1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100 200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

194 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu n =27 Sau 63 3.4 Kết quả kiểm định tính thông báo của các test đá

Trang 1

ĐẶNG HOÀI AN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY NGẮN (100 - 200m)

Ở GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HOÁ BAN ĐẦU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẶNG HOÀI AN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY NGẮN (100 - 200m)

Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiêncứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bàytrong luận án là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Tác giả luận án

Đặng Hoài An

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt trong luận án

Danh mục biểu bảng, hình, sơ đồ, đồ thị trong luận án

1.1 Đặc điểm huấn luyện nhiều năm trong quá trình đào tạo VĐV 6

1.2 Đặc điểm huấn luyện VĐV trẻ giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

8

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn 10

1.4 Khái niệm, phân loại và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sức bền tốc độ trong huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn

17

1.5 Phương tiện, phương pháp và kế hoạch huấn luyện 231.5.1 Kỹ thuật và đặc điểm các giai đoạn chạy cự ly ngắn 231.5.2 Phương tiện và phương pháp huấn luyện VĐV chạy cự ly

ngắn

25

1.5.3 Kế hoạch huấn luyện SBTĐ cho VĐV chạy cự ly ngắn 30

Chương 2 Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 42

Trang 5

chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 583.1.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá SBTĐ cho nam VĐV

chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 743.1.3 Thực trạng diễn biến SBTĐ của nam VĐV chạy ngắn giai

đoạn chuyên môn hóa ban đầu trong chu kỳ huấn luyện năm 783.1.4 Đánh giá thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy

ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu theo tiêu chuẩn

3.1.5 Thực trạng sử dụng bài tập trong huấn luyện SBTĐ cho

nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 803.1.6 Thực trạng kế hoạch huấn luyện sức bền tốc độ cho nam

VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 82

3.2 Nghiên cứu xây dựng nội dung huấn luyện sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 963.2.1 Lựa chọn các bài tập phát triển SBTĐ cho nam VĐV

chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 963.2.2 Xây dựng nội dung huấn luyện sức bền tốc độ cho nam

VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 99

3.3.2 Đánh giá hiệu quả nội dung huấn luyện SBTĐ cho nam

VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban

Trang 9

3.1

Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (n =27)

Sau 63

3.4

Kết quả kiểm định tính thông báo của các test đánh

giá sức bền tốc độ của nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 63

3.5 Các thông số tim mạch đo được khi thực hiện 3/7 test đánh giá (n=8) 693.6 Các thông số hô hấp đo được khi thực hiện 3/7 test

3.7 Các thông số về chuyển hóa cung cấp năng lượng

khi thực hiện 3/7 test đánh giá (n=8) 733.8

Kết quả kiểm tra và so sánh giá trị trung bình của các test đánh giá sức bền tốc độ của nam VĐV chạy

cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 76

3.11

Bảng tiêu chuẩn qui điểm đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 76

3.12

Bảng điểm tổng hợp đánh giá sức bền tốc độ của nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

78

3.13

Thực trạng diễn biến sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu trong chu kỳ huấn luyện năm

Sau 78

Trang 10

trong chu kỳ huấn luyện năm3.15

Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu theo tiêu chuẩn

Sau 80

3.17

Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện SBTĐ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tại trung tâm huấn luyện TDTT Nam Định

Sau 80

3.18

Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện SBTĐ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tại trung tâm huấn luyện TDTT Ninh Bình

Sau 80

3.19

Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện sức bền tốc

độ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tại Trung tâm đào tạo VĐV Trường Đại học TDTT Bắc Ninh

Sau 80

3.20 Thực trạng phân chia thời gian trong các giai đoạn huấn luyện 833.21 Thực trạng phân chia nội dung trong các giai đoạn huấn luyện 843.22

Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chung cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

87

3.23

Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chuyên môn cho VĐV chạy ngắn giai đoạnchuyên môn hóa ban đầu

Sau 87

3.24

Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ tiền thi đấu cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

88

3.25

Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ tiền thi đấu cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

91

3.26

Kết quả phỏng vấn mức độ ưu tiên sử dụng các bài tập phát triển sức bền cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 97

Trang 11

giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (n=26)3.28

Kết quả phỏng vấn xác định diễn biến LVĐ trong huấn luyện sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy ngắngiai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (n=26)

Sau 100

3.29 Phân phối thời gian huấn luyện năm thứ nhất giai đoạn CM hóa ban đầu (từ 1/8/2009 - 1/8/2010) 1013.30 Phân phối thời gian huấn luyện năm thứ hai giai đoạn CM hóa ban đầu (từ 1/8/2009 - 1/8/2010) 1013.31 Phân phối thời gian huấn luyện năm thứ ba giai đoạn CM hóa ban đầu (từ 1/8/2009 - 1/8/2010) 1013.32 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốcđộ giai đoạn chuẩn bị chung 1023.33 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ chuẩn bị chung 1043.34 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốcđộ trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn 1053.35 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ chuẩn bị chuyên môn 1063.36 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốcđộ trong giai đoạn tiền thi đấu và thi đấu Sau 1073.37 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ chuẩn bị thi đấu và thi đấu Sau 1073.38 Kết quả kiểm tra ban đầu của 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm (n

chứng và thực nghiệm (nA = nB = 5) Sau 1153.43

Nhịp tăng trưởng của các test đánh giá sức bền tốc

độ của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng qua các giai đoạn thực nghiệm

Sau 115

Trang 12

So sánh kết quả phân loại sức bền tốc độ của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng theo tiêu chuẩn đã xây dựng

116

Biểu đồ

3.1

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ giai đoạn chuẩn bị chung năm thứ 1 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban 1033.2

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ giai đoạn chuẩn bị chung năm thứ 2 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 1033.3

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ giai đoạn chuẩn bị chung năm thứ 3 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 103

3.4

Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chung của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 1 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 103

3.5

Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chung của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 2 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 103

3.6

Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chung của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 3 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

104

3.7

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện SBTĐ giai đoạn chuẩn bị chuyên môn năm thứ 1 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 106

3.8

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ giai đoạn CBCM năm thứ 2 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 106

3.9

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ giai đoạn CBCM năm thứ 3 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 106

3.10

Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chuyên môn của nam VĐV chạy ngắn năm thứ nhất giai đoạn chuyênmôn hóa ban đầu

Sau 106

3.11

Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chuyên môn của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 2 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 106

Trang 13

môn hóa ban đầu3.13

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ thời kỳ thi đấu năm thứ nhất của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 107

3.14

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ thời kỳ thi đấu năm thứ 2 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 107

3.15

Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc

độ thời kỳ thi đấu năm thứ 3 của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 107

3.16

Diễn biến LVĐ thời kỳ thi đấu của nam VĐV chạy ngắn năm thứ nhất giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Sau 107

3.17 Diễn biến LVĐ thời kỳ thi đấu của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 2 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu Sau 1073.18 Diễn biến LVĐ thời kỳ thi đấu của nam VĐV chạy ngắn năm thứ 3 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu Sau 1073.19 Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 120m (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1153.20 Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 150m (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1153.21 Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 300m (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1153.22 Diễn biến kết quả kiểm tra bật 10 bước (m) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1183.23 Diễn biến kết quả kiểm tra thời gian 20m cuối cự ly 200 (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1183.24 Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 100m (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm Sau 1183.25 Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 200m (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm 1193.26 Kết quả xếp loại sức bền tốc độ của 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm 120

Trang 14

MỞ ĐẦU

Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành của TDTT, là động cơthúc đẩy phong trào TDTT quần chúng Sự phát triển của thể thao thành tíchcao là biểu hiện sức mạnh của một xã hội, là cơ sở để cung cấp lực lượngVĐV, HLV và những cán bộ TDTT lành nghề cho đất nước Đào tạo tài năngthể thao một cách khoa học, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước là đòi hỏi tất yếu, là quy luật khách quan

Luật thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại

kỳ họp thứ X ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lý quan trọng đốivới công tác quản lý thể dục, thể thao trong thời kỳ đổi mới, tạo hành langpháp lý cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng định hướng: Vì sứckhỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[29]

Đặc biệt, ngày 03 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã kýquyết định số 2198/QĐ-TTg ban hành Chiến lược Phát triển thể dục, thể thaoViệt Nam đến năm 2020 Cùng với luật thể dục, thể thao, Chiến lược pháttriển Thể dục, thể thao đến năm 2020 đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhànước tới công tác TDTT [7]

Chiến lược phát triển thể dục, thể thao đến năm 2020 đã chỉ rõ mục tiêuphát triển thể thao thành tích cao như sau: “Đổi mới và hoàn thiện hệ thốngtuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao, gắn kết đào tạo các tuyến, các lớp kếcận; thống nhất quản lý phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyênnghiệp theo hướng tiên tiến, bền vững, phù hợp với đặc điểm thể chất và trình

độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vănhóa, tinh thần của nhân dân; nâng cao thành tích thi đấu, giữ vững vị trí làmột trong 3 quốc gia có thành tích thể thao đứng đầu khu vực Đông Nam Á,tiến tới thu hẹp khoảng cách trình độ đối với thể thao châu Á và thế giới

Trang 15

Tăng cường hội nhập quốc tế, tích cực thực hiện chủ trương, đường lối ngoạigiao nhân dân của Đảng và Nhà nước ” [7].

Thực tiễn thành tích thể thao trong môn điền kinh những năm qua đãvượt ra ngoài dự báo của những nhà chuyên môn Hàng loạt kỷ lục mới đượcthiết lập như ở SEA Games 24 Thái Lan, Điền kinh Việt Nam đã lập được 03

kỷ lục, ở nội dung 800m, 1500m nữ của VĐV Trương Thanh Hằng và 1500mnam của Nguyễn Đình Cương và trong số 08 HCV mà các VĐV điền kinhViệt Nam đã dành được phải nhắc đến 02 HCV ở nội dung 100m - 200m của

nữ VĐV Vũ Thị Hương thành tích đạt tầm châu Á Ngoài ra, tại các cuộc thiđấu trong nước số VĐV giành chức vô địch ngày càng nhiều và trải rộng trênnhiều địa phương, khoảng cách giữa thắng, thua chỉ chênh lệch rất nhỏ Tuynhiên, thành tích của các VĐV nam ở chạy cự ly ngắn lại chưa có huychương Thực tiễn đó đã thúc đẩy hoạt động khoa học tìm tòi những phươngpháp huấn luyện mới, những nhân tố mới nhằm nâng cao thành tích thể thao.Việc đưa những công nghệ tiên tiến hiện đại, những phương pháp mới vàoquá trình huấn luyện đã tạo tiền đề trong việc thúc đẩy phát triển thể thaothành tích cao

Trong đào tạo VĐV, thành tích thể thao là kết quả tổng hòa của nhiềuyếu tố như: Đặc điểm sinh lý, tâm lý - ý chí, trình độ kỹ - chiến thuật và thểlực Trong đó yếu tố thể lực vừa là cơ sở, đồng thời có ý nghĩa quyết định tớithành tích ở nhiều môn thể thao, trong đó có môn điền kinh

Theo tài liệu biên dịch của tác giả Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn ĐạiDương thì khi giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn huấn luyệnchuyên môn hóa ban đầu là HLV dần dần tiến hành việc lựa chọn tiếp tục đểchuyên môn hóa trong chạy cự ly ngắn Tiêu chuẩn chủ yếu để chuyên mônhóa chạy ngắn là thành tích mà VĐV trẻ thể hiện trong các cuộc thi đấu [14].Xem xét thành tích của VĐV chạy cự ly ngắn Việt Nam thấy:

Trang 16

Thành tích môn điền kinh của Việt Nam đã có sự tiến bộ Tuy nhiên,thành tích chủ yếu tập trung ở các nội dung: Chạy vượt rào, nhảy cao, đẩy tạ

nữ, chạy cự ly trung bình, nhảy xa Thành tích ở cự ly ngắn còn hạn chế cả về

số lượng và số VĐV Thành tích chạy cự ly ngắn (100m và 200m) của điềnkinh Việt Nam từ Sea Games 16 đến 23 chỉ có: 1 huy chương Vàng (100mnữ), 2 huy chương Đồng (100m nữ), 1 huy chương Bạc (200m nữ), 1 huychương Vàng (200m nữ) Tổng số 5 huy chương đạt được nhờ 3 VĐV thì: 1của VĐV Nguyễn Thu Hằng, 1 của VĐV Nguyễn Thị Tĩnh và 3 của VĐV VũThị Hương [10], [21]

Từ kết quả thống kê nêu trên thấy: Huy chương đạt được ở nội dungchạy cự ly ngắn (100m và 200m) của nam chưa giành được huy chương.Thống kê ở cự ly 400m của nam cũng có kết quả tương tự Vì vậy, vấn đềnâng cao trình độ tập luyện cho VĐV chạy cự ly ngắn của nam VĐV ViệtNam là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn Đồng thời đây là khoảng trống mà cácnhà khoa học, các nhà chuyên môn cần quan tâm đầu tư nghiên cứu đúng mức

để hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong môn điền kinh Do vậy, hướngnghiên cứu mà đề tài đặt ra là xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và cực kỳ cấpthiết cho môn điền kinh

Thành tích thể thao cao trong chạy ngắn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố, trong đó sức bền - sức bền tốc độ đóng vai trò quan trọng, quyết định hàngđầu Việc chuẩn bị sức bền - sức bền tốc độ cho VĐV điền kinh nói chung vàVĐV chạy ngắn nói riêng là công việc cấp thiết, tất yếu trong công tác huấnluyện cần được quan tâm

Qua quá trình tổng kết kinh nghiệm của các cường quốc thể thao (Mỹ,Đức, Nga, Trung Quốc ) cho thấy việc nghiên cứu sâu các tố chất thể lựcriêng biệt là nét nổi bật trong quá trình quản lý và tổ chức huấn luyện Vì vậy,việc chuẩn hoá các tố chất thể lực trong quá trình huấn luyện ngày càng

Trang 17

chiếm một vị trí quan trọng trong thể thao hiện đại Trên thực tiễn, thể thaohiện tại các nước có nền thể thao tiên tiến, việc chuẩn hoá tất cả các mặt, cáckhâu trong huấn luyện đã trở thành phổ biến và được thống nhất trên phạm vitoàn quốc Đặc biệt đối với các môn thể thao cá nhân, mà trong đó thành tíchthi đấu phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân VĐV [48].

Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều tác giả trên thế giới đề cập tớinhư: Bôbốp, Philine, Bulgakôva Ở Việt Nam, đào tạo và huấn luyện VĐVchạy cự ly ngắn luôn là ưu tiên của các đội tuyển điền kinh ở các trung tâmđào tạo VĐV địa phương và Quốc gia Vì vậy, VĐV được tổ chức huấn luyệnliên tục theo các tuyến và đảm bảo tính kế thừa giữa các lứa tuổi Tuy nhiên,nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn về cự ly chạy ngắn rất hạn chế, chủ yếu

là tài liệu biên dịch Công trình nghiên cứu về cự ly chạy ngắn cũng chưatương xứng với yêu cầu thực tế huấn luyện, chủ yếu tập trung vào một số tácgiả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Đại Dương, Đàm Quốc Chính, Đàm TrungKiên Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu đã hoàn thành thì chưa cótác giả nào đề cập đến việc huấn luyện sức bền - sức bền tốc độ cho namVĐV chạy ngắn ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu Vì vậy, việc nghiêncứu và hệ thống hóa các nội dung phát triển sức bền - sức bền tốc độ choVĐV một cách khoa học, đúng đắn sẽ góp phần nâng cao thành tích thể thao,tiết kiệm được kinh phí, thời gian, nhân lực và phát triển nhân tài Đồng thời,hiệu quả của công tác huấn luyện được nâng cao sẽ trở thành động lực thúcđẩy tính tự giác tích cực, lòng say mê luyện tập của VĐV

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:

“Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động viên chạy cự ly

ngắn (100 - 200m) ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu”

Trang 18

Mục đích nghiên cứu:

Xây dựng nội dung huấn luyện cho nam VĐV chạy ngắn (cự ly 100m,200m) lứa tuổi 13 - 15 ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu để đưa vào ứngdụng nhằm phát triển sức bền tốc, góp phần nâng cao thể lực và hiệu quả côngtác huấn luyện nam VĐV chạy cự ly ngắn của Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

Để giải quyết mục đích nghiên cứu, đề tài đã giải quyết 3 mục tiêunghiên cứu sau:

Mục tiêu 1: Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai

đoạn chuyên môn hoá ban đầu.

Mục tiêu 2: Nghiên cứu xây dựng nội dung huấn luyện sức bền tốc độ

cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu.

Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả nội dung huấn luyện sức

bền tốc độ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu.

Giả thuyết khoa học:

Xây dựng nội dung huấn luyện chưa phù hợp là nguyên nhân cơ bảnảnh hưởng đến việc không hoàn thành các yêu cầu trong huấn luyện SBTĐđối với nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu Trong

đó có ảnh hưởng lớn từ việc VĐV phải tham gia nhiều giải đấu nên nội dunghuấn luyện SBTĐ hiện đang áp dụng không theo chu kỳ đơn và lớn hơn mộtđiểm rơi Đồng thời nội dung huấn luyện SBTĐ đã xây dựng chưa có đủ cơ

sở khoa học nên chưa điều khiển được thành tích Vì vậy, việc xây dựng đượcnội dung huấn luyện SBTĐ đảm bảo được các yêu cầu khoa học sẽ nâng cao thểlực và hiệu quả công tác huấn luyện nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạnchuyên môn hóa ban đầu

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm huấn luyện nhiều năm trong quá trình đào tạo VĐV

Huấn luyện thể thao là một quá trình sư phạm thống nhất, vận dụng cácquy luật chung về sự phát triển nhân cách và năng lực thể thao Ngoài ảnhhưởng của di truyền, hiệu quả HLTT phần lớn phụ thuộc quá trình luyện tập,môi trường và xã hội

Theo quan điểm của Harre, quá trình đào tạo VĐV chia thành hai giaiđoạn: Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ (tạo nên các tiền đề chung và chuyênmôn cho thành tích thể thao cao nhất) và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao.Trong đó, giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ chia thành hai giai đoạn nhỏ là huấnluyện ban đầu và chuyên môn hoá [12]

Tác giả Nabatnhicova, Philin cho rằng quá trình đào tạo VĐV trẻ gồmbốn giai đoạn: (1) Huấn luyện ban đầu; (2) Chuyên môn hoá (từ 9 - 10 tuổi);(3) Chuyên sâu môn thể thao lựa chọn (từ 11 - 15 tuổi); (4) Hoàn thiện thểthao (16 tuổi trở lên) [24], [26]

Quan điểm của các tác giả Novicôp, Matveep lại chia quá trình huấnluyện thể thao nhiều năm thành bốn giai đoạn lớn: (1) Giai đoạn chuẩn bị thểthao sơ bộ; (2) Giai đoạn chuyên môn hoá thể thao bước đầu; (3) Giai đoạnhoàn thiện sâu; (4) Giai đoạn “tuổi thọ thể thao” Trong đó, mục tiêu của giaiđoạn chuyên môn hoá bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng chonhững thành tích tương lai [25]

Theo Aulic, Geran Pett, Vovk có một số điểm tương đồng khi cho rằng:Đánh giá quá trình huấn luyện đi liền với đánh giá trình độ thể lực để xác địnhnăng lực tiềm tàng của VĐV nhằm đạt được những thành tích nhất định trongmôn thể thao lựa chọn Năng lực này được biểu hiện cụ thể mức chuẩn bị về

kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức - ý chí và trí tuệ Giữa trình độ thể lực

Trang 20

và trình độ tập luyện có mối liên quan đến nhau, nó phụ thuộc vào yêu cầuvận động chuyên môn của môn thể thao sở trường [1], [13], [45].

Tác giả Tạ Văn Vinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Trọng chiaquá trình huấn luyện VĐV trẻ thành 4 giai đoạn: (1) Huấn luyện sơ bộ; (2)Huấn luyện ban đầu; (3) Huấn luyện chuyên môn hoá; (4) Hoàn thiện thểthao Huấn luyện ban đầu còn được gọi là giai đoạn dự bị năng khiếu [42]

Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn chia quá trình huấn luyện nhiều nămlàm 3 giai đoạn chính: (1) Giai đoạn đào tạo ban đầu; (2) Giai đoạn thực hiệntối đa khả năng thể thao; (3) Giai đoạn duy trì thành tích thể thao [35]

Dưới quan điểm tuyển chọn tài năng thể thao, theo tác giả NguyễnNgọc Cừ, Bùi Quang Hải, Nguyễn Kim Xuân, Vũ Chung Thủy, Nguyễn DanhHoàng Việt thì giai đoạn chuyên môn hóa khoảng 4 – 6 năm Giai đoạn nàynên đào thải những VĐV phát dục sớm, cuối mỗi năm, nên tổ chức đánh giátrình độ tập luyện để tuyển chọn lại Trong giai đoạn này nên đo lường vàđánh giá nhiều chỉ số hơn giai đoạn trước (về thể hình, tố chất, thể lực chuyênmôn, kỹ - chiến thuật) ngoài ra nên chú ý tới yếu tố ý chí, khả năng chịu đựnglượng vận động trong tập luyện Ở một số môn thể thao, cần chú ý tới loạihình thần kinh (bắn súng, các môn bóng ) Trong giai đoạn này cũng nênkiểm tra sức khỏe chung, loại trừ các trường hợp sức khỏe yếu [8], [9], [17]

Theo tác giả Nguyễn Đại Dương và cộng sự thì quá trình huấn luyệnnhiều năm của VĐV chạy ngắn được chia thành 4 giai đoạn: (1) Huấn luyệnban đầu (từ 9 tuổi và kéo dài trong khoảng 3 năm); (2) Chuyên môn hóa banđầu (từ lứa tuổi 12 – 13 và kéo dài tới 15 – 16 tuổi); (3) Chuyên môn hóa sâu(từ lứa tuổi 15 – 16 và kéo dài tới 18 – 19 tuổi); (4) Hoàn thiện thể thao (từ 19tuổi hoặc lớn hơn và đạt được thành tích cao nhất ở độ tuổi 22 – 28) Trong

đó, nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là huấn luyệnthể lực toàn diện, nâng cao mức độ chịu đựng chung của cơ thể, tạo được vốn

Trang 21

kỹ năng vận động, tăng tri thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tàinăng thể thao [10].

Căn cứ tài liệu biên dịch "Chạy cự ly ngắn" của tác giả Nguyễn QuangHưng, Nguyễn Đại Dương, trong đó tiêu chuẩn trình độ thể lực chuyên môncủa VĐV trẻ chạy 100m giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu được đánh giátheo 3 nhóm tuổi: 12 – 13 tuổi, 13 – 14 tuổi, 14 – 15 tuổi Đồng thời đã nêu rõ

hệ thống huấn luyện nhiều năm VĐV trẻ chạy cự ly ngắn bao gồm 4 giai đoạnchủ yếu sau: (1) Huấn luyện thể thao sơ bộ (10 – 14 tuổi); (2) Chuyên mônhóa ban đầu (13 – 17 tuổi); Chuyên môn hóa sâu (16 – 19 tuổi); Hoàn thiệnthể thao (19 tuổi và nhiều hơn) Việc chia thành các giai đoạn huấn luyệnmang tính quy ước vì sự khác nhau trong việc phát triển về mặt sinh học củacác VĐV trẻ có thể từ 2 – 3 năm hoặc nhiều hơn [14]

Từ kết quả phân tích và tổng hợp tài liệu thấy: Đề tài lựa chọn đốitượng nam VĐV chạy cự ly ngắn lứa tuổi 13 – 15 giai đoạn chuyên môn hóaban đầu là phù hợp với cơ sở lý luận và đặc thù chuyên môn chạy cự ly ngắn.Đồng thời lứa tuổi 13 – 15 là giai đoạn cuối của giai đoạn chuyên môn hóaban đầu và chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn chuyên môn hóa sâu Vì vậy,việc đòi hỏi trình độ tập luyện của VĐV nói chung và sức bền tốc độ nóiriêng cần phải đáp ứng được nhiệm vụ, chỉ tiêu đặt ra

1.2 Đặc điểm huấn luyện VĐV trẻ giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Theo các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm thì giaiđoạn chuyên môn hoá ban đầu là giai đoạn chuyên môn hoá cơ sở Ở giaiđoạn chuyên môn hoá thể thao ban đầu cần tận dụng thời kỳ phát triển "nhạycảm" theo lứa tuổi của cơ thể, tránh chuyên môn hoá quá hẹp, sớm Đặc điểmLVĐ trong những năm đầu là nâng dần khối lượng (dao động hàng nămkhoảng 30 – 200%) Cường độ cũng tăng, song ít hơn nhiều so với khối lượng[20], [35]

Trang 22

Theo tác giả Matvêep, đặc điểm chuyên biệt của quá trình tập luyện ởgiai đoạn chuyên môn hoá ban đầu là: Hiệu quả cao của các lượng vận độngđược thể hiện ở chỗ lượng vận động tăng trưởng ít song mức tăng thành tíchtương đối lớn; tính đều đặn tương đối của nhịp độ tăng hàng năm về khốilượng của lượng vận động tập luyện và mức tăng trưởng thành tích thể thao;tác động tập luyện ít thể hiện tính đặc thù nhưng hiệu quả của chúng lại cóphạm vi rộng, thể hiện ở khả năng "chuyển" trình độ tập luyện khi sử dụngnhững phương tiện huấn luyện khác nhau có biên độ lớn hơn so với các giaiđoạn sau [25]

Theo tác giả Nguyễn Đại Dương và cộng sự thì đặc điểm của giai đoạnchuyên môn hóa ban đầu trong chạy cự ly ngắn là việc sử dụng rộng rãi cácphương tiện huấn luyện, song có tính toán đến đặc thù của chạy ngắn Đểhuấn luyện tốc độ thì không nên cho VĐV chạy với tốc độ cực đại quá nhiều.Các bài tập tốc độ cần áp dụng ngay sau phần khởi động Cần đặc biệt thậntrọng tuân thủ giới hạn cường độ của LVĐ vì cơ thể các em đang phát triển[10]

Trong cuốn tài liệu biên dịch "Chạy cự ly ngắn" của Nguyễn QuangHưng, Nguyễn Đại Dương thì thời kỳ đầu của giai đoạn chuyên môn hóa banđầu, về mặt thời gian, trùng với lứa tuổi không thuận lợi để hoàn thiện kỹthuật Ở lứa tuổi thiếu niên, người ta nhận thấy nhịp độ phát triển cao nhất là

ở trẻ em nam 13 – 14 tuổi Trong thời gian này, các hệ thống tim mạch và nộitiết phải chịu sự thay đổi lớn Mục tiêu chủ yếu của việc huấn luyện trong thời

kỳ này là huấn luyện toàn diện cho VĐV để dần dần chuyển sang chuyên mônhóa hẹp hơn [11], [14]

Kết quả phân tích và tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong vàngoài nước về đặc điểm các giai đoạn của quy trình huấn luyện nhiều năm đốivới các môn thể thao nói chung và chạy cự ly ngắn nói riêng cho thấy:

Trang 23

Phân chia các giai đoạn huấn luyện có thể dựa trên nhiều tiêu chí khácnhau, song điều kiện tiên quyết là phải dựa vào quy luật phát triển sinh học tựnhiên của con người Trong quá trình huấn luyện phải tuân thủ quy luật pháttriển sinh học để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ trong từng giai đoạn huấnluyện đặt ra trong quy trình huấn luyện thống nhất Một hệ thống huấn luyệnnhiều năm phải gắn liền với giới hạn tuổi của VĐV ở mỗi giai đoạn và tuổiđạt thành tích đỉnh cao ở môn thể thao cụ thể

Quá trình huấn luyện VĐV được chia thành các giai đoạn huấn luyện cụthể và diễn ra nối tiếp trong nhiều năm Việc phân chia thành các giai đoạnhuấn luyện chỉ mang tính khái quát tương đối song nó luôn có tính kế thừa vàhợp nhất Căn cứ vào đặc trưng, đặc thù của mỗi môn thể thao mà xây dựngnên các tiêu chuẩn cho từng giai đoạn huấn luyện

Để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV nói chung hay tố chất vậnđộng cụ thể cần phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của từng giai đoạn huấnluyện Từ đó lựa chọn được các phương pháp, phương tiện huấn luyện vàxuyên suốt trong kế hoạch huấn luyện (giai đoạn, năm, tháng, tuần, giáo án)

Đánh giá hiệu quả chương trình huấn luyện VĐV luôn gắn liền với mộtgiai đoạn huấn luyện cụ thể và theo đặc thù môn thể thao Việc đánh giá phảidựa trên sự lựa chọn hoặc xây dựng thành hệ thống một cách khoa học vàphản ánh được mục đích, nhiệm vụ đã đặt ra Nó mang tính quyết định và gắnliền với hệ thống điều khiển trong huấn luyện VĐV

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn

Môn thể thao điền kinh có lịch sử lâu đời và phổ biến rộng rãi trên toànthế giới Phân loại theo nội dung, môn điền kinh bao gồm các nội dung: Đi

bộ, chạy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp Chạy cự ly ngắn bao gồmcác cự ly từ 200m đến 400m Chạy 100m, 200m, 400m, 4×100m và 4×400m

Trang 24

là các môn thi trong đại hội thể thao Olympic Ở Việt Nam, điền kinh là mộttrong những môn thể thao cơ bản [10], [82].

Theo tác giả Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Kim Minh: Thành tích thiđấu của VĐV phụ thuộc vào nhiều yếu tố song cần thiết phải chỉ rõ mức độquan trọng của từng yếu tố với năng lực thi đấu Đồng thời chỉ rõ, vai trò của

tố chất thể lực (tốc độ, sức mạnh tốc độ, sức bền) đối với thành tích thể thaocủa VĐV ở các môn thể thao có yêu cầu về thể lực chuyên môn khác nhaugiữ vai trò quyết định [37]

Theo tác giả Bùi Quang Hải, Nguyễn Kim Xuân, Vũ Chung Thủy,Nguyễn Danh Hoàng Việt đã tổng hợp các test tuyển chọn trong chạy cự lyngắn bao gồm: Nhóm hình thái (6 chỉ tiêu và chỉ số); Nhóm chức năng (3 chỉsố); Nhóm tố chất vận động (7 test) Đồng thời giới thiệu một số chỉ tiêu đặctrưng trong tuyển chọn VĐV chạy cự ly ngắn: Về các test và tiêu chuẩn môhình VĐV chạy cự ly ngắn (7 nội dung); Về tiêu chuẩn đánh giá mức độ pháttriển các tố chất vận động của VĐV chạy cự ly ngắn trẻ (10 bài tập kiểm tra);

Về tiêu chuẩn kiểm tra và tuyển chọn trẻ em vào nội dung chạy ngắn và vượtrào (5 bài tập kiểm tra) Trong tài liệu cũng chỉ giới thiệu giới hạn tuổi đạtthành tích thể thao của nam VĐV chạy 100m như sau: Vùng thành tích caoban đầu (17 – 21 tuổi); Vùng khả năng tối ưu (22 – 24 tuổi); Vùng duy trì kếquả cao (25 – 26 tuổi) [17]

Theo tài liệu biên dịch của tác giả Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn ĐạiDương: Trong thể thao, khi hoàn thiện sức bền, các VĐV chạy sử dụng mộtkhối lượng lớn của LVĐ để tác động đến tất cả các hệ thống của cơ thể trongkhoảng thời gian từ 3 – 5 giờ/ngày Song trong chạy ngắn thì khác Cácphương pháp huấn luyện hiện đại không cho phép tăng đáng kể thời gian tácđộng của LVĐ thi đấu chủ yếu lên cơ thể VĐV chạy ngắn Ngày nay trong

Trang 25

một ngày tập luyện, VĐV chạy ngắn có khả năng thực hiện chạy với tốc độcực đại tối đa là 150s.

Tổng hợp kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả về các tốchất (tố chất tốc độ, sức mạnh, sức bền) có ảnh hưởng đến thành tích chạy cự

ly ngắn của VĐV thấy [6], [10], [14], [19], [58]:

Tố chất tốc độ: Tốc độ là năng lực thực hiện động tác với thời gianngắn hoặc là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người nó qui định chủyếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vậnđộng

Tốc độ chạy 100m thể hiện năng lực phản ứng lại với tín hiệu xuấtphát, trả lời tín hiệu bằng các hoạt động của cơ, tốc độ trong động tác đơn lẻ

và tần số của động tác trong các bước chạy Nó đòi hỏi sự thể hiện ở cả 3dạng của tốc độ (thời kỳ tiềm tàng phản ứng vận động, tốc độ động tác đơn,tần số động tác) Cơ sở sinh lý của tốc độ là sự luân chuyển nhanh giữa quátrình hưng phấn và ức chế thần kinh ở vỏ bán cầu đại não, việc thực hiện bàitập rút ngắn thời kỳ tiềm phục của phản ứng vận động và hoàn thiện sự phốihợp vận động Để có tốc độ tốt còn liên quan đến tỷ lệ sợi cơ nhanh và cơchậm, tốc độ co cơ trong vận động

Muốn phát triển các dạng của tốc độ sử dụng bài tập sức mạnh có nhịpđiệu động tác nhanh để phát triển tốc độ, lặp lại nhiều lần như phản xạ với tínhiệu cho trước, phản xạ với tín hiệu bất ngờ, chạy với tốc độ tối đa hay chạyxuống dốc

Tốc độ trong chạy còn được biểu hiện qua thời gian tiếp đất khi chạyvới tốc độ cao (khi sử dụng kỹ thuật điêu luyện) và tần số bước chạy

Qua đánh giá diễn biến về tốc độ trên các đoạn chạy 20m một của cácVĐV Việt Nam và Thế giới nhận thấy:

Trang 26

Trong 20m đầu (20m thứ nhất): Tốc độ của các VĐV đạt từ 6,39m/s 6,71m/s với nữ, 6,62m/s - 7,55m/s với nam Trong đó nữ Việt Nam đạt tốc độ6,39m/s và nữ thế giới 6,71m/s Nam Việt Nam đạt tốc độ 7,04m/s, nam Thếgiới 6,87m/s, Trung Quốc 6,62m/s, Olympic 6,76m/s.

-Trong đoạn chạy 20m thứ hai: Tốc độ chạy của các VĐV tiếp tục tăng

cụ thể: Nữ Việt Nam đạt tốc độ 8,77m/s (tăng 2,38m/s), nữ Thế giới 9,90m/s(tăng 3,19m/s) Các VĐV nam Việt Nam đạt tốc độ đoạn chạy này là 9,57m/s(tăng 2,53m/s), nam Thế giới 10,99m/s (tăng 4,12m/s), Trung Quốc 10,64m/s(tăng 4,02m/s), Olympic 10,87m/s (tăng 4,11m/s) Qua đoạn chạy 20 - 40mthấy rõ tăng tốc độ của VĐV thế giới từ 3,19m/s - 4,12m/s còn VĐV ViệtNam tăng tốc độ chậm hơn (từ 1,84m/s - 2,53m/s)

Đoạn chạy 20m thứ ba: Tốc độ vẫn tiếp tục tăng cụ thể với nữ ViệtNam 9,05m/s (tăng 0,28m/s), nữ Thế giới 10,20m/s (tăng 0,30m/s) Với namViệt Nam có tốc độ là 9,71m/s (tăng 0,14m/s), nam Thế giới 11,63m/s (tăng0,64m/s), Trung Quốc 10,87m/s (tăng 0,23m/s), Olympic 11,70m/s (tăng0,83m/s)

Đoạn chạy 20m thứ tư: Tốc độ được duy trì ở mức độ tương đối ổnđịnh (tuy tăng, giảm không đáng kể) Cụ thể nữ Việt Nam tốc độ là 9,09m/s(tăng 0,04m/s), nữ Thế giới 10,36m/s (tăng 0,16m/s) Với nam Việt Nam tốc

độ đạt 9,66m/s (giảm 0,05m/s), nam Thế giới 11,63m/s (giữ nguyên tốc độ sovới đoạn chạy trước đó), Trung Quốc 10,81m/s (giảm 0,06m/s), Olympic11,49m/s (giảm 0,20m/s)

Đoạn chạy 20m cuối cùng: Hầu hết giảm tốc độ, nhưng ở VĐV trình độcao giảm tốc độ không đáng kể Cụ thể với nữ Việt Nam tốc độ là 8,93m/s(giảm 0,16m/s), nữ Thế giới 9,80m/s (giảm 0,56m/s) Với nam Việt Nam tốc

độ ở thời điểm này đạt 10m/s (hơi tăng 0,34m/s so với đoạn trước), Thế giới

Trang 27

11,30m/s (giảm 0,33m/s), Trung Quốc 10,75m/s (giảm 0,06m/s), Olympic11,30m/s (giảm 0,19m/s).

Tố chất sức mạnh: Là năng lực khắc phục lực cản bên trong hoặc bênngoài bằng sự nỗ lực của cơ bắp Sức mạnh là tố chất không thể thiếu trongchạy 100m vì không có sức mạnh VĐV không thể phát huy một lực nhanhmạnh để đạp rời vị trí xuất phát cũng như không thực hiện có hiệu quả độngtác đạp sau trong mỗi bước chạy, không đủ sức mạnh duy trì tư thế thân người

ổn định trong quá trình chạy trên toàn cự ly

Sức mạnh sử dụng trong chạy 100m chủ yếu là sức mạnh nhanh (sứcmạnh tốc độ) vì khi đạp sau để rời khỏi bàn đạp hay mặt đường chạy, thờigian sử dụng sức mạnh trong một thời gian ngắn giúp cho cơ thể chuyển độnghướng về trước nhanh và xa hơn (độ dài bước chạy) Khi độ dài bước đạt mứctối ưu đòi hỏi phải có sự nỗ lực từ cơ bắp của chân chống trụ, chân đạp rờitrên đường chạy cũng như khi phối hợp đánh tay cần có sức mạnh và sự dẻodai của đôi tay để duy trì tần số đánh tay nhanh trên toàn cự ly hoặc sức mạnhcủa cơ lưng để duy trì sự ổn định thân người trong khi chạy tránh được nhữngdao động gây ảnh hưởng đến tốc độ chạy Có sức mạnh mới thực hiện đượcbiên độ động tác lớn và thể hiện được tốt kỹ thuật động tác, do đó sức mạnh

là một phần để đánh giá TĐTL của VĐV chạy 100m

Những yếu tố ảnh hưởng tới sức mạnh tốc độ chính là hình thái và đặctính di truyền của sợi cơ Hình thái phản ánh cấu trúc của cơ thể khi VĐV có

tỷ lệ chi dưới hợp lý, tính di truyền của sợi cơ biểu hiện ở số lượng sợi cơtham gia vận động, tỷ lệ sợi cơ nhạt, mức độ đồng bộ cường độ vận động vàtiết diện của cơ bắp [49]

Để phát triển sức mạnh trong chạy 100m, thường sử dụng các bài tậpkhắc phục trọng lượng bản thân hay các bài tập khắc phục trọng lượng bênngoài, đặc biệt sử dụng nhiều các bài tập sức mạnh mang tính tốc độ và kết

Trang 28

hợp với phát triển sức mạnh tuyệt đối Chú trọng đến sức mạnh tuyệt đối tạođiều kiện phát triển tiết diện ngang sinh lý của hệ cơ, sử dụng bài tập khắcphục trọng lượng cơ thể với đa dạng loại hình bài tập, sử dụng phụ tải bênngoài (từ 20 cho đến 150% trọng lượng cơ thể).

Tố chất sức bền: Sức bền chung trong chạy 100m chính là điều kiện

cần để VĐV có thể hoàn thành được một khối lượng lớn bài tập trong tậpluyện Phát triển tố chất sức bền chung cho VĐV chạy cự ly 100m chủ yếuphát triển hệ thống tuần hoàn - hô hấp - hệ cơ - các bao khớp và dây chằng đểduy trì tốt bài tập trong tập luyện Phát triển sức bền chung đầy đủ tạo cơ sởnền tảng cho phát triển sức bền tốc độ cũng như hỗ trợ cho phát triển các tốchất thể lực khác

Sức bền chuyên môn trong chạy 100m là sức bền biểu hiện sự duy trìlâu dài tốc độ đã đạt được Không chỉ là sức bền co, duỗi của cơ bắp với tốc

độ nhanh mà đòi hỏi sự duy trì hưng phấn thần kinh để phát huy tốt nhất khảnăng tốc độ của cơ thể Trong chạy 100m với điều kiện hoạt động của cơ thể

ở dạng yếm khí (từ 95 - 100%), vì vậy khả năng chịu đựng của cơ thể vớicường độ vận động lớn và duy trì công suất tối đa trên toàn cự ly thi đấu

Cũng do tính chất hoạt động chạy 100m diễn ra trong thời gian ngắn,công suất hoạt động cao nên sức bền chuyên môn thể hiện dạng sức bền tốc

độ Đánh giá sức bền tốc độ người ta sử dụng thông số acid lactíc trong máusau vận động (4 mmol/lít là ngưỡng yếm khí)

Khi nâng cao sức bền tốc độ cần nâng dần từ cường độ thấp đến cường

độ cao theo chu kỳ huấn luyện ở mỗi năm Lượng vận động nhằm phát triểnsức bền tốc độ phải tạo được khả năng tích luỹ thể lực của cơ thể đạt hiệu quảthi đấu cao

Tổng hợp các nội dung, chỉ tiêu, test, bài tập kiểm tra của các tác giảnêu trên cho thấy:

Trang 29

Các yếu tố có ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn bao gồm: Tốchất thể lực (tốc độ, sức mạnh, sức bền, phối hợp vận động); Kỹ chiến thuật(khả năng phối hợp và hoàn thiện kỹ thuật, khả năng xử lý, thích ứng và quyếtđoán); Hình thái (chiều cao, cân nặng, tỷ lệ các bộ phận cơ thể); Chức năng

cơ thể (thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, cấu tạo cơ, khớp, năng lượng sử dụngtrong vận động); Tâm lý (động cơ, cảm xúc, ý chí)

Khi so sánh khối lượng tập luyện của các tác giả với khối lượng tậpluyện của các đội tuyển điền kinh (Bộ Công an, Trường Đại học TDTT BắcNinh ) thì khối lượng của LVĐ để VĐV thích nghi rõ ràng là chưa đủ Đặcbiệt là phát triển sức bền tốc độ còn hạn chế Việc áp dụng khối lượng trongnhững điều kiện dễ dàng hơn đã tỏ ra không có hiệu quả Đồng thời việc ápdụng thường xuyên cho VĐV đã có thể dẫn tới việc phá hỏng kỹ thuật Điềunày đã làm ảnh hưởng đến trình độ tập luyện của VĐV nói chung và sức bềntốc độ nói riêng

Để nâng cao thành tích cho VĐV chạy cự ly ngắn bắt buộc phải rútngắn được thời gian chạy 20m cuối Tức là duy trì được tốc độ gần như tối đahay mở rộng được số lượng thời gian mà tốc độ gần như tối đa có thể đượcduy trì trong hoạt động Hay nói cách khác đó chính là phải phát triển sức bềntốc độ cho VĐV trong quá trình huấn luyện Vì vậy, phát triển sức bền tốc độcần thiết phải được hình thành ở cuối giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (lứatuổi 13 – 15) bằng việc lựa chọn được các bài tập và sắp xếp khoa học trong

kế hoạch huấn luyện

Như vậy, sức bền chuyên môn trong chạy cự ly ngắn là tố chất vậnđộng tổng hợp được xác định bởi mức độ chuẩn bị kỹ thuật, thể lực và ý chícủa VĐV Về mặt chuẩn bị trình độ thể lực cho VĐV thì sức bền chuyên mônđược xác định bởi mức độ phát triển sức bền tốc độ và sức bền sức mạnh

Trang 30

Sức bền tốc độ trong các bài tập mang tính chất chu kỳ như chạy ngắn

là khả năng duy trì tốc độ chuyển động quy định nhờ tần số các bước chạy.Sức bền sức mạnh là khả năng duy trì biên độ động tác (có nghĩa là độ dàibước chạy) cần thiết trong khoảng thời gian dài tối đa nhờ thể hiện của cácgiá tối ưu của sức mạnh nhanh

Từ các phân tích và tổng hợp tài liệu có thể rút ra nhận xét rằng: Cầnphải coi sức bền tốc độ cũng như sức bền sức mạnh không phải là một mặt thểhiện của sức mạnh, sức nhanh, sức bền mà có thể là một tố chất độc lập vàđược xếp ngang hàng với các tố chất trên Vì vậy đòi hỏi các nhà khoa học,HLV phải có các phương tiện phát triển đặc trưng cho riêng sức bền tốc độ

Vì vậy, nhân tố của việc duy trì tốc độ trong đoạn chạy về đích của cự

ly thi đấu chính là sự duy trì các thông số tối ưu của bước chạy, có nghĩa làkhả năng duy trì độ dài bước chạy lớn nhất trong trạng thái mệt mỏi Đồngthời trong quá trình huấn luyện nhiều năm cần thiết phải đi sâu chuyên mônhóa hẹp cho cự ly chạy ngắn và được theo dõi ngay trong giai đoạn chuyênmôn hóa ban đầu

Tổng hợp các vấn đề nêu trên thấy tiếp tục tái khẳng định vấn đềnghiên cứu mà đề tài đặt ra về phát triển sức bền tốc độ là hết sức cần thiết cảtrên phương diện lý luận và thực tiễn trong huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn.Đồng thời đây là vấn đề mới mà chưa có tác giả trong và ngoài nước nàonghiên cứu trên đối tượng là VĐV chạy cự ly ngắn của Việt Nam trong giaiđoạn chuyên môn hóa ban đầu

1.4 Khái niệm, phân loại và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sức bền tốc

độ trong huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn

Khái niệm

Khái niệm sức bền trong vận động rất rộng Ngoài sức bền chung thìsức bền chuyên môn thường gắn liền với môn thể thao cụ thể Khái niệm về

Trang 31

sức bền trong mỗi tài liệu thường có những cách thể hiện và tiếp cận khácnhau Kết quả tổng hợp và phân các quan điểm về sức bền thấy:

Tác giả Nôvicốp và Mátveép cho rằng: Sức bền là năng lực chống lạimệt mỏi Hiện tượng mệt mỏi trong những hoạt động với LVĐ khác nhaukhông giống nhau Giáo dục sức bền không chỉ chú ý đến chiều sâu của sựmệt mỏi mà phải chú ý tới cả tính chất của nó [25]

Quan điểm của tác giả Harre cho rằng: Sức bền là khả năng chống lại

sự mệt mỏi của VĐV Chuẩn bị sức bền trong huấn luyện giúp cho VĐV đạtđược một cường độ nhất định trong thời gian vận động kéo dài Chuẩn bị sứcbền tốt trong huấn luyện sẽ giải quyết tốt các hành vi kỹ - chiến thuật trong thiđấu, cũng như vượt qua khối lượng vận động lớn trong luyện tập Sức bền cóảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu và đánh giá khả năng chịu đựng LVĐcủa VĐV [12]

Tác giả Diên Phong lại cho rằng: Tố chất sức bền là năng lực của cơthể chịu đựng mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động, còn mệt mỏi là sựgiảm sút tạm thời năng lực làm việc của cơ thể do làm việc tạo ra [27]

Dưới góc độ y - sinh học, tác giả Lưu Quang Hiệp cho rằng: Sức bền làkhả năng duy trì trong thời gian dài khả năng hoạt động của con người và sức

đề kháng cao của cơ thể đối với mệt mỏi Sức bền đặc trưng cho khả năngthực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2 – 3min trở lên với sựtham gia từ 1/2 đến toàn bộ lượng cơ bắp cơ thể Sự hấp thụ O2 để cung cấpnăng lượng cho cơ thể chủ yếu bằng con đường ưa khí [15]

Đối với các VĐV chạy cự ly ngắn sử dụng các bài tập có đặc trưng thờigian ngắn cường độ cao thì chỉ tiêu cường độ yếm khí sẽ có thể được nângcao và sẽ lưu lại dấu ấn rõ rệt về cường độ hệ thống năng lượng yếm khí tạo

ra Năng lực yếm khí là khả năng hoạt động trong điều kiện thiếu ôxy đượcquyết định bởi ATP (Adinozin Triphôtphat) và CP (Creatin Phôtphat) và tốc

Trang 32

độ sử dụng của các hợp chất phôtphat này Vì vậy, đối với VĐV chạy ngắn rấtcần sự huy động nhanh chóng nguồn năng lượng dựa vào trao đổi yếm khíláctát và phi láctát.

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng:Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay lànăng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thểchịu đựng được [35]

Tác giả Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sĩ Hà cho rằng: Sức bền là khảnăng chống lại mệt mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV Sức bền có ýnghĩa trong việc đánh giá kết quả huấn luyện, chịu đựng LVĐ và khả năngphục hồi của VĐV [16]

Dưới góc độ tâm lý, tác giả Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem cho rằng:Sức bền là một mặt ý thức của VĐV phản ánh tổng hợp độ lớn và thời giancủa mọi nỗ lực cơ bắp và ý chí của VĐV được phát triển trong điều kiện thựchiện các hành động vận động kéo dài [30], [41], [46], [47]

Tổng hợp các quan điểm về sức bền và phát triển sức bền của các tácgiả cho thấy:

Để hoàn thiện và nâng cao sức bền cần giải quyết các nhân tố chi phốinhư: Kỹ thuật thể thao; Duy trì trạng thái hưng phấn; Khả năng hoạt động caocủa hệ tuần hoàn và hô hấp; Quá trình trao đổi chất; Nỗ lực ý chí

Nâng cao sức bền cần tạo cho cơ thể VĐV thích nghi dần dần với LVĐngày càng lớn Vì vậy, VĐV phải kiên trì, khả năng chịu đựng cao để chốngcảm giác mệt mỏi, nhàm chán do tính chất của bài tập gây nên nhằm duy trì

Trang 33

yếm khí tối đa và gần tối đa, mệt mỏi không chỉ quan hệ tới năng lực của thầnkinh trung ương suy giảm và sự cạn kiệt ATP, CP mà còn quan hệ với việctích luỹ các sản phẩm trao đổi chất trong máu là acid lactic Acid lactic gâyảnh hưởng không tốt tới hoạt động của hệ thống thần kinh và ức chế tốc độquá trình trao đổi chất của toàn cơ thể.

Từ các cơ sở lý luận nêu trên thì sức bền tốc độ là khả năng mở rộng sốlượng thời gian mà tốc độ gần như tối đa có thể được duy trì trong hoạt độngthể thao Tốc độ và sức bền tốc độ là một loại hình đào tạo nhằm huấn luyệnVĐV có thể duy trì tốc độ trên một khoảng cách mà cơ thể đang bắt đầu mệtmỏi Nó là một loại hình đào tạo bền bỉ nhằm giúp phát triển hệ thống sảnxuất năng lượng đáp ứng nhu cầu của các môn thể thao Nhiệm vụ trọng tâmnày mang ý nghĩa tiên quyết trước khi VĐV bắt đầu các hiệu ứng suy nhược

do acid lactic gây nên Vì vậy, tốc độ chịu đựng là rất quan trọng đối với cácVĐV, nếu thiếu nó sẽ dẫn đến suy giảm khả năng thành tích thể thao

Từ khái niệm về sức bền tốc độ mà đề tài đưa ra thì sự phối hợp địnhlượng giữa cường độ và khối lượng tối đa là chìa khóa để cải thiện hiệu suấtchạy nước rút (một khái niệm có thể được áp dụng cho đào tạo sức bền tốcđộ) Huấn luyện sức bền tốc độ sẽ tương tự như đào tạo tốc độ hoặc chạynước rút, tuy nhiên có hai khác biệt quan trọng: (1) Bài tập lặp đi lặp lại nênkéo dài từ 30s đến 2 – 3min như trái ngược với 5 – 10s cho các bước chạy bứttốc độ; (2) Khoảng thời gian nghỉ giữa các lần lặp lại được giảm xuống đểngăn chặn khả năng phục hồi hoàn toàn

Phân loại sức bền trong TDTT

Dựa vào thời gian hoạt động, các tác giả Harre, Trương Anh Tuấn,Đồng Văn Triệu, Nguyễn Thị Xuyền, Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hàchia sức bền ra thành 3 loại:

Trang 34

Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly hoặchoàn thành khối lượng vận động trong thời gian 11min tới nhiều giờ, phụthuộc vào khả năng hoạt động ưa khí Sức bền trong thời gian dài chia thành 3loại: I (10 – 30min), II (từ 30 đến 90min) và III (trên 90min).

Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết để hoàn thànhkhối lượng vận động trong thời gian từ 2 đến 11min, đòi hỏi sự hoạt động đầy

đủ của khả năng ưa khí và khả năng yếm khí, phụ thuộc vào mức độ phát triểncủa sức mạnh - bền và sức bền tốc độ

Sức bền trong thời gian ngắn (45s đến dưới 2min), phụ thuộc vào khảnăng hoạt động yếm khí và sự phát triển sức mạnh - bền và sức bền tốc độ

Dựa theo hệ thống cung cấp năng lượng, các tác giả Diên Phong,Nguyễn Ngọc Cừ, Lưu Quang Hiệp đã chia sức bền ra thành hai loại: Sức bền

ưa khí sử dụng nguồn năng lượng thông qua quá trình ôxy hoá hợp chất hữu

cơ giàu năng lượng trong cơ thể; Sức bền yếm kh sử dụng nguồn cung cấpnăng lượng yếm khí (ATP, CP) phốtphorin và sức bền hệ thống cung cấpnăng lượng láctat

Căn cứ vào số lượng các nhóm cơ tham gia hoạt động và chế độ hoạtđộng của cơ, Novicốp, Matveép, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn đã chia sứcbền thành 3 loại: (1) Sức bền cục bộ (mệt mỏi cục bộ) là sức bền dưới 1/3 cácnhóm cơ tham gia hoạt động; (2) Sức bền khu vực (mệt mỏi khu vực) là loạisức bền trong các hoạt động có từ 1/3 đến 2/3 khối lượng cơ tham gia; (3) Sứcbền chung (mệt mỏi chung) là sức bền trong các hoạt động kéo dài với cường

độ thấp có sự tham gia của 2/3 nhóm cơ trở lên

Tác giả Phạm Ngọc Viễn dưới góc nhìn của tâm lý học cho rằng: Trigiác chuyên môn của tố chất sức bền thể hiện dưới dạng cảm giác sức bền tốc

độ, sức bền mạnh và sức bền - mạnh - tốc độ Do cấu trúc tâm lý của tố chấtsức bền không rõ nét nên phân chia sức bền chỉ mang tính tương đối Ở môn

Trang 35

thể thao cá nhân, cảm giác độ lớn và sự nỗ lực trong điều kiện giới hạn thờigian có ý nghĩa rất lớn [41].

Tổng hợp các quan điểm nêu trên và đặc điểm chạy cự ly ngắn thì việcchia sức bền thành sức bền chung (sức bền cơ sở) và sức bền chuyên môn làphù hợp với VĐV chạy cự ly ngắn

Sức bền chung: Là năng lực vận động diễn ra trong thời gian dài Năng

lực vận động này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng hấp thụ oxy tối đa và khảnăng cung cấp oxy của hệ tuần hoàn, hô hấp Vì vậy sức bền chung được hiểutheo một nghĩa hẹp đó là sức bền ưa khí Nó huy động khoảng 75% số cơtham gia hoạt động (tính động lực, tính tĩnh lực, và tính hỗn hợp) Quyết địnhchủ yếu ở cường độ làm việc của sợi cơ màu sẫm, và cơ màu sáng II B.Chúng tôi cho rằng: Sức bền chung có vai trò quan trọng trong huấn luyệnVĐV chạy cự ly ngắn ở giai đoạn ban đầu vì chạy cự ly ngắn có tính chuyênmôn hóa rất tinh túy

Sức bền chuyên môn: Là sức bền đặc trưng riêng cho từng môn thểthao Sức bền chuyên môn là năng lực hoàn thành công việc và khắc phục mệtmỏi trong điều kiện quyết định các yêu cầu của hoạt động thi đấu ở từng mônthể thao cụ thể Sức bền chuyên môn trong thi đấu phụ thuộc chủ yếu vàotốc độ và sức mạnh của các động tác kỹ thuật chuyển động với cường độ siêucực hạn Do vậy, chúng tôi cho rằng sức bền tốc độ có ý nghĩa quyết địnhtrong chạy cự ly ngắn và cần được hoàn thành ở giai đoạn chuyên môn hóaban đầu

Phát triển sức bền tốc độ cho VĐV chạy cự ly ngắn cần phải xem xétmối liên hệ của tổ chức bên trong với năng lực kỹ chiến thuật của VĐV; đem

cơ chế và con đường của quá trình tâm lý và sự bảo đảm năng lượng củaphương thức làm việc giữa đơn vị vận động với cơ bắp liên hệ chặt chẽ với

Trang 36

sức bền chuyên môn Chỉ có trên cơ sở đó mới đảm bảo cho tố chất này pháttriển đầy đủ để thích ứng với đòi hỏi của chạy cự ly ngắn.

1.5 Phương tiện, phương pháp và kế hoạch huấn luyện

1.5.1 Kỹ thuật và đặc điểm các giai đoạn chạy cự ly ngắn

Chạy cự ly ngắn được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn: Xuấtphát, chạy lao sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích Mỗi giai đoạn cóđặc điểm cụ thể như sau [10]:

Xuất phát: VĐV thường áp dụng cách xuất phát thấp Kỹ thuật này giúp

VĐV bắt đầu chạy nhanh hơn và sớm đạt được tốc độ cực đại trong khoảngthời gian ngắn Có 3 cách bố trí bàn đạp xuất phát cơ bản Khi nghe tín hiệu,VĐV phải đột ngột lao về phía trước bằng cách đồng thời đạp mạnh hai chân

và đánh tay nhanh nhằm tạo áp lực lớn đẩy cơ thể lao nhanh về phía trước

Giai đoạn xuất phát có ý nghĩa rất quan trọng trong cải thiện thành tích

Vì thành tích chạy khoảng 11s mà thời gian xuất phát chiếm khoảng nửa giây.Còn ở các cự ly khác thành tích chạy kéo dài đến hàng phút mà xuất phát chỉchiếm phần trăm giây sẽ không mang lại ý nghĩa Thực tế trong thi đấu 100mthì các VĐV chỉ hơn nhau phần trăm giây đã đem lại chiến thắng và giành thứhạng

Trong chạy 100m và 200m người ta sử dụng xuất phát thấp với bàn đạp

để tạo lực đẩy cơ thể về trước Để rút ngắn thời gian xuất phát bằng cáchgiảm thời gian rời khỏi bàn đạp sau và tăng lực đạp từ bàn trước Tư thế nàygiúp cho lực đạp đẩy cơ thể về phía trước nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợicho đạp sau mạnh và giữ được độ nghiêng nói chung của cơ thể trong nhữngbước chạy đầu tiên

Chạy lao sau xuất phát: Có sự khác biệt ở 5 - 6 bước chạy đầu tiên so

với các bước chạy thông thường là luôn có một chân chống đất vì trọng tâm

Trang 37

cơ thể ở quá xa phía trước khi bàn chân rời đất Sau bước chạy đầu tiên thântrên dần được đẩy lên, các bước chạy được kéo dài ra.

Khả năng tăng tốc độ của các VĐV chạy cự ly 100m có trình độ caothường đạt 55% tốc độ tối đa ở giây thứ 1; 76% ở giây thứ 2; 91% ở giây thứ

3, 95% ở giây thứ 4 và ở các giây thứ 5 là 99%

Tốc độ chạy lao sau xuất phát được tăng lên chủ yếu là do tăng độ dàibước chạy và một phần không nhiều do tăng tần số bước Việc tăng độ dàibước chủ yếu đến bước thứ tám – thứ mười (bước sau dài hơn bước trước từ

10 – 15cm), sau đó độ dài bước được tăng ít hơn (4 – 8cm) Việc thay đổi độdài bước đột ngột dưới hình thức nhảy là không tốt vì làm mất đi nhịp điệuchạy

Ở những bước đầu tiên sau xuất phát, hai bàn chân khi chạm đất hơitách rộng so với chạy giữa quãng Sau đó cùng với việc tăng tốc độ thì haichân được đặt gần hơn Do việc tăng tốc độ của cơ thể nên thời gian bay trênkhông tăng lên và thời gian tiếp đất giảm đi Việc đánh tay có biên độ lớn hơncác giai đoạn sau

Khi so sánh thành tích của VĐV khi chạy 30m xuất phát thấp với thànhtích chạy 30m tốc độ cao Sự chênh lệch về thành tích cho thấy nếu càng gầnvới thành tích chạy 30m tốc độ cao thì mức độ hoàn thiện kỹ thuật xuất phátcủa VĐV đó càng tốt Ở VĐV đỉnh cao, mức tiêu phí trong giới hạn từ 0.8 – 1giây

Chạy giữa quãng: Bước chạy phải thực hiện nhanh tối đa để tiết kiệm

thời gian Trong kỹ thuật chạy thì bước chạy rất quan trọng, nó bao gồm phachống và lăng chân Pha chống gồm có chống trước (khi chân chạm đất), đểlàm giảm chấn động bằng cách đặt miết nửa bàn chân trên xuống đất, chốngthẳng đứng nhằm chuyển trọng tâm cơ thể còn chống tựa sau (đạp sau) có tácdụng dùng lực đưa cơ thể nhiều về trước và quyết định độ dài bước chạy Pha

Trang 38

lăng chân: Thu rút chân phía sau (từ khi kết thúc đạp sau đến khi đầu gối chânlăng ngay dưới trục dọc cơ thể) có chức năng nâng chân lên và đưa nhiều vềtrước (từ khi kết thúc động tác thu rút chân đến khi đùi chân lăng gần songsong với mặt đất) để chuyển sang chu kỳ của bước chạy tiếp theo.

Phân tích kỹ thuật trong chạy cự ly ngắn cần quan tâm góc độ của cáckhớp, của cơ thể trong giai đoạn xuất phát, chạy giữa quãng cũng như thờigian chân chống đất (tiếp đất), sự chênh lệch thành tích giữa xuất phát có bànđạp với không bàn đạp

Về đích: Tốc độ cực đại trong cự ly 100 – 200m cần cố gắng duy trì

cho tới cuối cự ly, song ở khoảng 15 – 20m cuối, tốc độ thường bị giảm đi từ

3 – 8% Chạy được kết thúc khi VĐV dùng thân trên chạm vào mặt phẳngthẳng đứng đi qua đường đích Để nhanh chóng chạm vào dây đích được kéocăng ở độ cao ngang ngực, ở bước chạy cuối cùng, VĐV cần thực hiện độngtác gập thân trên đột ngột về trước để chạm ngực vào dây đích Ngoài ra VĐVcòn có thể áp dụng các phương pháp khác như: Vừa gập thân trên vừa xoay

để một bên vai chạm vào dây đích hoặc chạy qua đích

Căn cứ kỹ thuật và đặc điểm các giai đoạn trong chạy cự ly ngắn chothấy việc duy trì tốc độ cực đại khi cơ thể bắt đầu mệt mỏi có ý nghĩa thenchốt trong việc nâng cao thành tích thể thao Bước đầu cho thấy vai trò củasức bền tốc độ trong việc duy trì tốc độ cực đại cần thiết phải sớm được chuẩn

bị trong các giai đoạn huấn luyện

1.5.2 Phương tiện và phương pháp huấn luyện VĐV chạy cự ly ngắn

Bài tập thể chất

Để đạt hiệu quả trong giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao nhất

thiết phải sử dụng các phương tiện Các phương tiện cơ bản bao gồm các bài

tập thể chất hay còn gọi là bài tập TDTT, các yếu tố tự nhiên (môi trường như

Trang 39

nước, ánh nắng mặt trời, khí hậu, thời tiết, các yếu tố vệ sinh ) Trong đó bàitập thể chất được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của giáo dục thể

chất

Bài tập thể chất là hành động vận động được lựa chọn nhằm giải quyếtcác nhiệm vụ giáo dục thể chất, là phương tiện giáo dục thể chất; bài tập thểchất được thực hiện bằng sự vận động cơ bắp một cách tích cực của cơ thểcon người, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất [35]

Trong cuốn tài liệu biên dịch "Chạy cự ly ngắn" của Nguyễn QuangHưng, Nguyễn Đại Dương thì trong các buổi huấn luyện, các phương tiện tạođiều kiện thúc đẩy việc hình thành các thành phần riêng của kỹ thuật thể thaochiếm một vị trí đáng kể Cụ thể là các phương tiện có ảnh hưởng đến cácnhóm cơ cục bộ duỗi đùi và gấp bàn chân Cần chú ý nhiều đến kỹ thuật thảlỏng, phát triển độ mềm dẻo Trong huấn luyện cần tránh các bài tập đòi hỏi

sự căng thẳng quá nhiều, đặc biệt khi sử dụng trọng lượng Việc cho ném cácdụng cụ nhẹ hơn sẽ có ảnh hưởng tốt đến huấn luyện Các bài tập được thựchiện trong các điều kiện khác nhau (chạy biến tốc, chạy trên địa hình khácnhau, chạy tăng tốc độ trên cát) sẽ có lợi cho sự phát triển khả năng tốc độ.Sau đó tiếp tục tăng cường hướng chuyên môn trong các buổi tập Phươngtiện huấn luyện chủ yếu là các bài tập có tác dụng nâng cao tính xúc cảmtrong tập luyện: Tổ hợp các bài tập mang tính quay vòng, các bài tập thi đấunhiều môn được chuyên môn hóa, các môn bóng Các bài tập sức mạnh vớitrọng lượng lớn là một trong các phương tiện huấn luyện xuất phát và chạylao sau xuất phát tốt nhất có thể có ảnh hưởng xấu đến tốc độ chạy cực đại vàsức bền tốc độ [14]

Trong quá trình huấn luyện nhiều năm các VĐV thường đạt được mức

độ chuẩn bị thể lực chuyên môn khá cao và sự tiếp tục nâng cao mức độ đótrở thành một nhiệm vụ hết sức phức tạp Sự tăng khối lượng vận động tập

Trang 40

luyện theo kiểu cơ học tự nó không đảm bảo được việc đạt được mức độchuẩn bị thể lực cần thiết và các thành tích tương ứng Sự tiến bộ của cácthành tích trong tương lai phụ thuộc vào sự phân chia hợp lý LVĐ tập luyệntrong chu kỳ lớn, trung bình, nhỏ Việc phân chia như vậy nhằm tập trungLVĐ với mục đích chiếm ưu thế khác nhau trong các giai đoạn huấn luyệnnhất định Ở đây những khối lượng vận động tập luyện bộ phận được tínhbằng % so với tổng khối lượng 1 năm được áp dụng.

Theo tác giả Matveev, Verkhosanxki, Platonov thì việc xác định khốilượng vận động bộ phận cần xác định theo những khuynh hướng sau [85]:

Trong sự phân chia LVĐ với định hướng yếm khí photphagen được sửdụng để phát triển những năng lực tốc độ (trên các đoạn dưới 80m, tốc độ 96-100%) thì sự khác biệt giữa nam và nữ ở mức thấp nhất Phân chia giai đoạnhuấn luyện tương ứng với các giai đoạn chuẩn bị chuyên môn

Lượng vận động chuyên môn mang tính chất đường phân yếm khínhằm hoàn thiện sức bền tốc độ (chạy các đoạn trên 100m với tốc độ 91 –100%) được hoàn thành chủ yếu trong chu kỳ nửa năm cuối và áp dụng chủyếu đối với VĐV nam

Đối với các VĐV nam chạy tốc độ ở chu kỳ nửa năm đầu tiên, khốilượng vận động với tính chất trên trung bình thường cao hơn rất nhiều so vớicác VĐV nữ

Lượng vận động chạy mang tính chất ưa khí (chạy với các đoạn dài trên300m với tốc độ dưới 80%) nhằm nâng cao sức bền chung trong chu kỳ mộtnăm đối với nữ và nam VĐV được phân chia tương đối giống nhau Nhữngthông số cao nhất về LVĐ được thực hiện vào tháng 11 (17 – 20% trong mộttháng so với khối lượng một năm) trong giai đoạn chuẩn bị chung, khi mànhững nhiệm vụ nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể được giải quyết theotruyền thống Trong các giai đoạn chuẩn bị chuyên môn và giai đoạn thi đấu

Ngày đăng: 21/10/2014, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic I.V (1982), Đánh giá trình độ tập luyện thể thao, Nxb TDTT Hà Nội.[Z001] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ tập luyện thể thao
Tác giả: Aulic I.V
Nhà XB: Nxb TDTT HàNội.[Z001]
Năm: 1982
2. A.Ascensão, P.Santos, J. Magalhães, J. Oliveira, J.A. Maria, J.M.C (2003), "Nồng độ lactate máu ở các VĐV trẻ trong các hoạt động ổn định có cường độ tương ứng ngưỡng yếm khí", Thông tin KH TDTT bản dịch số 1 (tr. 3 - 7).[Z002] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nồng độ lactate máu ở các VĐV trẻ trong các hoạt độngổn định có cường độ tương ứng ngưỡng yếm khí
Tác giả: A.Ascensão, P.Santos, J. Magalhães, J. Oliveira, J.A. Maria, J.M.C
Năm: 2003
3. Phạm Đình Bẩm (2000), “Phương pháp lập kế hoạch huấn luyện”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học TDTT, trường Đại học TDTT I, Nxb TDTT, Hà Nội, tr. 33 - 35.[Z004] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp lập kế hoạch huấn luyện”, "Tuyểntập nghiên cứu khoa học TDTT
Tác giả: Phạm Đình Bẩm
Nhà XB: NxbTDTT
Năm: 2000
4. Dương Nghiệp Chí và cộng sự (2004), Đo lường thể thao, Nxb TDTT Hà Nội.[Z005] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT HàNội.[Z005]
Năm: 2004
5. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (2002), Công nghệ đào tạo VĐV trình độ cao, Nxb TDTT Hà Nội.[Z006] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ đào tạo VĐVtrình độ cao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội.[Z006]
Năm: 2002
6. Đàm Quốc Chính (2000), "Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ sư phạm) nhằm nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện khoa học TDTT Hà Nội.[Z007] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dướigóc độ sư phạm) nhằm nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báothành tích của VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam
Tác giả: Đàm Quốc Chính
Năm: 2000
7. Chính phủ nước cộng hoà XHCN Việt Nam (2010), Chiến lược Phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 (ban hành theo quyết định số 2198/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).[Z008] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triểnthể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ nước cộng hoà XHCN Việt Nam
Năm: 2010
8. Nguyễn Ngọc Cừ (1998), "Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao", tài liệu dùng cho lớp bồi dưỡng nghiệp vụ HLV các môn thể thao.[Z009] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ
Năm: 1998
9. Nguyễn Ngọc Cừ (1998), "Phương pháp đánh giá LVĐ, trình độ tập luyện và trạng thái sung sức thể thao của VĐV", tài liệu giảng dạy lớp bác sĩ chuyên khoa cấp 1 chuyên ngành y học thể thao.[Z010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá LVĐ, trình độ tậpluyện và trạng thái sung sức thể thao của VĐV
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ
Năm: 1998
10. Nguyễn Đại Dương và cộng sự (2006), Điền kinh, Nxb TDTT Hà Nội. [Z102] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điền kinh
Tác giả: Nguyễn Đại Dương và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội. [Z102]
Năm: 2006
11. Goikhơman. P.N (1978), Các tố chất thể lực của VĐV, Dịch: Nguyễn Quang Hưng, Nxb TDTT, Hà Nội.[Z012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của VĐV
Tác giả: Goikhơman. P.N
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1978
12. Harre. D (1996), Học thuyết huấn luyện, dịch: Trương Anh Tuấn, Bùi Thế Hiển, Nxb TDTT Hà Nội.[Z013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: Harre. D
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội.[Z013]
Năm: 1996
13. Geran Pett (2005), "Đánh giá thể lực của VĐV", Thông tin KH TDTT thường kỳ số 5 (tr.56 - 64).[Z015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thể lực của VĐV
Tác giả: Geran Pett
Năm: 2005
14. Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Đại Dương (2002), Chạy cự ly ngắn, biên dịch từ tài liệu nước ngoài, Nxb TDTT Hà Nội.[Z011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chạy cự ly ngắn
Tác giả: Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Đại Dương
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội.[Z011]
Năm: 2002
15. Lưu Quang Hiệp (2000), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT Hà Nội. [Z016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội. [Z016]
Năm: 2000
16. Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà (1994), Huấn luyện thể thao, Nxb TDTT Hà Nội.[Z017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện thể thao
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà
Nhà XB: NxbTDTT Hà Nội.[Z017]
Năm: 1994
17. Bùi Quang Hải và cộng sự (2009), Giáo trình tuyển chọn tài năng thể thao, Nxb TDTT Hà Nội.[Z105] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tuyển chọn tài năng thểthao
Tác giả: Bùi Quang Hải và cộng sự
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội.[Z105]
Năm: 2009
18. Ivanôp V.X (1990), Những cơ sở của toán học thống kê, dịch: Trần Đức Dũng, Nxb TDTT, Hà Nội.[Z103] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của toán học thống kê
Tác giả: Ivanôp V.X
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1990
19. Đàm Trung Kiên (2009), "Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện đối với VĐV chạy 100m cấp cao", Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện khoa học TDTT Hà Nội.[Z115] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giátrình độ tập luyện đối với VĐV chạy 100m cấp cao
Tác giả: Đàm Trung Kiên
Năm: 2009
20. Lê Văn Lẫm (1992), "Lượng vận động trong tập luyện thể thao", tạp chí GDTC, Bộ GD&ĐT Hà Nội.[Z020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng vận động trong tập luyện thể thao
Tác giả: Lê Văn Lẫm
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tiêu chuẩn qui điểm đánh giá sức bền tốc độ cho  nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa  ban đầu - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng ti êu chuẩn qui điểm đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (Trang 9)
Hình 2.1 Thiết bị đo điện tử TAGHeuer-timing 45 - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Hình 2.1 Thiết bị đo điện tử TAGHeuer-timing 45 (Trang 13)
Hình 2.1. Thiết bị đo điện tử TAGHeuer-timing Chạy 120m XPC (s) - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Hình 2.1. Thiết bị đo điện tử TAGHeuer-timing Chạy 120m XPC (s) (Trang 59)
Bảng 3.2 Kết quả kiểm định hai lần phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá SBTĐ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.2 Kết quả kiểm định hai lần phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá SBTĐ cho nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (Trang 76)
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra diễn biến các thông số chức năng sinh lý hệ tim mạch khi thực hiện 3/7 test sư phạm đánh giá SBTĐ (n=8) Thời điểm Chỉ số Chạy 120m - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra diễn biến các thông số chức năng sinh lý hệ tim mạch khi thực hiện 3/7 test sư phạm đánh giá SBTĐ (n=8) Thời điểm Chỉ số Chạy 120m (Trang 82)
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra diễn biến các thông số chức năng sinh lý hệ hô hấp khi thực hiện 3/7 test sư phạm đánh giá SBTĐ (n=8) Thời điểm Chỉ số Chạy 120m - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra diễn biến các thông số chức năng sinh lý hệ hô hấp khi thực hiện 3/7 test sư phạm đánh giá SBTĐ (n=8) Thời điểm Chỉ số Chạy 120m (Trang 84)
Bảng 3.15 Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu theo tiêu chuẩn đã xây dựng - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.15 Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu theo tiêu chuẩn đã xây dựng (Trang 100)
Bảng 3.20 Thực trạng phân chia thời gian trong các giai đoạn huấn luyện - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.20 Thực trạng phân chia thời gian trong các giai đoạn huấn luyện (Trang 107)
Bảng 3.21 Thực trạng phân chia nội dung trong các giai đoạn huấn luyện Giai đoạn huấn luyện Thể lực Kỹ - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.21 Thực trạng phân chia nội dung trong các giai đoạn huấn luyện Giai đoạn huấn luyện Thể lực Kỹ (Trang 108)
Bảng 3.22 Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chung cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.22 Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chung cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (Trang 111)
Bảng 3.32 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện SBTĐ giai đoạn CBC - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.32 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện SBTĐ giai đoạn CBC (Trang 133)
Bảng 3.33 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ CBC - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.33 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ CBC (Trang 138)
Bảng 3.34 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốc độ trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.34 Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốc độ trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn (Trang 139)
Bảng 3.35 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ CBCM - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.35 Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ CBCM (Trang 140)
Bảng 3.45 So sánh kết quả phân loại sức bền tốc độ của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng theo tiêu chuẩn đã xây dựng - Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vđv chạy cự ly ngắn (100   200m) ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Bảng 3.45 So sánh kết quả phân loại sức bền tốc độ của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng theo tiêu chuẩn đã xây dựng (Trang 169)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w