TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCHÀ THỊ KIM DUNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ TOÁN HỌC Thái Nguyên - Năm 2012... TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCHÀ THỊ KIM DUNG MỘT S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HÀ THỊ KIM DUNG
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM
NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TOÁN HỌC
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
HÀ THỊ KIM DUNG
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM
NGUYÊN
Chuyên ngành: PHƯƠNG PHÁP TOÁN SƠ CẤP
Mã số : 60.46.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ TOÁN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS HÀ HUY KHOÁI
Thái Nguyên - Năm 2012
Trang 3Mục lục
Mục lục i
LỜI NÓI ĐẦU 1 Nội dung 3 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM NGUYÊN 3 1.1 Về việc giải phương trình Điôphăng 3
1.2 Phương trình Điôphăng tuyến tính 4
1.3 Phương trình Fermat 7
1.3.1 Các bộ số Pitago 7
1.3.2 Phương trình Fermat 11
1.4 Phương trình Pell 14
1.4.1 Phân số liên tục 15
1.4.2 Phương trình Pell 31
2 MỘT LỚP PHƯƠNG TRÌNH NGHIỆM NGUYÊN 39 2.1 Bài toán 39
2.2 Về cấu trúc của S: 40
2.3 Chứng minh định lí 2.1 41
2.3.1 Chứng minh T ⊂ S 42
2.3.2 Xây dựng hoàn chỉnh tập S : 48
Trang 4Tài liệu tham khảo 54
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Số học là một trong những lĩnh vực cổ xưa nhất của Toán học, và cũng
là lĩnh vực tồn tại nhiều nhất những bài toán, những giả thiết chưa cócâu trả lời Một trong những bộ phận quan trọng của Số học được nhiềunhà toán học lớn trên thế giới nghiên cứu, đó chính là "Phương trìnhnghiệm nguyên" Trong các kì thi chọn học sinh giỏi trong và ngoàinước, các bài toán về phương trình nghiệm nguyên vẫn luôn là một đề tàihay và khó đối với học sinh Là một giáo viên dạy bộ môn Toán ở cáctrường phổ thông, chắc chắn ai cũng muốn trang bị cho mình những kiếnthức đầy đủ nhất về vấn đề này Chính vì vậy, tôi đã chọn "Phương trìnhnghiệm nguyên" làm luận văn tốt nghiệp của mình
Nội dung luận văn được chia thành hai chương:
Chương 1: “Đại cương về phương trình nghiệm nguyên” , trìnhbày về việc giải phương trình Điôphăng và phương pháp giải phương trìnhĐiôphăng tuyến tính, phương trình Fermat, phương trình Pell
Chương 2: “Một lớp phương trình nghiệm nguyên” , giới thiệumột lớp phương trình nghiệm nguyên được quan tâm nhiều Nội dung củachương được viết theo bài báo "The equation
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên trong quá trình viết luậnvăn cũng như trong xử lý văn bản chắc chắn không tránh khỏi những saisót nhất định Tác giả luận văn rất mong nhận được sự góp ý của các thầy
Trang 6cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướngdẫn GS.TSKH Hà Huy Khoái đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trìnhlàm luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Khoahọc - Đại học Thái Nguyên, Viện Toán học -Viện Khoa học và Công nghệViệt Nam, đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình tácgiả học tập và nghiên cứu
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tổ Khoa học tựnhiên Trường THCS Trần Phú và tập thể bạn bè đồng nghiệp cùng giađình đã quan tâm giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Thái Nguyên, tháng 07 năm 2012
Người thực hiện
Hà Thị Kim Dung
Trang 7Chương 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG
TRÌNH NGHIỆM NGUYÊN
Trong chương này, chúng ta sẽ làm quen với phương pháp giải cácphương trình Điôphăng bậc nhất (tuyến tính) hoặc bậc 2 Đối với cácphương trình bậc cao hơn, tồn tại hay không một phương pháp chung đểgiải? Đó là câu hỏi đã được đặt ra từ thời Điôphăng, và là nội dung củaBài toán Hilbert thứ 10 nổi tiếng Xin nhắc lại rằng, tại Đại hội Toán họcQuốc tế đầu thế kỉ 20, Hilbert, một trong những nhà toán học lớn nhấtcủa mọi thời đại, đã đề ra 23 bài toán cho toán học của thế kỉ 20 Chođến nay, nhiều bài toán trong số đó vẫn đang chờ lời giải Bài toán thứ 10
mà ta nhắc đến ở đây là: Có hay không một thuật toán để giải các phươngtrình Điôphăng? Nói một cách "nôm na" là: có hay không một phươngpháp để khi cho một phương trình Điôphăng tùy ý, ta dùng phương pháp
đó để, sau một thời gian hữu hạn, tìm ra nghiệm, hoặc chỉ ra rằng phươngtrình không tồn tại nghiệm (nguyên) Bài toán Hilbert thứ 10 đã được nhàtoán học Nga Yuri Matijasievich giải năm 1970 khi ông mới 21 tuổi Câutrả lời là: không tồn tại thuật toán giải phương trình Điôphăng tổng quát.Như vậy, với các phương trình Điôphăng bậc lớn hơn 2, ta chỉ có thể tìmcách giải từng phương trình cụ thể! Tuy nhiên, cũng có thể kể ra đây một
Trang 8vài phương pháp hay được dùng để giải các phương trình Điôphăng đượccho trong chương trình toán phổ thông Tư tưởng chung của các phươngpháp đó là, do chỉ xét các nghiệm nguyên (nhiều khi là nghiệm nguyêndương) nên nếu ta thu hẹp được tập hợp chứa nghiệm (nếu có) thì có thểdùng cách thử toàn bộ để xác định nghiệm.
1 Sử dụng các tính chất chia hết để thu hẹp tập hợp nghiệm có thể
2 Dùng các ước lượng về độ lớn của nghiệm để thu hẹp tập hợp nghiệm
có thể Thông thường, để làm việc đó, cần dựa vào một "nghiệm cựctrị" (nhỏ nhất hoặc lớn nhất theo một nghĩa nào đó)
Các "phương pháp" vừa nêu chỉ là các gợi ý Việc vận dụng chúng mộtcách linh hoạt được cho qua các bài tập
Sách "Đại thành toán pháp" của Lương Thế Vinh đã có hướng dẫn giảibài toán sau đây:
Một trăm con trâu
Một trăm bó cỏ
Trâu đứng ăn năm
Trâu nằm ăn ba
Trâu già ba con một bó
Hỏi mỗi loại trâu có mấy con ?
Theo ngôn ngữ toán học bây giờ, ta có thể giải bài toán trên đây nhưsau Gọi x là số trâu đứng, y là số trâu nằm và z là số trâu già (theo quyước của bài toán, trâu già không đứng, mà cũng không nằm !) Theo bài
Trang 9Phương trình thu được có hai ẩn x, y Vì x, y là "số trâu" nên rõ ràng
x, y phải nhận các giá trị nguyên không âm Như vậy, phương trình (1.1)thuộc vào lớp phương trình Điôphăng tuyến tính
Định nghĩa 1.1 Phương trình Điôphăng tuyến tính là phương trình códạng
x = x0 +
bd
Trang 10d | b nên d | c Như vậy, nếu d không chia hết c thì phương trình không cónghiệm nguyên.
Bây giờ giả sử d | c Khi đó, tồn tại các số nguyên s, t sao cho
Do d | c nên tồn tại e nguyên sao cho de = c Nhân hai vế của (1.3) với e
ta được:
c = de = (as + bt)e = a(se) + b(te)
Như vậy, ta có một nghiệm của phương trình cho bởi x = x0 = se,
(ax + by) − (ax0 + by0) = 0,
suy ra
a(x − x0) + b(y − y0) = 0
Tức là
a(x − x0) = b(y0 − y)
Chia hai vế của đẳng thức cho d, ta được
Trang 11giá trị này của y vào phương trình (1.4) ta được x = x0 + b
Định lý trên đây cho phương pháp giải phương trình Điôphăng tuyếntính Ví dụ xét phương trình (1.1)
14x + 8y = 200
Ta có (14, 8) = 2 Do 2 | 200 nên phương trình có nghiệm Dễ thấy
2 = 14.(−1) + 8.(+2) Nhân hai vế với 100 ta có:
chỉ có thể nhận các giá trị 25, 26, 27, 28 Tương ứng ta có các nghiệm
(0, 25), (4, 8), (8, 11), (12, 4) Các nghiệm (x, y, z) của bài toán ban đầu là
(x, y, z) là một bộ số Pitago khi và chỉ khi tồn tại tam giác vuông có số
Trang 12đo các cạnh góc vuông là x và y, số đo cạnh huyền là z (Chẳng hạn bộ
{3, 4, 5} , {6, 8, 10}, ) Rõ ràng rằng, nếu {x, y, z} là một bộ số Pitagothì {kx, ky, kz} cũng là một bộ số Pitago với mọi số tự nhiên k Do đó,
ta chỉ cần xét các bộ ba số nguyên tố cùng nhau
Định nghĩa 1.3 Bộ số Pitago {x, y, z} được gọi là nguyên thủy nếu
(x, y, z) = 1
Ví dụ: Các bộ số {3, 4, 5} , {5, 12, 13} là nguyên thủy, bộ số {6, 8, 10}
không nguyên thủy
Nếu bộ số Pitago {x, y, z} là không nguyên thủy, chẳng hạn (x, y, z) = d,thì
Chứng minh Giả sử {x, y, z} là một bộ số Pitago nguyên thủy và
(x, y) > 1 Khi đó tồn tại số nguyên tố p sao cho p | (x, y) Vì p | x
và p | y nên p | (x2 + y2) = z2 Do p nguyên tố mà p | z2 nên p | z
: mâu thuẫn với giả thiết (x, y, z) = 1 Vậy (x, y) = 1 Tương tự ta có
Bổ đề 1.5 Giả sử {x, y, z} là một bộ số Pitago nguyên thủy Khi đó x
chẵn, y lẻ hoặc x lẻ, y chẵn
Chứng minh Giả sử {x, y, z} là một bộ số Pitago nguyên thủy Do Bổ
đề 1.4, (x, y) = 1, nên x và y không thể cùng chẵn Nếu x, y cùng lẻ thì
ta có
x2 ≡ y2 ≡ 1(mod4),
nên
z2 = x2 + y2 ≡ 2(mod4)
Bổ đề 1.6 Giả sử r, s, t là các số nguyên dương sao cho (r, s) = 1 và
rs = t2 Khi đó tồn tại các số nguyên h và l sao cho r = l2 và s = h2
Trang 13Chứng minh Nếu r = 1 hoặc s = 1 thì Bổ đề là hiển nhiên Ta giả sử
r > 1vàs > 1 Giả sử các phân tíchr, s, tra thừa số nguyên tố có dạng sau:
Bây giờ ta có thể mô tả tất cả các bộ số Pitago nguyên thủy
Định lí 1.7 Các số nguyên dương x, y, z lập thành một bộ số Pitagonguyên thủy, với y chẵn, nếu và chỉ nếu tồn tại các số nguyên dươngnguyên tố cùng nhau m, n với m > n, m lẻ, n chẵn hoặc m chẵn, n lẻ saocho
Trang 14Vì x2 + y2 = z2 nên y2 = z2 − x2 = (z + x)(z − x) Vậy
y2
2
=
z + x2
z − x2
= rs
Để ý rằng (r, s) = 1 Thật vậy, nếu (r, s) = d thì do d | r, d | s nên
d | (r + s) = z và d | (r − s) = x Điều này có nghĩa là d | (z, x) = 1 nên
d = 1
Áp dụng Bổ đề 1.6 ta thấy rằng tồn tại các số nguyên m và n sao cho
r = m2, s = n2 Viết x, y, z thông qua m, n ta có:
Ta cũng có (m, n) = 1, vì mọi ước chung của m và n cũng là ước của
x = m2 − n2, y = 2mn, z = m2 + n2, nên là ước chung của (x, y, z) Mà
x, y, z nguyên tố cùng nhau nên (m, n) = 1 Mặt khác, m và n khôngthể cùng lẻ vì nếu ngược lại thì x, y và z đều chẵn, mâu thuẫn điều kiện
(x, y, z) = 1 Vì (m, n) = 1 và m, n không đồng thời là hai số lẻ nên m
chẵn, n lẻ hoặc ngược lại Vậy mỗi bộ số Pitago nguyên thủy có dạng đãnêu
Trang 15Ta chứng minh x, y, z nguyên tố cùng nhau Giả sử ngược lại, (x, y, z) =
d > 1 Khi đó tồn tại số nguyên tố p sao cho p | (x, y, z) Ta thấy rằng p
không chia hết 2 vì x lẻ (do x = m2 − n2, trong đó m2 và n2 không cùngtính chẵn lẻ) Lại dop | x, p | z nên p | (z + x) = 2m2 và p | (z − x) = 2n2.Vậy p | m và p | n : mâu thuẫn với (m, n) = 1 Do đó (x, y, z) = 1, tức là
Từ Định lí 1.7 ta có thể thu được các ví dụ về bộ số Pitago nguyênthủy Chẳng hạn lấy m = 5, n = 2, ta có m không đồng dư với n mod 2
Trang 16đời: "Không thể viết một lũy thừa bậc ba dưới dạng tổng hai lũy thừa bậc
ba, lũy thừa bậc bốn dưới dạng tổng hai lũy thừa bậc bốn, và nói chung,một lũy thừa bậc cao hơn dưới dạng tổng hai lũy thừa cùng bậc Tôi đãtìm ra một chứng minh kì diệu của sự kiện đó, nhưng tiếc rằng lề sách béquá để có thể ghi ra"
Có thể phát biểu lại mấy lời của Fermat dưới dạng sau:
Định lí Fermat Phương trình
xn+ yn = zn
không có nghiệm nguyên x, y, z khác 0 khi n là số nguyên, n ≥ 3
Định lí Fermat được chứng minh năm 1993 bởi A.Wiles, với việc sửdụng những kiến thức cao nhất của nhiều ngành toán học khác nhau.Trong phần này, chúng ta sẽ chứng minh Định lí lớn Fermat cho trườnghợp n = 4 Một trong những mấu chốt của chứng minh là phương phápquy nạp lùi vô hạn do Fermat đề xuất
Định lí 1.8 Phương trình
x4 + y4 = z2
không có nghiệm nguyên x, y, z khác 0
Chứng minh Giả sử phương trình nói trên có nghiệm nguyênx, y, zkhác
0 Vì ta có thể thay biến tùy ý bởi số đối của nó nên ta có thể xem x, y, z
là các số nguyên dương
Ta cũng có thể giả thiết (x, y) = 1 Thật vậy, nếu (x, y) = d thì
x = dx1, y = dy1 với (x1, y1) = 1, trong đó x1, y1 là các số nguyên dương
Vì x4 + y4 = z2 nên
(dx1)4 + (dy1)4 = z2,
do đó
d4(x41 + y14) = z2
Trang 17Vậy d4 | z2, suy ra d2 | z, nghĩa là z = d2z1 với z1 là số nguyên dương Dođó
Bây giờ giả sử x = x0, y = y0, z = z0 là nghiệm của phương trình
x4+ y4 = z2, trong đó (x0, y0) = 1 Ta sẽ chỉ ra rằng tồn tại nghiệm khácgồm các số nguyên dương x = x1, y = y1, z = z1 với (x1, y1) = 1 sao cho
z1 < z0
Vì x40 + y04 = z02 nên
(x20)2 + (y20)2 = z02,
tức là x20, y02, z0 là một bộ số Pitago Hơn nữa, (x20, y02) = 1, vì nếu p là
số nguyên tố, p | x20, p | y02 thì p | x0, p | y0, mâu thuẫn với (x0, y0) = 1.Như vậy, x20, y02, z0 là một bộ số Pitago nguyên thủy, và theo Định lí 1.7,tồn tại các số nguyên dương m, n với (m, n) = 1, m không đồng dư với n
Trang 18dư với s mod 2 và
x20 = r2 − s2
n = 2rs
m = r2 + s2
Vì m lẻ và (m, n) = 1, ta có (m, 2n) = 1 Do y02 = (2n)m nên theo Bổ đề1.6, tồn tại các số nguyên dương z1 và w với m = z12, 2n = w2 Vì w chẵn,
w = 2u, trong đó u là số nguyên dương, nên
u2 = n
2 = rs
Do (r, s) = 1, theo Bổ đề 1.6, tồn tại các số nguyên dương x1, y1 sao cho
r = x21, s = y12 Chú ý rằng vì (r, s) = 1 nên dễ suy ra (x1, y1) = 1 Nhưvậy,
Trước tiên ta sẽ trình bày một số tính chất cơ sở nhất của phân số liêntục, những tính chất này sẽ cung cấp công cụ cần thiết để giải các phươngtrình Điôphăng bậc 2
Trang 19β =
ab
thường dùng dạng tối giản, tức là a, b nguyên tố cùng nhau
b Phân số liên tục hữu hạn
Trong phần này, ta sẽ nghiên cứu cách biểu diễn một số dưới dạng phân
Biểu diễn một số nhờ phân số liên tục có nhiều ứng dụng khác nhau, trong
đó có việc ứng dụng để giải các phương trình nghiệm nguyên thuộc một
số lớp thường gặp
Trang 20Định nghĩa 1.11 Phân số liên tục là một biểu thức có dạng
a1, a2, , an được gọi là các thương riêng của phân số liên tục Một phân
số liên tục được gọi là đơn nếu a0, a1, a2, , an là các số nguyên
Để đơn giản, ta dùng kí hiệu [a0; a1, a2, , an] để chỉ phân số liên tục nóitrên
Bây giờ ta sẽ chỉ ra rằng, mỗi phân số liên tục đơn hữu hạn biểu diễn một
số hữu tỉ Ngược lại, mỗi số hữu tỉ có thể biểu diễn như một phân số liêntục đơn hữu hạn
Định lí 1.12 Mỗi phân số liên tục đơn hữu hạn biểu diễn một số hữu tỉ.Chứng minh Ta dùng quy nạp toán học Với n = 1, ta có
Trang 21Định lí được chứng minh Định lí 1.13 Mỗi số hữu tỉ có thể biểu diễn như là một phân số liên tụchữu hạn.
Trang 22Tương tự thay giá trị r2/r3 vào đẳng thức vừa nhận được, ta có:
b = [q1; q2, , qn], tức là mỗi số hữu tỉ đều có thể viết dưới dạng phân
số liên tục đơn hữu hạn
Chú ý: Biểu diễn một số hữu tỉ dưới dạng phân số liên tục đơn khôngphải là duy nhất Chẳng hạn, từ đồng nhất thức
Định nghĩa 1.14 Các phân số liên tục [a0; a1, a2, , ak], trong đó k là
số nguyên, 0 ≤ k < n, được gọi là hội tụ thứ k của phân số liên tục
Trang 23i ≥ 1 Xét dãy p0, p1, , pn và q0, q1, , qn xác định như sau:
Theo định nghĩa của các sốpj, qj, ta thấy rằng, các số thựcpk−1, pk−2, qk−1,
qk−2 chỉ phụ thuộc vào các thương riêng a0, a1, , ak−1 Do đó, ta có thểthay số thực ak trong biểu thức (1.5) bởi ak + 1
Trang 24C2 = p2
q2
= 227
Trang 25Định lí được chứng minh
Hệ quả 1.17 Giả sử Ck = pk
qk là hội tụ riêng thứ k của phân số liên tục
đơn [a0; a1, , an], trong đó các số nguyên pk, qk được xác định như trongĐịnh lí 1.15 Khi đó pk, qk nguyên tố cùng nhau
Trang 26Từ đó suy ra
Ck − Ck−2 = ak(−1)
k−1
qkqk−2
Ta chuyển sang một định lí có vai trò quan trọng khi xây dựng các phân
Trang 27c Phân số liên tục vô hạn
Giả sử ta có dãy vô hạn các số nguyên dương a0, a1, a2, Vấn đề đặt ralà: có thể xây dựng một phân số liên tục vô hạn [a0; a1, a2, ] hay không?Mục tiêu của phần này là trả lời cho câu hỏi đó Trước tiên ta nhắc lạiđịnh lí sau đây
Định lí 1.20 Giả sử x0, x1, x2, là một dãy các số thực sao cho
x0 ≤ x1 ≤ x2 ≤ ≤ U hoặc x0 ≥ x1 ≥ x2 ≥ ≥ L, trong đó U, L làcác số thực nào đó Khi đó, dãy x0, x1, x2, có giới hạn, tức là tồn tại sốthực x sao cho
Định lí 1.21 Giả sử a0, a1, a2, là dãy vô hạn các số nguyên với a1, a2,
dương Giả sử Ck = [a0; a1, a2, , ak] Khi đó, các hội tụ Ck dẫn đến giớihạn α, tức là
Trang 28và C2j < C2k+1 với mọi số nguyên dương j và k Như vậy, các dãy
C1, C3, C5, vàC0, C2, C4, là các dãy đơn điệu bị chặn Do đó,C1, C3, C5,
dần đến giới hạn α1, dãy C0, C2, C4, dần đến giới hạn α2 tức là
lim
n→∞C2n+1 = α1,lim
Định lí 1.22 Giả sử a0, a1, a2, là các số nguyên, với a1, a2, dương.Khi đó [a0; a1, a2, ] là số vô tỉ
Trang 29Ta sẽ chứng minh điều ngược lại, tức là mỗi số vô tỉ có thể biểu diễnduy nhất dưới dạng phân số liên tục đơn vô hạn.
Định lí 1.23 Giả sử α = α0 là số vô tỉ và a0, a1, a2, là dãy xác địnhtheo công thức sau:
αk+1 = 1
αk − ak