1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam

44 788 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tích những hạn chế, bất cập trong hoạt động và cơ cấu tổ chức giám sát tài chính đồng thời phân tích những kinh nghiệm và thông lệ quốc tế để đề xuất một số giải pháp trong đó chứng minh

Trang 1

HỆ: CHÍNH QUY

Hà Nội – Tháng 8 Năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 3

MỞ ĐẦU 4

Tính cấp thiết của đề tài 4

Mục tiêu nghiên cứu 4

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 5

Cấu trúc niên luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIÁM SÁT TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 6

1.1 Tổng quan về giám sát tài chính 6

1.1.1 Mục đích 6

1.1.2 Đối tượng 7

1.1.3 Phạm vi và nội dung 8

1.2 Các mô hình giám sát tài chính trên thế giới 8

1.2.1 Mô hình giám sát theo thể chế và trường hợp của Trung Quốc 9

1.2.2 Mô hình giám sát theo chức năng và trường hợp của Italy 12

1.2.3 Mô hình giám sát hợp nhất và trường hợp của Vương quốc Anh 15

1.2.4 Mô hình giám sát lưỡng đỉnh và trường hợp của Úc 19

1.2.5 Mô hình ngoại lệ và trường hợp của Mỹ 22

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN MÔ HÌNH GIÁM SÁT TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TẠI VIỆT NAM 24

Trang 3

2.1 Thực trạng hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam 24

2.2 Một số đề xuất đối với việc áp dụng mô hình giám sát tài chính hợp nhất ở Việt Nam 35

2.2.1 Sự cần thiết 35

2.2.2 Những thách thức 36

2.2.3 Yêu cầu đối với giám sát tài chính hợp nhất và khuôn khổ pháp lý 37

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT Số hiệu

1 Hình 1.1 Cấu trúc mô hình giám sát theo thể chế 9

2 Hình 1.2 Mô hình giám sát tài chính của Trung Quốc 11

3 Hình 1.3 Cấu trúc mô hình giám sát theo chức năng 13

4 Hình 1.4 Mô hình giám sát tài chính của Italy 14

5 Hình 1.5 Cấu trúc mô hình giám sát hợp nhất 16

6 Hình 1.6 Mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh 17

7 Hình 1.7 Cấu trúc mô hình giám sát lưỡng đỉnh 20

9 Hình 2.1 Mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam 24

10 Hình 2.2 Bộ máy tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân

11 Hình 2.3 Bộ máy giám sát thị trường chứng khoán 27

12 Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy giám sát của Cục quản lý và

Trang 5

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã được nhiều nghiên cứu phân tích là những bất cập của hoạt động giám sát tài chính Giám sát tài chính của nhiều quốc gia đã không theo kịp, không giám sát và giảm thiểu được các rủi ro của khu vực tài chính trên bình diện từng quốc gia riêng biệt cũng như những rủi ro mang tính lan tỏa do toàn cầu hóa mang lại

Trong bối cảnh như hiện nay, một trong những ưu tiên hàng đầu của các quốc gia, trong đó có Việt Nam là phải thường xuyên đánh giá và nắm bắt được thực trạng của khu vực tài chính để có những can thiệp kịp thời và hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và tối

đa hóa lợi ích Trong một số trường hợp nếu cần thiết có thể phải có những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, mô hình thanh tra, giám sát tài chính để quản lý, giám sát một cách hiệu quả và phù hợp hơn

Những tồn tại lớn trong hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay như nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro chéo trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, v v không chỉ tác động xấu đến hệ thống tài chính mà còn có tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế đất nước Lúc này, một nghiên cứu tổng thể nhằm đánh giá thực trạng của thị trường tài chính và giám sát tài chính ở Việt Nam, phát hiện những tồn tại, bất cập của hệ thống thanh tra giám sát tài chính và khuôn khổ pháp lý

để có giải pháp xử lý phù hợp là hết sức cần thiết Qua phân tích, đối chiếu thực tiễn Việt nam với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế, niên luận làm rõ nhu cầu cấp thiết cần thực hiện giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp

Mục tiêu nghiên cứu

Bài viết nhằm phân tích, đánh giá thực trạng thị trường tài chính Việt Nam; thực trạng giám sát tài chính và khuôn khổ pháp lý về giám sát tài chính ở Việt Nam Từ đó phân

Trang 6

tích những hạn chế, bất cập trong hoạt động và cơ cấu tổ chức giám sát tài chính đồng thời phân tích những kinh nghiệm và thông lệ quốc tế để đề xuất một số giải pháp trong

đó chứng minh, làm rõ tính ưu việt của mô hình giám sát tài chính hợp nhất so với mô hình giám sát phân tán (trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam) và nhu cầu thực hiện giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp, lộ trình thực hiện

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là khuôn khổ pháp lý hiện tại của Việt Nam về giám sát tài chính Thực trạng hoạt động giám sát tài chính và khuôn khổ pháp lý trong giai đoạn 2011-

2012 của Việt Nam và hệ thống giám sát tài chính của một số quốc gia trên thế giới

Do mục tiêu và định hướng bài niên luận mang tính thực tiễn cao, phương pháp tiếp cận của nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh của Việt Nam là chính, kể cả phần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cũng phục vụ chủ yếu cho việc so sánh, đối chiếu với thực tiễn của Việt Nam Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như trên, bài viết áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp nghiên cứu các trường hợp điển hình

Cấu trúc niên luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, đề tài có bố cục gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận

1.1 Tổng quan về giám sát tài chính

1.2 Các mô hình giám sát tài chính trên thế giới

Chương 2 Thực hiện mô hình giám sát tài chính hợp nhất tại Việt Nam

2.1 Thực trạng áp dụng mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam

2.2 Một số đề xuất đối với việc áp dụng mô hình giám sát tài chính hợp nhất

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM GIÁM SÁT TÀI CHÍNH

TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan về giám sát tài chính

Cho đến nay, trên thế giới chưa có một mô hình giám sát tài chính nào được coi là mô hình phổ biến nhất và hoàn chỉnh nhất Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể (như chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý) và đặc biệt là mức độ phát triển của thị trường tài chính phù hợp tuy có sự khác nhau về mô hình giám sát tài chính, các quốc gia vẫn đều có sự thống nhất cơ bản về mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung của giám sát

tài chính

1.1.1 Mục đích

Giám sát tài chính nhằm các mục đích sau:

- Đảm bảo sự ổn định và phát triển của khu vực tài chính:

Bằng việc đảm bảo các định chế tài chính tuân thủ các chuẩn mực an toàn do các chủ thể giám sát đặt ra, giám sát tài chính giúp cho hệ thống các định chế tài chính có đủ sức chống đỡ các cú sốc bên ngoài Điều này cũng có nghĩa là đảm bảo các định chế tham gia thị trường và cạnh tranh bình đẳng, đồng thời loại bỏ những định chế không

đủ điều kiện tham gia thị trường

- Đảm bảo thị trường tài chính vận hành hiệu quả:

Giám sát tài chính đặt ra yêu cầu là sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia thị trường tài chính Yêu cầu này được đảm bảo thông qua việc giám sát yêu cầu minh bạch thông tin và tạo cơ chế khai thác và công bố thông tin, giám sát tiêu chí gia nhập thị trường, hạn chế tình trạng độc quyền và sự chi phối của các chủ thể điều tiết có nguy cơ làm suy giảm mức độ cạnh tranh Từ đó hiệu quả của thị trường tang lên nhờ

Trang 8

việc cải thiện khả năng tiếp cận và định giá các dịch vụ tài chính, hạn chế các hoạt động làm tổn thương đến thị trường tài chính, phân bổ hợp lý nguồn lực đối với các tổ chức trên thị trường

- Bảo vệ người tiêu dùng sử dụng sản phẩm dịch vụ tài chính:

Các quy định quản lý đối với khu vực tài chính được thiết lập thông qua các quy định

về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các định chế tài chính cũng như các quy định

về đạo đức kinh doanh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trên thị trường tài chính (người gửi tiền ngân hang, các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán, những người tham gia bảo hiểm) Bảo vệ người tiêu dùng là điều chỉnh những sự không hoàn hảo của thị tường (tình trạng thông tin bất cân xứng, xử lý các hành vi gian lận,v.v…) và do đó cho phép người tiêu dùng có thể tiếp cận với các dịch

vụ, sản phẩm tài chính với mức giá tương xứng với chất lượng dịch vụ, sản phẩm và được xử lý có tranh chấp, khiếu kiện một cách công bằng

1.1.2 Đối tượng

Đối tượng của giám sát tài chính bao gồm:

- Các định chế tài chính đóng vai trò là các trung gian tài chính thực hiện việc kết nối các nhu cầu giao dịch các công cụ tài chính trên thị trường: ngân hàng, công ty bảo hiểm (với vai trò trung gian đầu tư), công ty chứng khoán (với vai trò tổ chức môi giới và hưởng hoa hồng)

- Thị trường tài chính – nơi thực hiện việc phát hành và mua bán các công cụ tài chính thông qua đó vốn được di chuyển từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt hoặc di chuyển đến những nơi vốn được sử dụng hiệu quả nhất bằng cơ chế giá và quan hệ cung cầu

- Hạ tầng cơ sở tài chính – hệ thống pháp luật tài chính (bao gồm cả cơ chế phá sản, quyền chủ nợ,v v…), mạng lưới an toàn tài chính (safety net), các hệ thống thanh

Trang 9

toán bù trừ và hỗ trợ các giao dịch tài chính; tính minh bạch và quản trị, cơ sở hạ tầng thông tin,v v…

- Giám sát diễn biến về giá cả, khối lượng giao dịch và các công cụ tài chính lưu hành trên thị trường tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành hiệu quả của thị trường tài chính, góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Giám sát hạ tầng cơ sở tài chính như hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính, hệ thống hỗ trợ thanh khoản, hệ thống bảo hiểm tiền gửi

1.2 Các mô hình giám sát tài chính trên thế giới

Mô hình giám sát tài chính là cấu trúc của hệ thống giám sát tài chính đối với khu vực tài chính Cấu trúc này phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế, của khu vực tài chính và thói quen, tập quán của người tiêu dùng trong khu vực tài chính của mỗi quốc gia Theo nghiên cứu, hiện nay trên thế giới phổ biến 4 mô hình:

(i) Mô hình giám sát theo thể chế (giám sát phân tán theo chuyên ngành)

(ii) Mô hình giám sát theo chức năng

(iii) Mô hình giám sát lưỡng đỉnh

(iv) Mô hình giám sát hợp nhất

Trang 10

1.2.1 Mô hình giám sát theo thể chế và trường hợp của Trung Quốc

Khái niệm và cấu trúc mô hình

Mô hình giám sát theo thể chế là mô hình giám sát dựa trên cách tiếp cận truyền thống, theo đó tình trạng pháp lý của tổ chức tài chính sẽ quyết định cơ quan quản lý nào có nhiệm vụ giám sát hoạt động của nó

Trong mô hình này, cấu trúc giám sát được phân chia theo từng mảng thị trường với các cơ quan giám sát tương ứng, mỗi cơ quan thực hiện công tác giám sát trên một lĩnh vực, bao gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm Mô hình này còn được gọi là mô hình “ba đỉnh” (three pillars) Việc giám sát được tiến hành trên tất cả các mặt: ổn định

hệ thống, giám sát thận trọng, nguyên tắc kinh doanh và bảo vệ khách hàng

Hình 1.1 Cấu trúc mô hình giám sát theo thể chế

Cơ chế vận hành và phối hợp

Cơ chế vận hành của mô hình giám sát theo thể chế khá đa dạng, tùy vào đặc điểm cấu trúc thị trường tài chính từng quốc gia cũng như các vấn đề lịch sử, văn hóa, và chính trị Tuy nhiên điểm chung nhất là trong mô hình giám sát này tồn tại ba cơ quan riêng biệt giám sát ba mảng thị trường Tùy đặc điểm của từng nhà nước mà các cơ quan này

Trang 11

sẽ trực thuộc các cấp thẩm quyền khác nhau Các cơ quan tiến hành giám sát thông qua quá trình lựa chọn đầu vào (cấp phép và đăng ký kinh doanh), kiểm tra giám sát định

kỳ hoạt động kinh doanh và cả sự rời khỏi thị trường

Tính nhất quán trong hoạt động và sự phối hợp, chia sẻ thông tin trong quá trình giám sát và hạn chế rủi ro hệ thống được quy định cụ thể và đảm bảo bằng các văn bản pháp luật Một số hình thức phối hợp giữa các chủ thể giám sát:

- Thành lập nhóm giúp việc chuyên trách toàn thị trường tài chính của người đứng đầu đất nước

- Giữa các cơ quan ký kết các biên bản ghi nhớ song phương về chia sẻ thông tin và phối hợp hành động theo nguyên tắc tự nguyện giữa các cơ quan giám sát với nhau

- Thiết lập Ủy ban ổn định tài chính với vai trò là một chủ thể điều tiết hoạt động phối hợp giữa các thành viên là các cơ quan giám sát khác nhau Có hai ủy ban hợp tác cấp cao cũng được thành lập nhằm nâng cao việc phối hợp giữa các cơ quan giám sát này

- Áp dụng cơ cấu nhân sự chéo, theo đó, mỗi cơ quan giám sát sẽ cử đại diện của mình tham gia ban điều hành của các cơ quan giám sát còn lại

Trường hợp của Trung Quốc

Năm 2003, Trung Quốc xây dựng hệ thống giám sát tài chính độc lập, bao gồm ba cơ quan giám sát là Ủy ban Chứng khoán, Ủy ban Giám sát bảo hiểm và Ủy ban Giám sát ngân hàng Ba cơ quan này trực thuộc Hội đồng nhà nước Trung Hoa

Trang 12

Hình 1.2 Mô hình giám sát tài chính của Trung Quốc

Ưu nhược điểm của mô hình

Ưu điểm:

- Các cơ quan giám sát được chuyên môn hóa do đó có thể nắm bắt rõ nhất các đặc

điểm hoạt động của đối tượng giám sát

- Việc giám sát được thực hiện thường xuyên hơn bởi hoạt động giám sát gắn liền

với việc tổ chức hoạt động kinh doanh, từng nghiệp vụ của các định chế

- Cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu, khung pháp lý phục vụ hoạt động giám sát được tổ

chức và quản lý nhất quán trong phạm vi chuyên ngành

Nhược điểm:

- Hoạt động giám sát bị giảm tính hiệu quả do thiếu khách quan minh bạch bởi cơ

quan giám sát chuyên ngành vừa thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh

vừa giám sát an toàn chuyên ngành

Trang 13

- Quốc gia áp dụng hệ thống giám sát tài chính thể chế sẽ phải đối mặt với rủi ro rất cao khi thị trường ngày càng có nhiều định chế tài chính phức tạp được thành lập và

sự ra đời của nhiều sản phẩm và công cụ tài chính mới

- Khả năng giám sát của hệ thống có thể bị hạn chế từ việc giữ bí mật thông tin kiểm tra và sử dụng nội bộ của các cơ quan

- Không tận dụng được hiệu quả theo quy mô trong việc giám sát thị trường do thiếu cách thức tiếp cận thống nhất đối với việc đưa ra các mức chuẩn, ủy quyền, giám sát, hiệu lực,v v…

- Việc giám sát trùng lặp các hoạt động giống hoặc tương tự nhau giữa các cơ quan giám sát hoặc bỏ trống các lĩnh vực giám sát làm tăng chi phí nguồn lực hoặc rủi ro

1.2.2 Mô hình giám sát theo chức năng và trường hợp của Italy

Khái niệm và cấu trúc mô hình

Mô hình giám sát theo chức năng là mô hình giám sát mà việc giám sát được thực hiện căn cứ vào hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến hình thức pháp lý của các thực thể

Trong mô hình giám sát theo chức năng, một tổ chức cung cấp dịch vụ trên càng nhiều lĩnh vực sẽ chịu sự giám sát của càng nhiều cơ quan Mỗi cơ quan giám sát này chịu trách nhiệm với sự phù hợp và an toàn của các chủ thể và cả hoạt động kinh doanh của thực thể đó Mỗi khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm có ít nhất một cơ quan giám sát Các cơ quan này độc lập và chủ động trong việc giám sát và đảm bảo an toàn trong lĩnh vực hoạt động mà họ chịu trách nhiệm giám sát Các cơ quan này có mối

liên hệ hợp tác và chịu sự chỉ đạo chung của các cơ quan tư vấn quốc gia

Trang 14

Hình 1.3 Cấu trúc mô hình giám sát theo chức năng

Cơ chế vận hành và phối hợp

Trong mô hình này có sự phân định rõ ràng trách nhiệm trong việc giám sát của các cơ quan tham gia đối với các khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Việc giám sát tài chính được phân công cho các cơ quan khác nhau nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này Ngoài ra có một cơ quan riêng biệt có nhiệm vụ nâng cao việc chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động thuộc từng lĩnh vực Cơ quan này là “Hội đồng các cơ quan giám sát tài chính” ở Pháp và

“Ủy ban ổn định tài chính” ở Italy Các cơ quan giám sát có toàn quyền trong việc thực thi giám sát lĩnh vực của mình chịu trách nhiệm, từ việc cấp phép đến xử lý vi phạm

Trường hợp của Italy

Hệ thống giám sát tài chính của Italy là sự kết hợp của hai cách tiếp cận: theo chức năng (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) và theo thể chế Đây là kết quả của sự sắp xếp lại hệ thống tài chính vào những năm 1930 sau cuộc Đại suy thoái và các cuộc cải

tổ những năm 1980, 1990 do sự đổi mới trong lĩnh vực và việc gia nhập EU của Italy

Hệ thống giám sát tài chính của Italy là kết hợp mô hình theo chức năng và theo thể chế, bao gồm các cơ quan giám sát:

Trang 15

- Bộ kinh tế và tài chính (MEF): chịu trách nhiệm chung về việc cung cấp hướng dẫn

chính sách kinh tế nói chung

- Ngân hàng Trung ương Italy: chịu trách nhiệm quản lý, giám sát đối với các trung

gian nhằm đảm bảo sự ổn định và hiệu quả chung của hệ thống tài chính

- Ủy ban Công ty và giao dịch chứng khoán (CONSOB): chịu trách nhiệm giám sát

thị trường chứng khoán và dịch vụ đầu tư

- Cơ quan quản lý bảo hiểm (ISVAP): đảm bảo việc giám sát thận trọng và đúng đắn

đối với các thực thể bảo hiểm và tái bảo hiểm thông qua vieeccj đưaa ra các quy

định và giám sát hoạt động của các thực thể này

- Cơ quan quản lý quỹ hưu trí (COVIP): chịu trách nhiệm giám sát quỹ hưu trí và

đảm bảo sự minh bạch

Hình 1.4 Mô hình giám sát tài chính của Italy

Trang 16

Ưu nhược điểm của mô hình

Ưu điểm:

- Các khe hở giám sát có thể được loại trừ do tránh được tình trạng nhiều cơ quan giám sát thực hiện vai trò của mình theo những hướng khác nhau thậm chí mâu thuẫn

- Cho phép xác định và giám sát một cách đầy đủ các tổ chức chỉ cung cấp một số lượng hạn chế dịch vụ tài chính hoặc các tổ chức nhỏ không nhất thiết phải chịu sự giám sát như truyền thống (mô hình thể chế)

- Không có cơ quan giám sát nào có đủ các thông tin liên quan đến tất cả hoạt động của mọi tổ chức tài chính dẫn đến khó khăn trong giám sát rủi ro hệ thống

1.2.3 Mô hình giám sát hợp nhất và trường hợp của Vương quốc Anh

Khái niệm và cấu trúc mô hình

Mô hình hợp nhất là mô hình mà trong đó một cơ quan giám sát chịu trách nhiệm giám

sát ít nhất hai hoặc toàn bộ lĩnh vực của thị trường tài chính

Mô hình này được chia làm hai loại:

Trang 17

- Hợp nhất hoàn toàn (full intergratation): chỉ bao gồm một cơ quan duy nhất thực hiện việc giám sát toàn bộ ngành dịch vụ tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm)

- Hợp nhất từng phần: cơ quan giám sát tài chính thực hiện giám sát hai trên ba lĩnh vực (two-pillar system) ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

Sự phân tách trách nhiệm của Ngân hàng Trung ƣơng và cơ quan giám sát tài chính hợp nhất đối với mục tiêu của hệ thống giám sát tài chính sẽ tạo ra sự khác nhau trong

cơ cấu tổ chức của các mô hình ở các quốc gia

Hình 1.5 Cấu trúc mô hình giám sát hợp nhất

Cơ chế vận hành và phối hợp

Trong mô hình hợp nhất, các cơ quan vận hành nhằm 3 mục tiêu:

Trang 18

- Giám sát vĩ mô: do cơ quan giám sát tài chính hợp nhất và một cơ quan khác

(thường là Ngân hàng trung ương) chịu trách nhiệm

- Giám sát vi mô và giám sát hành vi giao dịch: do cơ quan giám sát tài chính hợp

nhất chịu trách nhiệm chính

Giữa các cơ quan này có thể có các biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác nhằm hoàn

thành nhiệm vụ chức năng giám sát thị trường tài chính

Trường hợp của Vương quốc Anh

Cấu trúc mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh gồm hệ thống quản lý ba bên

đó là Ngân hàng Trung ương (BoE), Cơ quan Dịch vụ tài chính (FSA) và Bộ Tài chính

(HMT)

Hình 1.6 Mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh

Trang 19

FSA có thẩm quyền điều tra, thi hành và xử lý các vấn đề liên quan Sau cải cách tài chính năm 1997, Ngân hàng trung ương Anh được toàn quyền quyết định các chính sách tiền tệ và hỗ trợ việc ổn định tài chính thông qua hoạt động thị trường, giám sát hệ thống thanh toán và giám sát thị trường Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về cơ sở pháp

lý cho các quy định và quyết định liên quan đến vai trò của người cho vay cuối cùng

Cơ quan giám sát duy nhất là Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSA) với chức năng quy định và giám sát toàn bộ dịch vụ kinh doanh tài chính bao gồm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm cũng như vấn đề đạo đức kinh doanh

Ưu nhược điểm của mô hình

Ưu điểm:

- Mô hình này có thể ngăn ngừa những mâu thuẫn và phủ kín những khoảng trống xuất hiện trong quá trình giám sát hoạt động kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực tài chính

- Sự nhất quán trong các quy định và thực hiện giám sát đảm bảo công bằng giữa các định chế tài chính thuộc các lĩnh vực khác nhau đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng lợi thế chính sách để kiếm lợi nhuận

- Sự thành lập cơ quan giám sát hợp nhất góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát nhờ sự không trùng lặp trong giám sát và những lợi thế từ quy mô, phạm

vi cung cấp và xử lý thông tin từ đó giảm chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng

- Tính hiệu quả của ba mục tiêu giám sát chính được nâng cao bởi việc tách bạch chức năng giám sát khỏi chức năng quản lý hoạt động kinh doanh; mục tiêu giám sát an toàn hệ thống ra khỏi mục tiêu giám sát an toàn từng tổ chức và giám sát hành vi giao dịch

- Mô hình này cũng góp phần nâng cao tính trách nhiệm của cơ quan giám sát vì nó

là duy nhất

Trang 20

- Tính khả thi của mô hình hợp nhất có thể không cao nếu thực hiện cùng một phương pháp cho nhiều tổ chức lớn mà bỏ qua sự khác biệt ngành nghề kinh doanh của các tổ chức này

- Sự cân đối giữa ba mục tiêu chính của hoạt động giám sát có thể không được đảm bảo vì trên thực tế, đối tượng của giám sát hành vi giao dịch gần như chỉ bao gồm việc mở rộng hình ảnh trong mắt người tiêu dùng và vấn đề chính trị hơn là các vấn

đề liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng

- Tồn tại những mâu thuẫn về quan niệm, văn hóa trong mô hình giám sát hợp nhất giữa các nhà kinh tế và các nhà luật sư

- Chỉ có duy nhất một cơ quan giám sát hợp nhất nên cơ quan này có thể trở nên độc quyền và thiếu linh hoạt

- Quá trình hợp nhất tiềm ẩn rất nhiều rủi ro như: (1) Việc lựa chọn cơ chế giám sát được thảo luận mở nên có thể không phải lựa chọn tối ưu, (2)Hiệu quả của quá trình thay đổi có thể bị ảnh hưởng bởi lợi ích riêng nào đó, (3) Quá trình hợp nhất là dài hơi nên có thể dẫn đến mất đi một số cán bộ trụ cột, (4) Trong quá trình hợp nhất về mặt kỹ thuật, sự phát triển của thị trường có thể sẽ không nhận được sự giám sát và quản lý một cách thích đáng trong ngắn hạn

1.2.4 Mô hình giám sát lưỡng đỉnh và trường hợp của Úc

Khái niệm và cấu trúc mô hình

Mô hình giám sát lưỡng đỉnh dựa trên nguyên tắc giám sát theo hai mục tiêu và dẫn đến sự phân chia chức năng giám sát đối với hai cơ quan: một cơ quan giám sát an toàn (prudent) và một cơ quan giám sát hành vi giao dịch (conduct-of-business) nhằm bảo

vệ người tiêu dùng

Trong mô hình lưỡng đỉnh tòn tại song song hai cơ quan độc lập tham gia giám sát tài chính trên cả bốn mảng ngân hàng, chứng khoản, bảo hiểm, hưu trí Hai cơ quan này có

Trang 21

đạo của các cơ quan tư vấn cấp 1 Tuy nhiên hai cơ quan này có thể thành lập các cơ quan tư vấn độc lập cấp 2 cho riêng mình

Hình 1.7 Cấu trúc mô hình giám sát lưỡng đỉnh

- Cơ quan giám sát thận trọng chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn hệ thống thông qua việc quy định thủ tục và chuẩn mực hành chính

Bên cạnh hai cơ quan trên, một số cơ quan khác phối hợp nhằm đạt được mục tiêu ổn định thị trường có thể kể đến như Kho bạc, Ngân hàng dự trữ quốc gia, Bộ Tài chính

Trường hợp của Úc

Trang 22

Sau hàng loạt cuộc cải tổ những năm 1990, Úc đã xây dựng hệ thống giám sát tài chính

theo mô hình lưỡng đỉnh với cơ cấu như sau:

Hình 1.8 Mô hình giám sát tài chính của Úc

Hội đồng giám sát tài chính (CFR) là một cơ quan phối hợp của các cơ quan giám sát

tài chính chủ chốt Các thành viên của hội đồng bao gồm Ngân hàng dự trữ Úc (RBA)

với vai trò là chủ tịch,Cơ quan giám sát thận trọng Úc (APRA), Ủy ban chứng khoán

và đầu tư Úc (ASIC) và Kho bạc

Hội đồng cung cấp một diễn đàn cấp cao nhằm điều phối và tăng cường hợp tác giữa

các thành viên Hội đồng hoạt động như một cơ quan không chính thức bởi các thành

viên chia sẻ thông tin và thảo luận các vấn đề chồng chéo trách nhiệm và đi đến hành

động ứng phó với hiểm họa tài chính tiềm năng nếu có Trong trường hợp khủng hoảng

xảy ra, Hội đồng có thể được coi là một cơ quan đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa

ra phản ứng chính thức

Hệ thống giám sát tài chính của Úc bao gồm hai cơ quan giám sát:

Ngày đăng: 20/10/2014, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đỗ Thị Kim Hảo (2010), Giám sát các tập đoàn tài chính – vấn đề đặt ra và một số gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng, số 1-2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát các tập đoàn tài chính – vấn đề đặt ra và một số gợi ý cho Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Kim Hảo
Năm: 2010
4. Tô Kim Ngọc, Mô hình giám sát tài chính quốc gia ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình giám sát tài chính quốc gia ở một số nước trên thế giới
5. Bùi Huy Thọ,Tập đoàn tài chính – Một loại hình tập đoàn kinh tế đặc thù với những yêu cầu đặc thù trong quản lý, giám sát Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn tài chính – Một loại hình tập đoàn kinh tế đặc thù với những yêu cầu đặc thù trong quản lý, giám sát
Tác giả: Bùi Huy Thọ
6. Ủy ban kinh tế của Quốc hội (2013), Khuôn khổ pháp lý về giám sát hợp nhất thị trường tài chính Việt Nam, Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô”, Nxb Tri thức, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn khổ pháp lý về giám sát hợp nhất thị trường tài chính Việt Nam," Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô
Tác giả: Ủy ban kinh tế của Quốc hội
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
7. The Structure of Financial Supervision: Approaches and Challenges in a global marketplace, Group of Thirty 30, Washington DC, 2008, pp. 61-110-179-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Structure of Financial Supervision: Approaches and Challenges in a global marketplace
Tác giả: Group of Thirty
Nhà XB: Washington DC
Năm: 2008
8. Principles for the supervision of financial conglomerates, The Joint Forum, December 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles for the supervision of financial conglomerates
9. Supervision of conglomerate group, Australia Prudential Regulation Authority (APRA), 18 March 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supervision of conglomerate group
1. Tô Ngọc Hƣng (2010), Hoàn thiện hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam Khác
2. Nguyễn Thị Kim Anh (2010), Rủi ro của các định chế tài chính trung gian: vấn đề đặt ra đối với hệ thống giám sát Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Cấu trúc mô hình giám sát theo thể chế - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.1 Cấu trúc mô hình giám sát theo thể chế (Trang 10)
Hình 1.2 Mô hình giám sát tài chính của Trung Quốc - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.2 Mô hình giám sát tài chính của Trung Quốc (Trang 12)
Hình 1.3 Cấu trúc mô hình giám sát theo chức năng - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.3 Cấu trúc mô hình giám sát theo chức năng (Trang 14)
Hình 1.4 Mô hình giám sát tài chính của Italy - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.4 Mô hình giám sát tài chính của Italy (Trang 15)
Hình 1.5 Cấu trúc mô hình giám sát hợp nhất - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.5 Cấu trúc mô hình giám sát hợp nhất (Trang 17)
Hình 1.6 Mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.6 Mô hình giám sát tài chính của Vương quốc Anh (Trang 18)
Hình 1.7 Cấu trúc mô hình giám sát lưỡng đỉnh - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.7 Cấu trúc mô hình giám sát lưỡng đỉnh (Trang 21)
Hình 1.8 Mô hình giám sát tài chính của Úc - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 1.8 Mô hình giám sát tài chính của Úc (Trang 22)
Hình 2.1 Mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 2.1 Mô hình giám sát tài chính ở Việt Nam (Trang 25)
Hình 2.2 Bộ máy tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 2.2 Bộ máy tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng (Trang 27)
Hình 2.3 Bộ máy giám sát thị trường chứng khoán - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 2.3 Bộ máy giám sát thị trường chứng khoán (Trang 28)
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy giám sát của Cục quản lý và giám sát bảo hiểm - Niên luận: Các mô hình giám sát hệ thống tài chính  Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy giám sát của Cục quản lý và giám sát bảo hiểm (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w