PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ,PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG KẾ TOÁN CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÒA HỢP, HỘI TỤ
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÀI THẢO LUẬNMÔN: KẾ TOÁN QUỐC TẾ
Trang 25 Bùi Thị Thùy Dương
6 Lê Thị Huyền Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUỐC TẾ 3
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán 3
1.1.1 Thời Cổ đại 3
1.1.2 Thời Trung đại 4
1.1.3 Thời Cận đại và Đương đại 6
1.2 Khái niệm kế toán 9
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán của một quốc gia 9
1.3.1 Các nhân tố thuộc và môi trường pháp lý và chính trị 9
1.3.2 Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh 11
1.3.3 Môi trường văn hóa 12
1.4 Sự khác biệt trong các trường phái, hệ thống kế toán trên thế giới và nguyên nhân 13
1.4.1 Trường phái Ănglo-saxon 14
1.4.2 Trường phái châu Âu lục địa 14
1.5 Những vấn đề cơ bản về hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 15
1.5.1 Nguyên nhân hình thành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 15
1.5.2 Cơ quan ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế 15
1.5.3 Nội dung của chuẩn mực kế toán quốc tế 17
1.5.3.1 Nội dung của khung khái niệm 17
1.5.3.2 Hệ thống các IAS/IFRS đã ban hành 18
1.6 Quá trình hòa hợp, hội tụ trong kế toán quốc tế 21
1.6.1 Vì sao cần phải hòa hợp, hội tụ? 21
1.6.2 Khái niệm hòa hợp, hội tụ 22
1.6.3 Thách thức cho quá trình hòa hợp và hội tụ 22
1.6.4 Nỗ lực tạo ra sự hòa hợp và hội tụ 24
1.6.5 Các xu hướng hòa hợp, hội tụ trong kế toán 25
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG KẾ TOÁN VÀ SỰ HÒA HỢP, HỘI TỤ CỦA KẾ TOÁN TRUNG QUỐC 26
2.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống kế toán TQ 26
2.1.1 Kế toán Trung Quốc thời sơ khai 26
Trang 42.1.2 Kế toán nước CHND Trung Hoa từ khi thành lập đến trước cải
cách kinh tế 1979 26
2.1.3 Giai đoạn 1979 đến 1991 28
2.1.4 Giai đoạn 1992-1996 28
2.1.5 Giai đoạn hội tụ đầy đủ từ 1997 đến nay 29
2.2 Đặc điểm của hệ thống kế toán Trung Quốc 31
2.2.1 Chuyên nghiệp theo luật định 31
2.2.2 Tính đồng nhất và linh hoạt 31
2.2.3 Bảo thủ lạc quan 32
2.2.4 Bí mật / minh bạch 32
2.2.5 Các vấn đề sử dụng mô hình của Grey 32
2.3 Những nhân tố tác động đến hệ thống kế toán Trung Quốc 33
2.3.1 Kinh tế - chính trị 33
2.3.2 Luật pháp 35
2.3.3 Văn hóa 36
2.4 Quá trình xây dựng hệ thống kế toán của Trung Quốc 37
2.4.1 Tổng quan về quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán của Trung Quốc 37
2.4.2 Những khác biệt giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Trung Quốc và hệ thống chuẩn mực quốc tế 38
2.5 Quá trình hòa hợp và hội tụ kế toán TQ 42
2.5.1 Quá trình hòa hợp, hội tụ và xu hướng hòa hợp, hội tụ của kế toán Trung Quốc 42
CHƯƠNG III: LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM 44
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán việt nam 44
3.1.1 Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh 44
3.1.1.1 Nguồn cung cấp tài chính 44
3.1.1.2 Lạm phát 44
3.1.1.3 Lao động 44
3.1.2 Môi trường pháp lý 44
3.1.2.1 Hiệp hội nghề nghiệp 44
3.1.2.2 Chính sách thuế 45
3.1.3 Môi trường văn hóa 45
Trang 53.2 Những kinh nghiệm cho Việt Nam 46 KẾT LUẬN 47
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Nhóm 18 cam đoan bài thảo luận này là kết quả của sự tìm hiểu, nghiên cứu củacác thành viên trong nhóm Các phân tích trong bài thảo luận đều dựa trên các nguồntài liệu đáng tin cậy và rõ ràng
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò cung cấp thông tin tài chính làm nền tảng cho việc ra quyết định kinhdoanh, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với mọi hoạt động kinh tế tài chính, trở thànhmột bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý, điều hành và kiểmsoát các hoạt động kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế gới đã và đang phát triển theo xuhướng toàn cầu hóa Đây là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới trong giai đoạnhiện nay và cả trong tương lai Hoạt động kinh doanh không chỉ diễn ra trong phạm vitừng quốc gia mà đã phát triển theo hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Các công
ty, tổ chức tài chính, các nhà đầu tư đều tìm cơ hội để xâm nhập và dịch chuyển đầu tưgiữa các quốc gia khác, từ đó làm phát sinh việc quốc tế hóa thị trường vốn, thị trườngtiêu thụ, thị trường lao động… Toàn cầu hóa đòi hỏi các quyết định kinh tế , dù đượcđưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đều phải tính tới các yếu tố quốc tế Tuy nhiên,
do đặc điểm lịch sử, kinh tế, luật pháp, văn hóa giữa các quốc gia khác nhau nên cácthông tin tài chính thường được soạn thảo theo các chuẩn mực và thông lệ giữa cácquốc gia có sự khác biệt rất lớn Để có thể hiểu, đo lường, so sánh được các thông tintài chính, cung cấp thông tin tài chính giúp cho hoạt động đầu tư tài chính thành công,bất kể sự khác nhau về thời gian và không gian địa lý quả là một thách thức rất lớn đốivới kế toán Và đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy các nhà thiết lập chuẩn mực kế toán– các hiệp hội kế toán trên thế giới mà tiêu biểu là FASB và IASB- đang liên tục thựchiện các dự án hội tụ kế toán để thống nhất các nguyên tắc kế toán trong việc lập báocáo tài chính, ban hành và chỉnh sửa các chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở cho việcxây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán ở các quốc gia khác, hạn chế những sự khácbiệt xung đột nhau giữa các quốc gia trên phạm vị toàn thế giới
Chính vì vậy, việc biết và hiểu về hệ thống kế toán cũng như quá trình hòa hợp,hội tụ của các nước trên thế giới là một việc cần thiết trong nền kinh tế toàn cầu Do
đó, nhóm 18 đã tiến hành nghiên cứu về chủ đề “phân tích đặc điểm hệ thống kế toánvà quá trình hòa hợp, hội tụ của Trung Quốc”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về quá trình hòa hợp, hội tụ kế toán trên thế giới, đặc điểm hệ thống kếtoán Trung Quốc và quá trình hòa hợp, hội tụ và liên hệ với Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài thảo luận nghiên cứu về đặc điểm hệ thống kế toán Trung Quốc và quá trìnhhòa hợp, hội tụ của kế toán Do hạn chế về kiến thức và tài liệu, số liệu trong bài cậpnhật được gần nhất là đến năm 2012
Trang 8Bài thảo luận này tập trung nghiên cứu về các vấn đề sau:
- Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán và quá trình hòa hợp, hội tụ nói chung
- Đặc điểm của hệ thống kế toán Trung Quốc và quá trình hòa hợp, hội tụ
- Liên hệ với Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài thảo luận sử dụng nhiều phương pháp như tổng hợp, phân tích, so sánh, đốichiếu,… để giúp bài thảo luận đạt được mục tiêu đề ra
5 Đóng góp của đề tài
Bài thảo luận là cơ hội để tìm hiểu một cách có hệ thống về quá trình hình thành,phát triển và hòa hợp, hội tụ của các quốc gia trên thế giới nói chung và của TrungQuốc nói riêng
6 Kết cấu của bài thảo luận
Bài thảo luận gồm 44 trang có kết cấu như sau:
- Phần mở đầu
- Chương I tổng quan về kế toán quốc tế
- Chương II Đặc điểm của hệ thống kế toán và sự hòa hợp, hội tụ của kế toánTrung Quốc
- Chương III Liên hệ với Việt Nam
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán
1.1.1 Thời Cổ đại
Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại
Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át-xi-ri, Babylon và Xumephát triển rực rỡ ở thung lũng Mesopotamia - nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi mà trởthành vùng nông nghiệp trù phú Đây cùngg là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưanhất về hoạt động buôn bán Khi người nông dân đó trở nên giàu có, các hoạt độngkinh doanh dịch vụ và các ngành công nghiệp nhỏ phát triển ở khu vực lân cận thunglũng Mesopotamia Thành phố Babylon và Ninevah trở thành các trung tâm thươngmại của vùng, trong đó Babylon được xem như là tiếng nói của kinh doanh và chính trịcủa cả vùng Cận Đông Có hơn một ngân hàng ở Mesopotamia sử dụng thước đo tiêuchuẩn là vàng và bạc và cho phép một số giao dịch bằng tiền gửi ngân hàng
Trong suốt kỷ nguyờn này, tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc ghi chéptài sản và các giao dịch liên quan đến tài sản Vì thế, gần như toàn bộ các giao dịchđược ghi lại và được mô tả bởi các bên liên quan trong suốt thời kỳ này Nhiệm vụ củangười thực hiện việc ghi chép kế toán khá đơn giản, nhưng lại bao quát Ngoài việc ghilại trọn vẹn một giao dịch, anh ta cùng cần chắc chắn rằng các giao dịch thoả thuận đóđáp ứng được yêu cầu pháp lý áp dụng cho các giao dịch thương mại
Ở Mesopotamia, các giao dịch được ghi chép lại trên mảnh gốm sứ Mảnh gốmđược nung theo hình dạng và kích thước tuỳ theo nội dung của các giao dịch Mỗi giaodịch được ghi chép lại theo những nội dung sau: tên của các bên tham gia buôn bán,loại hàng hoá buôn bán và giá cả cùng những điều cam kết quan trọng khác Sau đó,mỗi bên sẽ chứng nhận sự hiện diện của họ cùngg như thoả thuận giữa họ lên mảnhgốm bằng cách ấn mạnh lên mảnh gốm “dấu” riêng của họ Người ghi chép tài sản sau
đó sẽ hong khô mảnh gốm để đảm bảo những điều ghi chép trên mảnh gốm không thểbị thay đổi
Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại
Kế toán ở Ai Cập cổ đại cùngg phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia.Tuy nhiên, người Ai Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó việc ghi chép chitiết trở nên dễ dàng hơn Ở Ai Cập, người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận các tàiliệu ghi chép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi những tài liệu đó đóđược kiểm tra bởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ Chính do hệ thống kiểm tranày mà những người ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận vì họ sẽ bị xửphạt nếu vi phạm các điều luật liên quan Mặc dù những ghi chép như vậy rất quan
Trang 10trọng nhưng kế toán Ai Cập cổ xưa chưa bao giờ tiến bộ xa hơn công việc liệt kê đơngiản trong suốt hàng nghìn năm tồn tại của nó Có lẽ nguyên nhân cốt yếu là do sự mùchữ và thiếu một loại tiền kim loại thích hợp đó cản trở sự phát triển của nó Trên thựctế, người Ai Cập sử dụng vàng và bạc với tư cách là vật trao đổi ngang giá chung Tuynhiên, phương pháp đo lường giá trị đơn không thể mô tả tất cả hàng hoá, do đó làmcho việc tích luỹ và tổng kết tài sản trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển củacả hệ thống kế toán.
Kế toán ở Trung Hoa trước Công Nguyên được sử dụng cho mục đích đánh giáhiệu quả của chương trình Chính phủ và những người vận hành chương trình đó
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đó áp dụng “kế toán côngkhai” để tạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính chính phủ.Thành viên của Hiệp Hội Nhân dân Athens lập ra những quy tắc pháp lý cho vấn đề tàichính và quản lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám sát của 10 nhân viên kếtoán Nhà nước Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việc sáng tạo ra tiềnkim loại vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên Việc sử dụng rộng rãi tiền kim loạitrong một thời gian dài đó có tác động đến sự phát triển của kế toán Hoạt động ngânhàng ở Hy Lạp cổ đại đạt được sự phát triển nhiều hơn các xã hội trước Các ngânhàng giữ sổ ghi chép, tiền cho vay, và thậm chí thực hiện các giao dịch chuyển tiềncho các cư dân ở các thành phố cách xa nhau thông qua các ngân hàng trong cùng hệthống
Kế toán ở Roma phát triển từ việc ghi chép truyền thống của các gia đình đượcthực hiện bởi người chủ gia đình Việc ghi chép này vốn nhằm mục đích phục vụ choviệc tính thuế và xác định vị thế cùngg như quyền lực của mỗi gia đình Ở Roma duytrỡ một hệ thống chứng từ và cân đối chính xác đối với các hoạt động thu chi củachính phủ được dưới sự thực hiện người quản lý ngân sách quốc gia Hệ thống kế toáncông được kiểm tra thường xuyên bởi các nhân viên kiểm tra sổ sách và những ngườiquản lý ngân sách quốc gia phải bàn giao lại toàn bộ công việc cho người kế nhiệmcủa mình và cho Thượng viện La Mã trước khi thôi việc Một trong những cách tâncủa kế toán La Mã là việc sử dụng ngân sách thường niên nhằm phối hợp các hoạtđộng tài chính khác nhau của nhà nước, hạn chế chi tiêu để đạt được mức thu mongmuốn và số thuế thu được trong một đơn vị quản lý sau khi xem xét khả năng chi trảcủa dân cư
1.1.2 Thời Trung đại
Thời kỳ kéo dài hàng nghìn năm kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến trướcthời điểm ra đời của cuốn sách đầu tiên của Luca Pacioli mang tên “Summa” được coilà thời kỳ đình trệ của kế toán Các hoạt động kế toán diễn ra ngoài lãnh thổ của Italy
Trang 11thường không được đề cập đến trong các phần tổng kết lịch sử Tuy nhiên, như nhàlịch sử Michael Chatfield đó quan sát thấy, thông tin kế toán thời trung cổ đó trở thànhmột trong những nền tảng của việc quản lý và các kỹ thuật hạch toán cùngg đó có cơhội phát triển nhanh chóng Nhiệm vụ trung tâm của kế toán thời kỳ này là nhằm giúpcho Chính phủ và chủ sở hữu tài sản quản lý tài sản theo trình độ từ thấp lên cao.
Sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép
Qua các giai đoạn phát triển của kế toán ở các quốc gia khác nhau, có thể thấy kếtoán sử dụng phương pháp ghi đơn, đơn giản và mang tính liệt kê mô tả nhiều hơn.Nguyên nhân cốt yếu là thiếu chữ viết và tiền giao dịch thích hợp
Phương pháp ghi sổ kép ra đời vào thế kỷ 14 ở Italy gắn liền với đóng góp củaLuca Pacioli dựa trên cơ sở thống nhất 7 nhân tố tiền đề:
Tài sản riêng: quyền thay đổi sở hữu tài sản bởi vì ghi sổ được xem là việc ghichép về tài sản và quyền tài sản thực
Vốn: thể hiện năng lực của cải, bởi vì nếu không có nú hoạt động thương mại sẽkhông thể thực hiện được
Thương mại: sự trao đổi hàng hoá ở mức phổ biến, bởi vì hệ thống thương mạivới quy mô nhỏ không thể tạo ra áp lực kinh doanh dẫn tới sự ra đời của một hệ thống
có tổ chức thay thế cho việc ghi chép đơn thuần
Tín dụng: giá trị hiện tại của hàng hoá trong tương lai
Chữ viết: một hệ thống ghi chép thường xuyên bằng một ngụn ngữ thông dụng
Tiền tệ: mẫu số thông dụng cho trao đổi
Số học: làm phương tiện để tính toán lượng giá trị giao dịch
Trong số những nhân tố trên, có một số nhân tố trên thực tế đó tồn tại ở thời cổđại Tuy nhiên, chỉ tới thời trung cổ chúng mới xuất hiện đầy đủ và đủ mạnh để thúcđẩy con người tới sự sáng tạo ra phương pháp ghi sổ kép
Nhờ đó, thương mại và trao đổi buôn bán đó được đẩy lên tầm phát triển mới vàloài người tìm được phương pháp xác định lợi nhuận chuẩn xác hơn
Kể từ Pacioli, phương pháp ghi sổ đó được thay đổi Chuỗi những sự kiện trongchu kỳ kế toán và các trình tự đặc biệt được Pacioli miêu tả trong cuốn “De Computis”khá quen thuộc với kế toán viên hiện đại Trên thực tế, sự khác nhau giữa trình tự kếtoán hiện đại với phương pháp kế toán của Pacioli là sự bổ sung và trình độ tinh vi hơnxuất phát từ nhu cầu của quy mô hoạt động kinh doanh lớn hơn Theo Luca Pacioli,một thương nhân thành công phải hội tụ được 3 thứ: đủ vốn, người ghi sổ có năng lựcvà hệ thống kế toán cho phép anh ta có được những thông tin về tình hình tài chính củamình một cách nhanh nhất Pacioli đưa ra hệ thống gồm các thành phần sau:
Trang 12Bản ghi: nhằm ghi chép lại các nghiệp vụ phát sinh theo thứ tự phát sinh Cácnghiệp vụ này có thể được ghi sổ theo nhiều đơn vị tiền tệ khác nhau được chấp nhậnở thời kỳ đó và sau đó được quy đổi ra đồng tiền hạch toán chung.
Nhật ký: bao gồm ghi nợ, có và phần giải thớch nội dung nghiệp vụ được ghi
sổ Không tính tổng quy mô nghiệp vụ phát sinh và không ghi đối ứng
Sổ cái: đây là bộ phận gần giống nhất với kế toán hiện đại Cột số tiền và cộtngày tháng giống y hệt như trong sổ kế toán hiện nay, với các mục bao gồm các đoạnngắn, ghi nợ ở bên trái và ghi có ở bên phải của trang sổ được đôi Sau khi sổ kế toánđược thiết lập, hai được chéo sẽ được kẻ xuyên suốt mỗi lần ghi sổ, một từ trái sangphải khi ghi nợ và một từ phải sang trái khi ghi có
Kết thúc chu trình kế toán là việc lờn bảng cân đối thử Các số dư bên nợ trên sổcái được ghi vào bên trái của bảng cân đối cùng các số dư bên có trên sổ cái được ghivào bên phải của bảng cân đối Nếu việc ghi sổ đó được thực hiện chuẩn xác theo bảngcân đối sẽ cân giữa hai bên
1.1.3 Thời Cận đại và Đương đại
Thế kỷ 19 ở Scotland, Anh và Mỹ
Scotland được coi là nơi sinh của kế toán hiện đại Đây là nơi sản sinh cácnguyên tắc kế toán và cùngg là nơi có những hội kế toán công khai lâu đời nhất Kếtoán trở nên có vai trũ đặc biệt quan trọng với những ảnh hưởng không thể phủ nhậnđến sự phát triển kinh tế
Sau Scotland, kế toán phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Vào giữathế kỷ 19, Anh đó trở thành một nước công nghiệp dẫn đầu về sản xuất than đá, sắt vàdệt may, đồng thời trở thành trung tâm tài chính của thế giới Sự phát triển mạnh mẽcủa hệ thống tài chính đặt ra yêu cầu về kế toán phá sản ở cả những doanh nghiệpmạnh và những doanh nghiệp đang trên bờ phá sản Năm 1880, Hiệp hội kế toán Anhvà xứ Wales đó quy tụ được tất cả các tổ chức kế toán trong nước với số thành viênban đầu là 587 người và sau đó kết nạp thêm 606 người có kinh nghiệm khác Tiêuchuẩn về đạo đức và trình độ để được gia nhập Hiệp hội được ban hành và các thànhviên Hiệp hội bắt đầu sử dụng danh hiệu kế toán viên chuyên nghiệp khi hành nghề.Cuối những năm 1800, người Anh bắt đầu đầu tư tài chính ồ ạt vào những ngànhcông nghiệp đang phát triển ở Mỹ, do đó các kế toán Scotland và Anh bắt đầu dichuyển sang Mỹ để kiểm tra soát xét các hoạt động đầu tư này Một số trong nhữngngười đó ở lại hành nghề ở Mỹ và lập nên một vài công ty kế toán ở đây Số lượng cáckế toán hành nghề công khai tăng lên nhanh chóng: từ 19 người năm 1850 lên 233người năm 1886 Các nhóm kế toán ở các bang đó liờn kết với nhau thành lập nờnHiệp hội Kế toán Mỹ, tiền thõn của Hiệp hội Kế toán có giấy chứng nhận hành nghề
Trang 13Mỹ Tuy nhiên ở thời điểm này, kế toán ở Mỹ vẫn được coi là mới bắt đầu và chỉ thựcsự bước vào giai đoạn phát triển từ sau cuộc nổi dậy của dân chúng chấm dứt giai đoạnphát triển nền kinh tế nông nghiệp và chuyển sang nền kinh tế công nghiệp trongnhững thập niên sau đó.
→ Như vậy, có thể thấy, đến cuối thế kỷ 19, kế toán đó phát triển thành một nghềmang tính xã hội hơn và chuyên nghiệp hơn Sang đến thế kỷ 20, với những biến cố vềkinh tế, kế toán đó từng bước được hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ
Thế kỷ 20 ở Mỹ
Đầu thế kỷ 20, do sự xuất hiện của các vụ xỡ-căng-đan tài chính liên quan tới độcquyền và tư bản hoá quá mức, Uỷ ban thương mại giữa các tiểu bang (ICC) của Mỹ đóban hành hệ thống kế toán thống nhất - được coi là ví dụ đầu tiên về việc kế toán đượcsử dụng như một công cụ của luật pháp liên bang Khác với Anh - sử dụng bảng cânđối nhằm quản lý việc sử dụng vốn góp của cổ đông của ban lãnh đạo doanh nghiệp,bảng cân đối kế toán ở Mỹ chủ yếu nhằm phục vụ cho các ngân hàng - những ngườiquan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp hơn là khả năng thu lợi nhuận.Vào đầu năm 1920, hoạt động kinh doanh ở Mỹ có sự thay đổi đáng kể do đợt sụt giáhàng tồn kho nghiêm trọng (giá bán buôn giảm đến 40%) Hậu quả là dũng tiền lưuchuyển chậm, các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và thiếu hụt tín dụng Để đốiphó, các hóng kinh doanh sử dụng các nguồn tài chính ít chặt chẽ hơn để bổ sung chodũng tiền hiện tại, một trong số những nguồn tài chính được ưa chuộng là từ phát hành
cổ phiếu Các cổ đông, khi đó sẽ trở thành những người quan tâm đầu tiên đến tìnhhình tài chính, và do đó tình hình kết quả kinh doanh bắt đầu được coi trọng hơn bảngcân đối kế toán Các nhân tố khác như thuế thu nhập và chi phí kế toán cùngg gópphần thúc đẩy sự quan tâm tới doanh thu và chi phí Theo dũng thời gian, có ít nhất làbốn loại báo cáo về luồng vốn được sử dụng tổng hợp sự thay đổi về lượng tiền, thayđổi trong tài sản lưu động, vốn lưu động và toàn bộ các hoạt động tài chính
Trong những năm 40 của thế kỷ 20, kế toán tăng cường sử dụng báo cáo vốn để
đo lường dũng tiền thực thay vì chỉ đơn thuần đo lường tổng thay đổi của vốn lưuđộng giữa các thời điểm lập bảng cân đối khác nhau Báo cáo vốn trở thành bộ phậnchủ yếu của báo cáo tài chính và từ năm 1971 là một bộ phận của báo cáo thường niêncủa các cổ đông theo yêu cầu của Hiệp hội Kế toán được cấp chứng chỉ hành nghề.Bước vào kỷ nguyên của thời đại thông tin (cuối thể kỷ 20 đến nay), kế toán đóchuyển từ kế toán thủ công sang kế toán trên mỏy, một bước phát triển vượt bậc, có ýnghĩa đặc biệt quan trong trong việc đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin kế toán phục
vụ cho những người quan tâm Chi phí sản phẩm ngày nay phần lớn được cấu thành từchi phí nghiên cứu và triển khai (R&D), chất xám và dịch vụ Hệ thống kế toán của
Trang 14Pacioli thực tế không thay đổi đáng kể trong suốt 500 năm qua và sẽ cùng phự hợpchừng nào của cải của loài người cùng mang tớnh vật chất, chi phí bao gồm chủ yếu làchi phí vật liệu và nhân công Hệ thống kế toán sử dụng phương pháp ghi sổ kép dựatrên cơ sở thông tin gốc và cho phép cung cấp các báo cáo tài chính trong vũng 2 tuầnkể từ ngày kết thúc kỳ kế toán Hoạt động kinh doanh ngày nay thậm chí yêu cầu cungcấp thông tin kế toán thậm chí trong một khoảng thời gian ngắn hơn thế, gần như làtức theo Điều đó có thể thực hiện được với sự trợ giúp của máy tính Với các chươngtrình phần mềm kế toán như Oracle, PeopleSoft và SAP, thực hành kế toán giống nhưmột hệ thống thông tin cơ sở tích hợp tất cả các sự kiện về cả mặt định lượng và địnhtính Nhờ đó, các báo cáo kế toán có thể được thiết lập chỉ sau một cái “nhấn nút”.Theo thứ bậc của nhu cầu tài chính, các thông tin tài chính cần được cung cấpbao gồm:
Thông tin về ngân sách: cung cấp số liệu về lượng tiền có thể huy động cho chitiêu cho một chương trình, dự án hay dịch vụ nào đó Đồng thời, nó cùngg cung cấpcác dự tính về doanh thu và doanh thu bằng tiền để trang trải cho nhu cầu chi tiêu
Tình trạng ngân quỹ: cung cấp thông tin tài chính trong mối liờn hệ với chitiờu/nghĩa vụ và số dư ngân quỹ Đồng thời, cung cấp các thông tin về doanh thu thựcthu trong so sánh với doanh thu dự tính
Chi phí quản lý: cung cấp thông tin về các nguồn lực sử dụng cho chương trình,dự án hay dich vụ, không kể nguồn lực tài chính
Chi phí hoạt động: cung cấp thông tin về chi phí cho chương trình, dự án haydich vụ ở từng cấp độ về quy mô, từ đó cho thấy mối liên hệ giữa kết quả thực hiệnchương trình, dự án và dịch vụ với chi phí bỏ ra để thu được những kết quả này
Tuy nhiên, tuỳ vào từng thời điểm trong chu kỳ kinh doanh và mục đích sử dụngthông tin, thứ tự yêu cầu thông tin cùngg có thể thay đổi Hiện nay, kế toán đó pháttriển với ba nhánh là kế toán tài chính, kế toán quản trị và phân tích hoạt động kinhdoanh, tạo ra khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng thông tin kế toán
Kế toán tài chính: sắp xếp, phân loại, đo lường và ghi chép các nghiệp vụ kinhtế phát sinh; lập báo cáo lỗ lãi và bảng cân đối vào cuối kỳ hạch toán nhằm phản ánhtình hình hoạt động và vị trí của doanh nghiệp trong kỳ
Kế toán quản trị: bao gồm bốn chức năng chính là lập dự toán ngân sách, quảntrị chi phí, phân tích chi phí - lợi nhuận và lập báo cáo bộ phận Các thông tin do kếtoán quản trị cung cấp mang tính nội bộ, chủ yếu phục vụ cho các cấp quản trị ra quyếtđịnh phù hợp
Phân tích hoạt động kinh doanh: cung cấp thông tin về tình hình hoạt độngtrong kỳ trong mối quan hệ so sánh với kỳ trước và với kỳ kế hoạch, từ đó người sử
Trang 15dụng thông tin có thể nắm được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, nguyên nhânvà tỡm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.2 Khái niệm kế toán
Liên chi đoàn quốc tế về kế toán đã có nhận định cơ bản về kế toán: “kế toán lànghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp và đánh giá các loại hoạt động kinh tế thôngqua chỉ tiêu tiền tệ và dựa trên các nguyên tắc cơ bản tiêu chuẩn có tính hệ thống”
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán của một quốc gia
Các thông lệ và chuẩn mực kế toán không phát triển một cách đơn độc mà phảnánh môi trường đặc thù mà nó phát triển trong đó Hay nói cách khác, kế toán khôngthể tách rời với các nhân tố môi trường kinh doanh, chính trị pháp lý, văn hóa tồn tạiriêng trong mỗi quốc gia Chính các nhân tố này đã hình thành nên các hệ thống kếtoán khác nhau Vì thế để thấy được sự khác biệt giữa hệ thống kế toán của các quốcgia, việc nghiên cứu và tìm hiểu xem các nhân tố trên đã ảnh hưởng đến kế toán nhưthế nào là một vấn đề hết sức cần thiết
1.3.1 Các nhân tố thuộc và môi trường pháp lý và chính trị
Hệ thống luật pháp
Tùy theo đặc điểm, quá trình hình thành mà mỗi quốc gia tự xây dựng cho riêngmình một hệ thống luật pháp Nhưnng nhìn chung, xét theo tổng thể, có hai cách hìnhthành hệ thống pháp lý một quốc gia, đó là hệ thống pháp lý dựa trên Thông Luật và hệthống pháp lý dựa trên Luật La Mã (còn gọi là Điển chế luật)
Đặc điểm của hệ thống pháp lý dựa trên Thông Luật là có rất ít các quy định chitiết, có thể trong các đạo luật ban hành Hệ thống này xuất phát từ Anh vào năm 1066,sau đó lan rộng đến nhiều quốc gia khác như: Mỹ, Ireland, ¨n Độ, Úc, …Do đó, hệthống kế toán tại các quốc gia này rất ít bị ảnh hưởng bởi các quy định của luật do nhànước ban hành, gần như trong hệ thống luật của họ không đưa ra các quy tắc có thể vàchi tiết trong việc lập và trình bày BCTC
Trong khi đó, tại các quốc gia có hệ thống pháp lý dựa trên Luật La Mã nhưPháp, Ý, Đức, …thì ngược lại Do chịu nhiều ảnh hưởng từ Luật cổ thái La Mã từ thế
kỷ VI nên việc ghi chép kế toán và lập BCTC đmợc quy định khá tỉ mỉ và chi tiết trongcác đạo luật của quốc gia
Chính sách thuế
Một nhân tố quan trọng khác cũng gây nhiều ảnh hưởng đến hệ thống kế toán tạimỗi quốc gia, đó là chính sách thuế.Chính sách thuế là những quy định về các loại sắcthuế do nhà nước ban hành đốivới các đơn vị kinh doanh và cá nhân nhằm thực hiệnviệc động viên các nguồn thu vào Ngân sách nhà nmớc, điều tiết vĩ mô nền kinh tế vàđảm bảo công bằng xã hội
Trang 16Chính sách thuế có ảnh hưởng hay không ảnh hưởng đến việc ghi chép sổ sáchkế toán và tính toán lợi nhuận kế toán tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia khácnhau, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán và thuế thể hiện ở việc chấpnhận sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế Tại những nmớc cóhệ thống chuẩn mực kế toán do các khu vực kinh tế tư nhân thiết lập, hệ thống kế toánvận hành khá tự do, những ràng buộc pháp lý khá lỏng lẻo, chính sách thuế không cóảnh hưởng đáng kể đến hệ thống kế toán Đây cũng chính là xu hướng phổ biến củaquốc tế hiện nay Các doanh nghiệp ghi chép và lập báo cáo tài chính theo các nguyêntắc, phmơng pháp đmợc quy định trong chuẩn mực Mục đích giúp doanh nghiệp phảnánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị mình, và số liệu này có thể có sựkhác biệt trên bằng khai thuế Sau đó, khi lập tờ khai thuế, doanh nghiệp sẽ phải điềuchỉnh lại những khoản chi phí hay thu nhập mà Luật Thuế không chấp nhận, từ đó phátsinh sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế.
Ngược lại, tại những quốc gia mà hệ thống chuẩn mực kế toán chịu nhiều sự chiphối của nhà nước, do nhà nước công bố và ban hành thì hệ thống kế toán phải phù hợpvà tuân thủ các quy định của luật thuế Kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp sẽ không phản ánh được sự trung thực và hợp lý Các kế toán viên chỉ quan tâmđến việc là làm sao ghi chép và lập báo cáo tài chính tuân thë theo các quy định củaLuật Thuế, chẳng hạn như sẽ không phản ánh các khoản chi phí thực tế phát sinhnhưng không có chứng từ hợp lệ hoặc vmợt quá định mức giới hạn theo quy định củaLuật Thuế, … Từ đó sẽ không có sự khác biệt trọng yếu giữa lợi nhuận kế toán vàlợinhuận chịu thuế
Vai trò tổ chức nghề nghiệp
Sự khác nhau về hệ thống pháp lý giữa các quốc gia đã tạo nên sự khác biệt lớn
về vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập các vấn đề liên quan đến kế toán
Tại một số quốc gia mà các tổ chức nghề nghiệp ra đái sớm như Anh, Mỹ, … nhànước không có ảnh hưởng đáng kể trong quá trình xây dựng và ban hành các chuẩn mựckế toán Chức năng này được giao cho các tổ chức nghề nghiệp đảm nhận Ưu điểm củacác tổ chức nghề nghiệp là có lịch sử thành lập lâu đái, tập hợp được đội ngũ cộng tácviên chuyên ngành đông đảo, trình độ chuyên môn cao và có sự am hiểu rộng rãi vềthực tế những vấn đề kế toán phát sinh trong thực tế Từ đó các chuẩn mực kế toán vàkiểm toán do họ ban hành nhận được sự chấp nhận rộng rãi của xã hội và nhà nước.Còn tại những quốc gia mà tổ chức nghề nghiệp mới ra đời trong thế kỷ 20 nhưPháp, Đức, …thì nhà nước giữ vai trò quyết định trong những vấn đề về kế toán Đặcđiểm của các tổ chức nghề nghiệp trong những quốc gia này là thường không mạnh, sốlượng thành viên ít và không có ảnh hưởng nhiều đến việc xây dựng các chuẩn mực
Trang 171.3.2 Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh
Để cung cấp được thông tin tài chính hữu ích, đạt được mục tiêu của báo cáo tàichính, kế toán không chỉ tùy thuộc vào sự am hiểu các kỹ thuật ghi chép kế toán màcòn tùy thuộc vào sự nắm vững cấu trúc của kế toán bao gồm các khái niệm và giảthuyết kế toán do con người thu thập đmợc từ môi trường kinh doanh Các khái niệmvà giả thuyết này rất hiếm khi thay đổi và hiển nhiên đmợc xã hội công nhận vì nó phùhợp với mục tiêu của báo cáo tài chính Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanhnhư: nguồn cung cấp tài chính, người sử dụng thông tin tài chính, tình hình lạm pháttại một quốc gia, … đều có ảnh hưởng lớn đến các kỹ thuật, phương pháp thực hiện kếtoán tại quốc gia đó
Nguồn cung cấp tài chính
Căn cứ vào nguồn cung cấp tài chính cho doanh nghiệp tại một quốc gia mà ta cóthể thấy được sự khác biệt giữa các hệ thống kế toán Tại các quốc gia mà nguồn cungcấp tài chính chë yếu từ thị trường vốn, người sử dụng thông tin là các nhà đầu tư Mốiquan tâm của họ chỉ tập trung vào tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính Cácnhà đầu tư không có điều kiện tiếp xúc, thu thập thêm thông tin về các báo cáo tàichính Vì thế nhu cầu của họ là báo cáo tài chính phải phản ánh đúng thực trạng tàichính, cung cấp đầy đủ các thông tin trọng yếu giúp người đọc có thể hiểu được tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, tránh đưa ra các quyết định đầu tư sai lầm Để thựchiện yêu cầu này, thể hiện trung thực bản chất của các sự kiện, nghiệp vé phát sinh, kếtoán tại các quốc gia này sẽ ít tuân thủ theo các quy định về pháp lý như Luật thuế, …Ngược lại, các quốc gia có nguồn cung câp tài chính chủ yếu là nhà nước, ngân hànghoặc các dòng họ thường không có đòi hỏi cao về sự đầy đë cũng như tính trung thựcvà hợp lý của thông tin Tuy nhiên kế toán thường được yêu cầu phải tuân thủ các luậtđịnh
Lạm phát
Bên cạnh nguồn cung cấp tài chính, lạm phát cũng đmợc xem là một nhân tốtrong môi trường kinh doanh có tác động đến hệ thống kế toán tại các quốc gia Khilạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền sé giảm Một ví dụ điển hình cho lạm phát có thểthấy là giá trị một đồng USD vào năm 1913 có giá trị tương đương 4 mark Đức, nhưngchỉ 10 năm sau, một USD đổi được đến 4 tỷ mark Hay tại Brazil, nơi người ta tính chỉtrong vòng từ năm 1960 đến năm 1994, lạm phát đã làm giá cả tại quốc gia này giatăng đến 22 tỷ lần Chính vì thế mục tiêu bảo toàn vốn luôn rất quan trọng, báo cáo tàichính của các công ty luôn phải được điều chỉnh để loại trừ ảnh hưởng sai lệch củaviệc biến đổi giá cả đến giá trị tài sản và thu nhập công ty
Trang 18 Lao động
Lao động được xem là một nhân tố mới yêu cầu phải khai báo trên báo cáo tàichính của các công ty Mặc dù ảnh hưởng của nhân tố này còn khiêm tốn nhưng tạimột số quốc gia như Thụy Điển, Việt Nam… cũng đã yêu cầu khai báo về số lượngcông nhân viên, tiền lương bình quân hàng năm, khả năng tạo phúc lợi chung củadoanh nghiệp và sự phân phối chúng trên báo cáo tài chính của tất cả các loại hìnhcông ty
1.3.3 Môi trường văn hóa
Hiểu theo nghĩa chung nhất, văn hoá tượngng trưng cho một hệ thống độc lậpbao gồm các giá trị và cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướngđược duy trì trong một thời gian dài (Kotter và Heskett, 1992)
Từ những năm 1980, các nghiên cứu đều khẳng định văn hóa là một nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán Có thể nói chính sự khác biệt về đặcđiểm của nền văn hóa giữa các quốc gia đã tao nên nhiều hệ thống kế toán khác nhau,hình thành nên các cách ghi chép, tính toán và trình bày thông tin khác nhau trong hệthống kế toán tai mỗi quốc gia Chẳng han các quốc gia thuộc nền van hóa AngloSaxon thuáng thích sự mềm dẻo, xét đoán trong kế toán Ngược lại các quốc giaPhương Đông thường phải dựa vào các quy định chặt chẽ
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định sự ảnh hưởng của môi trườngvăn hóa đến kế toán do văn hóa thường được cảm nhận nhiều hơn là thể hiện qua sốliệu như những vấn đề kinh tế Các nhà nghiên cứu vẫn xem đây là một trong nhữngthử thách cần đmợc chinh phục, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đềnày, trong số đó phải kể đến những nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lớn như nghiên cứucủa Gray – Đại học Warwick (1989), của Harrison và McKinnon (1986), hay cëa GeertHofstede – Đại học Limburg, Hà Lan (1980, 1984)
Khi tìm hiểu về nghiên cứu của Geert Hofstede, ta thấy có 4 yếu tố văn hóa quantrọng giải thích sự tmơng đồng và khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới
Đó là: khoảng cách quyền lực (power distance - PD), chủ nghĩa cá nhân (individualism
- IDV), sự tránh né những vấn đề chưa rõ ràng (uncertainty avoidance -UAV) và địnhhmớng dài hạn (long-term orient - LTO) Các yếu tố này đều có ảnh hưởng đến quátrình phát triển kế toán và thay đổi hệ thống kế toán
Thứ nhất, đối với yếu tố khoảng cách quyền lực (PD), đây là yếu tố thể hiện
mức độ xã hội có thể chấp nhận sự bất bình đẳng bên trong và giữa các định chế và tổchức Xã hội nào có PD cao thì kế toán thường được kiểm soát bằng luật định để điđến sự thống nhất Ngược lại nếu PD thấp, thì thường có sự tranh luận và biểu quyếttrong các hội nghề nghiệp trmớc khi thống nhất một vấn đề liên quan đến kế toán
Trang 19Thứ hai là yếu tố chủ nghĩa cá nhân (IDV), yếu tố này thể hiện mối quan hệ
giữa các cá nhân với nhau trong một xã hội IDV cao, báo cáo tài chính thường có xuhướng linh hoạt theo thực tế, ít bảo thủ và ngược lại, đối với quốc gia có IDV thấp, thìBCTC thmáng thống nhất theo luật định, tính bảo thủ cao
Thứ ba phải kể đến trong nghiên cứu của Hofstede có ảnh hưởng đến kế toán là
sự tránh né những vấn đề chưa rõ ràng (UAV) Nền văn hóa này thường dựa vàonhững luật lệ rõ ràng, niềm tin và cách ứng xử thường dựa vào một chuẩn mực chung,tin tmãng vào giám định của các cơ quan nhà nước Vì vậy kế toán thường không chấpnhận sự linh hoạt mềm dẻo, nên thường bảo thủ trong việc lập BCTC, thường giới hạntrong việc khai báo thông tin, thích đma ra các quy định thống nhất về vấn đề liênquan đến kế toán
Thứ tư là đặc điểm về giới (MAS) :cách thức phân bổ vai trò xã hội của hai
giới “Nam tính”coi trọng thành tích, chủ nghĩa anh hùng, sự quyết đoán và sự thànhcông về của cải “Nữ tính” ưa chuộng việc nuôi dưỡng các mối quan hệ, sự khiêm tốn,sự chăm sóc giành cho kẻ yếu và quan tâm đến chất lượng cuộc sống
Cuối cùng là yếu tố văn hóa liên quan đến quan điểm định hmớng dài hạn
(LTO) Đặc điểm của nền văn hóa này là rất xem trọng sự kiên trì, sắp xếp các mốiquan hệ theo địa vị, do đó rất bảo thủ và thống nhất trong kế toán
Ngoài ra quá trình hình thành các quốc gia, sự pha trộn tmơng tác giữa các nềnvăn hóa cũng có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm cëa hệ thống kế toán Các nước từng làthuộc địa thường chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ thống kế toán của các quốc gia đã từngthống trị họ Xu hướng hòa nhập khu vực và quốc tế hiện nay cùng với sự hình thànhLiên minh Châu Âu, sự ra đái cảa chuẩn mực kế toán quốc tế cũng có tác động rất lớnđến kế toán của các quốc gia
1.4 Sự khác biệt trong các trường phái, hệ thống kế toán trên thế giới và nguyên nhân
Theo mô hình tổng quan của Nobes hệ thống kế toán của một quốc gia sẽ phụthuộc trực tiếp vào mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn chủ từ bên ngoài, trong đó nhântố văn hóa, bao gồm các cấu trúc thể chế sẽ quyết định trực tiếp Bên cạnh đó , cácnhân tố môi trường cũng góp phần ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa (các cấu trúc thểchế) Và như thế ta thấy rằng đặc điểm của một hệ thống kế toán được quyết định từcao xuống thấp, phân tầng , được định hình từ các đặc điểm về xã hội, quan niệm củatừng quốc gia
Trang 20Trên thực tế hệ thống kế toán trên thế giới được phân chia làm hai trường phái làkế toán Ănglo-Saxon và kế toán châu Âu lục địa Sự phân chia này xuất phát từ mứcđộ phụ thuộc vào nguồn vốn chủ sở hữu do yếu tố văn hóa quyết định nên giống nhưđã trình bày ở trên.
1.4.1 Trường phái Ănglo-saxon
Các quốc gia thuộc trường phái này đa số là các nước sử dụng Anh ngữ như Anh,
Mỹ, Úc, Canada, ….Họ có hệ thống pháp lý, môi trường kinh doanh, … tương tự nhau.Vốn của họ huy động của họ từ thị trường chứng khoán do hầu hết các nước này có mộtthị trường chứng khoán khá sôi động , vì vậy tính công khai, minh bạch trong kế toán ởcác nước này được đề cao , đề cao tính linh hoạt trong các xét đoán nghề nghiệp nhưngđồng thời lại kém thận trọng
1.4.2 Trường phái châu Âu lục địa
Đối với các quốc gia thuộc trường phái châu âu lục địa xem trọng sự kiên trì, sắpxếp các mối quan hệ theo địa vị, do đó rất bảo thủ và thống nhất trong kế toán Đây làđiểm khác biệt đối với hệ thống kế toán Ănglo-saxon Những nước theo trường pháinày có nguồn cung cấp vốn chủ yếu đến từ nhà nước hệ thống các ngân hàng thươngmại và các hộ gia đình do vậy trong kế toán nhu cầu bảo mật thông tin và tình hình tàichính của khách hàng là cần thiết Đồng thời trong kế toán sự linh hoạt mềm dẻo khilập BCTC không phải đặc điểm chủ yếu mà nó đề cao việc tuân thủ các Luật định doNhà nước đã đề ra
Các nhân tố môi trường
Văn hóa bao gồm các cấu trúc thể chế
Mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn từ bên ngoài
Hệ thống kế toán
Trang 211.5 Những vấn đề cơ bản về hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
1.5.1 Nguyên nhân hình thành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình thành hàng loạtcác công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động thương mại ngoạibiên giới, các nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực mà còn mở rộngphạm hoạt động ra phạm vi toàn thế giới Hoạt động kế toán không còn là vấn đề mangtính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế Nhu cầu này đòihỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất chuẩn mực kế toán các quốc gia, nhằm tạo
ra một ngôn ngữ chung về kế toán, nâng cao tính khách quan và tính có thể tin cậy đượccủa thông tin tài chính, giúp cho thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính có thểhiểu và so sánh được Muốn như vậy, đòi hỏi phải xây dựng và ban hành một hệ thốngchuẩn mực chung, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến nhữngvấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất
cơ bản được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới có thể áp dụng ngay ở những quốcgia đã có đầy đủ những điều kiện cần thiết và ở các quốc gia chưa phát triển Tuynhiên, con đường quốc tế hóa kế toán không đơn giản, việc quyết định cơ quan banhành, các vấn đề cần hòa hợp- hội tụ trong hệ thống chuản mực, lựa chọn quan điểmchính trong hệ thống chuẩn mực giữa hai trường phái kế toán Anglo- Saxon và Châu
Âu lục địa là những vấn đề luôn cần được giải quyết trong suốt quá trình hình thành vàphát triển hệ thống chuẩn mực kế toán
1.5.2 Cơ quan ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc thếchính là Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) Đây là một tổ chức độc lập thànhlập năm 1973 bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuôc Liên đoàn kế toánquốc tế (IFAC), đại diện của 03 tập đoàn kinh tế lớn và một số quan sát viên độc lậpđến từ Ủy Ban Châu Âu, Trung Quốc, Ủy Ban Chứng Khoán Quốc Tế (IOSCO), ỦyBan Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB) Nhiệm vụ của cơ quan này là:
Xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế và thực hiện mục tiêuđể các chuẩn mực này được chấp nhận rộng rãi trên thế giới
Cập nhật, cải tiến và thay đổi phù hợp các quy định về kế toán, chuẩn mực kếtoán và các thủ tục trình bày báo cáo tài chính
Phát huy tối đa tính hiệu quả, hiệu lực của chuẩn mực kế toán quốc gia vàquốc tế tiến đến xu thế hội nhập các hệ thộng kế toán( theo cuộc họp tổ chức tạiEdinburgh Scotland ngày 24/05/2000)
Đến năm 1977, IASC nhận thấy xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới đòi hỏi
Trang 22cần phải tập trung sức mạnh từ các hệ thống kế toán quốc gia để xây dựng một hệthống chuẩn mực kế toán quốc tế hoàn thiện hơn Do đó, IASC quyết định cơ cấu lại tổchức của mình Tháng 12/1999, IASC đã chỉ định một ủy ban lựa chọn và thành lậpHội đồng thành viên (Trustees) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vựcchuyên môn khác nhau Trong đó có 06 người đến từ Bắc Mỹ, 06 người đến từ Châu
Âu, 06 người đến từ khu vực Châu Á Thái Bình Dương (APA) và 04 người còn lại đến
từ các quốc gia, khu vực khác Nhiệm vụ của Trustees là bổ nhiệm các thành viênIASB, Hội đồng cố vấn chuẩn mực SAC và Ủy ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáotài chính (IFRIC), giám sát hiệu quả hoạt động của IASC, tìm kiếm, phê duyệt và soátxét nguồn tài chính của IASC
Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 02/2001, Hội đồng thành viên(Trustees) đã thiết lập nên Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCFoundation) Ủy ban này bao gồm ba tổ chức chính là Ủy Ban Chuẩn Mực Kế ToánQuốc Tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) và Ủy ban hướng dẫn các chuẩnmực báo cáo tài chính (IFRIC)
IASB- Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế: là một tổ chức độc lập thuộc khu vực
tư nhân bắt đầu hoạt động vào ngày 01/04/201 dưới sự giám sát của IASC Foundation,bao gồm 14 thành viên trong đó có 12 thành viên chuyên trách Mục tiêu hoạt độngchính của IASB là:
Phát triển các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao, thống nhất, dễ hiểu và cótính chất khả thi cao cho toàn thế giới trên quan điểm phục vụ lợi ích của công chúng
Tăng cường tính minh bạch, có thể so sánh được của thông tinh trong BCTCvà các báo cáo liên quan đến tài chính, kế toán khác, giúp những thành viên tham giathị trường vốn thế giới và những người sử dụng BCTC đưa ra các quyết định kinh tế
Xúc tiến việc sử dụng và ứng dụng nghiêm ngặt các IASs
Đem đến những giải pháp có chất lượng cao cho sự hòa hợp giữa hệ tốngchuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn mực kế toán quốc tế
Một chuẩn mực chỉ được IASB ban hành khi có tối thiểu 8 thành viên đồng ý.IASB vẫn thừa kế các chuẩn mực quốc tế do IASC ban hành trước đây và tiếp tục xâydựng, ban hành và phát triển các chuẩn mực kế toán mới với tên gọi là chuẩn mực báocáo tài chính quốc tế IFRs
Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) bao gồm các nhóm cá nhân có nguồn gốc
chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi khi, cho các ủythác viên
Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có nền kinh tế
phát triển, đại diện của kế toán viên trong các ngành nghề và người sử dụng BCTC
Trang 23Bên cạnh đó, tất cả thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các nhà thiếtlập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ chức lập quy của họ.Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội đồng cố vấn chuẩn mực.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ủy ban sáng lập chuẩn mực
kế toán quốc tế (IASC Foundation)
1.5.3 Nội dung của chuẩn mực kế toán quốc tế
1.5.3.1 Nội dung của khung khái niệm
Báo cáo tài chính là kết quả sau cùng của kế toán, được lập và trình bày nhằmmục đích giúp cho người sử dụng đánh giá đúng sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãivà triển vọng của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp với mụctiêu mà họ quan tâm Mặc dù bề ngoài báo cáo tài chính của các quốc gia có vẻ giốngnhau nhưng sự khác biệt về đặc điểm của nền văn hóa, môi trường kinh tế, xã hội, luậtpháp giữa các quốc gia đã hình thành nên định nghĩa, cũng như các cách ghi chép, tínhtoán và trình bày thông tin khác nhau về các yếu tố trên báo cáo tài chính Do vậy,IASB trong quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế tiến đếnhòa hợp – hội tụ kế toán quốc tế, đã ban hành khung khái niệm của việc lập và trìnhbày báo cáo tài chính
Khung khái niệm là những quy ước chung về các khái niệm kế toán căn bản, vềcác đặc điểm định tính của báo cáo tài chính, về các yếu tố cần có, và về các phươngpháp đánh giá các yếu tố của báo cáo tài chính Khung khái niệm không phải là chuẩnmực kế toán, không điều nào trong khung khái niệm được phép vượt qua các IAS.Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa khuôn mẫu và IAS, thì IAS sẽ được tôn trọnghơn Tuy vậy, khung khái niệm là cơ sở :
Trang 24Giúp cho IASB trong việc duyệt xét các IAS hiện hữu và phát triển các IAStrong tương lai.
Giúp đỡ cho IASB trong việc cải tiến và hài hòa các nguyên tắc, chuẩn mực kếtoán và các thủ tục liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính bằng cáchcung cấp các cơ sở để giảm bớt việc lựa chọn các phương pháp hạch toán được IASCcho phép
Khung khái niệm chỉ ra các vấn đề sau:
Mục tiêu của BCTC
Những đặc điểm của một thông tin tài chính hữu ích
Đơn vị báo cáo
Định nghĩa, ghi nhận và đo lường các yếu tố trong BCTC
Khái niệm về vốn và duy trì vốn
1.5.3.2 Hệ thống các IAS/IFRS đã ban hành
Đến ngày 01/08/2014, IASC và IASB đã ban hành được 41 IAS và 15 IFRS, trong
đó có một số chuẩn mực đã hết hiệu lực hoặc được thay thế bằng chuẩn mực mới
International Financial Reporting Standards
IFRS 1 First-time Adoption of International Financial Reporting Standards 2008*
IFRS 2 Share-based Payment 2004
IFRS 3 Business Combinations 2008*
IFRS 4 Insurance Contracts 2004
IFRS 5 Non-current Assets Held for Sale and Discontinued Operations 2004
IFRS 6 Exploration for and Evaluation of Mineral Assets 2004
IFRS 7 Financial Instruments: Disclosures 2005
IFRS 8 Operating Segments 2006
IFRS 9 Financial Instruments 2014*
IFRS 10 Consolidated Financial Statements 2011
IFRS 11 Joint Arrangements 2011
IFRS 12 Disclosure of Interests in Other Entities 2011
IFRS 13 Fair Value Measurement 2011
IFRS 14 Regulatory Deferral Accounts 2014
IFRS 15 Revenue from Contracts with Customers 2014
Trang 25International Accounting Standards
IAS 1 Presentation of Financial Statements 2007*
IAS 3
Consolidated Financial Statements
IAS 4
Depreciation Accounting
Withdrawn in 1999
IAS 5
Information to Be Disclosed in Financial Statements
IAS 6
Accounting Responses to Changing Prices
Superseded by IAS 15, which was withdrawn December 2003
IAS 7 Statement of Cash Flows 1992
IAS 8 Accounting Policies, Changes in Accounting Estimates and Errors 2003
IAS 9
Accounting for Research and Development Activities
Superseded by IAS 38 effective 1 July 1999
IAS 10 Events After the Reporting Period 2003
IAS 11
Construction Contracts
IAS 13
Presentation of Current Assets and Current Liabilities
Superseded by IAS 39 effective 1 July 1998
Trang 26IAS 19 Employee Benefits (2011) 2011*
IAS 23 Borrowing Costs 2007*
IAS 24 Related Party Disclosures 2009*
IAS 25
Accounting for Investments
Superseded by IAS 39 and IAS 40 effective 2001
IAS 26 Accounting and Reporting by Retirement Benefit Plans 1987
IAS 27 Separate Financial Statements (2011) 2011
IAS 27
Consolidated and Separate Financial Statements
Superseded by IFRS 10, IFRS 12 and IAS 27 (2011) effective 1 January
IAS 28 Investments in Associates and Joint Ventures (2011) 2011
IAS 28
Investments in Associates
Superseded by IAS 28 (2011) and IFRS 12 effective 1 January 2013 2003
IAS 29 Financial Reporting in Hyperinflationary Economies 1989
Interests In Joint Ventures
Superseded by IFRS 11 and IFRS 12 effective 1 January 2013 2003*
IAS 32 Financial Instruments: Presentation 2003*
IAS 33 Earnings Per Share 2003*
IAS 34 Interim Financial Reporting 1998
IAS 35
Discontinuing Operations
IAS 36 Impairment of Assets 2004*
IAS 37 Provisions, Contingent Liabilities and Contingent Assets 1998
Trang 27IAS 38 Intangible Assets 2004*
IAS 39
Financial Instruments: Recognition and Measurement
Superseded by IFRS 9 effective 1 January 2018 where IFRS 9 is applied
1.6 Quá trình hòa hợp, hội tụ trong kế toán quốc tế
1.6.1 Vì sao cần phải hòa hợp, hội tụ?
Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốnquốc tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng thông tin tài chính, đảm bảo lợi ích cho cácnhà đầu tư Do sự khác nhau về môi trường văn hóa, hệ thống pháp lý, chính trị, quátrình hình thành và phát triển các hội nghề nghiệp, mỗi quốc gia đều có các tổ chứcthiết lập hệ thống chuẩn mực riêng Báo cáo tài chính của các quốc gia khác nhau đượclập theo các chuẩn mực khác nhau Từ đó cung cấp các kết quả khác nhau, thậm chítrái ngược nhau, ngoài ra cũng thiếu đi thông tin kế toán chất lượng cao Vì thế yêucầu phải thiết lập một hệ thống chuẩn mực kế toán “chuẩn” luôn được xem là một vấn
đề vô cùng bức thiết trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay
Quá trình hòa hợp diễn ra ở cả hai mức độ khu vực và thế giới, ở cả hai tuyếnchính phủ và phi chính phủ với sự can thiệp của các tổ chức trong và ngoài nghềnghiệp kế toán kiểm toán Mục tiêu ban đầu của các tổ chức kế toán quốc tế là hòa hợpquốc tế về kế toán, đi tìm các chuẩn mực lý tưởng cho thế giới Tuy nhiên quá trìnhnày chỉ diễn ra trong bước đầu, sau đó con đường hòa hợp kế toán quốc tế chuyển sanghội tụ kế toán quốc tế Lý do thực chất quá trình hòa hợp vẫn là cuộc đấu tranh đểgiành vị trí của các hệ thống kế toán của tổ chức nghề nghiệp các quốc gia có tiềm lựckinh tế mạnh Bên cạnh đó tư tưởng cho rằng quá trình hòa hợp sẽ giúp các nmớc đangphát triển có ngay được các chuẩn mực tiên tiến sử dụng, đã không quan tâm đến vấn
đề các chuẩn mực “nhập khẩu” này có thực sự đi vào cuộc sống không?
1.6.2 Khái niệm hòa hợp, hội tụ
Hòa hợp trong kế toán là quá trình làm giảm sự khác biệt trong khi vẫn duy trìtính linh hoạt của hệ thống kế toán
Hội tụ là áp dụng một hệ thống chuẩn mực chung cho toàn thế giới