Phần I: Cơ sở lý thuyết 1. Lịch sử ra đời của bảo hiểm: Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như mức độ và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình. Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng. Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm. Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm” đã xuất hiện theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hoá trong quá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải trả khoản tiền vay cả vốn lẫn lãi. Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hoá đến bến an toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm. Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời. Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí. Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22041329 hiện còn được lưu giữ
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CÔNG TY BẢO HIỂM
HÀ NỘI – 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Trang 21 Nguyễn Ngọc Hải
2 Nguyễn Hồng Hạnh
3 Nguyễn Thị Thu Hiền
4 Ngô Xuân Hoàng
5 Ngô Thị Hồng
6 Nguyễn Thị Hồng
7 Nguyễn Hữu Hùng
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4Phần I: Cơ sở lý thuyết
1 Lịch sử ra đời của bảo hiểm:
Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như mức
độ và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những ngườivận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi củamình
Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta đã tìmcách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình
ra làm nhiều chuyến hàng Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó
là hình thức nguyên khai của bảo hiểm Sau đó để đối phó với những tổn thất
nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm” đã xuất hiện theo đó trong trường hợp
xảy ra tổn thất đối với hàng hoá trong quá trình vận chuyển, người vay sẽ đượcmiễn không phải trả khoản tiền vay cả vốn lẫn lãi Ngược lại họ sẽ phải trả mộtlãi suất rất cao khi hàng hoá đến bến an toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất caonày là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càngnhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm vàthay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảohiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người đượcbảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phảigánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoảnphí Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát hiện ra
Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hànghải nói riêng đã phát triển rất nhanh
Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của Philippe de
Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552
và ở Amsterdam năm 1558 Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563
liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hoá
Trang 5Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI - XVII cùng với sự ra đời của phươngthức sản xuất TBCN thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngàycàng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Mở đường cho sự
phát triển này là luật 1601 của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth, sau đó là Chỉ dụ
1681 của Pháp do Colbert biên soạn và Vua Louis XIV ban hành , đó là những
đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán vàhàng hải quốc tế với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất Tàu của các nước
đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ
sông Thame của thành phố Luân Đôn Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà
buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm … để giao dịch, traođổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau
Edward Lloyd’s là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê ở phố Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1692 Các các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm…thường đến đó để trao đổi các thông tin về các con tầu viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về sự an toàn và tinh hình tai nạn của các chuyến tàu… Ngoài việc quản lý quán cà phê, năm 1696 Edward Lloyd’s còn cho ra một tờ báo tổng hợp các tình hình tàu bè
và các vấn đề khác nhằm cung cấp thông tin cho các khách hàng của ông Tuy nhiên việc làm chính của ông vẫn là cung cấp địa điểm để khách hàng đến giao dịch bảo hiểm, hội họp Sau khi Edward Lloyd’s qua đời người ta thấy rằng cần phải có một nơi tương tự như vậy để các nhà khai thác bảo hiểm hàng hải tập trung đến giao dịch bảo hiểm và năm 1770, “Society of Lloyd’s” với tư cách là một tổ chức tự nguyện đã thành lập và thu xếp một địa điểm ở Pope’s Head Alley cho các thành viên của họ Sau đó tổ chức này rời địa điểm đến trung tâm hối đoái của Hoàng gia và ở đó đến năm 1828 thì rời đến toà nhà riêng của họ tại phố Leaden Hall Tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ chức tư nhân đến năm 1871 thì hợp nhất lại theo luật Quốc hội và trở thành Hội đồng Lloyd’s và sau này đã trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm và hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới.
Trang 6Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hoả hoạn, đánh dấubằng vụ cháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000căn nhà trong đó có hơn 100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớnkhông thể cứu trợ được Sau đó những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ raviệc cộng đồng chia sẻ rủi ro hoả hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công
ty bảo hiểm hoả hoạn như : " Fire Office" (năm 1667), "Friendly Society" (năm 1684), "Hand and Hand" (năm 1696), "Lom Bard House" (năm 1704) Lúc đó
Công ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực hàng hải.Mãi tới thế kỷ XX mới chuyển sang hoạt động cả lĩnh vực nội địa và tái bảohiểm
Nước Pháp do ảnh hưởng của vụ hỏa hoạn ở Luân Đôn, nên năm 1786
công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên mới được thành lập đó là “Company
L'assurance Centree L'incendie” và “Company Royade”(năm 1788) Sự kiện
đáng được lưu truyền thời gian này và trong lịch sử bảo hiểm là công trình toánhọc của Pascal về "Hình học của rủi ro " (Lageometric Du Hasard) năm 1654 đãđưa đến toán học xác suất Đó là cơ sở thống kê xác suất phục vụ cho hoạt độngbảo hiểm và ngày nay vẫn được coi là kỹ thuật cơ bản của ngành bảo hiểm
Còn ở Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ bao giờ? Không có tài liệu nàochứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào năm 1880 có các Hộibảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ đã để ýđến Đông Dương Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi cácCông ty thương mại lớn, ngoài việc buôn bán, các Công ty này mở thêm mộtTrụ sở để làm đại diện bảo hiểm Vào năm 1926, Chi nhánh đầu tiên là củaCông ty Franco- Asietique Đến năm 1929 mới có Công ty Việt Nam đặt trụ sở
tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm
xe ô tô Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dướinhững hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trongnước và ngoại quốc
Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo
Việt) mới chính thức đi vào hoạt động Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến
Trang 7hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảohiểm tàu viễn dương….
2 Các khái niệm cơ bản:
Bảo hiểm: là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành,
phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro,các biến cố Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hộiđược diễn ra bình thường
Công ty bảo hiểm: là trung gian tài chính cung cấp sản phẩm bảo hiểm
thông qua việc thu phí của những người tham gia bảo hiểm,và bồi thường hoặctrả bảo hiểm khi có sự cố bảo hiểm xảy ra theo các điều khoản được ký kết tronghợp đồng
Dịch vụ bảo hiểm (sản phẩm bảo hiểm): là dịch vụ tài chính đặc biệt, đó
là sự cam kết về mặt tài chính của công ty bảo hiểm đối với người được bảohiểm khi có sự kiện bảo hiểm diễn ra
3 Phân loại công ty bảo hiểm.
a Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhànước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm
và thực hiện những nhiệm vụ do nhà nước giao.(Bảo Việt được bắt đầu đi vàohoạt động từ 15/01/1965 Công ty có các đơn vị thành viên, các chi nhánh trêntoàn quốc, đồng thời tham gia góp vốn vào nhiều công ty khác như công ty liêndoanh Bảo hiểm Quốc tế (VIA), công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Việt – AON(AIB), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, quỹ đầu tư Quốc gia…)
Công ty cổ phần bảo hiểm: là doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thànhviên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗtương ứng với phần đóng góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi phần vốn đóng góp của mình vào công ty.(Công ty cổ phần bảohiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập ngày 15/06/1995 Các cổ đông sánglập của công ty đều là những tổ chức kinh tế lớn của Nhà nước, có uy tín và tiềmnăng: Petrolimex, Vietcombank, VINARE, Tổng công ty thép Việt Nam, công
Trang 8ty điện tử Hà Nội… Là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam,tới nay, PJICO vẫn giữ vị trí thứ 3 về bảo hiểm phi nhân thọ).
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thànhlập để kinh doanh bảo hiểm bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa cácthành viên.(Việt Nam mới thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ dưới dạng quỹbảo hiểm ngành trên các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản Hiện nay, Quỹ bảo hiểmrủi ro tín dụng giữa các ngân hàng cũng đang được nghiên cứu để triển khai)
Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp bảohiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt độngtheo pháp luật Việt Nam
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: là doanh nghiệp bảo hiểm được thànhlập trên cơ sở đóng góp vốn giữa một bên nước Việt Nam với một bên nướcngoài (tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanhkhông thấp hơn 30% vốn điều lệ).(Bảo Minh – CMG là liên doanh bảo hiểmnhân thọ duy nhất ở Việt Nam giữa Bảo Minh và CMG – Colonial MutualGroup – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất của úc Công ty được chính phủ Việt Namcấp giấy phép đầu tư vào cuối tháng 10 năm 1999, với số vốn điều lệ ban đầu là
6 triệu USD, nay đã được tăng lên 10 triệu USD)
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệpbảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại ViệtNam.Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu vàkiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam.(Prudential là tập đoàn bảohiểm nhân thọ lớn nhất nước Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảohiểm nhân thọ lớn nhất thế giới, quản lý hơn 250 tỷ USD và khoảng 21.000nhân viên trên toàn cầu Prudential khai trương văn phòng đại diện thứ nhất tạiViệt Nam từ năm 1995 và được chính phủ cấp giấy phép đầu tư vào tháng10/1999)
b Căn cứ vào hình thái hoạt động: công ty bảo hiểm nhân thọ và công ty
bảo hiểm rủi ro Sự khác biệt giữa hai loại hình bảo hiểm này được thể hiện ởbảng sau:
Trang 9Đặc điểm Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ
Thời hạn Mang tính dài hạn Thời hạn ngắn (tối đa là 1 năm)
Chủ thể tham gia
Đối tượng bảo hiểm Tính mạng
Tài sản Sức khỏe con người
Con người Tài sản Trách nhiệm dân sự Sản phẩm + Bảo hiểm tử kì
+ Bảo hiểm sinh kì + Bảo hiểm trọn đời
+ Bảo hiểm tài sản + Bảo hiểm rủi ro về con người +Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Doanh thu + Phí bảo hiểm (thu định kì,
nhiều lần vào thời gian trên hợp đồng)
+ Phí bảo hiểm (thu một lần) + Các hoạt động tái bảo hiểm
Chi phí bảo hiểm Xuất hiện trong 2 trường hợp:
+Khi trong thời hạn hợp đồng:
+Khi hết thời hạn hợp đồng.
Phát sinh trong trường hợp có
sự cố xảy ra với đối tượng được bảo hiểm.
Trang 10
Phần II Phân tích hoạt động công ty bảo hiểm
Quỹ bảo hiểm được hình thành do:
• Người sử dụng lao động đóng góp
• Người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình;thu từ các đốitượng tham gia BHXH tự nguyện
• Nhà nước đóng góp và hỗ trợ
• Do nguồn vốn từ nước ngoài
• Tài trợ của các tổ chức xã hội, từ thiện
• Phí bảo hiểm y tế của người tham gia bảo hiểm, đối với người nghỉ hưu,mất sức: do bảo hiểm xã hội đóng góp
• Phí bảo hiểm của tổ chức sử dụng người lao động
Trang 11b Thu hút vốn đầu tư:
Để thu hút thêm khách hàng, việc đẩy mạnh chất lượng dịch vụ là rấtquan trọng Các công ty bảo hiểm càng hiểu rõ hơn điều này, đặc biệt là trongmôi trường đầy tính cạnh tranh như hiện nay Sản phẩm có thể được cung cấptới tận nơi cho khách hàng theo yêu cầu, cùng với đầy đủ dịch vụ chăm sóc và
hỗ trợ Các kênh tiếp thị và phân phối đang ngày càng hoàn thiện để quảng báhình ảnh của các công ti bảo hiểm từ đó kêu gọi và thu hút thêm các nguồn đầu
tư tư nhân, doanh nghiệp, đầu tư từ nước ngoài dưới dạng cổ phần để làm tăng
số vốn của doanh nghiệp bảo hiểm
Thành lập thêm các tổ chức kinh doanh bảo hiểm,các tổ chức tái bảohiểm,các tổ chức trung gian bảo hiểm (đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giớibảo hiểm), thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam(AIV) cùng nhau hợp tác pháttriển liên kết với nhau làm tăng nguồn vốn đầu tư cũng như tìm kiếm các nguồnvốn đầu tư khác từ bên ngoài
c Doanh thu từ việc kinh doanh bán bảo hiểm:
Doanh thu bảo hiểm nhân thọ được hình thành từ phí bảo hiểm Phí bảohiểm nhân thọ được thu định kỳ,nhiều lần,vào thời gian xác định trong hợp đồngbảo hiểm Tùy theo tình hình tài chính của bản thân,người tham gia bảo hiểm tựlựa chọn thời gian đóng phí bảo hiểm (tháng, quý, năm) Số phí bảo hiểm đượccông ty bảo hiểm quản lý theo nghiệp vụ dồn tích và đầu tư kiếm lời
Doanh thu của bảo hiểm phi nhân thọ được hình thành chủ yếu từ phíabảo hiểm.Khác với bảo hiểm nhân thọ, phí bảo hiểm phi nhân thọ được thu mộtlần ngay khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết Ngoài phí bảo hiểm từ hoạt độngbảo hiểm gốc, doanh thu bảo hiểm còn được hình thành từ các hoạt động tái bảohiểm
VD: Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành có những bước tăng trưởngmạnh mẽ kể từ khi Nhà nước quyết định mở cửa ngành bảo hiểm Trong thờigian từ năm 1995 đến 2002, mức tăng trưởng bình quân doanh thu dịch vụ bảohiểm là 29,1%/năm Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 12tăng gần 6 lần, năm 2002 đạt 2.624 tỷ đồng Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọnăm đầu tiên hoạt động (1996) chỉ là chưa tới 1 tỷ đồng thì tới cuối năm 2002,doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường đạt 4.368 tỷ đồng Đây làmột mức tăng rất cao trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực đanglâm vào khó khăn.
2 Hoạt động đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều phải chịu sự chiphối của các quy luật thị trường ,sự tác động mạnh mẽ và liên tục của hệ thốngcác chính sách vĩ mô của nhà nước
Công ty bảo hiểm là một tổ chức kinh doanh như nhỉu doanh nghiệp kháctrên thị trường nên luôn chhu sự chi phối của các quy luật thị trường và các chínhsách chính phủ của mỗi nước đó Tuy vậy , sự khác nhau cơ bản của doanhnghiệp bảo hiểm với các doanh nghiệp khác là ở hàng hoá kinh doanh Cácdoanh nghiệp bảo hiểm có mặt hàng kinh doanh rất đặc biệt “kinh doanh rủi ro
“.Chính vì sự khác nhau này các công ty bảo hiểm được coi là các tổ chức tàichính trung gian ở mỗi nền kinh tế với chức năng chủ yếu là huy động số lượngtiền nhỏ từ các khách hàng của mình (phí bảo hiểm )để lập ra một quỹ vốn rấtlớn do chính họ quản lý
Với đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “ sự đảo ngược chu kỳsản xuất kinh doanh ”, tức là phí bảo hiểm được thu trước còn cam kết bồi thườnglại chỉ được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định nào đó Từ phí bảohiểm, các công ty bảo hiểm thường xuyên nắm trong tay một quỹ tài chính rấtlớn,nhưng trách nhiệm bồithường của các công ty bảo hiểm lại không phát sinhngay mà thường kéo dài,có thể lên tới mấy chục năm như trong các hợp đồng bảohiểm nhân thọ Để đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả tiền bồi thường cho ngườitham gia bảo hiểm, đồng thời, đem lại lợi nhuận hợp lý để trang trải các chi phíhoạt động và mở rộng phạm vi kinh doanh của mình, các công ty bảo hiểm đã sửdụng lượng “ tiền nhàn rỗi ” này để đầu tư vào nền kinh tế
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có những đặc điểm khácbiệt so với hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân hoặc các tổ chức tài