1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề trong quá trình xây 1.4.1 Chính sách phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới 24 1.4.8 Các hình thức liên kết trong p
Trang 1LÊ XUÂN TÂM
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH BẮC NINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2014
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LÊ XUÂN TÂM
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Lê Xuân Tâm
Trang 4- TS Nguyễn Phúc Thọ và TS Nguyễn Tất Thắng - những người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ ra những ý kiến quý báu giúp tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện và hoàn thành luận án
- Lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Ninh, lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh Bắc Ninh và các Sở, ngành của tỉnh
- Lãnh đạo UBND các huyện, các phòng, ban cấp huyện, người dân ở địa bàn nghiên cứu và các cơ sở sản xuất, Doang nghiệp, Hợp tác xã làng nghề đã giúp
đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảo sát thực địa
- Bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu và thông tin trong quá trình nghiên cứu
- Gia đình đã động viên chia sẻ tinh thần những lúc tôi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu cho đến khi tôi hoàn thành luận án
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này./
Tác giả luận án
Lê Xuân Tâm
Trang 54 Tổng quan các công trình nghiên cứu về làng nghề có liên quan 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG
Trang 61.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề trong quá trình xây
1.4.1 Chính sách phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới 24
1.4.8 Các hình thức liên kết trong phát triển làng nghề 31 1.5 Cơ sở thực tiễn về phát triển làng nghề trong bối cảnh xây dựng nông
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề tại một số nước trong khu vực và
2.1.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong phát triển làng nghề 43
2.2.1 Tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích phát triển kinh tế làng nghề 45
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY
3.1 Khái quát lịch sử phát triển các làng nghề và xây dựng nông thôn mới
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề nghiên cứu 56
Trang 73.1.2 Khái quát tình hình xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh 59 3.2 Thực trạng phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh gắn với chương trình
3.2.2 Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề gắn với chương trình xây dựng
3.3.8 Các hình thức liên kết trong phát triển làng nghề 117 3.3.9 Tổng hợp thực trạng phát triển làng nghề gắn với chương trình xây
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI
CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH
4.1.1 Quan điểm chủ yếu về phát triển làng nghề ở Bắc Ninh giai đoạn hiện nay 128 4.1.2 Dự báo nhu cầu tiêu thụ và khả năng cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu 130 4.1.3 Định hướng phát triển làng nghề gắn với Chương trình xây dựng nông
4.2 Giải pháp phát triển làng nghề gắn với Chương trình xây dựng nông
4.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với làng nghề 135
Trang 84.2.2 Hoàn thiện kết cấu hạ tầng làng nghề phù hợp với quá trình xây dựng
4.2.4 Chuẩn hóa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất 142
4.2.6 Xây dựng, phát triển các hình thức liên kết kinh tế trong làng nghề 149 4.2.7 Đối với các nhóm ngành nghề và sản phẩm cụ thể 149
Danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài 155
Trang 9NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Số điểm nghiên cứu, số mẫu điều tra về phát triển làng nghề Bắc Ninh 49
2.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp qua phiếu điều tra 51 3.1 Số lượng các làng nghề Bắc Ninh và làng nghề thuộc xã điểm
3.2 Biến động sản phẩm làng nghề ở Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2013 64 3.3 Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3.4 Số lượng cơ sở sản xuất theo nhóm sản phẩm ở làng nghề tỉnh Bắc Ninh 71 3.5 Số lượng hộ sản xuất trong xã tại điểm nghiên cứu 73 3.6 Tổng hợp các chính sách về hỗ trợ SXCN, TTCN trên địa bàn tỉnh
3.7 Giá trị sản xuất của một số làng nghề chính ở Bắc Ninh giai đoạn
3.13 Đánh giá sự thay đổi trong việc thực hiện các chính sách xây dựng
3.15 Tổng hợp các chính sách về phát triển CSHT nông thôn 97 3.16 Thực trạng biến động số lao động tại các hộ sản xuất tại điểm nghiên cứu 101 3.17 Công nghệ tại điểm nghiên cứu sử dụng vào sản xuất 103
Trang 113.18 Tình hình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất của làng nghề 106 3.19 Yếu tố tác động đến đầu vào sản xuất của các DN 107 3.20 Lý do hộ sản xuất không làm hợp đồng ở các làng nghề 108 3.21 Thực trạng mặt bằng sản xuất của các CSSX ở làng nghề Bắc Ninh 108 3.22 Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở một số ngành nghề chính trên địa bàn
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Diễn biến về sản phẩm cơ khí và SXKL qua các năm 65 3.2 Tốc độ tăng giảm sản lượng bình quân các sản phẩm nhóm dệt nhuộm,
3.10 Số lượng hộ gia đình tham gia sản xuất và tổng số hộ trong làng nghề
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh phân theo nhóm ngành nghề 100 3.11 Tỷ lệ người dân tham gia các lớp đào tạo nghề tại địa phương 102
Trang 13DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
2.1 Khung phân tích phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh gắn với chương
3.1 Kênh tiêu thụ cơ bản cho các sản phẩm ở làng nghề Bắc Ninh 110
Trang 14
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Xây dựng và phát triển nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu rõ: Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng (Ban chấp hành Trung ương, 2008); là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là
cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng; là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với vai trò và tầm quan trọng của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và thực tiễn phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay ngày càng được nâng cao Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (Chính phủ, 2009), trong đó nêu rõ 5 nhóm với 19 tiêu chí chung và mức cần phải đạt của 7 vùng kinh tế trong cả nước Việc xây dựng nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn, nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh
tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn
Một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới hướng tới là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, có
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch… Chính vì vậy, việc khôi phục, phát triển làng nghề hiện nay là khâu quan trọng nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, giảm dần và thu hẹp khoảng cách
về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn, khai thác các tiềm năng sẵn có nhằm ổn định và phát triển các làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) theo cơ chế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phát triển kinh tế nông thôn
Trong số những công việc cần thực hiện để đạt được mục tiêu xây dựng nông
Trang 15đi đúng đắn để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội tại các địa phương hiện nay (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2009) Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 62 làng nghề, trong đó có 32 làng nghề truyền thống và 30 làng nghề mới (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2013) Các làng nghề đã tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ khắp thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu, tập trung vào các mặt hàng: đồ gỗ mỹ nghệ, gốm, tre trúc, tơ tằm, giấy, thép, đồng, nhôm… Bên cạnh một số làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển mạnh như: đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, sản xuất sắt thép Đa Hội, giấy Phong Khê, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai… Hiện nay trên địa bàn tỉnh có nhiều làng nghề mới hình thành và đang từng bước phát triển (Sở Công thương tỉnh Bắc Ninh, 2013)
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực về hiệu quả kinh tế - xã hội, nhiều làng nghề đang đứng trước khó khăn trong việc duy trì phát triển sản xuất như nguồn vốn hạn hẹp, công nghệ lạc hậu, môi trường sản xuất kinh doanh đang bị ô nhiễm, thiếu quy hoạch, các cơ sở sản xuất nghề xen lẫn trong khu dân cư… Những vấn đề này đã hạn chế khả năng phát triển của các làng nghề hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và là lực cản trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (Ban chỉ đạo chương trình NTM, 2013) Như vậy, thách thức đặt
ra cho Bắc Ninh là phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới như thế nào
để cả hai mục tiêu đều đạt được Việc gắn kết giữa phát triển làng nghề với xây dựng NTM ở Bắc Ninh đang đặt ra những vấn đề sau:
- Thứ nhất, các làng nghề của Bắc Ninh hiện nay đã đạt được những tiêu chí
nào trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, còn lại những tiêu chí nào chưa đạt được? Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới có phù hợp với thực trạng phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh hay không? Những tiêu chí nào phù hợp và những tiêu chí nào khó thực hiện/không phù hợp? Phát triển làng nghề đã gắn với xây dựng nông thôn mới hay chưa?
- Thứ hai, việc phát triển các làng nghề hiện nay ở Bắc Ninh đang gặp phải
những khó khăn gì? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới?
- Thứ ba, cần đề xuất những giải pháp nào để việc phát triển làng nghề gắn với
chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới?
Trang 16Để giải quyết những vấn đề đang đặt ra và trả lời những vấn đề trên liên quan đến việc gắn kết giữa phát triển làng nghề với Chương trình xây dựng NTM trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh, tác giả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài Luận án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (trong đó chủ yếu phân tích các nhóm ngành nghề như: Tái chế kim loại, sản xuất cơ khí; Dệt nhuộm, tái chế giấy; Sản xuất gốm và vật liệu xây dựng; Chế biến lương thực, thực phẩm; Sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ;…)
Phân tích sự phát triển của làng nghề trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường; Đánh giá sự hình thành và quá trình phát triển của các làng nghề hiện nay dựa trên các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2006 - 2012; số liệu sơ cấp điều tra trong giai đoạn 2011 - 2012 và đề xuất giải pháp phát triển các làng
Trang 17mới đến năm 2020
- Về không gian: Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài tập trung phân tích đánh giá sự phát triển của các làng nghề đã có, không đề cập đến sự phát triển các làng nghề mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về làng nghề có liên quan
4.1 Các nghiên cứu có liên quan trên thế giới
Năm 1970, so sánh sự phát triển của quá trình chuyển đổi từ nông thôn cũ sang nông thôn mới tại Trung Quốc, Needham đã chỉ ra sự tương đồng cũng như dị biệt về nguồn nhân lực (thợ thủ công) để đóng góp cho quá trình tồn tại của làng nghề thủ công truyền thống
Trong tác phẩm “Các doanh nghiệp nông thôn ở Trung Quốc” (Rural Enterprises in China), Findley et al (1994) đã nghiên cứu rất kỹ vai trò cũng như tác động qua lại giữa quá trình xây dựng một nông thôn mới với việc phát triển doanh nghiệp trong làng nghề
Piek (1998) khi nghiên cứu, tìm hiểu các mô hình quản lý kinh tế thành công trong quá trình chuyển dịch kinh tế nông thôn tại các nước đang phát triển, lấy làng nghề làm đối tượng nghiên cứu đã thấy rằng, yếu tố công nghệ đóng vai trò then chốt cho sự thành công này Để đảm bảo cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất còn tồn tại, bên cạnh việc làm bằng tay, hầu hết công nghệ mới phải được đưa vào tại các công đoạn không cần thiết
Trong nghiên cứu của Awgichew (2010) về các chính sách và các giải pháp nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia tại Hội thảo Quốc tế về “Ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề” đã nêu lên các kinh nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng giúp các làng nghề phát triển Với 83% người dân Ethiopia sống ở các vùng nông thôn và sinh kế xuất phát từ nông nghiệp Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp hoá phát triển nông nghiệp (ADLI), đóng vai trò làm khung cho qui hoạch đầu tư nông thôn trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng Kế hoạch phát triển bền vững và nhanh chóng để chấm dứt đói nghèo có 70% người dân nông thôn được tổ chức theo hợp tác xã, 200 điểm cung cấp thông tin thị trường cấp huyện và 20 trung tâm ở vùng sâu vùng xa của Ethiopia
đã được dựng lên; 25 trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ra đời; 10 triệu người được
Trang 18đào tạo; 8 triệu đường dây điện thoại (cố định, không dây và di động) và tăng dịch vụ truyên thông và công nghệ thông tin Thay đổi cách sống của người dân vùng nông thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị máy móc hiện đại và kết nối họ với thế giới hiện đại
4.2 Các nghiên cứu có liên quan trong nước
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới trong nước đến nay được thể hiện qua nhiều tác phẩm
gồm: Trong tác phẩm “Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước” (Vũ Quốc
Tuấn, 2011), lần đầu tiên có một công trình chính thức nêu vấn đề về phát triển làng nghề trong bối cảnh có xây dựng nông thôn mới Tại công trình này, tác giả đã phân tích, nhấn mạnh đến việc cần phải tiến hành các hoạt động lồng ghép phát triển làng nghề cùng với việc xây dựng nông thôn mới, coi phát triển làng nghề như một “hạt nhân”, “cốt lõi” đối với vấn đề xây dựng nông thôn mới ở các xã có nghề hoặc các xã có khu vực địa lý gần với làng nghề
Với đề tài khoa học cấp Bộ: "Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển làng nghề ở Việt Nam", của Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp (Nguyễn Quang Dũng và cs., 2012), tập thể nhóm tác giả cũng đưa ra khái niệm phát triển làng nghề theo định hướng xây dựng nông thôn mới Tại công trình, tác giả đã nêu ra được rằng: Phát triển làng nghề theo định hướng xây dựng nông thôn mới không chỉ giúp nâng cao thu nhập, đời sống nông dân, mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, để lại khoảng trống đất đai dành cho phát triển nông nghiệp quy mô lớn
Năm 2013, tỉnh Quảng Nam đã thực hiện đề tài khoa học “Phát huy vai trò của làng nghề trong xây dựng nông thôn mới” (Nguyễn Thanh Tài và cs., 2013) Có thể nói đây là 1 công trình về phát triển làng nghề trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới hiện nay gắn với 1 địa phương cụ thể Đề tài đề cập những vấn đề xung quanh công tác phát triển các làng nghề hiện nay và nêu bật vai trò của lĩnh vực này trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đồng thời, đưa ra nhiều giải pháp để tạo động lực phát triển như cần quy hoạch lại làng nghề một cách hợp lý và chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, công tác bảo vệ môi trường, đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định cho các làng nghề cũng được nêu ra
Ngoài những công trình nghiên cứu về làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới có quy mô lớn, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan được
Trang 19đăng tải trên các tạp chí khoa học và các tạp chí ở các tỉnh Điểm qua các công trình như để khẳng định rằng, việc xác định phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới đã có những nghiên cứu chấm phá Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề tồn tại cần phải giải quyết, đặc biệt phải chỉ rõ được sự khác biệt của việc phát triển làng nghề bền vững với khái niệm phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và
nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng phát triển làng nghề theo định hướng xây dựng NTM là một hình thức phát triển mới, phù hợp với tiến trình vận
động của xã hội nông thôn ở Việt Nam hiện nay Việc lồng ghép phát triển làng nghề
với chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ giúp cho các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa -
xã hội và môi trường của nông thôn mới trở nên khả thi hơn, trong khi đó làng nghề cũng sẽ được phát triển đúng quy hoạch, yếu tố môi trường, công nghệ và nhân lực,… được bảo đảm Trong đó nhấn mạnh đến việc bảo tồn đối với một số làng nghề có nguy cơ bị mai một, khả năng thích ứng đối với một số làng nghề phát triển kém và
sự lan tỏa đối với các làng nghề phát triển mạnh
5 Những đóng góp mới của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận của luận án
Thông qua việc tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển làng nghề trong bối cảnh xây dựng nông thôn của một số nước trong khu vực, một số địa phương trong nước, kế thừa các nghiên cứu đã có về phát triển làng nghề và phát triển làng nghề
gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới tác giả đã phân tích, làm rõ được sự
cần thiết và tầm quan trọng của việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với Chương trình XDNTM Luận án đã chỉ ra rằng việc lồng ghép giữa phát triển làng nghề với Chương trình XDNTM sẽ giúp cho các chỉ tiêu kinh tế trong Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới trở nên khả thi hơn, các làng nghề sẽ phát triển đúng quy hoạch; các yếu tố xã hội, môi trường, công nghệ và nhân lực… trong quá trình phát triển làng nghề được bảo đảm
Làm rõ được nội dụng phát triển làng nghề gắn với XDNTM và các yếu tố tác động ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gắn với XDNTM, cũng như quan hệ biện chững giữa phát triển làng nghề với XDNTM, qua đó góp phần làm sâu sắc thêm lý luận về phát triển làng nghề gắn với XDNTM
Trang 205.2 Đóng góp về mặt thực tiễn của luận án
Đánh giá được thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề trong quá trình XDNTM ở Bắc Ninh; phân tích làm rõ quan hệ biện chứng giữa phát triển làng nghề với XDNTM, chỉ ra những thành công và hạn chế
Đề xuất được các quan điểm, định hướng, giải pháp và kiến nghị nhắm phát triển làng nghề gắn với XDNTM ở Bắc Ninh có cơ sở, phù hợp và tính khả thi
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ GẮN VỚI CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Làng nghề
Làng nghề là mô hình sản xuất truyền thống, gắn liền với lịch sử phát triển kinh
tế, xã hội của nước ta Làng nghề đóng vai trò tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội của nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực nông thôn ở nước ta Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về làng nghề và đưa ra nhiều khái niệm về làng nghề Các khái niệm làng nghề này nhìn chung có nhiều điểm tương đồng với nhau và được tóm tắt như sau:
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu
nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề
cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đuợc bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công (Trần Quốc Vượng, 2002) Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống, song đối với làng nghề nói chung lại còn bất cập bởi đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp, là điều khó thực hiện
Quan niệm thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm
theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập Ví dụ như: “Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” (Mai Thế Hởn và cs., 2003), hay trong Dự thảo Nghị định của Chính Phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ NN &PTNT đệ trình tháng 5-2005 thì: “Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”, v.v Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi
Trang 22Quan niệm thứ ba: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề
thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” (Dương Bá Phượng, 2001) Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là
“làng” và “nghề”, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất
Thuật ngữ làng nghề được tạo thành bởi hai chủ thể “làng” và “nghề” Nghề được
đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng Có thể hiểu một cách giản đơn làng nghề là làng có hoạt động TTCN Tuy vậy, không phải quy
mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến mức độ nào đó và mang tính ổn định Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng Định tính của làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị Định lượng của khái niệm làng nghề là chỉ rõ làng nghề đạt đến quy mô nào và tính ổn định ra sao Vì có điểm xuất phát
là làng gắn với nông nghiệp nên khi quy mô TTCN của làng phát triển đến mức độ nào
đó mới được gọi là làng nghề Vì ở trong làng nên việc định luợng, xác định quy mô nghề vừa phải xem xét chính bản thân hoạt động TTCN, vừa phải đặt trong quy mô làng
về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế bởi vì đặc trung đầu tiên của làng Việt Nam là gắn với số hộ, số lao động và thu nhập từ nông nghiệp Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động TTCN, trong đó hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề TTCN Tuy vậy, do nghề gắn liền với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của TTCN với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng Như vậy, tỷ lệ lao động làm nghề và tỷ lệ thu nhập
do nghề đưa lại so với lao động và thu nhập của làng là bao nhiêu thì được gọi là làng nghề Vấn đề đặt ra ở đây cũng tương tự như trong kinh tế học thường gặp như khái niệm trang trại và tiêu chí trang trại, khái niệm hộ nghèo và chuẩn phân loại hộ nghèo Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và từ
nghiên cứu của bản thân, tác giả luận án cho rằng: làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng
Như vậy, làng nghề muốn được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
Trang 23- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Phát triển làng nghề
1.1.2.1 Phát triển làng nghề
Trong kinh tế, phát triển được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả sự tăng thêm về lượng và sự tiến bộ
về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh
tế và xã hội ở mỗi quốc gia Như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
Theo đó, phát triển làng nghề là sự tăng lên cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu
tổ chức của làng nghề ở hai mức độ từ thấp lên cao thể hiện ở việc mở rộng về quy
mô sản xuất, sự gia tăng về mức đóng góp cho ngân sách và thu nhập bình quân một đầu người, việc đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường tại làng nghề… (Szydlowski, 2008)
1.1.2.2 Phát triển bền vững làng nghề
Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, tăng trưởng kinh tế của một số nước đạt tốc độ khá cao, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng
đó đến tương lai con người và vấn đề tăng trưởng bền vững đã được đặt ra
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm phát triển bền vững được ngân hàng thế giới đề cập lần
đầu tiên năm 1987 như sau:“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế
Trang 24Nếu như không tính đến khía cạnh an ninh quốc phòng thì khái niệm phát triển
bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững
và xã hội bền vững
Phát triển bền vững làng nghề là phát triển làng nghề đảm bảo tính ổn định, lâu dài và việc phát triển không làm ảnh hưởng đến lợi ích cho các thế hệ tương lai Đó
là sự phát triển dựa trên mức tăng trưởng cao và ổn định, hướng tới mục tiêu tiến bộ
và công bằng xã hội nông thôn, khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
1.1.3 Nông thôn mới và chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1 Nông thôn mới
Nông thôn mới (NTM) là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã, có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa,
có đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, xã hội được quản lý tốt và dân chủ (Vũ Quốc Tuấn, 2011)
1.1.3.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung nhiệm vụ trọng tâm rất quan trọng để thực hiện Nghị quyết 26-NQ/T.Ư “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
Như chúng ta đã biết, hiện nay, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi…) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu lại vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp, thiếu sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa được và thực hiện theo quy hoạch Do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cần 3 yếu tố chính: Đất đai,
Trang 25vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó và phát triển thiếu đồng bộ
Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 491/QĐ-TTg về xây dựng Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn các xã trong phạm vi cả nước, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, với nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở Như vậy
có thể nói đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn toàn quốc
1.2 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với xây dựng nông thôn mới 1.2.1 Tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến phát triển làng nghề
Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành kèm theo Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí qua các phần: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Hệ thống chính trị, Có thể nói ở tất cả các lĩnh vực này, làng nghề, làng nghề truyền thống có tiềm năng phát triển lớn
Phát triển làng nghề là một trong những mục tiêu quan trọng trong quá trình XDNTM (Vũ Quốc Tuấn, 2011) Công cuộc XDNTM đã trở thành chương trình mục
tiêu quốc gia, “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, có kinh tế
phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và các ngành nghề truyền thống có giá trị kinh tế cao Thực
Trang 26hiện chương trình đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu nông dân hàng năm, xây dựng xong
và sử dụng có hiệu quả trung tâm văn hoá ở tất cả các xã trên phạm vi cả nước” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI) Cũng theo đó, việc “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình XDNTM phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn những nét đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động”
Làng nghề là cơ sở rất thuận lợi để xây dựng kinh tế và đời sống văn hóa của NTM Chỉ cần quan tâm đầu tư, đánh thức những tiềm năng văn hóa của làng nghề là có được bộ mặt NTM vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Khi các làng nghề truyền thống được vực dậy với những nét văn hóa độc đáo sẽ trở thành những điểm du lịch hấp dẫn Du lịch làng nghề phát triển không những góp phần thúc đẩy du lịch nước
ta phát triển mà còn có tác dụng nâng cao đời sống nhân dân xây dựng nông thôn mới ở những nơi có làng nghề (Vũ Quốc Tuấn, 2011)
Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn “trắng” nghề Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững
Xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ trợ quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng, xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình thích hợp
Xây dựng nông thôn mới sẽ hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch
vụ nâng cao thu nhập
Khi XDNTM sẽ góp phần đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về phát triển nông thôn bền vững; nâng cao trình độ dân trí của người dân
Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở nên đáng báo động
Trang 27Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản lý môi trường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
Xây dựng nông thôn mới sẽ phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở nông thôn Thông qua các hoạt động ở nhà văn hoá làng, những giá trị mang đậm nét quê đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những giá trị đặc sắc mang hồn quê Việt Nam Xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xây dựng, phát triển trên diện rộng và chiều sâu làng văn hoá, nhà văn hoá làng và các hoạt động trong nhà văn hoá làng
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối với mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được song song thực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong quá trình XDNTM
Bảng 1.1 Tổng hợp mối quan hệ giữa phát triển làng nghề với chương trình
xây dựng nông thôn mới qua các tiêu chí
Hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn
Hỗ trợ phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc ở nông thôn
Phát triển bền vững
về văn hóa, xã hội
Hỗ trợ, tạo việc làm phi nông nghiệp
Hỗ trợ, đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng, đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về
phát triển nông thôn bền vững
Hỗ trợ quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn Phát triển bền vững về
môi trường
1.2.2 Vai trò phát triển làng nghề trong xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới có 19 tiêu chí trong đó có những tiêu chí đáp ứng và gắn kết chắt chẽ với việc phát triển làng nghề và được coi là tiền đề, động lực thúc đẩy quá trình xây dựng NTM
- Phát triển làng nghề tạo việc làm cho lao động nông thôn (tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động)
Đặc điểm chủ yếu của làng nghề là sản xuất thủ công và sử dụng nhiều lao động Số lượng lao động của các cơ sở sản xuất rất đa dạng, tùy theo quy mô của cơ
Trang 28sở sản xuất và ngành nghề của làng nghề Các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ sử dụng lao động thường xuyên từ 2-4 người Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất quy mô lớn sử dùng lao động hàng chục người, có khi lên đến hàng trăm người Số lượng lao động tham gia sản xuất phi nông nghiệp còn nhiều hơn nếu tính cả lao động thời vụ Trung bình mỗi hộ sản xuất thu hút thêm 2-5 lao động, còn mỗi cơ sở thu hút 8-10 lao động thời vụ Nhiều làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông sản do tính chất thời
vụ, số lao động thời vụ rất lớn, thậm chí gấp 4-7 lần lao động thường xuyên (Nguyễn Thanh Tài và cs., 2013)
Làng nghề còn có nhiều đóng góp ý nghĩa khác, tạo việc làm cho lao động lớn tuổi, lao động không qua đào tạo hay lao động có hoàn cảnh gia đình khó khăn Những lao động này nếu không tham gia sản xuất phi nông nghiệp sẽ khó tìm được việc làm ở các KCN hay những công việc khác (Nguyễn Thị Mai Hương, 2011)
- Phát triển làng nghề tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động, (tiêu chí số 9 về nhà ở, tiêu chí số 10 về thu nhập và tiêu chí số 11 về hộ nghèo)
Hầu hết cơ sở sản xuất ở các làng nghề sống và có thu nhập chính từ nghề phi nông nghiệp Ngoài tạo ra thu nhập cho cơ sở sản xuất còn mang lại thu nhập cho người lao động làm việc tại cơ sở sản xuất ở làng nghề Nếu so sánh với thu nhập của lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành phi nông nghiệp cao hơn khoảng 2-4 lần, đặc biệt là chi phí về lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều
so với sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa, một lượng lớn lao động bị dư thừa Làng nghề chính là nơi giải quyết số lượng lao động dư thừa này, góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện thu Ngoài ra, làng nghề còn tạo ra cơ hội phát triển cho nhiều ngành nghề liên quan khác như: cung ứng nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm làng nghề và các dịch vụ khác… Những phân tích trên cho thấy vai trò của làng nghề về tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho lao động ở nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông thôn và XDNTM
- Phát triển làng nghề sẽ khai thác các nguồn lực nhàn rỗi và nguyên vật liệu tại địa phương
Đa số cơ sở sản xuất (CSSX) ở các làng nghề có quy mô nhỏ, không cần đầu tư nhiều vốn và lao động cho sản xuất nên phù hợp với năng lực của các hộ gia đình ở nông thôn và ngoại thành Vốn kinh doanh của cơ sở sản xuất ở các làng nghề đa dạng, tùy thuộc vào ngành nghề và quy mô sản xuất Chẳng hạn, cơ sở sản xuất ở các làng nghề làm bánh, bún, nấu rượu và mây tre đan thường có vốn kinh doanh khoảng 2-3
Trang 29triệu đồng nên hộ gia đình ở làng đều có thể đầu tư vốn tham gia sản xuất Với mức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi của dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Các làng nghề huy động hiệu quả lực lượng lao động nhàn rỗi tham gia sản xuất Ở nhiều làng nghề như: làm bánh, bún, nấu rượu và mây tre đan, lao động có thể linh hoạt tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp Đồng thời, làng nghề cũng thúc đẩy các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, vốn đầu tư thấp, linh hoạt và ít rủi ro phát triển nhưng mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao Sản phẩm của các làng nghề rất đa dạng và được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày như: mây tre, gốm sứ, gỗ điêu khắc và dệt may Vì đa số nguyên liệu phục vụ sản xuất của làng nghề có thể nuôi, trồng trong nước nên chi phí sản xuất thấp và giá trị gia tăng của sản phẩm làng nghề cao
Làng nghề còn tận thu những nguyên liệu giá trị thấp vào sản xuất, biến những nguyên liệu này thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị cao Có nhiều loại nguyên liệu nếu không được sử dụng để sản xuất sản phẩm của làng nghề thì giá trị sử dụng rất thấp như: vỏ trứng, vỏ sò, gỗ vụn, giấy phế liệu Vì vậy, phát triển làng nghề
để khai thác nguồn lực nhàn rỗi như nhân lực, vốn, đất đai và nguyên liệu vào sản xuất hàng xuất khẩu là hướng đi thích hợp cho khu vực nông thôn nước ta
- Phát triển làng nghề góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương phát triển du lịch (tiêu chí số 16 về văn hóa)
Lịch sử phát triển làng nghề luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nước ta Làng nghề có bề dày lịch sử lâu đời, là nơi hội tụ và kết tinh những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của nước ta Mỗi làng nghề có một lịch sử về nguồn gốc hình thành và phát triển tạo nên bản sắc văn hóa riêng của từng làng nghề (Trần Minh Yến, 2004) Làng nghề còn thể hiện nét văn hóa qua hoạt động lễ hội, hoạt động mua bán sản phẩm và phong cảnh của các địa phương Các hoạt động lễ hội thụ hưởng thành quả lao động sau một năm làm việc vất vả hay hoạt động giỗ Tổ bày tỏ
sự tri ân đến ông Tổ của làng nghề hàng năm là những hoạt động mang đậm nét văn hóa Làng nghề là môi trường bảo tồn và lưu truyền những bí quyết, tinh hoa nghề truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên những lớp nghệ nhân tài năng của làng nghề Một số sản phẩm làng nghề như: trống đồng đã vượt qua giá trị hàng hóa đơn thuần, được coi là biểu tượng đẹp của truyền thống dân tộc Nhiều du khách nước ngoài từ lâu đã biết đến nước ta qua những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc sắc
Trang 30như lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng…
- Phát triển làng nghề góp phần làm tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu
Phát triển ngành nghề góp phần tăng giá trị sản xuất của các địa phương có làng nghề Chẳng hạn, giá trị sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ năm 2013 đạt trên
306 tỷ đồng, tăng 10% so với 2009; giá trị sản xuất của làng nghề sản xuất thép Châu Khê đạt 930,5 tỷ đồng, tăng 10,68% so với năm 2009 (Sở Công thương Bắc Ninh, 2013) Chỉ tính riêng 7 làng nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ, tái chế sắt thép, đúc đồng…
đã tạo ra 2014,74 tỷ đồng trong tổng 2978,23 tỷ đồng của tất cả các làng nghề (chiếm 67,65%) Như vậy có thể thấy rằng, các làng nghề hiện vẫn là một trong những động lực phát triển kinh tế to lớn của tỉnh Bắc Ninh
Các làng nghề xuất khẩu sản phẩm không phải là hiện tượng nhất thời Bộ NN
&PTNT (2011) ước tính: “Hiện có trên 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến trên 100 quốc gia trên thế giới” Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ tăng trưởng liên tục với tốc độ cao trong giai đoạn 1995-2011 Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt khoảng 780 triệu USD Mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt 1,8 tỷ Trong đó, làng nghề giữ vai trò quan trọng về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta
- Phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình CNH-HĐH ở nông thôn
Làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông thôn Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống là chiến lược quan trọng của
sự nghiệp CNH-HĐH nông thôn và XDNTM ở nước ta Làng nghề góp phần đa dạng ngành nghề nông thôn, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp Việc chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp còn tạo điều kiện cho lao động nông thôn làm quen với nền sản xuất công nghiệp, làm tiền
đề cho quá trình CNH-HĐH
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấu ngành công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần bố trí lực lượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất ly hương" Các làng nghề sẽ là cầu nối quan trọng giữa công nghiệp hiện đại với nông nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán lên công nghiệp hiện đại Vì vậy, phát triển làng nghề sẽ giúp thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam và cải thiện đời sống cho người dân (Lê
Trang 31Văn Hương, 2010)
Bảng 1.2 Tổng hợp mối tương thích các tiêu chí trong phát triển làng nghề
và chương trình xây dựng nông thôn mới
Phát triển
bền vững
về kinh tế
Gia tăng nội lực của cộng đồng
từ đó tăng đầu tư cho sản xuất
ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở
sản xuất tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ để có thu nhập cao
Góp phần đáp ứng tiêu chí 2: Giao thông Góp phần đáp ứng tiêu chí 3: Thủy lợi Góp phần đáp ứng tiêu chí 4: Điện Góp phần đáp ứng tiêu chí 5: Trường học Góp phần đáp ứng tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Góp phần đáp ứng tiêu chí 7: Chợ nông thôn Góp phần đáp ứng tiêu chí 8: Bưu điện Phát triển các tổ chức kinh tế Góp phần đáp ứng Tiêu chí 13: Hình thức tổ
Tăng thu nhập và cải thiện đời
sống cho người lao động Góp phần đáp ứng tiêu chí 9: Nhà ở dân cư Góp phần đáp ứng tiêu chí 10: Thu nhập
Góp phần đáp ứng tiêu chí 11: Hộ nghèo Tạo việc làm cho lao động
nông thôn Góp phần đáp ứng tiêu chí số 12: Cơ cấu lao động Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo Góp phần đáp ứng tiêu chí số 14: Giáo dục
(tỷ lệ lao động qua đào tạo) Bảo tồn các giá trị văn hóa địa
phương phát triển du lịch Góp phần đáp ứng tiêu chí số 16: Văn hóa Góp phần đáp ứng tiêu chí 18: Hệ thống tổ
chức chính trị xã hội vững mạnh Góp phần đáp ứng tiêu chí 19: An ninh, trật
tự xã hội được giữ vững
Góp phần đáp ứng tiêu chí số 17: Môi trường
Không có các hoạt động gây
suy giảm môi trường và có các
hoạt động phát triển môi trường
xanh, sạch, đẹp
Chất thải, nước thải được thu
gom và xử lý theo quy định
1.3 Nội dung phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Phát triển kinh tế làng nghề
Theo Lưu Duy Dần (2010), nội hàm của phát triển làng nghề theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM bao gồm:
1.3.1.1 Phát triển sản xuất
a) Gia tăng số lượng làng nghề, thực hiện mỗi làng nghề một sản phẩm
Theo quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu
Trang 32chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí, với 5 nhóm, cụ thể (Phụ lục 1.1) Trong đó, việc phát triển các làng nghề mới (gia tăng số lượng làng nghề) được coi là một mắt xích không thể thiếu để XDNTM, nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Hơn thế nữa, trong các đề án XDNTM hiện nay ở cấp tỉnh tại một số tỉnh thành
có làng nghề phát triển mạnh (Hà Nội, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh,…) đều thực hiện chủ trương: Gìn giữ, bảo tồn, phát triển các làng nghề hiện có, lựa chọn phát triển ngành nghề thế mạnh của từng xã, nhân cấy nghề mới, phấn đấu mỗi xã phải có ít nhất một làng nghề và mỗi làng một sản phẩm
Kinh nghiệm thành công của Nam Định gần đây cho thấy việc phát triển, nhân cấy nghề mới, thực hiện mỗi làng một sản phẩm rất quan trọng trong sự thành công của quá trình XDNTM Các làng nghề truyền thống ở những xã xây dựng NTM duy trì và phát triển tương đối ổn định như các làng nghề: cơ khí Xuân Kiên, chiếu cói Xuân Dục (Xuân Trường); mộc mỹ nghệ La Xuyên (Ý Yên) Nhiều xã xây dựng NTM đã nhân cấy và phát triển thành công các nghề mới như: nghề chạm khắc gỗ thôn Đằng Động, xã Yên Hồng; làng chạm trổ, điêu khắc gỗ Tân Ninh
b) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm
Một đặc trưng vẫn được gìn giữ lâu nay tại các làng nghề là tính chất “cổ truyền” đã hình thành những gia đình nghệ nhân cha truyền con nối Cùng sự chuyển đổi theo hướng chuyên môn hóa trong tổ chức sản xuất, các cơ sở trong làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đáng kể, đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời sống nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương và tăng kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên mẫu mã, chủng loại sản phẩm của các làng nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước
Trong bối cảnh XDNTM hiện nay, khi thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt, để tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, các cơ sở trong làng nghề cần chuyển từ sản xuất phân tán, nặng về số lượng, chất lượng sản phẩm thiếu ổn định, hiệu quả kinh tế thấp sang nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thêm giá trị gia tăng của hàng hóa, tăng cường đầu tư thiết kế mẫu mã theo thị hiếu người tiêu dùng Việc cải tiến mẫu mã cho sản phẩm làng nghề không phải là phá bỏ đi những giá trị văn hóa, mà phải là sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa truyền thống với đương đại Hiện nay, hầu hết sản phẩm làng nghề vẫn đang gặp phải nhiều khó khăn khi tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trường, do chưa thực sự chú trọng đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu Việc không có thương hiệu, đã làm giảm đáng kể sức tiêu thụ hàng hoá Nhiều ý kiến cho rằng, các doanh nghiệp vẫn ngại đăng ký thương
Trang 33hiệu vì thủ tục rườm rà, rắc rối, chồng chéo Theo đánh giá của các chuyên gia, để tạo sức cạnh tranh cao trên thị trường, việc xây dựng thương hiệu cho mỗi sản phẩm làng nghề là việc làm khó khăn, vì nó đòi hỏi phải đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, Chính vì vậy, việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các làng nghề trong bối cảnh XDNTM hiện nay (đi kèm với tự do hóa thương mại, hội nhập toàn cầu) trở thành yếu tố cạnh tranh cơ bản của làng nghề để tồn tại
và phát triển một cách bền vững
1.3.1.2 Phát triển các tổ chức kinh tế
Nói cách khác, đây chính là tái cấu trúc doanh nghiệp làng nghề trong điều kiện mới (Vũ Quốc Tuấn, 2013) Hiện nay, ở các làng nghề nước ta, cơ sở sản xuất phổ biến là hộ gia đình, bên cạnh đó là các tổ sản xuất, và một số công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân, phần lớn quy mô nhỏ và vừa (dưới đây, gọi chung là doanh nghiệp) Đây là quy mô phù hợp trong sản xuất thủ công mỹ nghệ,
vì dễ linh hoạt trong sáng tạo, đổi mới, có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường Trước yêu cầu XDNTM, tái cấu trúc doanh nghiệp làng nghề phải tập trung vào hai loại việc sau:
- Đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh, tuy là hộ gia đình, quy mô nhỏ song vẫn phải lấy năng suất, chất lượng làm đầu, soát xét lại các công đoạn sản xuất với yêu cầu không ngừng nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm
- Đổi mới tổ chức quản lý, khắc phục lối quản lý kiểu gia đình, thiếu bài bản, thiếu chiến lược kinh doanh… Mỗi doanh nghiệp cần phát huy trí tuệ của nghệ nhân, thợ giỏi, tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí sản xuất, xây dựng và quản lý thương hiệu, ứng dụng cách quản lý tiến bộ, khắc phục ô nhiễm môi trường, v.v… Do đó, các địa phương cần rà soát lại việc thực hiện các cơ chế, chính sách của Nhà nước về khuyến khích phát triển nghề và làng nghề, trợ giúp bảo vệ môi trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực,…
1.3.1.3 Thu nhập (Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh)
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đặt ra nhiều thách thức trong giải quyết việc làm, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy
cơ phá sản; mất việc làm, thiếu việc làm lớn trong khu vực phi chính thức; chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH… Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi các nền kinh tế lâm vào khủng hoảng thì việc làm sẽ giảm sút mạnh và tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng cao
Do đó, nếu không có việc làm tại chỗ, lao động nông thôn buộc phải di chuyển vào thành thị, gây ra những vấn đề xã hội lớn rất khó giải quyết Trong khi yêu cầu của
Trang 34chương trình XDNTM đòi hỏi phải giảm nghèo tại chỗ và đảm bảo an sinh xã hội, và nếu có nghề thủ công tại chỗ, họ có thêm việc làm, thêm thu nhập (thường cao gấp rưỡi đến hai lần so với thu nhập từ nông nghiệp), gắn bó hơn với nông thôn Vì vậy, làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn, XDNTM Phát triển làng nghề gắn với chương trình XDNTM phải đảm bảo được các kết quả: Lao động từ năng suất thấp sang năng suất cao, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn Bộ mặt nông thôn được khởi sắc; kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống nâng cao, nông thôn khang trang, tươi đẹp, tệ nạn xã hội không còn; góp phần vào kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng GDP của cả nước; tăng thu nhập cho nhân dân địa phương
1.3.2 Phát triển văn hóa - xã hội làng nghề
1.3.2.1 Tạo việc làm và thu hút lao động
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP, hoạt động ngành nghề nông thôn đã thu hút gần 30% lực lượng lao động tham gia vào cơ sở sản xuất tại các làng nghề Các làng nghề thu hút khoảng 12 triệu lao động, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng triệu lao động lúc nông nhàn Sự lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, các làng nghề Việt Nam cũng lâm vào tình trạng hàng hóa tồn đọng ở nhiều nơi, hàng triệu lao động mất việc làm Cho nên trong chương trình XDNTM phải có những biện pháp giải cứu cho làng nghề trước hết tháo gỡ khó khăn về kinh tế, về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết công
ăn việc làm cho hàng triệu lao động nhất là những người mất việc làm ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng
Phát triển làng nghề theo quy hoạch XDNTM phải đảm bảo những làng nghề thu hút trên 60% lao động trong tổng số lao động của địa phương vào hoạt động sản xuất phi nông nghiệp Ngoài lao động thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút thêm từ 2% -10% lao động thời vụ Sau khi được đào tạo nghề năng suất lao động được nâng lên, tiết kiệm 5-20% chi phí sản xuất, thu nhập tăng từ 10 - 30% so với trước Khuyến khích người lao động sau khi học nghề thành lập doanh nghiệp, tổ hợp tác, giải quyết việc làm cho bản thân và những lao động khác
1.3.2.2 Hình thành các mối liên kết trong phát triển SXKD
Thực tế, việc hình thành các mối liên kết trong phát triển SXKD chính là vấn đề tái cấu trúc làng nghề Đây là một nhiệm vụ quan trọng cho việc bảo tồn, phát huy
Trang 35những tinh hoa văn hóa trong thiết chế làng xã qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc ta mà yêu cầu của XDNTM đòi hỏi
Hình thành các mối liên kết trong phát triển SXKD là “văn hóa làng”, thể hiện
ở tính cộng đồng và tính tự quản trong mối quan hệ giữa các cư dân, các tổ chức trong làng Để hình thành các mối liên kết trong phát triển SXKD trước hết: Cần tăng cường các quan hệ liên doanh, liên kết về nhiều mặt trong sản xuất, kinh doanh, khắc phục tình trạng doanh nghiệp nào biết doanh nghiệp ấy, mạnh ai nấy làm, thiếu liên kết, thậm chí cạnh tranh không lành mạnh; Doang nghiệp trong làng nghề cần cùng nhau thương thảo, thỏa thuận đối với những vấn đề liên quan đến uy tín, thương hiệu của làng nghề, như giá cả, kinh doanh hợp pháp, không gian lận thương mại, buôn bán hàng giả, v.v…
1.3.2.3 Bảo tồn các giá trị truyền thống trong XDNTM
Tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM yêu cầu: Hoàn thiện việc xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn (Chính phủ, 2009)
Chúng ta biết rằng, mỗi đất nước trường tồn trong lịch sử nhân loại trước hết là do những giá trị văn hóa của dân tộc ấy Hơn nữa, Đất nước ta, dù đã trải qua nhiều năm bị nước ngoài đô hộ và dùng nhiều phương kế để “đồng hóa”, song dân tộc ta vẫn giữ vững bản sắc văn hóa của mình, không bị “đồng hóa” Lịch sử đã chứng minh: đất nước trường tồn vì giữ được bản sắc văn hóa của mình Đây là niềm tự hào và đồng thời đề ra cho thế hệ chúng ta trách nhiệm bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc
Như vậy, theo Vũ Quốc Tuấn (2013) phát triển làng nghề trong XDNTM đòi hỏi phải bảo tồn được những giá trị sau đây:
- Các sản phẩm làng nghề phải bảo tồn và phát huy được những hoa văn tinh tế, màu sắc rực rỡ, kỹ thuật chế tác độc đáo Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống cũng như làng nghề không những không bị đồng hóa mà vẫn được bảo tồn và phát huy trong tiến trình hội nhập
- Các làng nghề phải duy trì được đội ngũ nghệ nhân lưu giữ và truyền nghề cho thế hệ kế tiếp (được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO tuyên dương là “báu vật nhân văn sống”)
- Tổ chức các ngày Giỗ Tổ nghề một cách trang trọng, có ý nghĩa thiết thực, tránh hình thức; những lễ hội tôn vinh các vị Tổ nghề; những truyền thống tốt đẹp của “văn hóa làng” trong làng nghề, v.v…
- Cùng nhau chung sức bảo tồn và xây dựng những công trình vừa có ý nghĩa tôn vinh truyền thống, vừa có ý nghĩa giáo dục cho đời sau đối với làng nghề như: tôn tạo các di tích truyền thống, di tích lịch sử, lập phòng trưng bày sản phẩm, bảo
Trang 36tàng làng nghề (bảo tàng tổng hợp của cả làng hoặc bảo tàng về một loại sản phẩm đặc trưng của làng nghề)
1.3.3 Môi trường làng nghề
1.3.3.1 Hệ thống xử lý chất thải
Đối với các làng nghề, bên cạnh hoạt động sinh hoạt thông thường còn có hoạt động sản xuất, mà trong đó không tránh khỏi quá trình phát thải gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, có thể nói nhóm tiêu chí này quyết định nhiều đến sự phát triển bền vững của các làng nghề theo quy hoạch NTM Yêu cầu của phát triển môi trường làng nghề theo định hướng NTM đòi hỏi:
- Các chất thải rắn trong quá trình sản xuất phải được thu gom và tập trung tại một chỗ chờ xử lý
- Chất thải lỏng và nước thải sinh hoạt trong khi chờ đợi hệ thống xử lý cần phải được thu gom vào hồ điều hòa, không xả thẳng ra ao hồ trong làng nghề
- Tăng cường diện tích cây xanh
1.3.3.2 Công trình cung cấp nước sạch và VSMT
Trong quá trình XDNTM, thực hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm đảm bảo yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM Quá trình này bao gồm đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân
cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Như vậy, các làng nghề phát triển gắn với chương trình XDNTM đòi hỏi phải:
- Có hệ thống nước sạch đủ cung cấp cho sản xuất của làng nghề cũng như sinh hoạt của người dân trong làng nghề
- Có hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm của làng nghề
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Bản thân quá trình phát triển làng nghề bình thường đã chịu tác động của nhiều yếu tố Những yếu tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo chiều hướng khác nhau Chúng có thể là những yếu tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là những yếu tố kìm hãm sự phát triển của làng nghề
Nhiều nghiên cứu gần đây của Dương Bá Phượng (2001), Trần Kim Yến (2004), Nguyễn Đình Hòa (2010) đã xác định 8 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề gồm: công nghệ, cơ sở hạ tầng, nhân lực, vốn, nguyên liệu, thị trường, yếu tố truyền thống và cơ chế chính sách đối với làng nghề
Trang 37có thể có sự thay đổi ít nhiều), một số yếu tố mới xuất hiện Mặc dù ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hoá nên sự tác động của yếu tố này là không giống nhau Tuy nhiên, hiểu theo một cách khái quát chúng bao gồm những yếu tố cơ bản sau:
1.4.1 Chính sách phát triển làng nghề trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Phát triển các làng nghề trong bối cảnh XDNTM phụ thuộc rất lớn vào quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước thông qua việc ban hành, thực thi các chủ trương, chính sách và pháp luật; phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan về phát triển tiểu thủ công nghiệp
Khi các chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước công nhận về pháp lý sự tồn tại, phát triển, vai trò tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân sẽ giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác tiềm năng, khôi phục, mở ra nhiều nghề mới, cơ sở sản xuất được cải tạo, được tổ chức sản xuất, quản lý theo hướng hiện đại thúc đẩy sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, các làng nghề nói riêng phát triển
Có thể nói, Quyết định 2636/QĐ-BNN-CB của Bộ NN&PTNT (2011) về việc phê duyệt Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề, gắn với quá trình XDNTM là động lực cho việc phát triển làng nghề trong bối cảnh hiện nay
Trong các chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến phát triển làng nghề gắn với quá trình XDNTM, các chính sách về: quy hoạch; chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; đất đai phục vụ phát triển làng nghề; Vốn phục vụ phát triển làng nghề; Chính sách đầu tư và xúc tiến TM; Chuyển giao công nghệ phát triển làng nghề… sẽ đóng vai trò quan trọng
1.4.2 Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Theo bộ tiêu chí quốc gia gồm 19 tiêu chí về xây dựng NTM thì quy hoạch chiếm vị trí hết sức quan trọng, là bước khởi đầu của XDNTM Tuy nhiên, đa số các vùng nông thôn trên cả nước nói chung đều trong tình trạng thiếu quy hoạch Điều này không chỉ gây khó khăn trong quá trình XDNTM mà còn làm ảnh hưởng tới việc bảo tồn không gian văn hóa của các làng nghề
Trong quy hoạch NTM, khó nhất vẫn là vấn đề quy hoạch phát triển sản xuất Bên cạnh đó, quy hoạch nông thôn cần phải theo những tiêu chí riêng, phù hợp với đặc thù của từng địa phương
Quy hoạch nông thôn tốt sẽ góp phần hạn chế và giảm thiểu các quy hoạch chắp
vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian kiến trúc truyền thống vốn có của
Trang 38nông thôn Việt Nam, nhất là các làng nghề, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chính phủ
về NTM trong thời kỳ CNH, HĐH (Nguyễn Thanh Tài và cs., 2013)
Trong nội dung quy hoạch NTM có một nội dung riêng về “Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ” Như vậy có thể thấy quy hoạch phát triển làng nghề là một bộ phận cấu thành của quy hoạch NTM
Yêu cầu của quy hoạch làng nghề theo gắn với XDNTM phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản là gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, phát huy thế mạnh từng vùng và bảo vệ môi trường Quy hoạch các xã có làng nghề phải có khu vực sản xuất, khu giao dịch quảng bá, giới thiệu sản phẩm, kho tập kết hàng hóa, bãi phế liệu, cấp thoát nước và xử lý chất thải sau sản xuất Trong phương án phát triển làng nghề, quy hoạch sẽ ưu tiên phát triển các nghề, làng nghề có giá trị truyền thống văn hóa, khuyến khích, hỗ trợ các nghề, làng nghề phát triển theo hướng sản xuất các sản phẩm phụ trợ Không khuyến khích hỗ trợ phát triển các làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Nguyễn Thanh Tài và cs., 2013)
Kế tiếp là phải hoàn thiện quy hoạch phát triển làng nghề thông qua: (1) Quy hoạch phát triển CN-TTCN, các cụm TTCN và NNNT và khai thác hiệu quả các cụm điểm này; (2) Triển khai lập quy hoạch để hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu; (3) Đa dạng các loại hình tổ chức sản xuất; (4) Hình thành và phát triển một số ngành nghề mới, làng nghề mới nhất là những huyện, xã có ít làng nghề, từ đó nhân rộng phong trào “mỗi làng, một nghề”
Do tầm ảnh hưởng lâu dài của mình mà việc xây dựng cơ sở hạ tầng không chỉ ảnh hưởng mạnh đến việc phát triển của các làng nghề nói riêng, mà là của toàn bộ
Trang 391.4.4 Các yếu tố đầu vào
Các yếu tố sản xuất chủ yếu của làng nghề được xác định gồm: Nhân lực, công nghệ, vốn, nguyên vật liệu, mặt bằng sản xuất
1.4.4.1 Nhân lực
Lao động luôn là nhân tố đóng vai trò chủ chốt của mọi hoạt động sản xuất Trình độ của người lao động càng cao thì khả năng áp dụng khoa học và công nghệ mới vào sản xuất càng tốt, góp phần tăng năng suất và chất lượng lao động
Nguồn nhân lực tại các làng nghề bao gồm hai lực lượng chính: (i) những nghệ nhân, những thợ thủ công, những người trực tiếp làm và sáng tạo ra những sản phẩm; (ii) những người quản lí, những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh
Những nghệ nhân, thợ thủ công có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời chính là những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm yếu tố truyền thống Những người quản lí có hiểu biết về kinh tế thị trường, và có thể giúp làng nghề không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ, vươn
ra thị trường trong nước và quốc tế
1.4.4.2 Công nghệ
Kỹ thuật cá nhân người thợ "thủ công" quyết định sự ra đời, tồn tại, phát triển của nghề Sản phẩm làng nghề chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo, sáng tạo, nhạy cảm của đôi mắt, khối óc và bàn tay của người thợ, tức là tay nghề của người thợ thủ công Do
đó, vai trò cá nhân của các thợ thủ công lành nghề, có kỹ thuật cao có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và phát triển của các làng nghề
Tiểu thủ công nghiệp đã ra đời từ một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, là tiền thân của công nghiệp hiện đại Người nông dân tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp thành một người sản xuất độc lập Vì vậy, công nghệ sản xuất, kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các làng nghề nói riêng, công nghiệp nông thôn nói chung Hiện nay, làng nghề truyền thống có nhiều thay đổi, yêu cầu về chuyển dịch và đổi mới công nghệ là thiết yếu Quá trình đổi mới công nghệ của các làng nghề thường diễn ra theo tuần tự từ thủ công - bán cơ giới - cơ giới hóa - hiện đại từng khâu (Lê Văn Hương, 2010)
1.4.4.3 Vốn cho sản xuất
Vốn đầu tư là nguồn lực quan trọng đầu tiên, khởi đầu cho quá trình sản xuất kinh doanh Cùng với lao động, nguồn vốn đầu tư là hai nguồn lực quan trọng và tất yếu của mỗi quá trình sản xuất
Vốn đầu tư được chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng để thuê mặt bằng, đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, đầu tư cho công
Trang 40nghệ, đầu tư cho kết cấu hạ tầng, thuê mướn nhân công… để tiến hành sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký
Trước đây, ngành nghề trong các làng, xóm được xem như một nghề phụ, tự cung tự cấp của ngành nông nghiệp Do đó, nguồn vốn để sản xuất kinh doanh chủ yếu
là tự tích luỹ của các hộ gia đình, rất nhỏ bé và quá trình tích luỹ gặp nhiều khó khăn Trong quá trình hội nhập quốc tế và XDNTM hiện nay, Nhà nước đang có những chính sách phù hợp để thu hút, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư, hoặc đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, để hỗ trợ tiểu thủ công nghiệp nông thôn và các làng nghề phát triển Khuyến khích xã hội hoá các nguồn vốn đầu tư XDNTM Quá trình huy động vốn đầu tư của xã hội đạt hiệu quả sẽ có tác động thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, qua đó các hoạt động trong khu vực CNNT nói chung, làng nghề nói riêng sẽ phát triển theo
Trong đề án XDNTM quy định rõ nguồn vốn XDNTM bắt nguồn từ 5 nguồn chính là: Đóng góp của cộng đồng; Vốn đầu tư của doanh nghiệp; Vốn tín dụng (bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại); Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả trái phiếu chính phủ) và Vốn tài trợ khác (Ban chỉ đạo chương trình NTM, 2013) Làng nghề nằm trong nông thôn, XDNTM là xây dựng làng nghề ở mức độ mới Vì vậy, nguồn vốn cho làng nghề phát triển theo định hướng XDNTM cũng không nằm ngoài 5 nguồn vốn chính này
Trong phát triển làng nghề, các nguồn vốn này tập trung chủ yếu thành: vốn phát triển các điểm công nghiệp - làng nghề và xử lý ô nhiễm môi trường tập trung; nâng cao năng lực sản xuất đào tạo nghề, tập huấn; xây dựng thương hiệu và phát
triển thị trường: du nhập nghề và nhân cấy nghề mới
1.4.4.4 Nguyên vật liệu
Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các làng nghề truyền thống Trước đây, nguồn nguyên liệu, vật liệu được coi là những điều kiện tạo lên sự hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống Song hiện nay, vấn đề này trở nên không quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề bởi việc hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật Tuy nhiên, vấn đề khối lượng, chất lượng, chủng loại của các nguồn nguyên liệu, vật liệu này có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sản phẩm Cho đến nay, nguồn nguyên liệu cung cấp cho một số làng nghề truyền thống vẫn rất phong phú, đặc biệt là nguồn nguyên liệu cho các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm Nhưng đối với nhiều làng nghề thì đây là một khó khăn gây nhiều cản trở tới sản xuất vì nguồn nguyên liệu, vật liệu tại địa phương và các vùng lân cận đang bị cạn dần không đủ đáp ứng cho sản