh đã dựa vào cả
hai tiêu chí hình thức và nội dung của chúng Tác giả viết: “Khi xem xét phép
so sánh, chúng ta có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó” [19, tr296] Theo đó sẽ có các kiểu quan hệ so sánh như sau:
+ So sánh ngang bằng
Ví dụ:
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa
(Lưu Quang Vũ, Vườn thành phố) + So sánh hơn - kém
Ví dụ:
Khi ra đi chỉ dép lốp chiến trường Nguồn ánh sáng đến muôn đời chẳng tắt Vượt cao hơn sự chết vẫn soi đường
Ba Đình nức nở và ròng ròng nước mắt
(Việt Phương, Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương) + So sánh bậc cao nhất
Trang 27Ví dụ:
Đại đội thanh niên đi lấp hố bom
Áo em hình như trắng nhất
(Phạm Tiến Duật, Gửi em cô thanh niên xung phong)
I.2.3 Quan niệm của luận văn
Như đã trình bày ở trên, phép so sánh đã được nhiều nhà phong cách học đề cập đến, và ở các tác giả cách quan niệm, cách trình bày về thủ pháp này có những điểm giống và khác nhau Để thuận lợi cho việc tìm hiểu và phân tích phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi sẽ tạm đưa ra ở đây một định nghĩa “để làm việc” về phép so sánh
như sau: “So sánh là lối nói đem đối chiếu một đối tượng(sự vật hoặc hiện
tượng) này với một đối tượng(sự vật hoặc hiện tượng) khác có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hoặc tính chất bên trong, nhằm mục đích diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng đó”
Để phân loại so sánh, luận văn dựa cả vào hai tiêu chí nội dung và hình thức Do đó, luận văn sẽ đi tìm hiểu các kiểu so sánh sau:
(i) Theo cấu trúc:
- So sánh đầy đủ
- So sánh không đầy đủ:
+ Thiếu từ thể hiện quan hệ so sánh
+ Thiếu phương diện so sánh
+ Thiếu yếu tố cần được so sánh
(ii) Theo quan hệ ngữ nghĩa giữa A và B
Trang 28- B là vế được đem ra làm chuẩn để so sánh
Cụ thể là:
+ A - B: trừu tượng - cụ thể
+ A - B: cụ thể - cụ thể
+ A - B: cụ thể - trừu tượng
+ A - A: trừu tượng - trừu tượng
(iii) Theo trường ngữ nghĩa của B
- Các từ liên tưởng biểu thị con người và các bộ phận cơ thể con người
- Các từ liên tưởng chỉ loài ật và các bộ phận của chúng
- Các từ liên tưởng chỉ các hiện tượng tự nhiên
- Các từ liên tưởng biểu thị thực vật
- Các từ liên tưởng biểu thị bánh trái, thực phẩm
- Các từ liên tưởng tản mạn mang tính chất cá nhân
- Các từ liên tưởng biểu thị phương tiện và các hoạt động trong quân
sự
(iiii) Theo mục đích
- So sánh để đánh giá, nhận xét
- So sánh để giải thích
Trang 29- So sánh để bộc lộ cảm xúc
Thông qua việc phân tích tỉ mỉ từng loại so sánh nói trên trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, có thể thấy rõ hơn tài năng và phong cách nghệ thuật riêng, độc đáo của ông Hãy thử xem một ví dụ:
Chửi Kêu Đấm Đá Thụi Bịch Cẳng chân Cẳng tay Như mưa vào đầu Như mưa vào lưng Như mưa vào chân nó
(Bữa no đòn) Cách sử dụng so sánh của nhà văn hết sức độc đáo ở chỗ ông đã chuyên dùng câu đặc biệt, được tách ra một cách có chủ định (mà bình thường không nhất thiết phải như vậy, có thể chỉ dùng dấu phẩy ở đó vì đây là những thành phần đồng chức) Chưa nói đến nội dung của sự so sánh, chỉ riêng việc tách mỗi câu riêng ra như thế, đã tạo ra ấn tượng giống như là một hành động dứt khoát, nặng nhọc và tàn nhẫn, cứ nối nhau liên tiếp, giáng xuống người đứa trẻ (chỉ vì nó đã chót ăn trộm một miếng khoai lang sống)
Phép so sánh với tư cách là một biện pháp tu từ luôn luôn gắn chặt với
sự vận động và phát triển của quá trình tư duy của người nói, của nhà văn
Trang 30Điều này, với thời gian, sẽ dẫn đến những sự biến đổi về cấu trúc hình thức bên ngoài và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh
Theo tiến trình phát triển, có thể thấy về mặt hình thức, độ dài cấu trúc của so sánh có chiều hướng tăng lên Nếu thơ ca truyền thống có những cấu
trúc so sánh khá đơn giản và ngắn gọn như:
Cổ tay em trắng như ngà Đôi mắt em liếc như là dao câu
(Ca dao) thì trong văn thơ hiện đại so sánh được kéo dài, được lồng vào nhau, tạo nên tính nhiều tầng ý nghĩa của sự so sánh Chẳng hạn, hãy xem một vài ví dụ sau trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan:
“Nó có một cái sọ đếm được Không biết một thứ bệnh gì hương hoả của cha mẹ đã làm cho cả chỗ da ấy nhẵn thín, bóng lộn, đỏ đòng đọc như cái mụn đương loét, khiến tóc nó chỉ có thể mọc lơ thơ, như vầng cỏ trên tảng đá cằn
Nó có một cái mặt - mẹ ơi! Không biết có được gọi là mặt không đấy! Mặt gì mà mắt lại thế kia, và miệng lại vô dụng thế được Phải, mắt đâu có thứ thịt xung quanh là một hình bầu dục, vẽ bằng vành thịt trơ đỏ lầy nhầy, lúc nào cũng ứa ra một dòng nước vàng và giữa thì lờ đờ một hột nhãn, thứ hột nhãn non choèn, vàng ễnh Còn cái miệng nó thì rô ra như miệng khỉ, hai hàm răng to tướng, lúc nào cũng cầm cập hục hặc với nhau”
(Hai cái bụng)
“Bụi tre cót két như nghiến răng Những lá vàng rào rào bay xuống, chạy trên mặt nước, như thuyền buồm thuận chiều Lúc nào sóng cũng giập
Trang 31không mấy trốc bị cuốn đi Nấm mồ bị vẹt dần Rồi nó không cao hơn mặt vườn nữa Rồi chẳng bao lâu, tự nhiên, ở dưới, nhô lên một tầng đất mới
Tầng đất này mỗi lúc một tí, bị sóng đánh, bị ải, và bị cuốn đi Rồi hết lượ này đén lượt khác, đất ở dưới cứ nhô lên và cứ bị cuốn đi từng hòn nhỏ cho đến hết Rồi sau hết, ục một tiếng, cả chiếc quan tài tự nhiên nổi bềnh lên Nó nghiêng đi, hất tảng đất cuối cùng trên mặt ván trơn bùn như mỡ Tảng đất rơi tõm xuống nước Cỗ áo quan tròng trành, rồi đứng yên trên huyệt như chiếc thuyền bị cạn”
(Chiếc quan tài)
Về mặt nội dung trong cấu trúc so sánh, nếu quan hệ ngữ nghĩa giữa A
và B trong thơ văn truyền thống luôn là trừu tượng- cụ thể, thì trong văn thơ hiện đại ngoài quan hệ trên còn tồn tại kiểu quan hệ cụ thể - trừu tượng, trừu tượng- trừu tượng Vì ngữ nghĩa của vế B được mở rộng hơn, điều đó đã
mang lại cho người nghe/người đọc những sự tiếp nhận mới mẻ
Trang 32Chương II ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC CỦA PHÉP SO SÁNH
VÀ CÁC KIỂU SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN CÔNG HOAN II.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phép so sánh
Như đã trình bày trong chương I, ở dạng đầy đủ một cấu trúc so sánh
gồm 4 yếu tố:
(1) Yếu tố cần so sánh: A
(2) Yếu tố thể hiện phương diện so sánh: D
(3) Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh: C
(4) Yếu tố đem ra làm chuẩn để so sánh: B
Tuy nhiên, khi xem xét các đặc điểm hình thái - cấu trúc của phép so sánh chúng tôi đặc biệt quan tâm đến ba yếu tố 1A, 3C, 4B, còn yếu tố thể hiện phương diện so sánh (yếu tố 2D) chúng tôi không bàn tới ở đây bởi vì nó nghiêng về mặt nội dung - ngữ nghĩa nhiều hơn
II.1.1 Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế/yếu tố cần được so sánh A
Trong thực tế sử dụng phép so sánh, cấu trúc của A cũng như của B hết sức phong phú và đa dạng A và B có khi là đơn vị từ vựng, có khi lại là đoản
Trang 33Đây là những đơn vị được cho sẵn trong ngôn ngữ, có cấu trúc chặt chẽ, có
tính độc lập cao, có khả năng tái hiện khi tạo lập câu và có thể được đưa vào từ
điển - chứ không phải là loại các đơn vị tự do được tạo ra trong lời nói
Khi A, B là một đoản ngữ/cụm từ, sẽ có ba trường hợp:
- A, B là đoản ngữ danh từ (danh ngữ)
- A, B là đoản ngữ động từ (động ngữ)
- A,B là đoản ngữ tính từ (tính ngữ)
Theo quan niệm của GS Nguyễn Tài Cẩn, đoản ngữ (tức cụm từ chính
phụ) bao gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây
quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết về mặt ý
nghĩa Trong luận văn này, khi xem xét đoản ngữ chúng tôi không đi vào tìm
hiểu, phân tích các kiểu kết hợp giữa các thành tố, mà đi vào phân loại các
đoản ngữ theo từ loại của thành tố trung tâm - thành tố cần thiết nhất của đoản
ngữ, chi phối bản chất cũng như chức năng của đoản ngữ
a Yếu tố cần so sánh (A) là một đơn vị từ vựng
(i) A là từ đơn
Từ đơn ở đây được hiểu là từ được cấu tạo từ một tiếng Trong luận văn
này, chúng tôi sẽ thống kê, phân loại ba trường hợp sau: A là danh từ, A là
Trang 34Còi bóp như ếch kêu
(Răng con chó của nhà tư sản)
Vợ cậu như con sư tử cái
(Oẳn tà rroằn)
Da chúng nó sẫm như màu đất
(Con ve)
Tươi như cái hoa
(Báo hiếu: Trả nghĩa cha)
Thật như cái máy
(Cái lò gạch bí mật)
Nhanh như cắt
Trang 35Đèn điện đỏ như các Dancing
(Cái ví ấy của ai)
Trang 36b Yếu tố cần so sánh (A) là một đoản ngữ
(i) A là một đoản ngữ danh từ:
Bộ râu mép như một cái mũ nồi úp chụp
Trang 37Nghe câu nói sau cùng như được ăn bánh thánh
(Ngựa người người ngựa)
Áo và quần bò phần phật bay như sóng gợn
(Phành phạch)
Bà chủ trong buồng đi ra, chắp tay, tươi như cái hoa
(Báo hiếu: Trả nghĩa cha)
Ngọn đèn bấm của Trinh toé ra một tia lửa sáng như ban ngày
(Cái lò gạch bí mật)
Trang 38Bảng thống kê số lượng các kiểu kết cấu của yếu tố cần so sánh (A)
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Nhìn vào bảng thống kê trên, ta thấy:
+ Nhà văn Nguyễn Công Hoan sử dụng tiểu cú nhiều nhất trong các kiểu kết cấu được khảo sát của yếu tố A
+ Về đơn vị từ vựng, nhà văn đã sử dụng cả từ đơn và từ ghép gần như ngang nhau
+ Trong các loại đoản ngữ, đoản ngữ danh từ được nhà văn sử dụng nhiều hơn cả
Trang 39a Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh C
Thống kê trong các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan,
chúng tôi thu được hơn 20 từ ngữ được dùng để thể hiện quan hệ so sánh (C) giữa yếu tố cần so sánh (A) và yếu tố được đem ra làm chuẩn để so sánh (B)
Cụ thể như sau:
Bảng thống kê các từ ngữ thể hiện quan hệ so sánh trong truyện
ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan