1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường

95 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 12,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệ thống hóakiến thức,.... Sử dụng bản đồ tư duy góp phầ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

CHUYÊN ĐỀ “TRƯỜNG THCS TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC”

VÀ XÂY DỰNG ĐIỂN HÌNH VỀ “TRƯỜNG HỌC

THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC”

Trang 2

THIẾT KẾ, SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÍ NHÀ TRƯỜNG

TS Trần Đình Châu, Dự án Phát triển Giáo dục THCS II,

Bộ Giáo dục & Đào tạo.

Mục tiêu:

- Hiểu được bản đồ tư duy và vai trò của nó trong đổi mới PPDH cũng như hỗ trợ công tác quản lý nhà trường.

- Vận dụng bản đồ tư duy vào công việc học tập các chuyên đề khác và nghiên cứu của học viên cao học quản lý giáo dục.

- Lập được bản đồ tư duy về kế hoạch công tác hoặc một bài dạy theo chuyên môn của mình.

- Có kế hoạch vận dụng vào công tác chuyên môn của mình và phổ biến cho nhà trường (cơ quan, đơn vị).

Nhiệm vụ : Tìm hiểu một số vấn đề chung về bản đồ tư duy, thiết kế sử dụng BĐTD hỗ

trợ đổi mới PPDH và công tác quản lý nhà trường

Chuẩn bị: Máy tính, máy chiếu

- Tài liệu

- Giấy A4, bút, bút màu, tẩy,

Tiến trình thực hiện: - Nghe giới thiệu về: Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường - Học viên tự nghiên cứu tài liệu. - Làm việc theo nhóm về các nội dung sau: 1/ Bản đồ tư duy là gì?Vai trò của bản đồ tư duy?

2 /Những ưu điểm của BĐTD trong việc đổi mới phương pháp dạy học .

.

3 /Những ưu điểm của BĐTD trong công tác quản lí giáo dục

Trang 3

4/Những khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng BĐTD

5/ Những ý kiến đề xuất trong việc thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH cũng như

hỗ trợ công tác quản lý

Nội dung chuyên đề:

Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghichép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch

kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi

tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểukhác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đềnhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việclập BĐTD phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người

BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các

nhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thứcsau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì và giúpcán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác

BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuậthình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấutrúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của

bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc.Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não

Trang 4

Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới

liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau

vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệ thống hóakiến thức, và lập kế hoạch công tác

BĐTD có thể vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu,phấn, tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tưduy Với các trường, đơn vị có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thểcài vào máy tính phần mềm Mindmap cho cán bộ, GV, HS sử dụng, bằng cách vàotrang web www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ ConceptDrawMINDMAP 5, ta có thể tải về bản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional,việc sử dụng phần mềm này khá đơn giản

Tuy nhiên, việc dùng giấy, bút chì, bút màu, tẩy,… để vẽ BĐTD có ưu điểm là

giúp người lập BĐTD dễ dàng phát triển ý tưởng và bổ sung ý tưởng qua đó phát huy

tối đa tính sáng tạo của mỗi người, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của mỗingười, được tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng,cong…), tự “sáng tác” nên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thứccủa từng cá nhân và cũng do mỗi người tự làm nên càng yêu quí, trân trọng “tác phẩm”của mình Với vật liệu dễ kiếm, rất kinh tế cách làm đơn giản BĐTD có thể vận dụngđược với bất kì điều kiện nào của các nhà trường hiện nay

Ví dụ, GV một trường THCS thiết kế BĐTD sau đây sẽ dễ dàng diễn đạt ýtưởng và quy trình vẽ các khối đa diện (môn Công nghệ 8)

Trang 5

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và

in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậyviệc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của

bộ não Việc ập BĐTD còn giúp cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ, do việcthiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ýtưởng một cách khoa học súc tích, hợp lý, trực quan, dễ hiểu, dễ “đọc”, dễ tiếp thu

Để lập BĐTD có thể vận dụng “Phương pháp ghi chép hiệu quả” mà tác giảStella Cottrell đã tổng kết khi vẽ BĐTD: 1) Dùng từ khóa và ý chính; 2) Viết cụm từ,không viết thành câu; 3).Dùng các từ viết tắt 4).Có tiêu đề 5).Đánh số các ý; 6) Liênkết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,… 7).Ghi chép nguồn gốc thông tin để cóthể tra cứu lại dễ dàng 8) Sử dụng màu sắc để ghi

Điều cần tránh khi ghi chép:1).Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng 2) Ghichép quá nhiều ý không cần thiết 3) Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

Sử dụng bản đồ tư duy góp phần đổi mới PPDH các môn học, vận dụng vào dạy họckiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức một chủ đề, một bài, một chương giúp HSghi nhớ, ôn tập, liên kết các mạch kiến thức đã học

Đối với HS trung bình: Tập cho HS có thói quen tự ghi chép hay tổng kết một

vấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng BĐTD

Trang 6

đặt các câu hỏi gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3,… Hướngdẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi bàihọc vào một trang giấy Có thể vẽ chung trên một cuốn vở hoặc để thành các trang giấyrời, rồi kẹp thành một tập Mỗi bài học được vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang giấygiúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ BĐTD của bài đó ra làcác em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng

Ví dụ trong khi dạy học chương Tứ giác - Toán 8, cho HS vẽ BĐTD sau mỗi bàihọc, để mỗi em có một tập BĐTD: hình thang cân, hình bình hành, hình thoi, hìnhvuông,…

Bài “Hình bình hành”

và cuối chương này có thể vẽ một BĐTD hệ thống kiến thức của cả chương Sau khi cómột HS hay một nhóm HS vẽ xong BĐTD cho các HS khác góp ý bổ sung, có thể chocác em vẽ thêm các đường nhánh nối từ một hình hình tứ giác đặc biệt này đến hình tứ

Trang 7

giác đặc biệt khác và ghi thêm chú thích,… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện

và nâng cao kĩ năng vẽ SĐTD cho các em

Khi học bài “Giản dị” (môn Giáo dục công dân), đầu giờ học GV cho từ khóa

“giản dị” rồi yêu cầu HS vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em

vẽ các nhánh con cấp 1, sau đó cho HS thảo luận nhóm để các em có thể vẽ tiếp cácnhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, 3,…) Sau khi các nhóm HS vẽxong cho một số em lên trình bày trước lớp để các HS khác bổ sung ý, GV kết luận qua

đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng lại rất hiệuquả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS Qua hoạt động này vừa biết rõ việchiểu kiến thức của các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trướcđông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểmcần rèn luyện của học sinh nước ta hiện nay

Bài “Tế bào”- Sinh học 8

Bài “Tây Nam Á”- Địa lí 8

Trang 9

Với cách làm này rèn luyện cho bộ óc các em hướng dần tới cách suy nghĩlôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứkhông phải là học thuộc lòng, học vẹt

- Đối với HS khá giỏi: sử dụng BĐTD để tìm chiến lược giải quyết một vấn đề,

hay tìm nhiều hướng giải một bài toán, hệ thống hóa kiến thức,…

Việc vẽ BĐTD theo nhóm nên thực hiện trước khi nghiên cứu tài liệu mới, kiếnthức mới để cả nhóm tìm chiến lược giải quyết vấn đề hoặc cũng có thể thực hiện để hệthống hoá kiến một chủ đề, một chương Sau khi mỗi nhóm “vẽ” xong, đại diện củamỗi nhóm hoặc một số thành viên trong nhóm “thuyết trình” BĐTD cho cả lớp nghe đểthảo luận, góp ý, bổ sung (nếu cần thiết)

Ngoài việc vẽ BĐTD trong học tập, nên tập cho các em có thói quen sử dụngBĐTD tự ghi tóm lược nội dung chính của cuốn sách dưới dạng BĐTD khi các em đọcsách Hoặc gợi ý cho các em lập kế hoạch học tập, vạch kế hoạch cho bản thân để biếnước mơ thành hiện thực trong tương lai, các kế hoạch này có thể được bổ sung dần dầntheo năm tháng bằng cách vẽ thêm nhánh khi mỗi người có sự điều chỉnh kế hoạch

Đối với GV chủ nhiệm hay cán bộ quản lí: sử dụng BĐTD để lập kế hoạch

công tác Việc sử dụng BĐTD lập kế hoạch giúp cán bộ chỉ đạo có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so

với việc viết kế hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ

Ví dụ, có thể tóm lược 5 nội dung của phong trào thi đua “xây dựng trường họcthân thiện, học sinh tích cực ” như sau:

Trang 10

Kế hoạch năm học của một nhà trường có thể viết theo các mặt hoạt động: dạyhọc, giáo dục đạo đức,…

BĐTD giúp lên kế hoạch cho một hội thảo, tập huấn:

Trang 11

Nhìn vào BĐTD sẽ giúp ban tổ chức chuẩn bị cho một hội thảo từ khâu lên kếhoạch (như mục tiêu, nội dung, các văn bản pháp quy, đối tượng thực hiện, địa điểm,

…) đến tổ chức thực hiện, các hình ảnh liên tưởng giúp dễ nhìn, và không sót việc – đó

là một cách “nhắc việc” rất hiệu quả Có thể lập BĐTD để khai mạc hay tổng kết mộthội thảo hay một đợt tập huấn

BĐTD giúp cán bộ, giáo viên cách ghi chép tóm tắt, giúp phát triển ý tưởng và

triển khai nhanh chóng, sáng tạo những chỉ đạo, kế hoạch của Hiệu trưởng qua cáccuộc họp hội đồng giáo dục nhà trường

BĐTD duy giúp đổi mới việc họp tổ nhóm chuyên môn: Một BĐTD do các thành

viên của tổ, nhóm thảo luận và cùng thiết kế ngay tại cuộc họp sẽ phát huy được trí tuệtập thể, giúp cả tổ, nhóm tìm được các biện pháp, cách thức tổ chức dạy học các bàikhó, bài ôn tập, ra đề kiểm tra,… một cách có hiệu quả nhất

Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm, BĐTD vừa mang đậmdấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của cả tập thể do đó vận dụngBĐTD vào dạy học phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS là một trong nhữngcách làm tốt nhất góp phần đổi mới phương pháp dạy học

Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại kết quả tốttrong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của GV, có thể vậndụng nó cho các môn học ở trường phổ thông và cho lập kế hoạch công tác Học sinh

sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư

Trang 12

của tri thức Vận dụng BĐTD vào dạy học, GV và HS cùng làm việc tập thể một cáchtích cực sáng tạo, huy động cùng một lúc nhiều kiến thức, kết hợp việc ghi chép kênhchữ với kênh hình, sau mỗi bài học GV và HS đều có thêm niềm vui vì tự mình làm

ra “sản phẩm trí tuệ”

Qua nghiên cứu và thực nghiệm sử dụng BĐTD dạy học ở một số trường ở HàNội và Bắc Giang cho thấy nếu được hình thành thói quen vẽ BĐTD kiến thức sẽ giúpcho HS hứng thú, sáng tạo và các em nhớ lâu, vận dụng tốt kiến thức đã học Việc vậndụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho các em tư duy mạch lạc, hiểu biếtvấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể, khoa học chứ khôngphải là học vẹt, học thuộc lòng Khối lượng kiến thức ngày càng tăng theo cấp số

nhân, vì vậy sử dụng BĐTD rèn cho các em khả năng tư duy logic để có thể vận dụng

vào cuộc sống và công việc sau này khi các em học lên, trưởng thành

Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn đề, giúp GVđổi mới PPDH, giúp học sinh học tập tích cực đó chính là một trong những cách làm

thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả - một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và

Đào tạo phát động

Trang 13

Bài tập:

1/ Điền thông tin vào BĐTD sau (có thể vẽ thêm nhánh):

2/ Thiết kế một BĐTD về lập kế hoạch công tác hay hỗ trợ dạy học (một bài học hoặcmột chủ đề, một chương) theo chuyên môn của mình

Tài liệu tham khảo

1 Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán- Tạp chí Giáo dục, kì 2- tháng 9/2009.

2 Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Sử dụng BĐTD góp phần TCH HĐ

học tập của HS, Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009.

3 Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Thiết kế, sử dụng BĐTD giúp HS tự học và tập dượt nghiên cứu toán học, Tạp chí Toán học & Tuổi trẻ, số 400 (tháng 10/2010)

4 Stella Cottrell (2003), The study skills handbook (2 nd edition), PalGrave

Macmillian

5 Tony Buzan - Bản đồ Tư duy trong công việc – NXB Lao động – Xã hội.

6 Đặng Thị Thu Thủy, Cách sử dụng phần mềm bản đồ tư duy, Tạp chí Thiết bị

Giáo dục, số 51, tháng 11, 2009

Trang 14

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHẦN MỀM BẢN ĐỒ TƯ DUY

ConceptDraw MINDMAP 5 Professional (bản Demo không hạn chế số ngày sử dụng)

TS Đặng Thị Thu Thủy - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Bản đồ tư duy (BĐTD) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh,

để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa BĐTD là một ý tưởng hay hình ảnh trungtâm Ý hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng chonhững ý chính và đều được nối với ý trung tâm

BĐTD còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức “ghi chép” bằng cách

kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích

cực nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng Đặc biệt BĐTD là một sơ đồ rất mở, không

yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người

vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ

đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó theo một cách riêng do đó việc lập BĐTD phát huy

được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người

BĐTD là công cụ hữu hiệu góp phần đổi mới PPDH cũng như công tác quản lí nhàtrường và được giáo viên, học sinh đón nhận một cách hào hứng, tích cực

BĐTD có thể sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ,…hoặc cũng có thể thiết kế phần mềm bản đồ tư duy Với trường có điều kiện cơ sở hạtầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho GV, HS

sử dụng

Hiện nay có khá nhiều phần mềm để vẽ bản đồ tư duy, tuy nhiên, mỗi phần mềm

có thế mạnh và ưu điểm riêng, bản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional(bản Demokhông hạn chế ngày sử dụng- tải từ mạng Internet) mặc dầu thiếu một số chứcnăng nhưng nó hỗ trợ khá hiệu quả cho công tác quản lí và quá trình dạy học, vì vậy các

nhà quản lí, GV, HS nên làm quen với phần mềm này Cách cài đặt và hướng dẫn một

số chức năng cơ bản phần mềm miễn phí nói trên

Vào trang http://www.download.com.vn gõ vào mục tìm kiếm cụm từ

“Mindmap”, rồi theo đường dẫn ta tải về máy tính bản miễn phí ConceptDraw

professional-5.aspx

http://www.download.com.vn/more+software+tools/9101_conceptdraw-mindmap-5-Cài đặt phần mềm hết sức đơn giản: nhấn chuột liên tục và làm theo hướng dẫn tađược hình 1

Trang 15

Hình 1

nhấn vào Start to Mind Map để bắt đầu, ta được hình 2:

Hình 2

Gõ một số thông tin vào đây như

tên, địa chỉ email (không bắt buộc),

nhấn chuột vào Run in Demo mode

để bắt đầu thiết kế nội dung trên

BĐTD (hình 3)

Hình 3

Gõ Key word (tên chủ đề chính vào Main Idea) chẳng hạn “Thiết bị dạy học”.

Muốn đưa hình vẽ hay hình ảnh vào chủ đề trung tâm, ta cần vẽ hình rồi ghi (save) hình

Nhấn chuột vào đây để bắt đầu

Nhấn chuột vào Run in Demo mode để tiếp tục

Trang 16

- Tạo nhánh cấp 1( Main Topic ) : chỉ chuột vào chủ đề chính rồi nhấn Enter hoặc dùng chuột phải chọn Add topic để được Main Topic (nhánh con cấp 1), tiếp tục như vậy ta được nhiều nhánh cấp 1, gõ thông tin, nội dung cần trình bày vào các Main Topic đó (hình 4)

Hình 4

Cứ mỗi lần nhấn phím Enter ta được thêm một nhánh con cấp 1, ta có thể xoá

bớt nhánh con bằng cách chỉ chuột vào nhánh đó rồi nhấn phím Delete

- Tạo nhánh cấp 2 (Subtopic) : Chọn Main topic (nhánh cấp 1) rồi nhấn phím Ins trên bàn phím hoặc chuột phải chọn Add Subtopic ta được nhánh con của nhánh

con cấp 1 là nhánh cấp 2 (hình 5)

Hình 5

Tiếp tục quá trình trên (bằng cách chọn nhánh trước đó và nhấn phím Ins) ta

được các nhánh con cấp 2, cấp 3 … hay còn gọi là nhánh “cháu”, “chắt”… Chọn biểu

tượng (Auto Numeration) trên thanh công cụ để đánh số tự động các nhánh,

Nhấn chuột

vào dấu +

này

để tạo

nhánh

cấp 1)

Trang 17

chẳng hạn, nhánh con của nhánh 1 sẽ được đánh số 1.1; 1.2; 1.3,…nhánh con của nhánh

2 sẽ được đánh số 2.1; 2.2; 2.3,…

Để trình bày BĐTD đẹp, thể hiện lôgic vấn đề ta nên gõ thông tin ngắn gọn (là từ

khóa, keyword, tên đầu mục…) vào các hộp: Main Idea, Main Topic, Subtopic

(nhánh cháu)…không nên gõ thông tin quá dài vào các hộp này – làm mất sự tập trungvào nội dung chính

Ta có thể đưa thêm thông tin vào bằng cách dùng chú thích Add Text Note vào

mỗi một đầu mục bằng cách chọn các hộp từ khóa đó, chẳng hạn chọn hộp “khái niệm”,

nhấn chuột phải chọn Add Text Note (hình 6)

Hình 6Chẳng hạn ta chú thích khái niệm “thiết bị dạy học” mà khái niệm này ta đã có ở một

file nào đó trong word thì ta có thể copy và paste vào note bên phải trang hình 7 này.

Hình 7

Khi chú thích xong ta đóng (close) lại thì trên trang hình của BĐTD không thể hiện nội

Gõ (hoặc paste) nội dung cần chú thích vào đây

(Note)

Trang 18

Hình 8Gần giống với Powerpoint, phần mềm này có chức năng HyperLink, bằng cách

vào Insert/HyperLink hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + E, ta có thể link một nội

dung (một hộp) trên BĐTD với một trang web (Link to URL), với một nhánh khác ngaytrong BĐTD (Link to topic) với bất kì một file nào (Link to file), với một Folder (Link

to Folder), với email (Link to email) bằng cách click vào các dấu chọn rồi lựa chọntrang web, file,…cần link Chẳng hạn tích (v) vào Link to File, rồi nhấn chuột vào biểutượng trang giấy (Choose File) sẽ xuất hiện bảng sau (hình 9) cho ta lựa chọn file cầnlink

Hình 9Sau khi chọn file cần link nhấn Open, trên màn hình của BĐTD sẽ xuất hiệnthêm biểu tượng của đường link đó

Đổi màu chữ, cỡ chữ,… ta chọn hộp đó rồi nhấn chuột phải vào Fomart/ Text (hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + T), hoặc bôi đen phần chữ cần thay đổi rồi nhấn chuột phải vào Font

Để thay đổi hình thức (kiểu bố cục) của bản đồ ta vào Format chọn Map Theme để chọn kiểu phù hợp (hình 10)

Click vào đây để chọn file cần link

Trang 19

Hình 10

Ta có thể chọn và xem thử trước khi quyết định chọn kiểu nào đó cho phù hợp

Chẳng hạn chọn Map theme/ MM4 (hình 11), Map Theme/ Dotted Line (hình 12),

Hình 12

Hình 11Khi thiết kế BĐTD môn Toán, Vật lí,… cần hình vẽ hay các công thức, kí hiệu ta có thểsoạn thảo trên Mathtype hoặc Sketchpad rồi copy và đưa sang Riêng hình vẽ cần Save

dưới dạng ảnh (.JPEG), có thể vẽ và đưa vào Paint rồi ghi (Save) lại hình vẽ đó dạng JPEG Trên phần mềm Mindmap để thêm hình ảnh hay hình vẽ, ta sử dụng chuột phải chọn Insert/ Picture rồi tìm chọn fie ảnh có trong máy tính để đưa vào MindMap

(hình 13)

Chọn kiểu bản đồ

ở đây

Trang 20

Có thể copy hình vẽ, công thức toán từ phần mềm Sketchpad rồi paste vào mànhình của Mindmap Copy hộp AutoShapes/Callouts ở word chú thích vào màn hình củaMindmap…

Đưa chữ viết, hình vẽ, công thức toán vào trang bản đồ tư duy (để tự do- có thểnhấc từ chỗ này sang chỗ kia) hoặc để vào nhánh ta copy chữ viết, hình vẽ, công thứctoán… từ một trang khác (hay phần mềm khác) rồi paste vào màn hình của bản đồ tưduy (hình 14):

Đưa hình vẽ, công thức toán vào phần mềm BĐTD bằng cách vẽ hình trên phầnmềm Sketchpad rồi copy và passte vào môi trường của phần mềm BĐTD

Hình 15Lưu (ghi) file vào máy: Do sử dụng bản Demo nên không sử dụng chức năng

Save ngay trên thanh công cụ phía trên mà hình được mà chỉ khi ta đóng màn hình

(nhấn chuột vào dấu x ở bên trên góc phải màn hình- hình 16) thôi không làm việc ởfile đó của phần mềm thì phần mềm mới có câu lệnh cho ta ghi (save) và đặt tên file đểlưu vào máy được (chú ý tên file đặt tiếng Việt không dấu)

Trang 21

Tuy nhiên, các lần sau vẫn có thể mở file để sửa chữa bổ sung thêm Nếu phầnmềm này dùng có bản quyền thì sẽ có thêm một số chức năng như xuất file dưới dạngảnh hoặc dưới dạng file trình diễn Powerpoint có đuôi là ppt để có thể trình diễn khikhông có phần mềm BĐTD

Hình 16Sau khi thiết kế hoàn chỉnh nội dung cho một BĐTD, có thể sử dụng nó bằngcách nhấn chuột vào các biểu tượng (ngay trên mỗi hộp) sẽ có dấu “+” hoặc “–”hiện ra, ta nhấn dấu trừ (để dấu bớt nhánh), nhấn các dấu “+” (để hiển thị thêm nhánh).Khi sử dụng để dạy học hoặc thuyết trình một vấn đề ta sử dụng các dấu “+” , “–” đểcho nó xuất hiện hoặc dấu đi, sử dụng các note (chú thích) để diễn giải thêm, sử dụngcác đường Link để minh hoạ vấn đề…

Có thể sử dụng phần mềm này để thiết kế các BĐTD dạy kiến thức mới, củng cốkiến thức một bài, hệ thống hoá kiến thức một chủ đề, một chương của các môn họckhác nhau hoặc các hoạt động ngoại khoá, lập kế hoạch công việc…

Có thể thiết kế BĐTD trên bảng phụ, giấy, bìa bằng cách dùng bút màu, bút chì,tẩy,…để vẽ, viết, tuy nhiên ưu điểm của việc dùng phần mềm Mindmap là thiết kếnhanh, hình ảnh trực quan, đẹp, dễ thay đổi, thêm, bớt thông tin, dễ lưu vào máy tính,

dễ chia sẻ cho đồng nghiệp,…

Nhấn chuột vào dấu x này mới lưu (save) được file vào máy

Trang 22

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

- Nắm được các kĩ năng cần thiết (manual & software) và biết lập một bản đồ tưduy cho một công việc cụ thể;

- Hướng dẫn được cho người khác các kĩ năng lập bản đồ tư duy;

Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học viên Kết quả mong muốn

60’ - Giới thiệu bản đồ tư duy và

tư duy bằng bản đồ

- Giới thiệu Đặc điểm cơ bản

trong học tập 3 phân môn

- HV nhận thức được lợithế và hạn chế của việc sửdụng bản đồ tư duy trongdạy học văn

- Nắm được kĩ năng lậpbản đồ tư duy trong dạyhọc Ngữ văn

- Thực hành lập bản đồ theo

kế hoạch của nhóm

- Có được các kĩ năng lập

sơ dồ tư duy

- Thực hiện được việc lậpmột bản đồ tư duy về mộtvấn đề cụ thể

60’ Hướng dẫn thảo luận trên cơ

- Cử đại diện Trình bày bản

- HV hoàn thiện nhậnthức và kĩ năng lập sưo

đồ tư duy;

- Biết phân tích, nhận xét,

Trang 23

- Nhận xét sản phẩm của các

nhóm

- Kết luận nêu ra được những

điều nên vận dụng và không

nên vận dụng

đồ tư duy của nhóm

- Nêu những thắc mắc khithực hành lập bản đồ tư duy;

- Nhận xét sản phẩm của cácnhóm khác

- Trả lời các câu hỏi của GV

góp ý cho các bản đồ tưduy của nhóm khác;

C Tài liệu và phương tiện

- Máy tính, máy chiếu

- Giấy A0, A4, bút màu

- Phiếu học tập

D Nội dung bài học

I.Tư duy, bản đồ tư duy và tư duy bằng bản đồ

Tư duy là một khái niệm dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem nhữngcảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sựvật Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được

từ trước, phát triển những suy nghĩ tiếp theo, là giai đoạn cao của quá trình nhận thức,

đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nhưbiểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí

Bản đồ (hay sơ đồ) là bản vẽ đơn giản ghi lại những nét chính của sự vật, sựviệc, hoạt động Vậy bản đồ tư duy (còn gọi là bản đồ tư duy) là bản vẽ ghi lại nhữngnét chính về nhận thức của con người về một sự vật (sự việc) nào đó

Bản đồ tư duy được coi là công cụ ghi chú tối ưu do Tony Buzan (sinh năm 1942tại Luân Đôn) khởi xướng Sự khác nhau cơ bản giữ ghi chú truyền thống và ghi chúbằng bản đồ tư duy là: Nếu ghi chú truyền thống chỉ lấy “chữ” làm phương tiện biểuhiện theo một trật tự nhất định (thường là từ trên xuống dưới, từ trái sang phải), thì bản

đồ tư duy sử dụng cả đường nét, hình vẽ, mầu sắc…lại được người sử dụng thiết kế phituyến tính hoàn toàn theo sở thích cá nhân của họ Người ta nói rằng “nếu “ghi chépthông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con số….thì chúng ta chỉ sử dụng một nửa của

bộ não – não trái mà chưa hề sử dụng kĩ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng xử lícác thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng”

Tư duy bằng bản đồ là dùng hình ảnh, đường nét, màu sắc, ngôn ngữ ghi lại nhậnthức của mình về sự vật, sự việc, hoạt động…định hướng phát triển của sự vật, sự việc,hoạt động đó theo cách nhìn nhận của mỗi cá nhân

Trang 24

Bảng so sánh

STT Cách biểu hiện Tư duy truyền thống Tư duy bằng bản đồ

So sánh 2 cách biểu hiện sau và rút ra nhận xét:

II.Bản đồ tư duy với học tập môn Ngữ văn

2.1 Đặc điểm môn Ngữ văn và phương pháp dạy học Ngữ văn

Môn Ngữ văn gồm ba phân môn nhỏ là: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Tuy

có chung một mục đích giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe,nói, đọc viêt, nhưng chúng có vị trí độc lập tương đối bởi những mục tiêu riêng biệt củatừng phân môn Theo đó, ba phân môn lại có phương pháp dạy học đặc thù

Trang 25

Với phân môn Văn học, trong tâm là đọc - hiểu văn bản văn học Giáo viên là

người hướng dẫn và tổ chức để học sinh biết cách đọc tác phẩm, tìm ra cái hay, cái đẹptrong tư tưởng, tình cảm, cách thể hiện của người viết bằng chính nhận thức của các em

Với phân môn Tiếng Việt, trước hết phải hình thành ở học sinh THCS năng lực

sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản nghe, nói, đọc, viết, qua đó mà

rèn luyện tư duy Thứ hai, giúp cho học sinh có những hiểu biết nhất định về tri thức

tiếng Việt và ngôn ngữ (từ, câu, đoạn ) để có ý thức sử dụng tiếng Việt đúng đắn vàtrong sáng Trên cơ sở đó mà làm cho các em yêu quý tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, bảo

vệ, phát triển tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm.Những kiến thức tiếng Việt sau được học ở lớp 8:

Môn Làm văn, chủ yếu mang tính thực hành, vận dụng những kiến thức văn

học, tiếng Việt và đời sống xã hôi để tạo lập văn bản (nói hoặc viết) Học sinh phải thựchiện tốt những bài làm văn nghệ thuật, nghị luận và văn nhật dụng.Trong khi làm văn,học sinh không chỉ là người thiết kế mà còn phải là người thi công, biêt xây dựng kếhoạch và thực hiện và đánh giá kế hoạch

Dưới đây là bảng sơ lược những kiến thức Ngữ văn cơ bản được học ở cấpTHCS theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành

Lớp 6

Truyện dân gianTruyện ngắn hiện đại

Kí, Văn bản nhật dụngThơ hiện đại

TừCâu

Văn tự sựVăn miêu tả

Lớp 7

Truyện ngắn hiện đại

Ca dao, tục ngữThơ trung đạiVăn nghị luận

TừCâu

Văn biểu cảmVăn nghị luận (chứng minh)

Lớp 8

Truyện hiện đại;

Thơ cận đại, hiện đại,

Kịch

TừCâuĐoạn

Văn thuyết minhVăn bản tường trìnhLớp 9

Truyện trung đại; Truyện,thơ, kịch hiện đại; văn bản

nhật dụng

TừLiên kết câu

Phân tích và tổng hợpNghị luận văn học

Trang 26

Xác lập bản đồ phân môn tiếng Việt 6

Xác lập bản đồ phân môn tiếng Việt 7

Như vậy, nhìn qua việc hệ thống kiến thức trên, chúng ta thấy cũng như các mônhọc khác, môn Ngữ văn hoàn toàn có thể sử dụng bản đồ tư duy làm công cụ học bài.Dùng bản đồ tư duy làm công cụ giúp cho người học sơ đồ hoá toàn bộ kiến thức mônhọc, bài học mon Ngữ văn Tuy nhiên, bản đồ tư duy có phải là công cụ vạn năng ? Bản

đồ tư duy có thể vận dụng trong mọi trường hợp ? Với GV, bản đồ tư duy có thể dùng

để soạn bài ? Với HS, có thể ghi bài theo bản đồ tư duy ? …là những câu hỏi mà ngườihoc đều phải tìm lấy câu trả lời riêng cho mình

Trang 27

Vì sao vậy ?

Với môn Ngữ văn, bản đồ tư duy dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả?

2.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn

Dưới đây là một số bản đồ tư duy cụ thể giúp cho việc học Ngữ văn HV quan sát

và cho biết có thể dùng bản đồ tư duy vào dạy học Ngữ văn trong những trường hợp nào?

Chiếu dời đô (Ngữ văn 8)

Hệ thống kiến thức Ngữ văn

Trang 28

Tóm tắt văn bản tự sự (NV 8)

Kiến thức về câu tiếng Việt

Trang 31

Ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới phương pháp dạy học

TS Đặng Thị Thu Thủy, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

“Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ tin học, vừa là công nghệ, vừa là kỹ thuật, bao trùm cả tin học, viễn thông và tự động hóa” (Nghị quyết 49/CP của Chính

phủ về phát triển CNTT của Việt Nam năm 1996)

Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ

kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin

số (Luật CNTT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 11, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2006).

1.Khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin trong dạy học

CNTT tạo cơ hội học tập chính quy và không chính quy cho tất cả mọi người ở mọilứa tuổi và hoàn cảnh khác nhau, đặc biệt là những người thiếu điều kiện học tập CNTTkhông yêu cầu việc học tập phải liên tục mà mỗi người có thể lựa chọn thời gian và khônggian phù hợp Học tập trở nên không bị giới hạn cả không gian và thời gian

CNTT có nhiều điểm mạnh về kĩ thuật, sau đây là một số ưu điểm nổi bật có thểkhai thác trong giáo dục:

- Kĩ thuật đồ họa được nâng cao tạo điều kiện mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội mà con người không thể hoặc không để xảy ra trong nhà

trường, không thể hoặc khó có thể được thể hiện nhờ những phương tiện khác

- Môi trường CNTT người học phát huy được tất cả các kỹ năng về nhìn, nghe, nói, đọc, viết vốn là bản năng của con người Trong môi trường CNTT hợp tác, tư vấn,

đối thoại trở nên quan trọng GV đóng vai trò là người cố vấn, giúp đỡ HS tự tìm kiếm

để nghiên cứu, tự biến đổi thông tin thành tri thức, thành kỹ năng HS thật sự được chủđộng, biết tự thích nghi, tự kiểm soát và tự điều chỉnh Kiến thức được tạo dựng mộtcách tích cực bởi các cá nhân người học Sự đa dạng của các nguồn thông tin có sẵnthông tạo ra các cơ hội học tập, tự hướng dẫn cho người học, hoặc học tập một cách

Trang 32

- Sự hòa nhập giữa CNTT và truyền thông dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ, tạo điều

kiện để mọi người có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian và khônggian Giao tiếp người- máy ngày càng được hoàn thiện làm cho CNTT và truyền thôngngày càng thân thiện với người sử dụng

- CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới một “xã hội học tập” Mặt khác giáo dục

và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông quaviệc cung cấp nguồn lực cho CNTT

Ngày nay, việc sử dụng máy tính điện tử với vai trò chức năng là phương tiện dạyhọc hiện đại đã trở thành một trào lưu có quy mô quốc tế và là xu thế của giáo dục trênthế giới Mục đích cần đạt tới của việc sử dụng máy tính điện tử và đưa các phần mềmvào trong trường học là:

- Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học

- Nhằm đạt hiệu quả cao trong các khâu của quá trình dạy học: Hướng đích và gợiđộng cơ; Làm việc với nội dung mới; Luyện tập, củng cố; Kiểm tra, đánh giá

Các phần mềm dạy học, phần mềm chuyên dụng phát triển mạnh tạo điều kiệnthuận lợi cho người sử dụng và hỗ trợ quá trình dạy học

Theo Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020 “CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu đểthực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông là yếu tố

có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năngsuất, hiệu suất lao động Ứng dụng CNTT và truyền thông phải gắn với quá trình đổimới và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phải được lồng ghép trong cácchương trình, hoạt động chính trị, quản lý, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ

và an ninh quốc phòng”

2 Các hình thức ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học

1 GV sử dụng CNTT hỗ trợ quá trình dạy học: sử dụng phần mềm dạy học, khaithác thông tin Internet, sử dụng máy vi tính, máy chiếu…

2 Học sinh tra cứu tài liệu trên mạng nội bộ hoặc internet hỗ trợ học tập

3 Học sinh làm việc trực tiếp với máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, mạngInternet,… dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của GV

4 Học sinh học tập độc lập nhờ CNTT và truyền thông, đặc biệt là máy tính vàmạng Internet (học trực tuyến, e-learning, bài giảng điện tử,…)

Trang 33

3 Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới phương dạy học

3.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về CNTT

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công nghệ thông tin, đào tạo, tập huấnchuyên môn, quản lý về công nghệ thông tin, am hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp …trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin nó chung như sở hữu trí tuệ, luật bản quyền

Tổ chức phổ biến và quán triệt thực hiện các văn bản pháp quy của Nhà nước vềCNTT đối với giáo dục và đào tạo Các cơ sở giáo dục, các cơ quan quản lý giáo dục

có thể tra cứu các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành về CNTT

Tổ chức quán triệt và nâng cao nhận thức, trách nhiệm đến cán bộ và giáo viêntrong toàn ngành ở địa phương, trước hết cho lãnh đạo các đơn vị, các cơ sở giáo dục

và đào tạo

Triển khai thực hiện Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chínhphủ về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước

3.2 Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng CNTT cho GV

Vai trò của GV trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông có

ý nghĩa hết sức quan trọng Người giáo viên cần có những kiến thức và kĩ năng CNTTnào để có thể tích hợp CNTT vào quá trình dạy học một cách hiệu quả: kĩ năng sử dụngmáy tính và một số thiết bị CNTT thông dụng nhất

i) Kĩ năng tin học cơ bản như: khái niệm về hệ điều hành, tập tin, thư mục,

đường dẫn, ổ đĩa, … GV cần có kĩ năng sử dụng các lệnh của một hệ điều hành cụ thể(như hệ điều hành windows chẳng hạn) để điều khiển máy tính phục vụ công việc củamình: xem thư mục, tạo lập thư mục mới, chép và xoá tệp, chép và xoá thư mục, … Máy tính sẽ thực sự là một người trợ giúp hoàn hảo, nếu người GV biết sử dụng

nó để thực hiện một số công việc thường nhật như tính toán, thống kê số liệu, soạn thảovăn bản, lập kế hoạch và kiểm soát kết qua thực hiện kế hoạch, muốn vậy, GV cần có

kĩ năng sử dụng các phần mềm quan trọng như: soạn thảo văn bản, phần mềm trìnhdiễn powerpoint, bảng tính điện tử, phần mềm quản lí công việc…

ii) Kĩ năng sử dụng Internet

Trong thế giới hiện đại, Internet đã trở nên một công cụ không thể thiếu tronghoạt động nghề nghiệp của người GV Các kĩ năng sử dụng Internet sẽ giúp người giáoviên trong tìm kiếm thông tin, trong trao đổi với học sinh, đồng nghiệp…

- Tìm kiếm thông tin trên Internet

Kĩ năng tra cứu, xử lý thông tin là một trong những kĩ năng quan trọng nhất hiện nay

Trang 34

- Gửi và nhận thông tin qua Internet : GV biết lập hộp thư điện tử, gửi và nhận

email,

- Trao đổi thông qua Internet : GV có thể trao đổi về kiến thức chuyên môn, về

kinh nghiệm dạy học… không chỉ giới hạn trong khuôn khổ tổ chuyên môn trongtrường mà nó được mở rộng trong phạm vi lớn hơn, cho phép các giáo viên từ nhiềuvùng trong cả nước có thể tham gia thảo luận cùng một chủ đề chuyên môn

Để khai thác, sử dụng internet vào dạy học có hiệu quả, trong khi lập kế hoạch năm học của giáo viên bộ môn cần lưu ý:

- Nghiên cứu nội dung, chương trình, chuẩn kiến thức môn học mà lớp mình đanggiảng dạy để lập kế hoạch tìm kiếm, thu thập những thông tin hỗ trợ một số bài học,một số chủ đề trên một số trang web (ngoài các sách tham khảo thông thường khác)

- Cung cấp cho HS một số trang web có thể tìm kiếm thông tin hỗ trợ môn học và hướng dẫn HS cách thức tra cứu, tìm kiếm, lựa chọn thông tin.

Có thể khai thác, tìm tư liệu ở một số trang http://www.moet.gov.vn;http://www.edu.net.vn/ ; (trang web của Bộ Giáo dục và đào tạo);http://www.google.com.vn; http://vi.wikipedia.org (bách khoa toàn thư mở tiếng Việt);http://en.wikipedia.org (bách khoa toàn thư mở tiếng Anh), một số trang chuyên sâutoán phổ thông bằng tiếng Anh như: http://www.heymath.com ; http://www.math-tests.com/ ; http://www.math-play.com/ …

- Đưa ra một số chủ đề ngoại khóa cho HS lựa chọn GV có thể tổ chức các cuộc

thi nhỏ trong lớp hay khối lớp nhằm khuyến khích HS trong việc khai thác Internet.Cần chọn lựa các thông tin liên quan đến nội dung bài học ở những trang web có uy tínchuyên môn Không phải tất cả các nguồn thông tin trên mạng Internet đều chính xác Trongcác bài viết lấy từ Internet cần ghi rõ ngày tải xuống cùng với địa chỉ của trang web đó

iii) Kĩ năng sử dụng các phần mềm dạy học trong chuyên môn

Phần mềm dạy học đặc biệt là các phần mềm công cụ tạo ra môi trường học tập mớicho học sinh, giúp học sinh khám phá, giải quyết vấn đề, sáng tạo Có nhiều PMDHkhác nhau, GV cần biết lựa chọn phần mềm phù hợp với nội dung dạy học, đối tượnghọc sinh cũng như điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin Chẳng hạn với môntoán, do đặc thù riêng của môn học nên có các tình huống điển hình cần quan tâm như:

sử dụng PMDH để dạy học khái niệm, sử dụng PMDH để dạy học định lý, sử dụngPMDH để giúp HS giải bài tập toán

Biết sử dụng các phần mềm công cụ (PMCC) để thiết kế bài giảng điện tử :

Các PMCC không thể thích ứng hết với mọi trường hợp riêng lẻ của quá trình dạy học,không thể phù hợp với mọi đối tượng HS Không có PMCC nào là vạn năng cả, GV

Trang 35

cần biết sử dụng các PMCC để tạo ra các bài giảng điện tử phù hợp với nội dung dạyhọc, đối tượng học sinh để có thể đạt được mục tiêu dạy học đã đặt ra.

Hiện nay, có nhiều phần mềm công cụ dành riêng cho GV hỗ trợ tạo các bàigiảng điện tử cho cá nhân như phần mềm Mindmap (vẽ bản đồ tư duy), Violet,LectureMaker (phần mềm tạo bài giảng), Flash tạo các hình ảnh động; Geometer’sSketchpad, GeoGebra, Cabri (môn Toán); phần mềm Crocodile Physics (môn Vật lý);Crocodile Chemistry (môn Hóa)… Giáo viên cần có kĩ năng sử dụng một phần mềmcông cụ nào đó và có khả năng tạo ra các PMDH cá nhân phục vụ việc dạy học một sốchương, bài thuộc bộ môn mình phụ trách

iv).Tăng cường nâng cao trình độ, học từ xa

Trong điều kiện xã hội phát triển, yêu cầu về kiến thức, tay nghề đối với giáo viênngày càng tăng GV cần tham gia các khoá học nâng cao trình độ thường xuyên Tuyvậy, do điều kiện công tác của mình, GV không thể tham gia các khóa bồi dưỡng tậptrung dài hạn Hiện nay, đã có nhiều cổng đào tạo trong nước, có các khóa học đượcđưa lên Internet, GV có thể theo học các khóa học trên hoặc tự tìm kiếm tài liệu, tự học

để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm

3.3 Nâng cấp cơ sở hạ tầng CNTT

Theo luật công nghệ thông tin: Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị

phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số,

bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu

Theo Luật CNTT: “Huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuậtcủa các tổ chức nghiên cứu - phát triển công nghệ thông tin; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu - phát triển công nghệ thông tin; đầu tưmột số phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ thông tin đạt tiêu chuẩn quốc tế; ban hànhquy chế sử dụng phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ thông tin”

Tăng cường đầu tư hạ tầng thiết bị CNTT phục vụ cho công tác dạy tin học vàứng dụng CNTT vào dạy học các môn học

Khuyến khích đầu tư trang thiết bị CNTT cho các trường THCS và Tiểu học đểứng dụng CNTT theo hướng tích hợp trong các môn học

Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng tối thiểu như máy tính và thiết bị ngoại vi cho cáctrường ở vùng khó khăn để giáo viên có điều kiện tiếp cận với CNTT, với Internet

3.4 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học

Theo quan điểm dạy học hiện đại thì quá trình dạy học không chỉ đơn thuần

Trang 36

người lao động mới, đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng và ngày càng tăng của xã hội

không ngừng phát triển

Trước kia người ta chú ý đến việc dạy sao cho HS hiểu bài, nhớ lâu thì nay phải

đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho HS các phương pháp học, làm sao để HS

tự chiếm lĩnh kiến thức và chú ý đặc biệt đến việc phát triển năng lực sáng tạo của HS.

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, nhằm hình thành cho HS tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.

Trong dạy học cần lưu ý:

• Hình thành các tính huống có vấn đề từ nội dung dạy học, xây dựng kế hoạch hướng dẫn cho HS tự giải quyết vấn đề

• Tăng cường các hoạt động tìm tòi, quan sát, thí nghiệm, làm báo cáo…

• Thay đổi các hình thức tổ chức học tập trong điều kiện cho phép, tạo điều kiện cho HS được hoạt động, tranh luận tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau…

• Tận dụng tối đa phương tiện, TBDH với tư cách là phương tiện nhận thức mà không đơn thuần chỉ là minh hoạ giản đơn

Theo Thông báo kết luận của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại hội thảo 'Chỉ đạo, quản

lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông' ngày 3/1/2009:

Để đổi mới PPDH, mỗi giáo viên phải thực hiện tốt các yêu cầu sau đây: Nắm

vững nguyên tắc đổi mới PPDH, hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp học tập, coitrọng tự học và biết xây dựng các tài liệu chuyên môn phục vụ đổi mới PPDH

Tăng cường học hỏi đồng nghiệp là những giáo viên dạy giỏi có PPDH tiên tiến

ở địa phương và giáo viên giỏi cùng môn để học hỏi kinh nghiệm ở trong trường vàtrường bạn

Biết cách tiếp nhận những thông tin phản hồi từ sự đánh giá nhận xét xây dựngcủa học sinh về PPDH và giáo dục của mình; kiên trì phát huy mặt tốt, khắc phục mặtyếu, tự tin, không tự ty hoặc chủ quan thỏa mãn

Hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập và biết cách tự học, tiếp nhận kiếnthức và rèn luyện kỹ năng, tự đánh giá kết quả học tập; tự giác, hứng thú học tập

Trách nhiệm của tổ chuyên môn

- Phải hình thành giáo viên cốt cán về đổi mới PPDH

- Thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp và nghiêm túc rút kinh nghiệm, tổ chứcsinh hoạt chuyên môn với nội dung phong phú, thiết thực, động viên tinh thần cầu thịtrong tự bồi dưỡng của giáo viên, giáo dục ý thức khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm vàsẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp

Trang 37

- Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những giáo viên tích cực đổi mớiPPDH và thực hiện đổi mới PPDH có hiệu quả.

Trang 38

Trách nhiệm của hiệu trưởng

- Phải phấn đấu làm người đi tiên phong về đổi mới PPDH

- Kiên trì tổ chức hướng dẫn giáo viên thực hiện đổi mới PPDH

- Chăm lo các điều kiện, phương tiện phục vụ giáo viên đổi mới PPDH

- Tổ chức hợp lý việc lấy ý kiến của giáo viên và học sinh về chất lượng giảngdạy, giáo dục của từng giáo viên trong trường

- Đánh giá sát đúng trình độ, năng lực và sự phù hợp trong PPDH của từng giáoviên trong trường, từ đó, kịp thời động viên, khen thưởng những giáo viên thực hiện đổimới PPDH mang lại hiệu quả

Tài liệu tham khảo:

1 Đào Thái Lai, Những yêu cầu về Kĩ năng về CNTT của Giáo viên

2 http://www.moet.edu.vn/?page=1.1&view=962 Thông báo kết luận của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại hội thảo 'Chỉ đạo, quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông'

3 Luật Công nghệ thông tin

Trang 39

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

ThS Vương Thị Phương Hạnh

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

1 Một số vấn đề về môn Địa lí Trung học cơ sở

Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về TráiĐất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc tế, làm cơ sởcho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tình cảm đúng đắn; đồng thờirèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên,

xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế của thời đại Cùng với các môn họckhác, môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểubiết khoa học, tình yêu thiên nhiên, con người và đất nước Theo đó, mục tiêu của mônĐịa lí chú trọng đến việc hình thành và rèn luyện cho học sinh các năng lực cần thiếtcủa người lao động mới Để đạt được mục tiêu này thì cần thiết phải có sự đổi mới sáchgiáo khoa và phương pháp dạy học một cách phù hợp và tương xứng

Quán triệt những đổi mới về mục tiêu, chương trình Địa lí Trung học cơ sở đượcthiết kế thành 03 mảng lớn có quan hệ chặt chẽ với nhau Các bộ phận cơ bản này củachương trình có mục đích cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về:

+ Trái Đất - Môi trường sống của con người (cấu tạo, vận động, các thành phần

tự nhiên và tác động qua lại giữa chúng, một số qui luật của môi trường tự nhiên trênTrái Đất)

+ Thiên nhiên và con người ở các Châu lục (các hoạt động của dân cư trên TráiĐất; mối quan hệ giữa dân cư, hoạt động sản xuất và môi trường, đặc điểm tự nhiên,dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới)

+ Địa lí Việt Nam (đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế vànhững vấn đề đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của đất nước, của cácvùng và địa phương nơi HS đang sống)

Trang 40

Hình 1: Chương trình Địa lí Trung học cơ sở

Tất cả những kiến thức này đều có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau, đòihỏi ở người học không chỉ khả năng tiếp nhận thông tin đơn thuần mà cần biết cáchphân tích, so sánh, liên kết các vấn đề để tìm ra kiến thức Phù hợp với chương trìnhmới, sách giáo khoa được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để giáo viên tổ chức chohọc sinh học tập một cách tự giác và tích cực Nếu như sách giáo khoa cũ được trìnhbày theo lối thông báo – giải thích – minh họa thì với cách trình bày trong sách giáokhoa mới đòi hỏi giáo viên phải tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, phảikhai thác kênh chữ, kênh hình để có thêm kiến thức

Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạy học bộmôn cũng phải đổi mới theo Do đó, phương pháp dạy học Địa lí theo định hướng mới,sách giáo khoa mới không chỉ buộc học sinh phải “mới” trong cách học mà còn buộcgiáo viên phải “mới” trong cách dạy Theo đó, giáo viên cần đầu tư nhiều hơn về thờigian và trí tuệ trong bài dạy, vừa để làm rõ những nội dung kiến thức ẩn chứa ở kênhhình, kênh chữ, cũng như tìm ra cách thức và phương pháp nhằm hướng dẫn cho họcsinh cách tự khai thác và lĩnh hội kiến thức Bên cạnh việc chú ý phát triển ở học sinhcác kĩ năng bộ môn (kĩ năng làm việc với các thiết bị dạy học, các nguồn tư liệu địalí ) việc rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, kĩ năng trình bày, giảiquyết vấn đề cũng hết sức quan trọng và đặc biệt là phát triển kỹ năng tư duy

Ngày đăng: 20/10/2014, 22:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 Gõ   một   số   thông   tin   vào   đây   như - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 2 Gõ một số thông tin vào đây như (Trang 15)
Hình 1 nhấn vào Start to Mind Map để bắt đầu, ta được hình 2: - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 1 nhấn vào Start to Mind Map để bắt đầu, ta được hình 2: (Trang 15)
Hình 4 Cứ mỗi lần nhấn phím Enter ta được thêm một nhánh con cấp 1, ta có thể xoá  bớt nhánh con bằng cách chỉ chuột vào nhánh đó rồi nhấn phím Delete - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 4 Cứ mỗi lần nhấn phím Enter ta được thêm một nhánh con cấp 1, ta có thể xoá bớt nhánh con bằng cách chỉ chuột vào nhánh đó rồi nhấn phím Delete (Trang 16)
Hình 5 Tiếp tục quá trình trên (bằng cách chọn nhánh trước đó và nhấn phím   Ins) ta - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 5 Tiếp tục quá trình trên (bằng cách chọn nhánh trước đó và nhấn phím Ins) ta (Trang 16)
Hình 6 Chẳng hạn ta chú thích khái niệm “thiết bị dạy học” mà khái niệm này ta đã có ở một  file nào đó trong word thì ta có thể copy và paste vào note bên phải trang hình 7 này. - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 6 Chẳng hạn ta chú thích khái niệm “thiết bị dạy học” mà khái niệm này ta đã có ở một file nào đó trong word thì ta có thể copy và paste vào note bên phải trang hình 7 này (Trang 17)
Hình 9 Sau khi chọn file cần link nhấn Open, trên màn hình của BĐTD sẽ xuất hiện  thêm biểu tượng của đường link đó. - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 9 Sau khi chọn file cần link nhấn Open, trên màn hình của BĐTD sẽ xuất hiện thêm biểu tượng của đường link đó (Trang 18)
Hình 8 Gần giống với Powerpoint, phần mềm này có chức năng HyperLink, bằng cách  vào Insert/HyperLink hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + E, ta có thể link một nội  dung (một hộp) trên BĐTD với một trang web (Link to URL), với một nhánh khác  ngay trong  - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 8 Gần giống với Powerpoint, phần mềm này có chức năng HyperLink, bằng cách vào Insert/HyperLink hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl + Shift + E, ta có thể link một nội dung (một hộp) trên BĐTD với một trang web (Link to URL), với một nhánh khác ngay trong (Trang 18)
Hình 10 Ta có thể chọn và xem thử trước khi quyết định chọn kiểu nào đó cho phù hợp. Chẳng  hạn chọn Map theme/ MM4 (hình 11),  Map Theme/ Dotted Line  (hình 12),… - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 10 Ta có thể chọn và xem thử trước khi quyết định chọn kiểu nào đó cho phù hợp. Chẳng hạn chọn Map theme/ MM4 (hình 11), Map Theme/ Dotted Line (hình 12),… (Trang 19)
Hình 11 Khi thiết kế BĐTD môn Toán, Vật lí,… cần hình vẽ hay các công thức, kí hiệu ta có thể  soạn thảo trên Mathtype hoặc Sketchpad rồi copy và đưa sang - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 11 Khi thiết kế BĐTD môn Toán, Vật lí,… cần hình vẽ hay các công thức, kí hiệu ta có thể soạn thảo trên Mathtype hoặc Sketchpad rồi copy và đưa sang (Trang 19)
Hình 15 Lưu (ghi) file vào máy: Do  sử dụng bản Demo nên không sử dụng chức năng  Save ngay trên thanh công cụ phía trên mà hình được mà  chỉ khi ta đóng màn hình  (nhấn chuột vào dấu x ở bên trên góc phải màn hình- hình 16) thôi không làm việc ở  file đó - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 15 Lưu (ghi) file vào máy: Do sử dụng bản Demo nên không sử dụng chức năng Save ngay trên thanh công cụ phía trên mà hình được mà chỉ khi ta đóng màn hình (nhấn chuột vào dấu x ở bên trên góc phải màn hình- hình 16) thôi không làm việc ở file đó (Trang 20)
Bảng so sánh - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Bảng so sánh (Trang 24)
Hình 1: Chương trình Địa lí Trung học cơ sở - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 1 Chương trình Địa lí Trung học cơ sở (Trang 40)
Hình 2: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin) - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 2 BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin) (Trang 42)
Hình 3: BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin) Sau khi đã hoàn thiện bản đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về cơ cấu ngành dịch  vụ hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khoá  trung tâm - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 3 BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin) Sau khi đã hoàn thiện bản đồ, học sinh cần rút ra nhận xét về cơ cấu ngành dịch vụ hay nói cách khác là nhận xét về mối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khoá trung tâm (Trang 43)
Hình 4: Bản đồ tư duy Các vùng kinh tế - Thiết kế, sử dụng BĐTD đổi mới PPDH và hỗ trợ công tác quản lý nhà trường
Hình 4 Bản đồ tư duy Các vùng kinh tế (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w