BÀI TẬP LỚN MẬT MÃ VÀ AN TOÀN DỮ LIỆU Trình bày về “Thẻ thông minh” (Smart Card) Sự phát triển của thẻ thông minh, kết hợp với việc mở rộng các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử đã tạo ra các khả năng mới trong việc đặt kế hoạch thực hiện các giải pháp tương tự. Tiến bộ to lớn trong vi điện tử vào những năm 1970 đã làm cho nó khả thi để tích hợp dữ liệu lưu trữ và xử lý logic vào chip silicon duy nhất có diện tích vài milimet.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
BÀI TẬP LỚN
MẬT MÃ VÀ AN TOÀN DỮ LIỆU
Đề tài: Trình bày về “Thẻ thông minh” (Smart Card)
Giảng viên: PGS.TS Trịnh Nhật Tiến
Học viên: Phạm Hoàng Bình
Ngày sinh: 19/07/1989
Mã số học viên: 12025201
Hà Nội, 2014
Trang 2MỤC LỤC
I Giới thiệu về thẻ thông minh 4
1 Lịch sử phát triển của thẻ thông minh 4
2 Lĩnh vực áp dụng 7
2.1 Thẻ nhớ 7
2.2 Thẻ vi xử lý 8
2.3 Thẻ không tiếp xúc 9
II Phân loại thẻ 10
1 Thẻ dập nổi (Embossed card) 10
2 Thẻ từ (Magnetic-stripe cards) 11
3 Thẻ thông minh (Smart card) 12
3.1 Thẻ nhớ 13
3.2 Thẻ vi xử lý 14
3.3 Thẻ không tiếp xúc 15
3.4 Thẻ nhớ quang 16
III Cấu tạo thẻ thông minh 18
1 Đặc điểm vật lý 18
1.1 Định dạng thẻ 19
1.2 Các thành phần của thẻ và tính năng an ninh 22
2 Thân thẻ 22
2.1 Các chất liệu thẻ 23
2.2 Module chip 23
3 Đặc điểm điện tử 24
4 Bộ vi điều khiển 26
5 Thẻ tiếp xúc 27
6 Thẻ không tiếp xúc 28
Trang 3IV Hệ điều hành thẻ thông minh 29
1 Tổ chức bộ nhớ 30
2 Hệ thống tập tin 31
V Ứng dụng của thẻ thông minh 33
1 Thẻ thông minh trong hệ thống thanh toán 33
2 Một vài ứng dụng khác 33
Trang 4THẺ THÔNG MINH
I Giới thiệu về thẻ thông minh
1 Lịch sử phát triển của thẻ thông minh
Sự gia tăng của thẻ nhựa (plastic) bắt đầu ở Mỹ vào đầu những năm 1950 Giá vậtliệu tổng hợp PVC thấp, nhiều ưu điểm hơn so với thẻ giấy và các tông được sử dụngtrước đó là những điều kiện khả thi cho việc sản xuất
Thẻ thanh toán nhựa đầu tiên được sử dụng chung đã được ban hành bởi Diners Clubvào năm 1950 Nó được dự kiến chỉ dành cho một tầng lớp cá nhân độc quyền, cho phépngười giữ thanh toán với “tên giao dịch” của mình thay vì tiền mặt Ban đầu, chỉ có một
số nhà hàng và khách sạn được lựa chọn chấp nhận loại thẻ này, vì vậy loại thẻ này cònđược được biết đến như một thẻ “du lịch và giải trí”
Sự tham gia của Visa và Master Card vào lĩnh vực này dẫn đến sự gia tăng rất nhanhchóng của "tiền nhựa” trong các hình thức thẻ tín dụng Điều này xảy ra đầu tiên ở Mỹ,châu Âu và các nước khác trên thế giới một vài năm sau đó Ngày nay, thẻ tín dụng chophép khách du lịch mua sắm mà không cần tiền mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới Chủ thẻ
là không bao giờ bị mất cho phương tiện thanh toán , nhưng người đó khó tránh khỏi cácnguy cơ bị mất do trộm cắp hoặc các mối nguy hiểm khó lường, đặc biệt khi đi du lịch
Sử dụng một thẻ tín dụng loại bỏ sự tẻ nhạt của trao đổi tiền tệ khi đi du lịch ở nướcngoài Những lợi thế chỉ có ở thẻ tín dụng giúp nó nhanh chóng trở nên phổ biến trêntoàn thế giới Hàng trăm triệu thẻ được sản xuất và lưu hành hàng năm
Lúc đầu, các chức năng của thẻ khá đơn giản Các thông tin chung như: tên tổ chứcphát hành thẻ được in trên mặt, các yếu tố dữ liệu cá nhân như: tên của chủ thẻ và số thẻđược dập nổi Nhiều thẻ cũng có một trường chữ ký nơi chủ thẻ có thể ký tên của mình
để tham khảo Trong thế hệ thẻ đầu tiên, việc bảo vệ chống lại sự giả mạo được cũng cấp
Trang 5thống phụ thuộc khá cơ bản vào chất lượng và sự tận tâm của người có trách nhiệm chấpnhận thẻ.
Cải thiện đầu tiên của thẻ là một dải từ ở mặt sau của thẻ, cho phép dữ liệu số đượclưu trữ trên thẻ theo kiểu máy có thể đọc được như một bổ sung cho các thông tin trựcquan Điều này làm giảm thiểu việc sử dụng giấy biên lai, mà trước đây rất cần thiết, mặc
dù vẫn yêu cầu có chữ ký của khách hàng trên hóa đơn giấy trong thẻ tín dụng truyềnthống như một hình thức nhận dạng cá nhân Tuy nhiên, các phương pháp tiếp cận mớikhông yêu cầu giấy biên lai cũng được nghĩ tới Việc này nhằm đạt được mục đích lâudài là thay thế các giao dịch trên giấy bằng xử lý dữ liệu điện tử Điều này đòi hỏi sửdụng một phương pháp khác để xác định người sử dụng, vốn trước đây được thực hiệnbởi chữ ký của người dùng Phương pháp đã được sử dụng rộng rãi liên quan đến một sốnhận dạng cá nhân bí mật (PIN) được so sánh với một số tham khảo Phương pháp nàythường được sử dụng trong các máy ngân hàng (máy rút tiền tự động) Thẻ dập nổi vớicác dải từ vẫn loại thẻ thường được sử dụng cho cho các giao dịch tài chính
Tuy nhiên, công nghệ dải từ có một điểm yếu quan trọng, là các dữ liệu lưu trữ trêncác sọc từ có thể được đọc, xóa và viết lại theo ý muốn của bất cứ ai có quyền truy cậpvào thiết bị Phải sử dụng thêm các kỹ thuật để đảm bảo bảo mật của dữ liệu và ngănchặn thao tác dữ liệu Ví dụ, giá trị tham khảo cho PIN có thể được lưu trữ trong các thiết
bị đầu cuối hoặc trên hệ thống máy chủ trong môi trường an toàn, thay vì trên dải từ
Sự phát triển của thẻ thông minh, kết hợp với việc mở rộng các hệ thống xử lý dữ liệuđiện tử đã tạo ra các khả năng mới trong việc đặt kế hoạch thực hiện các giải pháp tương
tự Tiến bộ to lớn trong vi điện tử vào những năm 1970 đã làm cho nó khả thi để tích hợp
dữ liệu lưu trữ và xử lý logic vào chip silicon duy nhất có diện tích vài milimet Ý tưởngkết hợp một mạch tích hợp như vậy vào một thẻ nhận dạng có trong một bằng sáng chếứng dụng đệ trình bởi các nhà phát minh người Đức Jurgen Dethloff và Helmut Grotruppvào đầu năm 1968 Sau đó là vào năm 1970 trong một bằng sáng chế ứng dụng tương tựcủa Kunitaka Arimura tại Nhật Bản Tuy nhiên, tiến bộ thực sự đầu tiên trong việc pháttriển thẻ thông minh là khi Roland Moreno đăng ký bằng sáng chế thẻ thông minh của
Trang 6mình tại Pháp vào năm 1974 Ngay sau đó ngành công nghiệp bán dẫn đã có thể cung cấpcác mạch tích hợp cần thiết với giá chấp nhận được Tuy nhiên, nhiều vấn đề kỹ thuật vẫncần được giải quyết trước ở nguyên mẫu đầu tiên, một số trong đó chứa một vài chip tíchhợp, có thể được chuyển thành các sản phẩm đáng tin cậy để sản xuất với số lượng lớn cóchất lượng phù hợp với chi phí hợp lý Kể từ khi các sáng chế cơ bản trong công nghệ thẻthông minh xuất hiện ở Đức và Pháp, không quá ngạc nhiên khi những quốc gia này đóngvai trò dẫn đầu trong việc phát triển và tiếp thị thẻ thông minh.
Bước đột phá lớn đã đạt được vào năm 1984 khi PTT Pháp (cơ quan bưu chính vàdịch vụ viễn thông) thành công trong việc thực hiện một thử nghiệm thực địa với thẻ điệnthoại Trong thử nghiệm này, thẻ thông minh đã chứng minh đáp ứng tất cả yêu cầu với
độ tin cậy cao và bảo vệ chống lại các thao tác Đột phá này của thẻ thông minh khôngdành cho lĩnh vực mà thẻ truyền thống vốn được sử dụng, mà trong một ứng dụng mới.Giới thiệu một công nghệ mới trong một ứng dụng mới có một lợi thế lớn là tương thíchvới hệ thống hiện có mà không phải đưa vào tài khoản, do đó khả năng của các côngnghệ mới có thể được khai thác đầy đủ
Những phát triển nối tiếp sau những thử nghiệm thành công của thẻ điện thoại, lầnđầu tiên tại Pháp và sau đó, tại Đức, có tốc độ chóng mặt Năm 1986, vài triệu thẻ điệnthoại 'thông minh' được lưu hành ở chỉ tính riêng tại Pháp Tổng số đã tăng lên gần 60triệu vào năm 1990 và vài trăm triệu trên toàn thế giới vào năm 1997 Tương tự như vậy
ở Đức, với một khoảng thời gian trong vòng ba năm Các hệ thống này được tiếp thị khắpthế giới sau giới thiệu thành công thẻ điện thoại công cộng thông minh ở Pháp và Đức.Thẻ điện thoại kết hợp chip hiện đang được sử dụng tại hơn 50 quốc gia
Tiến độ phát triển của thẻ thông minh khá chậm trong lĩnh vực ngân hàng, một phần
do tính phức tạp hơn so với thẻ điện thoại
Với việc mở rộng việc xử lý dữ liệu điện tử trong những năm 1960, các qua tắc vềmật mã trải qua một bước nhảy vọt Phần cứng và phần mềm hiện đại đã làm cho nó cóthể thực hiện các yếu tố phức tạp, các thuật toán phức tạp cho phép các tính toán trước
Trang 7Thẻ thông minh đã chứng minh là một phương tiện lý tưởng Nó tạo ra một mức độbảo mật cao (dựa trên mật mã) có sẵn cho tất cả mọi người , vì nó có thể lưu trữ khóa bímật an toàn và thực hiện các thuật toán mã hóa Ngoài ra, thẻ thông minh rất nhỏ và dễdàng quản lý nên chúng có thể được mang theo và sử dụng bởi tất cả mọi người ở khắpmọi nơi trong cuộc sống hàng ngày.
2 Lĩnh vực áp dụng
Như có thể thấy từ tóm tắt lịch sử, các ứng dụng cho thẻ thông minh cực kỳ đa dạng.Với dung lượng lưu trữ tăng một cách đều đặn và khả năng xử lý của mạch tích hợp cósẵn, các ứng dụng tiềm năng liên tục được mở rộng
Có thể tạm chia thẻ thông minh thành 2 loại: thẻ nhớ và thẻ vi xử lý
2.1 Thẻ nhớ
Những thẻ thông minh đầu tiên được sử dụng với số lượng lớn là thẻ nhớ cho các ứngdụng điện thoại Các thẻ này được trả trước, với giá trị được lưu trữ điện tử trong chipgiảm dần theo số phí của cuộc gọi mỗi lần thẻ được sử dụng
Loại thẻ thông minh có thể được sử dụng một cách tự nhiên không chỉ cho các cuộcgọi điện thoại, mà có thể sử dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ được bán với hình thứcthanh toán trước mà không sử dụng tiền mặt ví dụ mục đích sử dụng có thể bao gồm giaothông công cộng địa phương, bán hàng tự động, máy móc các loại, nhà ăn, bể bơi, bãi đỗ
xe và các loại dịch vụ tương tự Ưu điểm của loại thẻ này nằm ở công nghệ đơn giản (khuvực của chip chỉ chiếm vài mm2), và do đó nó có chi phí thấp Điểm bất lợi là thẻ khôngthể được tái sử dụng khi giá trị lưu trữ của nó rỗng và phải loại bỏ như rác thải
Một ví dụ điển hình của thẻ nhớ là thẻ bảo hiểm y tế của Đức, được ban hành từ năm
1994 cho tất cả những người tham gia vào các chương trình bảo hiểm y tế quốc gia Cácthông tin ghi trên thẻ của bệnh nhân được lưu trữ trong chip và được in hoặc khắc lasertrên thẻ Sử dụng một con chip để lưu trữ dữ liệu làm cho các thẻ có thể đọc được bằngmáy sử dụng thiết bị đơn giản
Trang 8Tóm lại, thẻ thông minh dạng thẻ nhớ có chức năng giới hạn Bảo mật tích hợp vàothẻ làm cho nó có thể bảo vệ chống lại thao tác dữ liệu lưu trữ Chúng rất thích hợp để sửdụng như thẻ trả trước hoặc thẻ nhận dạng trong hệ thống có chi phí thấp.
Kể từ khi bộ vi xử lý tích hợp vào thẻ được tự do lập trình, các chức năng trên thẻ vi
xử lý chỉ bị giới hạn bởi không gian lưu trữ có sẵn và khả năng của bộ vi xử lý Chỉ cócác giới hạn đối với trí tưởng tượng của người thiết kế khi thực hiện hệ thống thẻ thôngminh là công nghệ và chúng được mở rộng rất lớn với mỗi thế hệ mới của mạch tích hợp
Trang 9Hình 1.1 Lĩnh vực ứng dụng của thẻ thông minh điển hình, hiển thị dung lượng lưu trữ
yêu cầu và khả năng xử lý số học
Tóm lại, những lợi thế quan trọng của thẻ vi xử lý là khả năng lưu trữ cao, khả nănglưu trữ an toàn dữ liệu bí mật và khả năng thực hiện các thuật toán mã hóa Những lợi thếnày mở rộng phạm vi rộng các ứng dụng mới, cho cả các ứng dụng thẻ ngân hàng truyềnthống Tiềm năng của thẻ thông minh không những không cạn kiệt, mà hơn nữa, nó liêntục được mở rộng bởi những tiến bộ trong công nghệ bán dẫn
2.3 Thẻ không tiếp xúc
Thẻ không tiếp xúc có năng lượng và dữ liệu được truyền mà không cần có bất kỳ sựtiếp xúc điện giữa thẻ và thiết bị đầu cuối, đạt được cấp độ của sản phẩm thương mạitrong những năm gần đây Hiện nay, cả thẻ nhớ và thẻ vi xử lý đều có thể là thẻ khôngtiếp xúc Mặc dù thẻ vi xử lý không tiếp xúc có thể hoạt động bình thường ở khoảng cáchvài cm so với thiết bị đầu cuối, thẻ nhớ không tiếp xúc có thể được sử dụng ở cách xa đếnmột mét xa so với thiết bị đầu cuối Điều này có nghĩa các thẻ như vậy không nhất thiếtphải được giữ trong tay của người dùng trong suốt thời gian sử dụng, mà có thể ở trong vícủa người dùng
Thẻ không tiếp xúc cụ thể phù hợp cho các ứng dụng trong đó người hoặc đối tượngcần được xác định nhanh chóng Ví dụ như các ứng dụng sau:
Kiểm soát truy cập
Giao thông công cộng địa phương
Trang 10hành động như vé điện tử với tiếp xúc giao diện, các nhà khai thác vận chuyển có thể sửdụng cơ sở hạ tầng hiện có của các loại thẻ tín dụng và ngành công nghiệp thẻ.
II Phân loại thẻ
Thẻ thông minh là thành viên trẻ nhất trong gia đình của thẻ nhận dạng bằng cách sửdụng đinh dạng ID -1 quy định theo tiêu chuẩn ISO 7810, “Thẻ nhận dạng - Đặc điểm vậtlý” Tiêu chuẩn này chỉ rõ các tính chất vật lý của thẻ nhận dạng , như tính mềm dẻo, chịunhiệt, cũng như kích thước của ba thẻ khác nhau có định dạng : ID -1 , ID -2 và ID -3 Các tiêu chuẩn thẻ thông minh (ISO 7816-1 ff ) được dựa trên thẻ ID 1, hàng triệu thẻloại này được sử dụng cho các giao dịch tài chính hàng ngày
1 Thẻ dập nổi (Embossed card)
Dập nổi là công nghệ lâu đời nhất cần thêm các tính năng máy có thể đọc được cácthẻ nhận dạng Các ký tự nổi trên thẻ có thể được chuyển sang giấy bằng các thiết bị đơngiản , không tốn kém, và chúng cũng có thể dễ dàng đọc được bằng trực quan (của conngười) Tính chất và vị trí của phần dập nổi được quy định trong tiêu chuẩn ISO 7811(Thẻ nhận dạng - Kỹ thuật ghi âm") Tiêu chuẩn này , tất cả được chia thành năm phần,giao dịch với thẻ từ cũng như dập nổi
ISO 7811 Phần 1 quy định các yêu cầu cho các ký tự dập nổi, bao gồm hình thức củachúng, kích thước và chiều cao dập nổi Phần 3 định nghĩa các vị trí chính xác của các ký
tự trên thẻ và định nghĩa hai khu vực riêng biệt, như thể hiện trong hình 2.1 Khu vực 1được dành cho các mã số định danh ID của thẻ, trong đó xác định tổ chức phát hành thẻcũng như chủ thẻ Khu vực 2 được dành riêng cho dữ liệu bổ sung liên quan đến các chủthẻ, chẳng hạn như tên và địa chỉ của mình
Trang 11Hình 2.1 Vị trí dập nổi theo tiêu chuẩn ISO 7811-3 Khu vực 1 dành riêng cho mã số
định danh ID (19 ký tự) và khu vực 2 dành riêng cho tên và địa chỉ của chủ thẻ (4 x 27 kýtự)
A = 21.42±0.12 mm, B = 10.18±0.25 mm, D = 14.53 mm, E = 2.41−3.30 mm, F =7.65±0.25 mm
2 Thẻ từ (Magnetic-stripe cards)
Nhược điểm cơ bản của thẻ dập nổi đó là việc sử dụng chúng tạo ra rất nhiều giấybiên lai, và rất tốn tiền để xử lý Một biện pháp khắc phục cho vấn đề này là mã hóa kỹthuật số dữ liệu thẻ trên một dải từ nằm ở mặt sau của thẻ Các dải từ được đọc bằng cáchkéo nó qua một đầu đọc, bằng tay hoặc tự động, dữ liệu được đọc và lưu trữ điện tử.Không cần phải xử lý dữ liệu trên giấy
Phần 2 , 4 và 5 của tiêu chuẩn ISO 7811 xác định các thuộc tính của thẻ từ, kỹ thuật
mã hóa và các vị trí của các dải từ Dải từ có thể lưu trữ đến 3 track Track 1 và 2 đượcquy định là các track chỉ đọc, trong khi track 3 có thể được ghi vào
Mặc dù dung lượng lưu trữ của thẻ từ chỉ khoảng 1000 bit, không phải là nhiều nhưng
nó vẫn đủ hơn cho việc lưu trữ các thông tin được dập nổi Dữ liệu đưa vào có thể đượcđọc và viết trên track 3, chẳng hạn như hầu hết các dữ liệu giao dịch gần đây của một thẻtín dụng
Trang 12Nhược điểm chính của công nghệ từ dải từ là các dữ liệu lưu trữ có thể được thayđổi rất dễ dàng Các dữ liệu ghi trên dải từ có thể được thay đổi tương đối dễ dàng bằngcách sử dụng một thiết bị đọc/ghi tiêu chuẩn, và sau đó rất khó khăn để chứng minh các
dữ liệu đã bị thay đổi Hơn nữa, thẻ từ thường được sử dụng trong thiết bị tự động không
có khả năng kiểm tra trực quan, ví dụ như các máy rút tiền Một tội phạm sau khi thuđược dữ liệu thẻ hợp lệ, có thể dễ dàng nhân đôi thẻ bằng máy móc tự động mà khôngcần phải giả mạo tính năng bảo mật bằng trực quan của thẻ
Hình 2.2 Vị trí các dải từ trên thẻ ID-1.
Hình 2.3 Vị trí của các track trên thẻ ID-1 (đo bằng mm).
3 Thẻ thông minh (Smart card)
Thẻ thông minh cung cấp một số lợi thế so với thẻ từ Ví dụ, dung lượng lưu trữ tối đacủa một thẻ thông minh là lớn hơn nhiều lần so với một thẻ từ Chip với hơn 256 KB bộnhớ có sẵn, và con số này sẽ được nhân lên với thế hệ chip mới
Trang 13Tuy nhiên, một trong những lợi thế quan trọng nhất của thẻ thông minh là đó dữ liệulưu trữ của nó có thể được bảo vệ chống truy cập và thao tác trái phép Dữ liệu chỉ có thểđược truy cập thông qua một giao diện nối tiếp được điều khiển bởi một hệ điều hành vàlogic an ninh, dữ liệu bảo mật có thể được ghi vào thẻ và lưu trữ bằng một cách thứckhiến chúng không bao giờ bị đọc từ bên ngoài thẻ Dữ liệu bí mật này chỉ có thể được
xử lý bởi đơn vị xử lý của chip
Hình 2.4 Biểu đồ phân loại thẻ chứa chip theo các loại chip được sử dụng và phương
pháp được sử dụng để truyền dữ liệu
3.1 Thẻ nhớ
Hình 2.5 Cấu trúc điển hình của một thẻ nhớ kiểu có tiếp xúc.
Trang 14Các dữ liệu cần thiết cho các ứng dụng được lưu trữ trong bộ nhớ, thường làEEPROM Truy cập vào bộ nhớ được điều khiển bởi logic an ninh, tất cả các trường hợpđơn giản chỉ bao gồm bảo vệ ghi hoặc bảo vệ xóa cho bộ nhớ hoặc một số khu vực bộnhớ Tuy nhiên, cũng có các chip nhớ với nhiều các logic an ninh phức tạp có thể thựchiện mã hóa đơn giản Dữ liệu được chuyển ra ngoài và từ các thẻ thông qua cổng I/O Thẻ nhớ thường được sử dụng cho thẻ điện thoại trả trước và thẻ bảo hiểm y tế,
3.2 Thẻ vi xử lý
Trung tâm của chip trong một thẻ vi xử là một bộ vi xử lý, tất cả đó là thường đượcbao quanh bởi các khối chức năng thêm vào: mask ROM , EEPROM, bộ nhớ RAM vàmột cổng I/O Hình 2.6 cho thấy kiến trúc của một thiết bị điển hình của loại hình này
Hình 2.6 Kiến trúc điển hình của một bộ vi xử lý thẻ loại có tiếp xúc với một bộ
đồng xử lý
Mask ROM chứa hệ điều hành của chip , được “đốt trong” khi sản xuất chip Nộidung của ROM là xác định cho tất cả các chip của một quá trình sản xuất chạy và khôngthể thay đổi trong suốt vòng đời của chip EEPROM là bộ nhớ không dễ mất của chip
Dữ liệu và mã chương trình có thể được viết và đọc từ EEPROM dưới kiểm soát của hệđiều hành RAM là bộ nhớ làm việc của bộ xử lý Bộ nhớ này là dễ mất, vì vậy tất cả các
Trang 15dữ liệu được lưu trữ trong nó bị mất khi nguồn của chip được tắt Các giao diện I/O thôngthường chỉ bao gồm một đăng ký đơn giản, dữ liệu được truyền từng bit qua đó.
Thẻ vi xử lý rất linh hoạt trong sử dụng Trong trường hợp đơn giản nhất, nó lưu trữmột chương trình tối ưu hóa cho một ứng dụng duy nhất Vì vậy, nó chỉ có thể được sửdụng cho các ứng dụng đặc biệt này Tuy nhiên, hệ điều hành thẻ thông minh hiện đạicho phép các ứng dụng khác nhau được tích hợp vào một thẻ duy nhất Trong trường hợpnày, ROM chỉ chứa các thành phần cơ bản của hệ điều hành, với phần thực hiện cụ thểcủa hệ điều hành được nạp vào EEPROM sau khi thẻ được sản xuất Phát triển gần đâycòn cho phép các chương trình ứng dụng được nạp vào một thẻ sau khi nó được cá nhânhóa và ban hành cho chủ thẻ Phần cứng và phần mềm đặc biệt được sử dụng để ngănchặn các yêu cầu đang vi phạm các điều kiện bảo mật của các ứng dụng cá nhân Chip vi
xử lý đặc biệt với bộ nhớ và khả năng xử lý cao, được tối ưu hóa cho việc sử dụng nhưvậy hiện đang có sẵn
cơ phá hoại nó đáng kể (ví dụ, bôi kẹo cao su hoặc keo siêu dính vào khe cắm thẻ) Công nghệ sản xuất cho thế hệ thẻ không tiếp xúc đã trưởng thành đến mức các sảnphẩm chất lượng cao có giá không khác biệt đáng kể khi so sánh với các thẻ tiếp xúc.Cho đến nay, thẻ không tiếp xúc được sử dụng trong các hệ thống giao thông công cộngđịa phương
Trang 16Hình 2.7 Kiến trúc điển hình của một bộ vi xử lý thẻ với một bộ đồng xử lý và một
giao diện tiếp xúc
3.4 Thẻ nhớ quang
Dùng cho các ứng dụng trong trường hợp dung lượng lưu trữ của thẻ thông minh làkhông đủ, thẻ quang đó có thể lưu trữ một vài megabyte dữ liệu có sẵn Tuy nhiên, vớicông nghệ hiện tại những thẻ này có thể được viết một lần duy nhất và không thể bị xóa.Các tiêu chuẩn ISO/IEC 11693 và 11694 xác định các đặc tính vật lý của thẻ nhớquang và công nghệ ghi âm dữ liệu tuyến tính được sử dụng với loại thẻ này
Kết hợp khả năng lưu trữ mở rộng thẻ nhớ quang học với trí thông minh của thẻ thôngminh dẫn đến khả năng mới thú vị Ví dụ, dữ liệu có thể được viết ở dạng mã hóa vào bộnhớ quang học, với các phím được lưu trữ một cách an toàn trong bộ nhớ riêng của chip.Cách này nảo vệ các dữ liệu được lưu trữ quang học chống truy cập trái phép
Hình 2.8 cho thấy cách bố trí điển hình của một thẻ thông minh quang học với cáctiếp xúc, một dải từ và một khu vực lưu trữ quang học