Ngày nay, vận tải hàng không là một phương thức vận tải khá phổ biến, có vai trò hết sức quan trọng và là một mắt xích không thể thiếu trong vận tải quốc tế. Có nhiều cách định nghĩa về vận tải hàng không, theo Luật hàng không dân dụngViệt Nam năm 2006, vận tải hàng không là việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, thư từ, bưu phẩm, bưu kiện từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng đường hàng không. Nói chung, có thể hiểu vận tải hàng không là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng các phương tiện hàng không như máy bay và trực thăng.
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
- -KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG CỦA PHÁP
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Lê Thị Thu Hương
Mã sinh viên: 0851010435 Lớp: Pháp 3 – Khối 5 KT
Người hướng dẫn khoa học:TS Trần Sĩ Lâm
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG 3
1.1 Tổng quan về vận tải hàng không 3
1.1.1 Lịch sử hình thành ngành vận tải hàng không thế giới 3
1.1.2 Vai trò của vận tải hàng không 6
1.1.3 Đặc điểm của vận tải hàng không 8
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không 10
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển vận tải hàng không 13
1.2.1 Nhân tố vĩ mô 13
1.2.2 Nhân tố vi mô 15
1.3 Thực trạng vận tải hàng không thế giới và một số khu vực 17
1.3.1 Vận tải hàng không thế giới 17
1.3.2 Vận tải hàng không một số khu vực trên thế giới 21
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG PHÁP 28 2.1 Khái quát về vận tải hàng không Pháp 28
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 28
2.1.2 Cơ quan quản lý ngành vận tải hàng không Pháp 30
2.1.3 Hãng hàng không tiêu biểu của Pháp – Air France-KLM 32
2.2 Thực trạng phát triển ngành vận tải hàng không Pháp 33
2.2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội Pháp những năm gần đây 33
2.2.2 Sản lượng vận chuyển ngành vận tải hàng không Pháp 34
2.2.3 Đánh giá chung 37
2.3 Bài học kinh nghiệm từ ngành vận tải hàng không Pháp 40
2.3.1 Chú trọng công tác đảm bảo an ninh, an toàn hàng không 40
2.3.2 Chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực 42
2.3.3 Chú trọng đầu tư phát triển công nghệ 44
2.3.4 Quan tâm đến phát triển bền vững – bảo vệ môi trường 45
2.3.5 Phát triển hệ thống quản lý kết hợp 46
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNG KHÔNG VIỆT NAM .48
Trang 33.1 Khái quát ngành vận tải hàng không Việt Nam 48
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển vận tải hàng không Việt Nam 48
3.1.2 Cơ quan quản lý ngành vận tải hàng không Việt Nam 50
3.1.3 Hãng hàng không tiêu biểu của Việt Nam - Vietnam Airlines 51
3.2 Thực trạng phát triển vận tải hàng không Việt Nam 53
3.2.1 Thực trạng hoạt động vận tải hàng không Việt Nam 53
3.2.2 Đánh giá chung 56
3.3 Cơ hội và thách thức đối với vận tải hàng không Việt Nam 58
3.3.1 Dự báo xu hướng phát triển vận tải hàng không Việt Nam 58
3.3.2 Định hướng phát triển vận tải hàng không Việt Nam 60
3.3.3 Cơ hội và thách thức đối với vận tải hàng không Việt Nam 62
3.4 Các giải pháp phát triển vận tải vận tải hàng không Việt Nam 67
3.4.1 Tăng cường nguồn vốn đầu tư 68
3.4.2 Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý của nhà nước 69
3.4.3 Chú trọng phát triển nguồn nhân lực 70
3.4.4 Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về vận tải hàng không 71
3.4.5 Phát triển công nghiệp và công nghệ hàng không 72
3.4.6 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên bảng và biểu đồ Trang
1 Bảng 1.1: Số lượng máy bay dân dụng của thế giới 6
2 Bảng 1.2: Tổng lượng hành khách chuyên chở bằng đường hàng
3 Bảng 1.3: Khối lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường hàng không
4 Bảng 1.4: Tỷ lệ tăng trưởng vận tải hành khách năm 2010 so với
5 Bảng 3.1: Lượng hành khách và hàng hóa luân chuyển qua các năm 54
6 Bảng 3.2: Một số dữ liệu nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây 59
7 Biểu đồ 1.1: Sự tăng trưởng số hành khách – kilomet thực hiện giai
8 Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ tai nạn trong vận tải hàng không thế giới năm
9 Biểu đồ 1.3: Lượng hành khách sân bay theo vùng năm 2009 – 2010 22
10 Biểu đồ 2.1: Doanh thu theo lĩnh vực hoạt động của Air France–
11 Biểu đồ 2.2: Sự tăng trưởng số chuyến bay qua các năm 35
12 Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng lượng hành khách theo khu vực 2010-2011 36
13 Biểu đồ 2.4: Lưu lượng hàng hóa vận chuyển qua các năm 37
14 Biểu đồ 2.5: Độ trễ chuyến bay trung bình qua các năm 39
15 Biểu đồ 2.6: Lượng khí thải CO2 của hàng không Pháp qua các năm 40
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, chủ trương “ làm bạn với tất cả các nước” của nước ta đã và đang từng bước được thực hiện Việt Nam đang từng bước hoà nhập, gắn nền kinh tế của mình với nền kinh tế khu vực và trên thế giới bằng cách tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới như Khối các nước Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực mậu dịch
tự do Đông Nam Á (AFTA), và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tầm ảnh hưởng lớn đến các ngành nghề khác của nền kinh tế, ngành vận tải hàng không Việt Nam đang từng bước phát triển nhằm nâng cao vị thế quốc gia trên trường khu vực và quốc tế
So với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, vận tải hàng không Việt Nam còn khá non trẻ, hiệu quả hoạt động kinh doanh chưa cao, kinh nghiệm quản lý chưa tốt, và còn nhiều khó khăn trở ngại trong tiến trình phát triển Song, hội nhập quốc
tế cho ta cơ hội tiếp cận và học hỏi từ các nền kinh tế phát triển Việt Nam với lợi thế người đi sau có thể tiếp thu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, rút
ra những bài học kinh nghiệm từ những mô hình vận tải hàng không phát triển ở các nước đi trước Pháp là nước công nghiệp phát triển, với ngành vận tải hàng khôngnằm trong tốp phát triển nhất thế giới Để đạt được những kết quả như vậy, chắc hẳn ngành hàng không của Pháp đã từng trải qua những khó khăn, những giai đoạn
mà ngành hàng không Việt Nam đang gặp phải Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển ngành vận tải hàng không của Pháp sẽ giúp Việt Nam đi tắt đón đầu, đưa ngành hàng không nước ta phát triển nhanh chóng, thu hẹp khoảng cách với các nước
trong khu vực và trên thế giới Bởi vậy, em quyết định chọn: “Phát triển vận tải hàng không của Pháp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài Khóa
luận tốt nghiệp
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra giải pháp phát triển ngành vận tải hàng không Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm phát triển ngành hàng không của Pháp
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp phát triển ngành vận tải hàng không của Pháp và giải pháp để phát triển ngành vận tải hàng không của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng phát triển ngành vận tải hàng không Pháp và Việt Nam những năm gần đây mà chủ yếu tập trung nghiên cứu các hãng hàng không
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp diễn giải và quy nạp
Chương 1: Tổng quan về phát triển vận tải hàng không
Chương 2: Kinh nghiệm phát triển vận tải hàng không Pháp
Chương 3: Giải pháp phát triển vận tải hàng không Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN
VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
1.1 Tổng quan về vận tải hàng không
1.1.1 Lịch sử hình thành ngành vận tải hàng không thế giới
Ngày nay, vận tải hàng không là một phương thức vận tải khá phổ biến, có vai trò hết sức quan trọng và là một mắt xích không thể thiếu trong vận tải quốc tế
Có nhiều cách định nghĩa về vận tải hàng không, theo Luật hàng không dân dụngViệt Nam năm 2006, vận tải hàng không là việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, thư từ, bưu phẩm, bưu kiện từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng đường hàng không Nói chung, có thể hiểu vận tải hàng không là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng các phương tiện hàng không như máy bay và trực thăng
Vận tải hàng không là phương thức vận tải còn non trẻ so với các phương thức vận tải khác, mới chỉ phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20 trong khi vận tải đường biển ra đời và phát triển từ thế kỷ 5 trước Công nguyên Ngành hàng không
ra đời đã giúp con người thỏa mãn khát vọng chinh phục thiên nhiên, chinh phục bầu trời Hình thức sơ khai ban đầu của những chiếc máy bay hiện đại ngày nay chính là những phát minh đơn giản như diều, dù hay khinh khí cầu,…
Người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu và chế tạo ra máy bay chính là họa sỹ, nhà vật lý thiên tài Leonardo De Vinci Vào đầu thế kỷ 15, ông đã chế tạo được chiếc cánh máy bay đầu tiên dựa vào việc quan sát và nghiên cứu cơ chế chuyển động bay của loài chim, đó chính là tiền đề cho việc nghiên cứu và chế tạo máy bay Chuyến bay đầu tiên vào không trung được thực hiện vào năm 1873 ở Pháp, khi anh em nhà Montgolfier và Charles đã chế tạo ra khinh khí cầu Hydro và khí nóng đưa một số loài vật như cừu và vịt lên không trung Năm 1809, Geoge Caylay người Anh đã đưa ra thiết kế cánh máy bay Trong những năm từ 1843 đến
1848, Henson và String Fellow sáng chế và cho bay thử mẫu máy bay một lớp cánh quạt không người lái và thí nghiệm trong một nhà máy kín chạy bằng hai cánh quạt
và động cơ hơi nước, nó bay được khoảng 40m Tiếp đó, năm 1852-1855, Herni Giffard người Pháp đã sáng chế ra khinh khí cầu điều khiển được hướng bay, sử
Trang 8dụng động cơ 3HP, bay cao được 183m Năm 1891-1896, Otto Lilin Thal ở Đức đã sáng chế ra chiếc tàu có thể vừa bay vừa lượn, đây là phát minh quan trọng, tạo tiền
đề cho việc chế tạo ra máy bay sau này Năm 1896, Giáo sư Langlay đã lần đầu tiên chế tạo ra máy bay sử dụng động cơ hơi nước Đến năm 1897, chiếc khinh khí cầu chạy bằng động cơ xăng đầu tiên đã được chế tạo bởi Wolfert người Đức
Bước sang thế kỷ 20, cùng với những tiến bộ về Khoa học công nghệ, lịch sử hàng không thế giới đã thực sự bước sang một kỷ nguyên mới Năm 1900, khí cầu chạy bằng hai động cơ xăng 15HP đã được chế tạo bởi Zeppelin người Đức, sau đó đến năm 1906, khí cầu này đã được cải tiến sử dụng hai động cơ xăng 85HP Trong khoảng thời gian từ năm 1911 – 1913, các khinh khí cầu đã chuyển chở được lượng hành khách lên đến 19.109 hành khách Khi anh em nhà Wright là Orville và Wilbur đã đánh dấu bước phát triển mới, mở ra một trang mới cho hàng không thế giới khi họ đã chế tạo và bay thành công trên chiếc máy bay 2 tầng có cánh bằng gỗ
và được gắn động cơ vào ngày 17/12/1903 Tuy chiếc máy bay này chỉ bay được một quãng đường ngắn nhưng hai anh em nhà Wright được coi là những người đầu tiên trong lịch sử chế tạo ra động cơ bay mà ngày nay chúng ta gọi là máy bay
Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1919) đã thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng không để phục vụ nhu cầu vận tải quân sự Ngành hàng không đã bắt đầu phát triển nhanh và đạt được nhiều thành tựu cả về thời gian, khoảng cách, tốc
độ, độ cao và độ an toàn trong khi bay
Nhờ những tiến bộ lớn của khoa học kỹ thuật, ngành hàng không đã không ngừng mở rộng phát triển với rất nhiều chuyến bay thử nghiệm thực tế đã khẳng định khả năng làm chủ bầu trời của con người như chuyến bay của Richard Byrd từ Bắc Cực đến Nam cực vào năm 1926, hay chuyến bay vượt Đại Tây Dương của phi công Charles Lindbergh vào năm 1927 trên chiếc máy bay cánh quạt loại động cơ 22HP Đặc biệt với sự ra đời của chiếc máy bay Douglas DC-3, đây là chiếc máy bay dân dụng cỡ lớn đầu tiên mang lại lợi nhuận chỉ bằng hình thức vận chuyển hành khách Do sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới II, nhiều thành phố và đô thị lớn đã xây dựng các sân bay, và có nhiều phi công đủ trình độ đã gia nhập quân đội
Trang 9để lái máy bay chiến đấu Chiến tranh đã mang đến nhiều sự cách tân cho hàng không, bao gồm những máy bay phản lực đầu tiên và tên lửa nhiên liệu lỏng.
Sau Chiến tranh Thế giới II, vận tải hàng không bắt đầu chuyển sang phục vụ mục đích dân sự Đặc biệt ở Bắc Mỹ, có một sự bùng nổ trong ngành hàng không dân dụng, cả tư nhân lẫn thương mại, khi hàng nghìn phi công được giải ngũ và nhiều máy bay vận tải, huấn luyện của quân đội dư thừa không được sử dụng đến nên chúng đã được bán đi, các hãng chế tạo máy bay như Cessna, Piper,
và Beechcraft cũng mở rộng sản xuất để cung cấp máy bay hạng nhẹ cho thị trường giai cấp tiểu tư sản mới Đây chính là tiền đề cho sự phát triển của ngành vận tải hàng không thế giới cả về chiều rộng và chiều sâu
Từ sau năm 1945 đến nay, ngành vận tải hàng không quốc tế đã phát triển một cách nhanh chóng Công nghệ sản xuất, chế tạo và điều khiển máy bay ngày càng hiện đại, đối tượng chuyên chở của vận tải hàng không ngày càng đa dạng, khối lượng vận chuyển ngày càng tăng Những năm trước do cước phí vận tải hàng không quá cao nên vận tải hàng không chủ yếu phục vụ hành khách công vụ, thư tín
và những hàng hóa có giá trị cao nhưng ngày nay, đối tượng vận chuyển của vận tải hàng không bao gồm cả hành khách và hàng hóa thông thường Nếu năm 1945 mới chỉ có 9 triệu hành khách (5% dân số thế giới lúc bấy giờ) đi lại trên các chuyến bay, đến năm 1994, số hành khách đi lại bằng máy bay đạt 1,3 tỷ người (chiếm 25% dân số thế giới lúc bấy giờ) và đến năm 2010, số hành khách vận chuyển của ngànhhàng không đạt trên 2,5 tỷ lượt
Cùng với sự tiến bộ về khoa học công nghệ, số lượng máy bay, sân bay và các hãng hàng không trên thế giới tăng lên nhanh chóng Số lượng máy bay dân dụng được sử dụng trên thế giới tăng lên qua các năm như trong bảng thống kê của Boeing dưới đây Theo thống kê mới nhất của hãng Boeing, để phục vụ nhu cầu vận tải hàng không ngày càng tăng của thế giới, số lượng máy bay sẽ tăng trung bình 3% một năm, đến năm 2030 trên toàn thế giới có khoảng trên 39.500 máy bay, gấp đôi con số 19.400 máy bay hiện nay
Trang 10Bảng 1.1: Số lượng máy bay dân dụng của thế giới
1.1.2 Vai trò của vận tải hàng không
Vận tải hàng không là phương thức vận tải còn non trẻ so với các phương thức khác nhưng nó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
xã hội Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) đánh giá vai trò của ngành vận tải hàng không như sau: “Vận tải hàng không là một trong những nguồn lực có tính sống còn nhất của thế giới Sự phát triển của nó với tư cách là ngành kinh tế và lĩnh vực dịch vụ đã đặt vận tải hàng không vào vị trí của một trong những ngành có đóng góp lớn nhất vào thành tựu xã hội hiện đại Vận tải hàng không là yếu tố cần thiết cho sự phát triển kinh tế Trong một cộng đồng và thị trường toàn cầu đang tăng nhanh, vận tải hàng không tạo điều kiện để vận chuyển một cách nhanh chóng hàng triệu người và hàng tỷ USD hàng hóa đến các thị trường trên toàn thế giới”
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đi lại, vận chuyển của con người ngày càng tăng Cùng với các phát minh về khoa học kỹ thuật, ngành vận tải hàng không
đã đáp ứng mong muốn việc vận chuyển thuận tiện, nhanh chóng và an toàn của con người Ngành hàng không khi mới ra đời chỉ phục vụ nhu cầu quân sự, nhưng dần dần nó đã phát triển và gắn liền với nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa và
đã trở thành một ngành quan trọng trọng nền kinh tế quốc dân
Trang 11Vận tải hàng không là ngành công nghiệp lớn, không ngừng phát triển, đóng vai trò quan trọng trong và có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế quốc dân, bởi nó đem lại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu cho ngân sách nhà nước vận tải hàng khôngchỉ chuyên chở khoảng 1% khối lượng hàng hóa trong buôn bán quốc tế nhưng lại chiếm khoảng 20-30% giá trị hàng hóa Vận tải hàng không phát triển còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, bởi vận tải hàng khônggiúp cho việc vận chuyển nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị và thành phẩm một cách thuận tiện, nhanh chóng hơn
Vận tải hàng không chiếm vị trí quan trọng số một trong việc chuyên chở hàng hóa cần giao ngay, khẩn cấp như hàng chuyển phát nhanh, thư từ, hàng có giá trị cao, hàng mau hỏng, dễ thối như hàng thực phẩm tươi sống, súc vật sống và các loại hàng hóa mang tính thời vụ, nhạy cảm về thời gian như các mặt hàng thời trang, hàng cứu trợ khẩn cấp trong thiên tai, bão lụt,…
Vận tải hàng không có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu kinh tế giữa các nước Ngành hàng không phát triển đã khắc phục những trở ngại về địa hình và khoảng cách giữa các khu vực trên thế giới Ở một số quốc gia phát triển người ta dùng thời gian tiêu phí để đo lường khoảng cách thay vì dùng đơn vị đo khoảng cách Vận tải hàng không làm cho việc giao thương giữa các nước dễ dàng hơn, thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển
Vận tải hàng không còn là cầu nối của các nền văn hóa của các dân tộc, là phương tiện chính của du khách trong du lịch quốc tế Vận tải hàng không có ảnh hưởng đến hầu hết các ngành kinh tế khác đặc biệt là ngành công nghiệp du lịch và thương mại Có thể nói vận tải hàng không là yếu tố cốt lõi để hình thành các trung tâm thương mại và du lịch hiện đại
Vận tải hàng không là một mắt xích quan trọng trong việc liên kết các phương thức vận tải khác như vận tải đường bộ, vận tải đường biển, vận tải đường sắt với nhau tạo thành phương thức vận tải đa phương thức giúp cho việc vận chuyển diễn ra nhanh chóng và thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí
Sự phát triển của vận tải hàng không được coi là bộ mặt của quốc gia, chỉ tiêu phát triển ngành hàng không còn có thể phản ánh năng lực quản lý của nhà
Trang 12nước, trình độ kỹ thuật và khả năng kinh tế của quốc gia Trình độ công nghệ tiên tiến của ngành hàng không là động lực phát triển cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở các quốc gia đang phát triển Vận tải hàng không có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nên được chú trọng phát triển.
1.1.3 Đặc điểm của vận tải hàng không
1.1.3.1 Ưu điểm
Tuyến đường trong vận tải hàng không là tuyến đường hình thành trong không gian, được xác định chủ yếu bằng các phương pháp định hướng và thường là đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau nếu không tính đến sự thay đổi độ cao trong quá trình di chuyển Tuyến đường trong vận tải hàng không không phụ thuộc vào các yếu tố địa lý, địa hình mặt đất, mặt nước, không cần đầu tư xây dụng cơ sở
hạ tầng Tuyến đường vận tải hàng không là tuyến đường ngắn nhất so với tuyến đường vận chuyển của các phương thức vận tải khác Thông thường ngắn hơn tuyến đường trong vận tải đường bộ và đường sắt khoảng 20% và ngắn hơn tuyến đường trong vận tải đường sông khoảng 10% (Nguyễn Hồng Đàm, 2005, tr.152) Do đó vận tải hàng không có nhiều lợi thế về khoảng cách so với các phương thức vận tải khác
Tốc độ vận chuyển của vận tải bằng đường hàng không cao, tốc độ khai thác lớn và thời gian vận chuyển nhanh Thông thường, tốc độ vận tải bằng đường hàng không nhanh gấp 27 lần so với vận tải đường biển, gấp 10 lần so với vận tải bằng đường bộ và gấp 8 lần so với vận tải đường sắt (Nguyễn Hồng Đàm, 2005, tr.152)Với ưu thế về tốc độ, vận tải bằng đường hàng không có thể giảm được đáng kể thời gian vận chuyển Do đó vận tải hàng không chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc vận chuyển hàng hóa cần giao ngay, hàng hóa tươi sống, hàng cứu trợ khẩn cấp, những mặt hàng nhạy cảm về thời gian và những hàng hóa có giá trị cao
Vận tải hàng không là phương thức vận tải an toàn nhất, ít tổn thất nhất trong các phương thức vận chuyển vì thời gian vận chuyển ngắn nhất, trang thiết bị vận chuyển hiện đại nhất, máy bay bay ở độ cao trên 9000m trên tầng điện ly nên trừ lúc cất cánh, hạ cánh máy bay hầu như không bị tác động bởi các hiện tượng tự nhiên
Trang 13như sấm sét, mưa bão… trong hành trình chuyên chở (Nguyễn Hồng Đàm, 2005, tr.152).
Vận tải đường hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao do đối tượng của vận tải hàng không chủ yếu là hành khách, những hàng hóa có giá trị cao, hàng hóa cứu trợ khẩn cấp… nên đòi hỏi phải an toàn tuyệt đối trong quá trình vận chuyển vận tải hàng không không cho phép sai sót dù là nhỏ nhất nên luôn đòi hỏi những tiêu chuẩn rất khắt khe về công nghệ kỹ thuật
Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác và được đơn giản hóa về thủ tục, chứng từ do máy bay thường bay thẳng, ít qua các trạm kiểm soát, kiểm tra, chuyển tải dọc hành trình nên hành khách và hàng hóa được vận chuyển thẳng từ sân bay đến sân bay
Vận tải hàng không không thích hợp đối với việc chuyên chở hàng hóa có khối lượng lớn, cồng kềnh, do máy bay có trọng tải và dung tích không lớn.(Nguyễn Hồng Đàm, 2005, tr.152)
Vận tải hàng không cũng đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện máy bay, sân bay, đào tạo nhân lực, xây dựng hệ thống kiểm soát không lưu, đặt chỗ toàn cầu, chi phí tham gia các tổ chức quốc tế về hàng không
Do đó khả năng phát triển vận tải hàng không của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn, công nghệ và đào tạo
Trang 141.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không
1.1.4.1 Cảng hàng không
Trước đây trong một thời gian dài, ở Việt Nam sử dụng khái niệm sân bay như là cảng hàng không Kể từ khi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi năm 2006 thì khái niệm cảng hàng không đã được xác định rõ: “Cảng hàng không là khu vực xác định, bao gồm sân bay, nhà ga và trang bị, thiết bị, công trình cần thiết khác được sử dụng cho tàu bay đi, đến và thực hiện vận chuyển hàng không” (Dương Cao Thái Nguyên, 2010A, tr.15) Như vậy cảng hàng không là một kháiniệm rộng hơn sân bay
Sân bay là một phần của cảng hàng không, nó là khu vực xác định được xây dựng để bảo đảm cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển (Dương Cao Thái Nguyên, 2010A, tr.15) Trong các sân bay dân dụng nói chung có sân bay chuyên dụng và sân bay dùng chung dân dụng lẫn quân sự Sân bay chuyên dụng là sân baychỉ phục vụ mục đích khai thác hàng không chung hoặc mục đích vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư mà không phải vận chuyển công cộng Trong khi đó, sân bay dùng chung dân dụng và quân sự là sân bay phục vụ cho cả hoạt động dân dụng và quân sự
Cảng hàng không, sân bay có một vai trò quan trọng trong ngành hàng không dân dụng Nó đảm bảo hạ tầng khai thác tại các điểm đi và điểm đến cho hoạt động vận tải hàng không cũng như hoạt động hàng không chung Máy bay chỉ có thể bay
từ điểm này đến điểm khác khi có cảng hàng không, sân bay ở những điểm đó Tương tự hành khách hay khách hàng muốn đi hay vận chuyển hàng hóa từ điểm này đến điểm khác khi ở đó có cảng hàng không, sân bay
Cảng hàng không, sân bay có khu vực lân cận để bảo đảm an toàn cho hoạt động hàng không dân dụng và dân cư trong khu vực đó Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, cảng hàng không và sân bay phải được đăng ký vào Sổ đăng bạ cảng hàng không, sân bay Cảng hàng không, sân bay chỉ được khai thác sau khi Bộ Giao thông vận tải cấp Giấy chứng nhận khai thác cảng hàng không, sân bay Việc cho phép, không cho phép hoạt động của cảng hàng không, sân bay theo quyết định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền gọi là mở, đóng cảng hàng không, sân bay
Trang 15Cảng hàng không, sân bay có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Theo chủ thể quản lý, có thể chia thành cảng hàng không của trung ương hay địa phương Theo hình thức sở hữu có thể chia thành cảng hàng không, sân bay của Nhà nước, tư nhân hay hỗn hợp Theo chức năng, có thể chia thành các cảng hàng không, sân bay chuyên phục vụ hàng không dân dụng, chuyên dụng và dùng chung dân dụng lẫn quân sự Theo quy mô, có thể chia thành các cảng hàng không, sân bay có quy mô lớn, vừa và nhỏ Theo phân cấp tiêu chuẩn dịch vụ của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), cảng hàng không, sân bay có 4 tiêu chuẩn là 1, 2,
3, 4 Trong mỗi tiêu chuẩn lại có các A, B,C, D, E Dưới góc độ quản lý chung nhất, các quốc gia đều chia cảng hàng không thành 2 loại là cảng hàng không quốc
tế và cảng hàng không nội địa Cảng hàng không quốc tế là cảng hàng không phục
vụ cho vận chuyển quốc tế và vận chuyển nội địa Còn cảng hàng không nội địa là cảng hàng không phục vụ cho vận chuyển nội địa Trong cảng hàng không quốc tế, ngoài các lĩnh vực trong ngành hàng không hoạt động còn có các cơ quan có liên quan cho việc vận chuyển hàng không quốc tế như: Hải quan, Công an cửa khẩu, Kiểm dịch y tế…
Các công trình cơ bản trong Cảng hàng không gồm: sân bay, nhà ga và trang
bị, thiết bị, công trình cần thiết khác
- Sân bay là khu vực để bảo đảm cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển Thông thường một sân bay gồm có đường cất hạ cánh (đường băng cho tàu bay cất hạ cánh), đường lăn dẫn để dẫn máy bay từ đường băng vào sân đậu hoặc nhà ga và ngược lại, sân đỗ để đỗ tàu bay, đài kiểm soát không lưu và các công trình, khu phụ trợ khác của sân bay
- Nhà ga hàng không là khu vực cung cấp dịch vụ hàng không để làm thủ tục cho hành khách, hành lý, hàng hóa Có những nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa và nhà ga dùng chung cho cả hành khách và hàng hóa Một nhà ga hành khách thông thường sẽ có khu vực làm thủ tục đi (check-in), đến (check-out), phòng chờ, khu nhận hành lý, nhà hàng ăn uống, bán hàng lưu niệm, khu vực vệ sinh và các khu vực công cộng khác
Trang 16- Trong cảng hàng không còn có các trang thiết bị khai thác tàu bay, vận chuyển hành khách, hành lý từ nhà ga đến tàu bay và ngược lại, và các trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy cũng như các trang thiết bị cần thiết khác để đảm bảo an toàn và an ninh hàng không Một số cảng hàng không lớn còn còn có các cơ
sở cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, cơ sở cung cấp dịch vụ kỹ thuật mặt đất, khu suất ăn hàng không, khu dịch vụ bảo dưỡng tàu bay, cơ sở an ninh hàng không, khu xăng dầu hàng không, trụ sở các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động thường xuyên tại cảng hàng không, sân bay, nhà hàng và các công trình cung cấp dịch vụ khác
1.1.4.2 Máy bay
Máy bay là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu, là phương tiện chuyên chở của vận tải hàng không Ở đây, chúng ta chỉ nói đến máy bay dân dụng, dùng cho mục đích vận chuyển hành khách và hàng hóa Có nhiều căn cứ để phân loại máy bay như căn cứ vào động cơ có các loại như máy bay động cơ piston, máy bay động cơ tuabin cánh quạt, máy bay động cơ tua bin phản lực; căn cứ vào số ghế trên máy bay có các loại máy bay loại nhỏ từ 50 đến 100 ghế, loại trung bình từ trên 100 đến
200 ghế, loại máy bay lớn từ 200 ghế trở lên; căn cứ phân loại phổ biến nhất là căn
cứ vào đối tượng vận chuyển ta có thể phân thành các loại máy bay sau:
- Máy bay chở khách: là máy bay dùng chủ yếu để chuyên chở hành khách, đồng thời có thể chuyên chở một lượng ít hàng hóa của hành khách ở boong dưới Loại máy bay này thường có tần suất rất cao và được trang bị tiện nghi tốt để phục vụ hành khách
- Máy bay chở hàng hóa: là máy bay chủ yếu dùng để chuyên chở hàng hóa Loại máy bay này có thể chở một khối lượng hàng lớn lên đến hàng chục, hàng trăm tấn hàng một chuyến, có thể vận chuyển những hàng hóa có kích thước cồng kềnh và chủng loại hàng hóa đa dạng hơn so với máy bay chở khách Tuy nhiên tần suất bay thấp, chi phí hoạt động nhiều nên cước phí rất cao Do đó, loại máy bay này chỉ được sử dụng bởi các hãng có tiềm lực kinh tế, kinh doanh ở những khu vực
có luồng hàng luân chuyển lớn và ổn định
Trang 17- Máy bay hỗn hợp: Là loại máy bay vừa chuyên chở hành khách vừa chuyên chở hàng hóa ở cả boong chính và boong dưới Loại máy bay này còn được gọi là máy bay thay đổi nhanh, tùy thuộc lượng hành khách và hàng hóa cần chuyên chở Do đó loại máy bay này có tính linh hoạt và cơ động cao, có thể dễ dàng điều chỉnh khả năng chuyên chở theo yêu cầu.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển vận tải hàng không
Hoạt động vận tải hàng không cũng giống như bất kỳ một phương thức vận tải nào khác, đều chịu sự tác động của nhiều nhân tố Trong đó có những nhân tố khách quan như môi trường luật pháp, môi trường chính trị, thời tiết, đặc điểm của hàng hoá Bên cạnh đó, sự phát triển của vận tải hàng không cũng chịu sự tác động trực tiếp từ những nhân tố chủ quan, những nhân tố bên trong các hãng hàng khôngnhư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, máy móc, nguồn vốn đầu tư, trình độ nguồn nhân lực
1.2.1 Nhân tố vĩ mô
1.2.1.1 Môi trường pháp luật
Vận tải hàng không có tính chất quốc tế do có liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau Nên môi trường luật pháp ở đây cần được hiểu là môi trường luật pháp không chỉ luật pháp của một quốc gia mà còn cả luật pháp quốc tế
Các bộ luật của các quốc gia cũng như các Công ước quốc tế không chỉ quy định về phạm vi hoạt động mà còn quy định rất rõ ràng về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan trong vận tải hàng không Bất kỳ một sự thay đổi nào ở một trong những môi trường luật pháp nói trên như sự ban hành, phê duyệt một thông tư hay nghị định của Chính phủ ở một quốc gia hay sự phê chuẩn, thông qua một Công ước quốc tế cũng sẽ có tác động lớn đến hoạt động vận tải đường hàng không Cho nên, việc hiểu biết về những nguồn luật khác nhau, đặc biệt là của những quốc gia khác là rất quan trọng đối với sự phát triển của vận tải hàng không
Hệ thống luật quốc gia và quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho ngành vận tải hàng không phát triển
Trang 181.2.1.2 Môi trường kinh tế, chính trị
Có thể nói, sự phát triển của nền kinh tế có tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ đến sự phát triển của ngành vận tải hàng không Kinh tế phát triển tạo nên những nhu cầu lớn cho ngành hàng không Không chỉ lượng khách du lịch quốc tế tăng nhanh do thu nhập tăng mà cả lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường hàng không cũng tăng do kinh tế phát triển kéo theo sự gia tăng của các hợp đồng xuất nhập khẩu và cùng với đó là các hợp đồng chuyên chở Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1997 khiến các công ty hàng không lâm vào tình trạng thua lỗ, thậm chí đã
có 32 hãng hàng không trên toàn thế giới tuyên bố phá sản Hay cuộc suy thoái kinh
tế toàn cầu năm 2008 cũng đã làm cho gần 70 hãng hàng không bị phá sản (theo thống kê của IATA) Đến năm 2010, khi nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi thì các hãng hàng không trên thế giới cũng đạt tăng trưởng cao Điều đó cho thấy những tác động to lớn của sự phát triển kinh tế đối với sự phát triển của vận tải hàng không
Sự ổn định chính trị, xã hội của mỗi quốc gia không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia đó phát triển mà còn là một trong những yếu tố để các quốc gia khác và thương nhân người nước ngoài giao dịch và hợp tác với quốc gia đó Những biến động trong môi trường chính trị, xã hội ở các quốc gia sẽ tác động rất lớn đối với hoạt động của vận tải hàng không không chỉ của quốc gia đó mà còn của nhiều quốc gia khác trên thế giới Chẳng hạn như ở một quốc gia thường xảy ra xung đột
vũ trang hay đình công, bạo động thì hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của quốc gia đó với các quốc gia khác, ngành du lịch sẽ kém phát triển do các nhà đầu
tư, thương nhân và du khách lo ngại về vấn đề an ninh, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa của ngành vận tải hàng không
1.2.1.3 Môi trường công nghệ
Sự đổi mới ngày càng nhanh về mặt công nghệ trong vận tải hàng không đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ hàng không, giảm chi phí khai thác, tác động đến ghế suất của các hãng hàng không trên thế giới và xuất hiện nhu cầu tài trợ để mua máy bay mới
Trang 19Ngày nay, ngày càng nhiều máy bay thế hệ mới ra đời hiện đại hơn nhiều so với các máy bay thế hệ cũ trước đó Những máy bay này có chỉ số kinh tế kỹ thuật tốt nhất, tiện sử dụng cho người lái Việc áp dụng những vật liệu mới trong chế tạo máy bay, cải tiến cách thức thiết kế khoang hành khách, giảm tiếng ồn khi vận hành máy bay, tiết kiệm nhiên liệu… cùng với việc áp dụng công nghệ tin học mới trong việc chế tạo, khai thác và bảo dưỡng máy bay đã mang lại cho ngành vận tải hàng không những kết quả đáng kể Bên cạnh đó, việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại trong quản lý, điều hành bay làm cho vấn đề an ninh, an toàn hàng không được đảm bảo, tạo niềm tin ngày càng lớn đối với khách hàng.
1.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật, trong vận tải hàng không là yếu tố vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định lớn đối với sự phát triển của ngành vận tải hàng không Đây cũng là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển, sự lớn mạnh, quy
mô của một hãng hàng không hay cả ngành hàng không của một quốc gia Cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật trong vận tải hàng không bao gồm cảng hàng không, máy bay, các thiết bị làm hàng Hiểu một cách đơn giản, một quốc gia hay một hãng hàng không có đội tàu bay lớn mạnh, mạng lưới cảng hàng không đạt tiêu chuẩn rộng khắp, có đầy đủ các trang thiết bị máy móc hiện đại liên quan đến hoạt động bay và quản lý bay tức là có hệ số tải lớn Bên cạnh đó với những trang thiết bị máy móc hiện đai, hệ thống máy tính và công nghệ thông tin hiện đại giúp cho việc quản
lý và điều hành hoạt động bay tốt hơn, hệ số an toàn cao hơn, tạo tâm lý yên tâm cho khách hàng Từ đó hãng hàng không nói riêng và cả ngành vận tải hàng không nói chung sẽ thu hút được lượng khách hàng lớn, với số hành khách ngày càng tăng, sản lượng hàng hóa vận chuyển cũng tăng
Bởi vậy, muốn phát triển ngành vận tải hàng không trước hết cần đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật vững mạnh
1.2.2 Nhân tố vi mô
1.2.2.1 Nguồn vốn đầu tư
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn vốn kinh doanh nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó Ngành vận
Trang 20tải hàng không là một ngành kinh doanh đặc thù với những yêu cầu về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, những trang thiết bị phục vụ tiên tiến, hiện đại, bởi vậy vận tải hàng không đòi hỏi một nguồn vốn vô cùng lớn Để tạo được nguồn vốn kinh doanh dồi dào, các hãng hàng không ngoài nguồn vốn sở hữu, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (nếu có) còn tiến hành cổ phần hóa, bán cổ phiếu, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài như liên doanh, liên kết, tìm các đối tác đầu tư chiến lược, mở rộng loại hình kinh doanh như kinh doanh nhà hàng, khách sạn và các dịch vụ khác Bên cạnh đó, để tồn tại và phát triển, các hãng cũng cần phải có chiến lược sử dụng nguồn vốn đầu tư hợp lý và hiệu quả
1.2.2.2 Trình độ nguồn nhân lực
Trong bất kỳ một lĩnh vực nào, một ngành kinh tế nào, yếu tố nguồn nhân lực cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định quá trình sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế thế giới đang dần chuyển sang một xu thế mới đó là nền kinh tế tri thức, công nghệ khoa học ứng dụng vào đời sống ngày càng nhiều thì trình độ nguồn nhân lực lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Đối với ngành vận tải hàng không, nguồn nhân lực cũng là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành
Ngành vận tải hàng không sử dụng những cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị máy móc vô cùng hiện đại bởi vậy nguồn nhân lực hoạt động trong ngành đòi hỏi phải có trình độ, có tay nghề cao, khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ tốt Bên cạnh đó, vận tải hàng không là ngành kinh doanh đặc biệt, đòi hỏi nguồn nhân lực có tri thức cao, nhanh nhẹn, nhạy bén trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, công tác nghiên cứu, tiếp cận thị trường
1.2.2.3 Giá nhiên liệu
Ngành vận tải hàng không cũng như các ngành vận tải khác, giá nhiên liệu luôn là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp Bởi giá nhiên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của vận tải hàng không Theo số liệu của IATA, giá nhiên liệu chiếm 1/3 tổng chi phí của ngành hàng không Theo IATA, trong năm 2012, giá trung bình một thùng dầu thô sẽ lên tới 115 USD, thay
vì 99 USD như dự báo trước đây Từ cuối năm 2011 đến nay, giá dầu thế giới đã
Trang 21tăng 12% và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng bởi Iran đã đe dọa sẽ đóng cửa eo biển Hormuz - điểm xuất dầu chủ chốt của các nước vùng Vịnh Và nếu xảy ra xung đột với Iran, thì mức giá này có thể lên tới 150 USD Điều đó khiến các hãng hàng không trên thế giới sẽ phải chi ra thêm 32 tỷ USD để bù vào giá nhiên liệu Tổng mức lãi của các hãng hàng không sẽ bị giảm từ 3,5 tỷ USD xuống còn 3 tỷ USD.
Cùng với tác động trực tiếp đến lợi nhuận do tăng giá nhiên liệu, IATA cũng cho biết, ngành công nghiệp hàng không đang phải đối mặt với rủi ro mất lợi nhuận
vì giá dầu tăng tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng gián tiếp đến ngành hàng không
1.3 Thực trạng v ận tải hàng không thế giới và một số khu vực
1.3.1 Vận tải hàng không thế giới
Ngành vận tải hàng không thế giới đã phát triển nhanh chóng cả chiều rộng
và chiều sâu Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu đi xuống đã có tác động lớn đối với ngành vận tải hàng không Khủng hoảng kinh tế thế giới, đại dịch cúm H1N1 và giá nhiên liệu tăng được cho là những nguyên nhân khách quan khiến cho nhu cầu vận chuyển của ngành hàng không giảm mạnh đồng thời chi phí đầu vào tăng cao Theo thống kê của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế IATA, cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 làm cho số lỗ của ngành hàng không toàn thế giới năm 2009 là khoảng 11 tỷ USD Lượng hành khách chuyên chở năm 2009 giảm 3,5% so với năm 2008, lượng hàng hóa vận chuyển giảm 10,1% , hệ số tải hành khách trung bình chỉ đạt 75,6% và hệ số tải hàng hóa trung bình đạt 49,1% Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cũng làm cho khoảng 70 hàng hàng không trên toàn thế giới phải tuyên bố phá sản
Sang năm 2010, nền kinh tế thế giới đã bắt đầu phục hồi, ngành hàng không thế giới cũng bắt đầu tăng trưởng trở lại Theo thống kê sơ bộ của ICAO, số hành khách - kilomet đã bay ở tất cả các dịch vụ thông thường (quốc tế và nội địa) trên thế giới năm 2010 đã tăng khoảng 8,0% so với năm 2009
Trang 22Bảng 1.2: Tổng lượng hành khách chuyên chở bằng đường hàng không thế giới
giai đoạn 2001- 2010
Năm Lượng hành khách (HK) Lượng hành khách - kilomet
Triệu HK Tỷ lệ tăng (%) Triệu HK - km Tỷ lệ tăng (%)
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 của ICAO
Trong năm 2010, các hãng hàng không của 190 nước thành viên của ICAO
đã vận chuyển khoảng 2,5 tỷ hành khách, tăng khoảng 8,7% so với năm 2009 Lưu lượng hành khách quốc tế năm 2010 cũng tăng 8,5% so với năm 2009, do sự phục hồi mạnh mẽ trong kinh doanh du lịch và giải trí, đặc biệt là tại các thị trường mới nổi như BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc), nơi du lịch đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ Sự tăng trưởng lớn nhất là ở các hãng hàng không ở Trung Đông (20,5%), tiếp theo là khu vực châu Phi (18,3%) và châu Á Thái Bình Dương (12,6%) Đối với châu Âu, châu Mỹ La tinh và Bắc Mỹ tỷ lệ tăng trưởng lần lượt là 7,7%, 6,6% và 6,6% Những con số này tương đối thấp hơn so với tiềm năng của châu Âu do sự hoạt động trở lại của núi lửa Eyjafjallajökull dẫn đến việc đóng cửa một phần vùng trời châu Âu trong mùa xuân Ước tính hơn 100.000 chuyến bay bị hủy bỏ, và 9 triệu hành khách đã bị ảnh hưởng Đối với vận tải hàng không nội địa, tốc độ tăng trưởng của Bắc Mỹ, Trung Đông và châu Phi lần lượt là 2,4%, 7,7%, và 7,6%, so với 12,8% ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, 18,6% Châu Mỹ La Tinh
Trang 23và 9,9% ở châu Âu Có thể nói, sự tăng trưởng ấn tượng của vận tải hàng không ở các nước đang phát triển một phần là do tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước này nhanh hơn các nước phát triển Năng lực vận chuyển hành khách của vận tải hàng không thế giới (được thể hiện ở chỉ số chỗ ngồi – kilomet khả dụng) đã tăng 6,1% Trong đó ở khu vực Trung đông tăng 18,9% và Bắc Mỹ tăng 2,6% Các hệ số tải cũng tăng trung bình khoảng 1% (IATA,2011 B).
Biểu đồ 1.1: Sự tăng trưởng số hành khách – kilomet thực hiện
giai đoạn 2001 – 2010
(Đơn vị: tỷ hành khách – km)
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 của ICAO
Cùng với sự phục hồi nhanh chóng của ngành hàng không thế giới về vận chuyển hành khách, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không trên toàn thế giới năm 2010 là 172.177 triệu tấn – kilomet, tăng trưởng 19,8% so với năm
2009, đây là mức tăng cao nhất trong ba thập niên trở lại đây Khu vực dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng là khu vực châu Á – Thái Bình Dương đạt tới 23,6% Một xu hướng mới trong ngành công nghiệp hàng không đó là sự liên kết các hàng hàng không nhằm tăng cường vị thế và năng lực cạnh tranh Xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ chủ yếu là ở Mỹ và châu Âu Bên cạnh đó là xu hướng mở rộng và phát triển các hãng hàng không giá rẻ đặc biệt là ở châu Á, nơi chiếm 15% thị phần vận tải hành khách bằng đường hàng không của thế giới
Trang 24Bảng 1.3: Khối lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường hàng không thế giới
giai đoạn 2001 – 2010
Năm Lượng hàng hóa Lượng hàng hóa tấn - kilomet
Triệu tấn Tỷ lệ tăng (%) Triệu tấn - km Tỷ lệ tăng (%)
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 của ICAO
Về vấn đề an ninh, an toàn hàng không, theo một phân tích toàn cầu về an toàn hàng không liên quan đến những máy bay thương mại chở hàng trên 2.250 kilogam thì năm 2010 có 135 vụ tai nạn, trong đó có 19 trường hợp nghiêm trọng, tăng 19,4% so với năm 2009 (có 113 vụ tai nạn được ghi nhận) Số nạn nhân trong các vụ tai nạn của năm 2010 lên đến 767 nạn nhân, tăng 25,7% so với con số 610 nạn nhân vào năm 2009 Mặc dù số vụ tai nạn trong năm 2010 tăng lên do sự tăng trưởng của vận tải hàng không thế giới, nhưng tỷ lệ tai nạn về cơ bản vẫn không thay đổi vào khoảng 4 vụ tai nạn trên một triệu chuyến bay thông thường Đối với vận tải hành khách năm 2010 ghi nhận 137 vụ tai nạn (trong đó có 29 vụ tai nạnnghiêm trọng gây chết người), so với 145 vụ vào năm 2009 Số hành khách tử vong
đã giảm từ 200 người trong năm 2009 còn 154 trong năm 2010 (IATA,2011 B)
Trang 25Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ tai nạn trong vận tải hàng không thế giới năm 2000-2010
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 của ICAO
1.3.2 Vận tải hàng không một số khu vực trên thế giới
1.3.2.1 Khu vực châu Âu
Vận tải hàng không và công nghiệp hàng không dân dụng là ngành sản xuất mũi nhọn của châu Âu, sử dụng hơn một nửa triệu người lao động trực tiếp có trình
độ cao, tạo ra khoảng 2,6 triệu việc làm gián tiếp, đóng góp 240 tỷ Euro vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Vận tải hàng không nói riêng và ngành công nghiệp hàng không dân dụng nói chung được coi là một trong những lĩnh vực vận tải chiến lược của khu vực châu Âu
Theo số liệu thống kê của IATA, năm 2010, lượng hành khách của vận tải hàng không châu Âu đã tăng 6% lên 0,8 tỷ lượt hành khách so với năm 2009, lượng hành khách – kilomet cũng tăng lên 5,1% so với năm 2009 Một phân tích về tất cả các dịch vụ hàng không thường lệ trong phạm vi khu vực châu Âu cho thấy rằng, công suất ghế trên tuyến đường phạm vi toàn châu Âu trong năm 2010 đã tăng lên 2,6% so với năm 2009
Theo báo cáo của Hội đồng sân bay quốc tế (Airports Council International –ACI) , lượng hành khách qua các sân bay của châu Âu đã tăng từ 1,40 tỷ lượt trong
Trang 26năm 2009 lên 1,46 tỷ lượt trong năm 2010, đứng thứ 2 thế giới sau khu vực Bắc
Mỹ
Biểu đồ 1.3: Lượng hành khách sân bay theo vùng năm 2009 – 2010
Nguồn: Báo cáo hàng năm về thị trường vận tải hàng không của Ủy Ban châu Âu
Tỷ lệ tăng trưởng trong vận tải hành khách của khu vực châu Âu năm 2010 được đánh giá là ở dưới mức tiềm năng là do vào tháng 4 năm 2010, núi lửa Eyjafjallajökull nổi tiếng ở Iceland đã hoạt động trở lại, gây ảnh hưởng năng nề đến vận tải hàng không của toàn khu vực Khoảng hơn 100.000 chuyến bay bị hủy bỏ, bao gồm 80% chuyến bay đến thị trường châu Âu, với khoảng 9 triệu hành khách bị ảnh hưởng (ICAO, 2011 C) Vận tải hàng không toàn thế giới cũng bị giảm tăng trưởng, nhưng khu vực châu Âu vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
Năm 2009 và 2010 đánh dấu sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường vận tải hàng không ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Phi, châu Á – Thái Bình Dương và khu vực Trung Đông trong khi đó khu vực châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng chậm hơn Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu, cùng với những bất ổn trong nền kinh tế của khu vực gây trở ngại lớn đối với sự phát triển của vận tải hàng không khu vực này
Trang 27Bảng 1.4: Tỷ lệ tăng trưởng vận tải hành khách năm 2010 so với năm 2009
theo khu vực Chỉ tiêu C Phi C Á-TBD C Âu Trung Đông Bắc Mỹ
Nguồn: Báo cáo hàng năm về thị trường vận tải hàng không của Ủy Ban châu Âu
Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn trước mắt, nhưng ngành vận tải hàng không vẫn rất kiên cường, dự kiến tỷ lệ tăng trưởng vận tải hành khách hàng năm của khu vức đạt 4,4% vào năm 2029, tăng từ 1,46 tỷ hành khách – km năm 2010 lên con số 3,2 tỷ hành khách – km vào năm 2029 (ICAO, 2011 C)
Về vận tải hàng hóa, lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường hàng không của khu vực châu Âu trong năm 2010 là 44.576 triệu tấn-km, tăng 10,8% so với năm 2009 (ICAO, 2011 C) So với các khu vực khác tỷ lệ tăng trưởng trong vận tải hàng hóa của châu Âu là thấp nhất: khu vực Mỹ latinh tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất là 29, 1%, tiếp đến là các khu vực Trung Đông, châu Á – Thái Bình Dương, châu Phi và Bắc Mỹ với tốc độ tăng trưởng tương ứng là 26,7%, 24,0%, 23,8% và 21,8% Vận tải hàng hóa châu Âu tăng trưởng kém hơn trong năm 2010 chủ yếu là
do sự chậm tăng trưởng kinh tế và thương mại của khu vực này, ngoài ra còn do trong năm châu Âu chịu những tác động của thời tiết khắc nghiệt như bão tuyết vào mùa đông cũng làm ngừng trệ hoạt động vận tải hàng không trong vài ngày.Khoảng 72% hàng hóa di chuyển đến châu Âu và di chuyển đi từ châu Âu là đi qua các nước Bắc Âu, Đức, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ vì vậy đặc trưng của vận tải hàng hóa của khu vực châu Âu là khoảng cách vận chuyển ngắn, thông thường khoảng từ
Trang 28Về an ninh, an toàn hàng không, vào tháng 6 năm 2011, Cơ quan An toàn hàng không châu Âu ( European Aviation Safety Agency – EASA) đã công bố thống kê về an toàn hàng không hàng năm, trong đó chỉ ra rằng, 31 nước thành viên của cơ quan EASA, các nước khu vực Bắc Mỹ, Đông Á, Australia và New Zealand
là những nước có tỷ lệ tai nạn máy bay nghiêm trọng thấp nhất trong vòng 10 năm qua, ở vào khoảng 2,0 đến 3,3 vụ tai nạn nghiêm trọng trên một triệu chuyến bay Trong khi đó, tỷ lệ tai nạn nghiêm trọng trung bình ở các khu vực khác trên thế giới dao động từ 11,1 vụ tai nạn nghiêm trọng trên 10 triệu chuyến bay ở các nước Nam
và Đông Nam Á đến 47,7 vụ trên 10 triệu chuyến bay ở các nước châu Phi Trong năm 2010, toàn châu Âu không có vụ tai nạn máy bay thương mại nghiêm trọng nào, tỷ lệ tai nạn ở các quốc gia châu Âu không là thành viên của EASA vào những năm trước đó là khoảng 24,4 vụ trên 10 triệu chuyến bay (ICAO, 2011 C)
Để góp phần vào sự phát triển bền vững vận tải hàng không của khu vực, vào tháng 7 năm 2010, Ủy ban châu Âu đã thông qua một quy chế, thiết lập một chương trình hoạt động chung cho ngành vận tải hàng không mang tên “ Bầu trời chung châu Âu II” Chương trình này đưa ra kế hoạch phát triển ngành vận tải hàng không trên tất cả các lĩnh vực quan trọng như năng lực tải, an toàn, an ninh hàng không, vấn đề bảo vệ môi trường, hiệu quả - chi phí
Dù hiện nay, vận tải hàng không châu Âu đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng không cao nhưng châu Âu là khu vực có nền kinh tế vốn rất phát triển, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào một tương lai ổn định hơn của nền kinh tế châu Âu và sự phục hồi trở lại của ngành vận tải hàng không khu vực châu Âu
1.3.2.2 Khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Trên thế giới, mức tăng trưởng hàng năm về vận tải hành khách và hàng hóa
là khá ấn tượng trong giai đoạn 10 năm từ năm 1996 đến năm 2006 với mức tăng trưởng tích lũy khoảng 46% Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã đóng góp đáng kể vào thành tích ấn tượng này và có thể sẽ vượt qua khu vực châu Âu và Bắc
Mỹ để trở thành thị trường vận tải hàng không lớn nhất thế giới trong thập kỷ tới
Trang 29Thị trường vận tải hàng hóa của khu vực APAC đã lớn thứ hai trên thế giới với tốc
độ tăng trưởng là 8,6% trong năm 2006, cao hơn mức trung bình thế giới 2%
Việc tăng giá nhiên liệu trong năm 2008 cùng với khủng hoảng kinh tế thế giới và đại dịch cúm H1N1 đã mang lại những thách thức cho ngành công nghiệp hàng không Theo thống kê, vận tải hành khách năm 2009 đã sụt giảm 3,1% so với năm 2008, đây là sự sụt giảm lớn nhất trong ngành công nghiệp, phản ánh sự sụt giảm 1% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2009 Vận tải quốc tế giảm 3,9% trong khi vận tải nội địa giảm 1,8% (ICAO, 2011B) Mức tăng trưởng hai con
số của vận tải hành khách ở các thị trường mới nổi của châu Á và Mỹ Latinh, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ của các hãng hàng không giá rẻ ở Bắc Mỹ, châu Âu
và châu Á giúp giảm bớt mức độ sụt giảm của vận tải hàng không thế giới
Hoạt động hàng không phát triển dẫn đến những thách thức lớn cho các nước
và cơ quan hàng không dân dụng Theo Hội đồng Sân bay quốc tế (ACI), khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có 96 thành viên hoạt động ở 475 sân bay tại 47 quốc gia Trong năm 2008, những sân bay này đã tiếp nhận 1,17 tỷ hành khách, 29,6 triệu tấn hàng hóa và 10,8 triệu máy bay hoạt động Một vài sân bay nằm trong số những sân bay bận rộn nhất thế giới phải đưa ra giải pháp sử dụng máy bay cỡ lớn như máy bay A380
Sự an toàn và hiệu quả của các máy bay hoạt động tại các sân bay là hết sức quan trọng, nhiều nước trong khu vực APAC đã ban hành luật pháp cơ bản về việc chứng nhận sân bay, bao gồm cả việc bổ sung hệ thống quản lý an toàn tại các sân bay được chứng nhận
Hiện nay, vận tải hàng không khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang đối mặt với sự thiếu hụt đáng kể nguồn nhân lực có năng lực Về lâu dài, tình trạng này chỉ có thể được giải quyết nếu chính phủ và các cơ quan quản lý vận tải hàng không các nước trong khu vực có kế hoạch cụ thể về việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
Ở một khu vực lớn và đa dạng như khu vực châu Á – Thái Bình Dương, vận tải hàng không vừa là “ người lái xe” vừa là người được thừa hưởng nhiều thuận lợi
từ sự tăng trưởng kinh tế của khu vực này Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã
Trang 30trở thành thị trường vận tải hàng không lớn nhất thế giới, bằng chứng không chỉ là các nền kinh tế sôi động của vùng mà khu vực này được coi là đi đầu, có vai trò quan trong trong sự phát triển của ngành vận tải hàng không thế giới.
1.3.2.3 Khu vực Bắc Mỹ
Vận tải hàng không khu vực Bắc Mỹ đến năm 2010 bắt đầu đã hồi phục phần nào sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2008 Về lượng hành khách tính theo kilomet, năm 2010 khu vực Bắc Mỹ đã tăng lên 7,4%, năng lực tải tăng 3,9%
so với năm 2009 Hệ số tải hàng năm cũng tăng lên 2,6% trong năm 2010 đã góp phần phục hồi lợi nhuận của ngành vận tải hàng không của khu vực này Hệ số tải trung bình trong năm 2010 là 82,2% Tháng 12 năm 2010 là tháng duy nhất mà hệ
số tải của vận tải hàng không khu vực Bắc Mỹ giảm thấp hơn hệ số tải của năm
2009 là do trong tháng này, bão tuyết rơi nhiều đã gây đóng cửa một số sân bay ở Bắc Mỹ Theo Hiệp hội vận tải hàng không Mỹ (Air Transport Association – ATA) công bố, năng lực tải của các hãng thành viên hiệp hội năm 2010 tăng 3,4%, hệ số tải hành khách tăng 1,7% so với năm 2009, lượng hành khách quốc tế tính theo kilomet của các hãng thành viên của ATA tăng 6,4%, cao hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng của lượng hành khách – kilomet nội địa (ICAO, 2010) Sự tăng trưởng sản lượng hành khách kết hợp với tỷ lệ tăng của các hệ số tải cho thấy lợi nhuận của vận tải hàng không khu vực Bắc Mỹ cũng tăng
Về vận tải hàng hóa, năm 2010 thị trường vận tải hàng hóa của khu vực Bắc
Mỹ có tăng trưởng nhưng với tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn các khu vực khác với khoảng 21,8%, chỉ cao hơn khu vực châu Âu (10,8%), trong khi đó tăng trưởng mạnh nhất là khu vực Mỹ latinh với 29,1% Ở khu vực Bắc Mỹ, hai hãng vận chuyển hàng hóa lớn nhất thế giới của Mỹ là FedEx và UPS hiện đang sử dụng khoảng 1/3 tổng số máy bay chở hàng của thế giới, chiếm khoảng 50% khối lượng hàng hóa dặm của cả khu vực Bắc Mỹ
Về an ninh, an toàn hàng không, khu vực Bắc Mỹ nằm trong số những khu vực có tỷ lệ tai nạn hàng không thấp cùng với khu vực châu Âu Năm 2007, tỷ lệ tai nạn hàng không ở khu vực Bắc Mỹ là 1,61 vụ trên một triệu chuyến bay, năm 2008, tăng lên 2,55 vụ trên một triệu chuyến bay Các tổ chức hàng không quốc tế như Tổ
Trang 31chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) tại Bắc Mỹ, hay Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA), Hiệp hội vận tải hàng không Mỹ (ATA) thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, đưa ra các chương trình nhằm tăng cường an ninh, an toàn hàng không như Chương trình hành động vì an toàn hàng không (Aviation Safety Action Programs – ASAPs) của ATA, chương trình “Phòng chống va chạm với chim và sinh vật hoang dã” (Bird Strike and Wildlife Prevention) của Ủy ban ICAO khu vực Bắc Mỹ nhằm giảm tối đa số vụ tai nạn máy bay ở khu vực do va chạm với chim và các sinh vật hoang dã khác
Thị trường vận tải hàng không của khu vực Bắc Mỹ đã từng bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng được cho là bắt nguồn từ Mỹ diễn
ra vào năm 2008, nhưng đến năm 2010 thì cùng với sự phục hồi kinh tế thế giới, thị trường vận tải hàng không khu vực này cũng đạt được những kết quả nhất định
to lớn về kinh tế và những lợi ích xã hội Qua nghiên cứu tình hình phát triển vận tải hàng không ở một số khu vực trên thế giới, ta có thể thấy rằng, ngành vận tải hàng không sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa trong tương lai, đóng góp những lợi ích to lớnhơn nữa cho xã hội
Trang 32CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
Năm 1919 đánh dấu sự ra đời của vận tải hàng không thương mại quốc tế với chuyến bay đầu tiên chuyên chở 10 hành khách giữa Paris và London Đó cũng là năm Công ước Paris được kí kết, mỗi quốc gia có quyền kiểm soát vùng trời trên lãnh thổ của mình Từ đó các chuyến bay thương mại tăng dần cả về số lượng và khối lượng chuyên chở, thúc đẩy thương mại và du lịch quốc tế phát triển Đến tháng 5 năm 1930, phi công người Pháp Jean Mermoz lần đầu tiên thực hiện dịch
vụ đưa thư bằng máy bay vượt qua Đại Tây Dương từ Senegal sang Brazil với 21 giờ bay Từ đó, dịch vụ vận chuyển thư từ bắt đầu hoạt động
Các chuyến bay thương mại của hàng không Pháp ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng Đến ngày 7/10/1933, hãng hàng không Air France được thành lập thông qua việc sáp nhập các hãng Air Orient, Compagnie Générale Aéropostale, Société Générale de Transport Aérien (SGTA, công ty hàng không đầu tiên của Pháp, thành lập với tên Lignes Aériennes Farman năm 1919), Air Union và CIDNA (Compagnie Internationale de Navigation) Sau Chiến tranh Thế giới II, hãng Air France đã bị quốc hữu hóa thành hãng hàng không quốc gia Pháp thông qua một đạo luật của quốc hội
Chính phủ cũng đóng một vai trò quan trọng trong những giai đoạn tiếp theo của lịch sử hàng không Pháp với việc lập ra các tổ chức, các cơ quan liên quan đến vận tải hàng không như vào tháng 9 năm 1945, thành lập Ban thư ký Hàng không
Trang 33dân dụng và thương mại (Secrétariat général de l’aviation civile et commerciale –SGACC), ngày 21/11/1945, trung tâm điều hành khu vực đầu tiên được xây dựng Tháng 8 năm 1947, Pháp ban hành quy định đầu tiên liên quan đến vận tải hàng không Từ sau năm 1948, các hãng hàng không sử dụng ngày càng rộng rãi máy bay cánh quạt và nhanh chóng mở rộng mạng lưới của họ, tuy nhiên khả năng điều hành bay, kiểm soát không lưu vẫn còn kém, các phương tiện và trang thiết bị còn rất hạn chế Đến năm 1953, hệ thống điều hành hỗ trợ cho máy bay mới bắt đầu xuất hiện ở Pháp, và đến năm 1954, hệ thống radar đầu tiên được thiết lập và đi vào hoạt động ở sân bay Orly Năm 1958, những chiếc máy bay phản lực đầu tiên đã được đưa vào
sử dụng ở Pháp là Boeing 707 và Caravelle
Những năm 1960, ngành hàng không Pháp có sự tiến bộ vượt bậc trong công nghệ kỹ thuật cả trong công tác điều hành bay ở mặt đất và công tác điều hành trên những chuyến bay, giúp cho ngành vận tải hàng không thuơng mại của Pháp mở rộng cả về quy mô hoạt động, và tăng độ cao của kiểm soát không phận Trong hệ thống điều hành bay ở mặt đất, hệ thống kiểm soát không lưu được trang bị hệ thống máy tính và công nghệ thông tin hiện đại hơn Trong những năm này, hàng không Pháp có 2 sự kiện nổi bật đó là việc sử dụng rộng rãi hệ thống radar điều khiển và hệ thống điều khiển tự động bắt đầu đi vào hoạt động.(DGAC, 2007)
Trong hai thập niên từ 1970 – 1990, vận tải hàng không Pháp đã trải qua những thời kỳ tăng trưởng không ổn định Từ năm 1970 đến 1979, vận tải hàng không tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 6% (DGAC, 2007) Từ năm 1979 đến 1985, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng dầu
mỏ nên tốc độ tăng trưởng gần như bằng không Và từ năm 1986, vận tải hàng không Pháp lại bắt đầu hồi phục Trong khoảng thời gian này, việc sử dụng rộng rãi
hệ thống radar cùng với hệ thống công nghệ thông tin máy tính hiện đại hơn cho phép ngành vận tải hàng không gia tăng khối lượng vận chuyển đồng thời mức độ
an toàn các chuyến bay được đảm bảo hơn
Từ những năm 1990 trở đi, vận tải hàng không Pháp không ngừng phát triển
và đạt được những thành tựu đáng nể Nằm ở cửa ngõ của châu Âu và là một chiếc cầu nối với đại lục đen - châu Phi, Pháp có một vị trí thuận lợi cho ngành giao thông
Trang 34vận tải nói chung cũng như ngành hàng không nói riêng Ngành vận tải hàng khôngPháp phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành ngành công nghiệp quan trọng không chỉ với nước Pháp mà còn đối với sự phát triển và thương mại của cả châu
Âu Pháp là quốc gia điều khiển nhiều chuyến bay nhất ở châu Âu, trong vòng 30 năm, khả năng điều hành bay của hàng không Pháp tăng lên 3 lần với việc điều hành khoảng 3.000.000 chuyến bay Vào tháng 5/2004, Air France đã mua lại công
ty KLM của Hà Lan, tạo ra hãng mới Air France KLM Đến năm 2008, Air France – KLM trở thành hãng hàng không lớn nhất thế giới về mặt doanh thu hoạt động, lớn thứ 3 thế giới (lớn nhất châu Âu) về lượng hành khách - kilomet vận chuyển
2.1.2 Cơ quan quản lý ngành vận tải hàng không Pháp
2.1.2.1 Bộ giao thông vận tải (Ministère des Transports)
Bộ Giao thông vận tải Pháp là cơ quan trực thuộc Chính phủ Pháp, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động liên quan đến giao thông vận tải của Pháp Bộ giao thông vận tải Pháp có các Cục chuyên trách quản lý giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không
Đối với lĩnh vực vận tải hàng không, Bộ Giao thông vận tải có nhiệm vụ thực hiện chính sách phát triển bền vững ngành hàng không trong các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật ; quản lý cấp cao các thành phần khác nhau của hàng không dân dụng đó là an toàn, an ninh, điều hành giao thông hàng không, hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, quản lý hàng không chung, công tác đào tạo và quan hệ quốc tế
2.1.2.2 Tổng cục Hàng không dân dụng Pháp (la Direction Générale de l’
Aviation Civile – DGAC)
Tổng cục hàng không dân dụng Pháp - DGAC là cơ quan trực thuộc Bộ giao thông vận tải, trực tiếp quản lý các hoạt động liên quan đến ngành hàng không dân dụng Pháp : phát triển bền vững, an ninh, an toàn hàng không, điều hành giao thông hàng không, quản lý hàng không chung, đào tạo nhân lực cho ngành hàng không, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật DGAC chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn và an ninh hàng không, đặt sự phát triển hàng không trong mối quan hệ với phát triển bền vững
Các nhiệm vụ cụ thể của DGAC :
Trang 35- Duy trì mức độ an toàn và an ninh cao, theo dõi, kiểm tra giám sát các nhà sản xuất, điều hành và tổ bay về thực hiện các tiêu chuẩn an toàn, an ninh hàng không.
- DGAC cũng là cơ quan bảo trợ cho các hãng hàng không các dịch vụ liên quan đến kiểm soát và điều hành hàng không chung qua các trung tâm kiểm soát và các tháp kiểm soát của nó
- Tham gia điều tiết thị trường vận tải hàng không, DGAC được phép tham gia can thiệp vào các vấn đề kinh tế và xã hội để đảm bảo tính thường xuyên, đều đặn của vận tải hàng không DGAC cũng là cầu nối giữa các hãng hàng không, sân bay với các khách hàng
- DGAC là đối tác của ngành công nghiệp hàng không, DGAC có quyền giám sát chặt chẽ hoạt động của ngành công nghiệp hàng không DGAC xác định đây là lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Pháp, bởi vậy DGAC đưa ra những chính sách hỗ trợ lĩnh vực này thông qua việc tài trợ cho công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ
- DGAC có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm tiếng ồn và giảm lượng khí thải
- DGAC đóng vai trò quan trọng trong hoạt động quan hệ quốc tế của hàng không Pháp, góp phần phát triển và bảo vệ vị trí của ngành hàng không Pháp trên trường quốc tế DGAC tích cực tham gia xây dựng dự án “Bầu trời chung châu Âu”, dự án nhằm mục đích quản lý hài hòa giao thông hàng không trên toàn lãnh thổ châu Âu để tăng cường an toàn, giảm chi phí, giảm sự chậm trễ và giảm lượng khí thải CO2
2.1.2.3 Các trung tâm điều hành giao thông hàng không khu vực (Les
Centres de Contrôle Aérien en route)
Nhằm đảm bảo các hoạt động của ngành hàng không ở từng địa phương, hàng không Pháp có thành lập các trung tâm điều hành giao thông hàng không ở các địa phương Các trung tâm này phụ trách việc cung cấp dịch vụ hàng không không lưu cho hoạt động bay của các hãng hàng không (không bao gồm khu vực lân cận sân bay)
Trang 36Hiện nay, Pháp có 5 trung tâm điều hành giao thông hàng không ở các khu vực Paris, Reims, Brest, Bordeaux và Aix-en-Provence
2.1.3 Hãng hàng không tiêu biểu của Pháp – Air France-KLM
Hãng hàng không Pháp Air France – KLM (AF-KLM) là một liên minh hàng không được thành lập năm 2004 trên cơ sở mua lại và sáp nhập hai hãng hàng không Air France của Pháp và hãng KLM của Hà Lan theo luật của Pháp, có trụ sở chính tại sân bay Paris-Charles de Gaulle ở Tremblay-en-France, Paris Sau khi sáp nhập, cả Air France và KLM tiếp tục hoạt động dưới các tên thương hiệu riêng Air France-KLM là một thành viên sáng lập Liên minh SkyTeam Các lĩnh vực hoạt động chính của hãng bao gồm vận tải hành khách, vận tải hàng hóa, bảo trì và bảo dưỡng máy bay, dịch vụ ăn uống và giải trí
AF-KLM sử dụng hơn 102.000 nhân viên trên toàn thế giới Hãng khai thác đội tàu bay trẻ và hiện đại nhất châu Âu với tuổi trung bình là 9,9 năm Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2011, hãng có 609 máy bay với 593 máy bay đang được khai thác Đội máy bay của hãng bao gồm 168 máy bay đường dài, 228 máy bay tầm trung 191 máy bay khu vực và 22 máy bay chở hàng Hiện nay hãng đang khai thác
244 điểm đến tại 105 quốc gia trên toàn thế giới, khu vực châu Âu có 123 điểm đến, khu vực châu Phi và Trung Đông có 54 điểm đến, khu vực châu Mỹ có 45 điểm đến, khu vực châu Á –Thái Bình Dương có 22 điểm đến (Air France – KLM, 2011)
AF-KLM là hãng hàng không hàng đầu châu Âu, đứng đầu thế giới về vận tải hàng hóa và là một trong số những hãng cung cấp dịch vụ bảo trì máy bay lớn của thế giới, về vận tải hành khách cũng nằm trong nhóm các hãng hàng đầu thế giới khi năm 2010 hãng vận chuyển 71,3 triệu hành khách và 1,5 triệu tấn hàng hóa.Năm 2009, doanh thu của hãng đạt 23,970 tỷ Euro, trong đó doanh thu từ vận chuyển hành khách chiếm gần 80%, được phân bổ theo các thị trường như sau: thị trường châu Âu chiếm 41%, thị trường châu Á là 17%, thị trường Bắc Mỹ là 15%, 13% từ thị trường châu Phi và Trung Đông, 7% từ Nam Mỹ, từ thị trường Caribbean và Ấn Độ Dương là 6% (Air France – KLM, 2011)
Trang 37Biểu đồ 2.1: Doanh thu theo lĩnh vực hoạt động của Air France – KLM
Nguồn: Báo cáo hoạt động năm 2010-2011 của Air France – KLM
Không chỉ dừng lại ở quy mô liên minh giữa Pháp và Hà Lan, hiện nay KLM đang có kế hoạch mua lại một vài hãng hàng không lớn trên thế giới như hãng hàng không của Bỉ - VLM Airlines, mua cổ phần của hãng Alitalia của Italia nhằm
AF-mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên toàn thế giới
2.2 Thực trạng phát triển ngành vận tải hàng không Pháp
2.2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội Pháp những năm gần đây
Ngành vận tải hàng không luôn được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn và
có tác động lớn đối với cả nền kinh tế Và ngược lại, nền kinh tế cũng có tác động ngược trở lại đối với sự phát triển của ngành vận tải hàng không Khi nền kinh tế phát triển, tăng trưởng mạnh, hoạt động thương mại, du lịch được đẩy mạnh, từ đó tăng nhu cầu di chuyển, vận chuyển trong xã hội, tạo điều kiện cho ngành vận tải hàng không phát triển
Pháp là nước có nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Đức Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm luôn ổn định ở mức trung bình khoảng 2% một năm Năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, GDP của Pháp chỉ tăng 0,7% sau khi đạt mức tăng 2,1% trong năm 2007 Số chuyến bay của vận tải hàng không trong năm 2008 không tăng so với năm 2007 và năm 2009, số chuyến bay đã bị giảm mạnh tới 7%, lượng hàng hóa vận chuyển cũng giảm từ xấp xỉ 10.000 tấn vào năm 2008 xuống còn hơn 6.000 tấn vào năm
2009 Năm 2010, nền kinh tế Pháp đã bắt đầu phục hồi và GDP tăng 1,4% Năm
Trang 382011, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Pháp tăng 1,7%, đạt 2.808 tỷ đô la, GDP bình quân đầu người đạt 33,300 USD Kinh tế phục hồi cũng kéo theo sự phục hồi dần dần của ngành hàng không.
Pháp là một trong những nước có tỉ lệ nghèo đói, tỉ lệ bất bình đẳng trong thu nhập thấp nhất trong các nước có nền kinh tế lớn, đồng thời có dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, lương hưu và dịch vụ công cộng như vận tải công cộng và an ninh vào loại tốt nhất thế giới Nền kinh tế phát triển kéo theo thương mại phát triển, số hợp đồng xuất nhập khẩu tăng đi kèm với hợp đồng dịch vụ vận tải cũng tăng Bên cạnh đó là chất lượng cuộc sống và mức sống của người dân cao hơn, tạo nên những nhu cầu lớn cho dịch vụ vận tải nói chung và ngành vận tải hàng không nói riêng
Bên cạnh một nền kinh tế phát triển thì Pháp cũng được thiên nhiên ưu đãi những điều kiện tự nhiên thuận lợi Là nước nằm ở vị trí cửa ngõ của châu Âu, và là một chiếc cầu nối với đại lục đen- châu Phi, Pháp có một vị trí thuận lợi cho ngành giao thông vận tải nói chung cũng như ngành hàng không nói riêng Khí hậu nước Pháp nhìn chung là ôn hòa, chịu ảnh hưởng kết hợp của khí hậu Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và khí hậu lục địa Vùng miền Tây nước pháp có gió từ Đại Tây Dương thổi vào đem mưa đến, mùa đông lạnh với nhiệt độ trung bình 7°C, còn mùa hè thì ôn hòa mát mẻ, nhiệt độ trung bình 16°C Với hơn 80 triệu du khách nước ngoài năm 2009, Pháp được xếp hạng là điểm đến hàng đầu thế giới, trước Tây Ban Nha (52,5 triệu) và Hoa Kỳ (40,4 triệu) Khả năng thu hút du khách này nhờ có các thành phố với nhiều di sản văn hoá (đứng đầu là Paris), các bãi biển
và các khu nghỉ dưỡng ven biển, các khu trượt tuyết, các vùng nông thôn đẹp và yên bình thích hợp với du lịch xanh
2.2.2 Sản lượng vận chuyển ngành vận tải hàng không Pháp
Pháp là một nước công nghiệp phát triển với ngành vận tải hàng không phát triển hàng đầu thế giới vận tải hàng không Pháp đứng đầu thế giới về vận chuyển hành khách, đứng thứ 2 thế giới về vận chuyển hàng hóa Tính đến năm 2010, Pháp
có 150 hãng hàng không, với mạng lưới 500 sân bay được phân bố rộng khắp đất nước, khoảng 9.300 máy bay được chứng nhận đủ điều kiện bay trong đó có 794
Trang 39máy bay phục vụ giao thông công cộng (Direction de la securité de l’ aviation civile, 2011).
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, ảnh huởng mạnh từ cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu nên sự phát triển của hàng không Pháp có vẻ chững lại Sự hoạt động của núi lửa Eyjafjallajökull nổi tiếng ở Iceland làm cho vận tải hàng không Pháp trong tháng 4 năm 2010 ghi nhận mức giảm kỷ lục tới 11% so với cùng kỳ năm 2009, tuy nhiên
cả năm 2010 ngành hàng không Pháp đã thực hiện trên 2,7 triệu chuyến bay, tương đương với con số của năm 2009 (Direction des services de la navigation aérienne (DSNA), 2010)
Biểu đồ 2.2: Sự tăng trưởng số chuyến bay qua các năm
Nguồn: Báo cáo của Cục hàng không dân dụng Pháp năm 2010
Về vận tải hành khách: lượng hành khách năm 2010 của hàng không Pháp lên đến 142,2 triệu lượt hành khách, trong đó vận tải hàng không quốc tế đạt 95,4 triệu lượt Lượng hành khách tính theo kilomet cả quốc tế và nội địa năm 2010 đạt 154.761 triệu hành khách – km, hầu như không tăng nhiều so với con số đạt được vào năm 2009 là 154.407 triệu hành khách-km Trong đó lượng hành khách của thị
Trang 40trường quốc tế năm 2010 là đạt 136.493 triệu hành khách-km, tương đương 88% tổng lượng hành khách – km (Direction des services de la navigation aérienne (DSNA), 2010).
Hàng không Pháp đang ngày càng mở rộng mạng lưới với sự cân bằng và rộng khắp đến nhiều quốc gia trên thế giới Những thị trường tiềm năng như lục địa đang nổi lên châu Á hay vùng đất tiềm năng châu Phi đều trở thành đích đến của mạng lưới hàng không Pháp Ngành hàng không Pháp đang từng bước chú trọngvào sự đồng đều trong mạng lưới của mình ngoài sân nhà là khu vực liên minh châu
âu EU Số lượng hành khách tăng đột biến ở hai thị trường liên bang Nga và khu vực châu Mỹ la tinh với hơn 11% đã cho thấy sự phát triển của ngành hàng không Pháp trong những thị trường lớn và khẳng định vị thế quan trọng và tầm ảnh hưởng của ngành hàng không Pháp đến sự phát triển của nền kinh tế châu Âu nói riêng và của thế giới nói chung
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng lượng hành khách theo khu vực 2010-2011
(Đơn vị triệu người)
Nguồn: Báo cáo của Cục Hàng không dân dụng Pháp
Không chỉ phát triển trong lĩnh vực vận chuyển hành khách, hàng không Pháp còn là một người khổng lồ trong các dịch vụ thương mại - vận chuyển và lưu