ðể hạn chế ô nhiễm môi trường do chăn nuôi lợn công nghiệp ñưa lại, một số giải pháp ñã và ñang ñược sử dụng như chổi sinh học và lọc sinh học ñể loại bỏ các chất gây ô nhiễm, hoặc sử dụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN BÁ NHIỆM
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PROTEIN VÀ XƠ KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN ðẾN LƯỢNG PHÁT THẢI NITƠ, PHOTPHO, NH3 VÀ MỘT SỐ KHÍ NHÀ KÍNH
TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số : 60620105
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hiệp
TS Vũ Thị Khánh Vân
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả
Trần Bá Nhiệm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài nỗ lực học tập của bản thân, tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ, hướng dẫn của nhiều cá nhân
và tập thể Cho phép tôi ựược gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa ựã giúp ựỡ, tạo ựiều kiện thuận lợi ựể tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương trình học
đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn khoa học
TS Trần Hiệp ựã dày công, tận tình giúp ựỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn cô TS Vũ Thị Khánh Vân, Bộ môn Môi trường, các cán bộ Trung tâm Bảo tồn giống vật nuôi, Bộ môn Môi trường, Viện Chăn nuôi Quốc gia ựã giúp ựỡ tôi trong thời gian thực tập
Tôi xin ựược gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia ựình, người thân cùng bạn bè
ựã ựộng viên giúp ựỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện ựề tài
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả
Trần Bá Nhiệm
Trang 42.1.2 Các chỉ tiêu ñánh giá sinh trưởng và những nhân tố ảnh hưởng ñến
2.3 Chất thải chăn nuôi và ô nhiễm môi trường do hoạt ñộng chăn nuôi 11
2.2.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi lợn 14 2.2.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ñến năng suất chăn nuôi 19 2.4 Một số giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chăn
2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
Trang 52.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
3 đỐI TƯỢNG, đỊA đIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
3.3.1 Xác ựịnh khả năng sử dụng thức ăn và khả năng tăng khối lượng
3.3.2 đánh giá ảnh hưởng của các mức xơ và protein khác nhau ựến
lượng nitơ, photpho trong chất thải chăn nuôi 31 3.3.3 đánh giá ảnh hưởng của các mức xơ và protein khác nhau khác
nhau ựến lượng phát thải khắ ựộc (NH3, H2S) và một số khắ nhà
3.4.1 Phương pháp xác ựịnh khẩu phần thắ nghiệm và chế ựộ nuôi dưỡng 32
4.1 Khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thắ
Trang 8DANH MỤC ẢNH VÀ SƠ ðỒ
Trang 9DANH MỤC BIỂU ðỒ
4.1 Khả năng sinh trưởng của lợn (30 - 60kg 45 4.2 Khả năng sử dụng thức ăn (FCR) của lợn (30 - 60kg) 45 4.3 Khả năng sinh trưởng của lợn (60 – 100kg) 48 4.4 Khả năng sử dụng thức ăn (FCR) của lợn (60 – 100kg) 48
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Chiến lược phát triển chăn nuôi lợn giai ñoạn 2007-2020 của nước ta ñã chỉ rõ phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp từ 3,79 triệu con lợn ngoại (chiếm 14,1% tổng ñàn năm 2006) lên 12,86 triệu con lợn ngoại (chiếm 37% tổng ñàn vào năm 2020) Song hành với sự phát triển của chăn nuôi lợn ngoại số lượng trang trại nuôi lợn công nghiệp sẽ tăng từ 7,5 ngàn trang trại vào năm
2006 lên 14 ngàn trang trại vào năm 2020 (Cục chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, 2007) Một trong những thách thức lớn nhất của chăn nuôi công nghiệp trang trại là ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi Các chất có thể gây ô nhiễm môi trường từ chất thải (phân + nước tiểu) chăn nuôi lợn bao gồm nitơ (N), photpho (P) và các loại khí thải như: amonia (NH3), hyñro sulfua (H2S) Hyñro sulfua là hợp chất gây mùi quan trọng nhất
từ chất thải chăn nuôi lợn (Le et al., 2007b) Ngoài ra, chăn nuôi lợn cũng gây
phát thải một lượng ñáng kể khí gây hiệu ứng nhà kính: methan (CH4), cacbonít (CO2) và nitrous oxit (N2O) ðể hạn chế ô nhiễm môi trường do chăn nuôi lợn công nghiệp ñưa lại, một số giải pháp ñã và ñang ñược sử dụng như chổi sinh học và lọc sinh học ñể loại bỏ các chất gây ô nhiễm, hoặc sử dụng các chất phụ gia sinh học và hóa học ñể trung hòa hay chuyển hóa sang các chất khác có mức ñộ ô nhiễm thấp hơn (Noren, 1985; Schirz, 1985;
Phillips et al., 1990) Tuy nhiên, các giải pháp cuối ñường ống này thường tốn kém và không bền vững (Sutton et al., 1999; Le et al., 2005a)
Các chất gây ô nhiễm môi trường là sản phẩm trung gian hoặc cuối cùng của quá trình lên men các chất có nguồn gốc từ thức ăn trong ruột già hoặc hố chất thải Protein và carbohydrate lên men là hai cơ chất cơ bản nhất cho quá trình tạo các hợp chất gây ô nhiễm môi trường và khí nhà kính
(Sutton et al., 1999; Le et al., 2005a) Do vậy, có thể giảm thiểu sản sinh các
Trang 11hợp chất gây ô nhiễm môi trường bằng giải pháp ñầu ñường ống, ñó là thay ñổi khẩu phần ăn của lợn ðể chứng minh giả thuyết này, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu ñề tài: “Ảnh hưởng của tỷ lệ protein và xơ khác nhau trong
khẩu phần ñến lượng phát thải Nitơ, Photpho, NH 3 và một số khí nhà kính trong chăn nuôi lợn thịt”
1.2 Mục tiêu của ñề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nâng cao hiệu quả môi trường trong chăn nuôi lợn thịt, ñảm bảo năng suất, chất lượng chăn nuôi, hướng tới một nền chăn nuôi hiệu quả và bền vững
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Giảm lượng nitơ, photpho thải ra từ hỗn hợp chất thải (phân và nước tiểu) bằng việc thay ñổi mức Protein và xơ khác nhau trong khẩu phần ăn của lợn sinh trưởng
- Giảm phát thải một số khí ñộc (NH3, H2S) và khí nhà kính (N2O, CH4)
từ hỗn hợp chất thải (phân và nước tiểu) bằng thay ñổi mức Protein và xơ khác nhau trong khẩu phần ăn của lợn sinh trưởng
1.3 Ý nghĩa khoa học của ñề tài
Chứng minh những luận ñiểm khoa học trong việc ñiều chính protein
và xơ thô trong khẩu phần ăn của lợn thị,t nhằm giảm thiểu sự phát thải nitơ, photpho và một số khí nhà kính ðề tài cũng góp phần ñưa ra hướng nghiên cứu mới về dinh dưỡng trong chăn nuôi lợn nhằm giảm thiểu các nhân tố gây
ô nhiễm môi trường trong tương lai gần
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm tiêu hóa của lợn
Lợn là gia súc dạ dày ñơn Cấu tạo bộ máy tiêu hoá của lợn bao gồm
miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường có tỷ lệ từ 80-85% tùy từng loại thức ăn
a) Chức năng các bộ phận ñường tiêu hóa
♦ Miệng
Thức ăn ở miệng ñược cắt nhỏ bởi ñộng tác nhai và thức ăn ñược trộn với nước bọt làm trơn ñể nuốt trôi xuống dạ dày Thành phần hóa học của nước bọt chủ yếu là nước, chất nhầy muxin và α – amylaza Lượng chất khô trong nước bọt là 3,34 - 4,92%, với tỷ trọng biến ñổi từ 0,999 - 1,0086 (Kvasnitskii)
Lượng nước bọt tăng theo ñộ tuổi của lợn Tuy nhiên, lượng nước bọt tiết ra còn bị ảnh hưởng tính chất thức ăn và chất kích thích: acid axetic, HCl, mùi vị thức ăn Lượng thức ăn tiết ra nhiều ngay từ ñầu khi bắt ñầu ăn Lượng nước bọt tiết ra trung bình mỗi tuyến là 1,5 lít mỗi bữa ăn, tổng lượng nước bọt tiết ra trong ngày ñạt 15-18 lít
Theo Kvasnitskii, sự tiết dịch của dạ dày là liên tục trong 24 giờ và tiết vào ban ngày nhiều hơn ban ñêm Lượng tiết biến ñộng từ 135-272 cm3
Trang 13và tiết nhiều nhất vào thời gian sau khi ăn 2 ñến 3 giờ, nó thay ñổi phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn và thời gian ăn
♦ Ruột
Ruột là nơi diễn ra toàn bộ quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
+ Ruột non: có ñộ dài khoảng 18-20 mét Thức ăn ngay sau khi ñược tiêu
hóa ở dạ dày chuyển xuống ruột non ñược trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy – thức ăn chủ yếu ñược tiêu hóa và hấp thụ ở ruột non với sự có mặt của dịch mật và dịch tuyến tụy Mật ñược tiết ra từ gan chứa ở các túi mật và ñổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hóa mỡ.Tuyến tụy tiết dịch tụy có chứa men trypsin giúp cho việc tiêu hóa protein, men lipase giúp cho tiêu hóa mỡ và men diastase giúp tiêu hóa carbonhydrate Ngoài ra ở phần dưới của ruột non còn tiết ra các men maltase, sacchrose
và lactase ñể tiêu hóa carbohydrate Ruột non là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng ñã tiêu hóa ñược, nhờ hệ thống lông nhung trên bề mặt ruột non mà
bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất dinh dưỡng tăng lên ñáng kể
+ Ruột già: Ruột già chỉ tiết chất nhầy không chứa men tiêu hóa Chỉ
ở manh tràng có sự hoạt ñộng của vi sinh vật giúp tiêu hóa carbohydrate, tạo ra các acid béo bay hơi, ñồng thời vi sinh vật cũng tạo ra các vitamin K, B…
• Các enzyme trong tuyến dịch tụy lợn bao gồm
- Enzym tiêu hóa cacbohydrate: α –amylaza và α – amylaza2
- Enzym tiêu hóa Protein: chitinaza, tripsin, chimotripsinA,
chimotripsinB, chimotripsinC, Elactaza, CacboxypeptydazaA,
Trang 14Lượng dịch tụy tiết ra thay ñổi theo lứa tuổi của lợn (50ml/ ngày với lợn ở 6 tuần tuổi, trên 8 lít ngày ở lợn 7-8 tháng tuổi) Thành phần dịch tụy tiết ra cũng thay ñổi theo khẩu phần ăn Theo Aunaitre (1971), Corring và Saucier (1972) thì lượng Enzym tiêu hóa protein trong dịch tụy sẽ cao nếu lợn ñược ăn khẩu phần giàu protein và ngược lại α-amylaza sẽ nhiều nếu lợn ăn khẩu phần nhiều tinh bột
♦ Dịch mật:
Dịch mật do gan tiết ra Thành phần dịch mật bao gồm các anion Na+ ,
Cl-, K+, bicacbonat và các chất hữu cơ khác chủ yếu là muối mật: photpholipit, Colesterol… ðặc ñiểm chính của muối mật là có tính bề mặt cao Trong dịch mật chứa chất lecitin, chất này vào ruột ñược photpholipaza của tuyến tụy biến thành lycolecithin góp phần vào cắt chuỗi phân tử của chất béo
Dịch tụy ñóng góp chủ yếu vào quá trình nhũ hóa chất béo tạo ñiều kiện thuận lợi cho men lipaza tuyến tụy phân hủy chất béo
♦ Dịch ruột :
Do tuyến Bruner ở màng nhày tá tràng tiết ra Dịch ruột có ñộ kiềm rất cao, pH: 8,4-8,9 Dịch nhày này cùng với dịch tụy và dịch mật trung hòa ñộ acid ở những chất từ dạ dày xuống
Lượng dịch ruột tiết ra khoảng 15,8 -17,3 ml/giờ (Florey và Lium, 1940) Thành phần dịch ruột có các enzym: α-amynaza, Enterokinaza( Enterokinaza có tác dụng hoạt hóa men tripsin của dịch tụy, vì tripsin ñược tiết ra ở dạng không hoạt ñộng tripsinogen)
b) Quá trình tiêu hóa hấp thu
• Tiêu hóa Gluxit
Trong khẩu phần thức ăn của lợn hàm lượng Gluxit rất cao, chiếm tới gần 100% khẩu phần có nguồn gốc từ thực vật Gluxit có vai trò chủ yếu là cung cấp năng lượng cho hoạt ñộng sống, ñồng thời tham gia một phần nhỏ vào cấu trúc cơ thể Gluxit trong thức ăn của lợn có ba dạng tùy
Trang 15theo cấu trúc của nó, ñó là ñường, tinh bột, xơ Trong ñó tinh bột là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng nhất
Quá trình thủy phân Gluxit trong ñường tiêu hóa ñược thực hiện nhờ các men của ñường tiêu hóa, sản phẩm cuối cùng này là tạo ra các ñường ñơn glucose mà cơ thể có thể hấp thụ ñược Các men tham gia vào quá trình này bao gồm:
-Men α-amylaza: men này ñược tiết ra từ hai nguồn chính là tuyến nước bọt và tuyến tụy
Maltoza Tinh bột α-amylaza Maltotrioza
Dextrin
- Men Lactaza : Men này do tuyến Bruner ở màng nhày ruột non tiết
ra Lactaza phân hủy ñường lactoza là loại ñường có trong sữa, nồng ñộ men này cao ở gia súc non, sau ñó giảm dần theo tuổi
Lactose lactaza Galactoza + Glucose
- Men tehalaza: Men này cũng ñược tiết ra ở ruột non (Dahrist, 1960) Nó hoạt ñộng trong môi trường pH = 6 Men tehalaza phân hủy ñường tehaloza có ở côn trùng và một số thực vật Nó không có ở ruột non lợn sơ sinh, song nó ñược tăng dần theo tuổi của lợn ñến khoảng 200 ngày tuổi (Kidder và Manners , 1976)
Sản phẩm cuối của quá trình tiêu hóa tinh bột là glucoza Trước tiên, tinh bột ñược men α-amylaza ở nước bọt và tuyến tụy phân giải thành dạng malioza, mantotrioza, và dextrin Maltoza sẽ ñược phân giải nhanh chóng nhờ men maltaza tạo 2 glucose
Saccaraza thủy phân ñường saccarose thành glucose và fructose
• Tiêu hóa protein
Quá trình tiêu hóa protein ở lợn cũng giống như các loài dạ dày ñơn khác Quá trình này ñược ñược thực hiện nhờ các men của ñường tiêu hóa
Trang 16Khi thức ăn ñưa xuống dạ dày quá trình tiêu hóa protein ñược bắt ñầu, dưới tác dụng của men pepsin phân cắt ñại phân tử protein thành chuỗi peptit có
số lượng phân tử nhỏ hơn Men pepsin khi tiết ra ở dạng không hoạt ñộng (pepsinogen), dưới tác dụng của acid HCl men này mới hoạt ñộng Ở lợn con mới sinh dạ dày chưa tiết acid HCl do ñó men pepsin không hoạt ñộng lên không có tác dụng tiêu hóa protein, quá trình tiêu hóa protein nhờ các men catepsin và rennin Tuy nhiên sự khác nhau về tỷ lệ tiêu hóa các loại protein ở ñường tiêu hóa lợn con là do sự khác biệt về khả năng ñông ñặc của các loại protein trong ñường tiêu hóa của chúng
Khi protein và các chuỗi peptit ñược chuyển xuống ruột non, ở ñây quá trình phân giải lại ñược tiếp tục và triệt ñể Sản phẩm cuối cùng của các quá trình tiêu hóa là các acid amin tự do ñược hấp thu qua vách ruột Sự thủy phân protein ở ruột non ñược thực hiện nhờ các men của tuyến tụy: tripsin, chimotripsin, elastaza, dipepsindaza
E.M.Fedi (1967) cho biết, ở lợn lớn, thức ăn nấu chín làm giảm tỷ lệ tiêu hóa protein cũng như các chất dinh dưỡng khác
• Tiêu hóa mỡ
Các chất béo trong khẩu phần chứa thành phần chính là triglixerid, ngoài ra còn có các dạng khác: phopholypid, sterol, esteserol
Ở lợn con bú sữa, mỡ sữa ñược tiêu hóa dễ dàng do mỡ sữa lợn mẹ
có những giọt nhỏ với ñường kính 0,1-10 µm Ở lợn lớn, chất béo có trong khẩu phần có nhiều nguồn gốc khác nhau: ñộng vật và thực vật Quá trình tiêu hóa nhờ các men ở dịch tụy dịch mật Dịch mật có tác dụng là giảm sức căng bề mặt của dung dịch, làm nhũ hóa mỡ, phân cắt các hạt mỡ có ñường kính lớn ra làm những hạt có ñường kính nhỏ hơn giúp cho việc tiếp xúc của men tiêu hóa ñược dễ dàng hơn
Triglycerid lipaza Glycerid + acid béo
Lecitin (photpholipit) photpholypaza lysolecitin + acid béo
Trang 17Colesterol este Colesterolesteraza Colesterol + acid béo
Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa mỡ trong ñường tiêu hóa của lợn con rất cao, lúc sơ sinh và nó tăng dần không ñáng kể theo tuổi (Aumatre,
1996; Zintren, 1971)
2.2 ðặc ñiểm sinh trưởng của lợn
2.1.1 ðặc ñiểm sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ trong quá trình ñồng hoá và dị hoá là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề nang, khối lượng của từng bộ phận và toàn cơ thể
Phát dục là quá trình thay ñổi về chất lượng, tăng thêm, hoàn chỉnh thêm các tính chất chức năng của cơ quan bộ phận cơ thể
Cai sữa sớm cho lợn con là vấn ñề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thông thường ñối với các giống lợn ngoại người ta thực hiện cai sữa vào lúc 21-28 ngày tuổi, thay vì tập quán cai sữa 40 - 50 ngày tuổi ðể lợn con cai sữa cần phải có khẩu phần ăn ñặc biệt và dựa vào thể trạng lợn con Cai sữa muộn làm ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ và ảnh hưởng trực tiếp tới thành tích sinh sản của lợn nái
Muốn có hiệu quả chăn nuôi lợn nái cao thì tốt nhất cai sữa cho lợn cho khi ñạt khối lượng 6,6 - 7,0 kg, khi ñó khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn con khá hoàn thiện, khẩu phần tập ăn của lợn con gần như thành phần của sữa mẹ, ñể ñảm bảo tốc ñộ sinh trưởng của lợn con sau cai sữa
ðặc ñiểm phát dục của lợn thịt ñược chia làm 2 giai ñoạn
* Giai ñoạn 1 (giai ñoạn lợn choai) : từ 30 – 60 kg
Giai ñoạn này cơ thể phát triển mạnh, hệ cơ phát triển mạnh nhất Cuối giai ñoạn này thì bắt ñầu tích luỹ mỡ nhất là ñối với lợn lai ngoại x nội Cơ quan tiêu hoá ñã phát triển hoàn chỉnh, có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau Tuy nhiên ñể tránh lợn béo sớm cần tránh sử dụng
Trang 18các loại thức ăn giàu năng lượng với tỷ lệ % trong khẩu phần thấp Lượng thức ăn từ 1,2-2,1kg thức ăn hỗn hợp/con/ngày Protein thô trong khẩu phần chiếm 13-15%, canxi cần 0,6-0,7%, photpho cần 0,4-0,5% vật chất khô
* Giai ñoạn 2 (giai ñoạn vỗ béo) từ 60-100kg
Tốc ñộ phát triển xương và cơ kém trong khi ñó khả năng tích luỹ
mỡ tăng dần nhất là tháng cuối cùng Tính thèm ăn giảm dần nên cần tác ñộng cho lợn ăn nhiều hơn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng lớn do lợn tích mỡ mạnh và nhất là giai ñoạn cuối cùng Lượng thức ăn cần 2,1-3,5kg thức ăn/con/ngày, như cầu protein thấp từ 13-14,5%, canxi chiếm 0,5-0,6%, photpho 0,4-0,5%
2.1.2 Các chỉ tiêu ñánh giá sinh trưởng và những nhân tố ảnh hưởng ñến khả năng sinh trưởng và phát dục
- Các chỉ tiêu ñánh giá sinh trưởng
Mục ñích của chăn nuôi lợn thịt cuối cùng là có sản phẩm thịt nên người ta thường chú ý ñế một số chỉ tiêu chứng tỏ giá trị kinh tế của lơn thịt như sau:
+ Khối lượng lúc bắt ñầu nuôi thịt (kg): Là chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tăng trọng cũng như tiêu tốn thức ăn trong quá trình nuôi thịt
+ Thời gian nuôi thịt (ngày): Cho biết năng suất nuôi thịt, thời gian quay vòng của một lứa
+ Khối lượng kết thúc nuôi thịt (kg/con): Là khối lượng khi xuất bán
Trang 19- Những nhân tố ảnh hưởng
+ Khối lượng bắt đầu nuơi thịt : Khối lượng bắt đầu nuơi thịt cĩ ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng tăng trọng sau này Nếu đàn lợn nào cĩ khối lượng khi bắt đầu đưa vào nuơi thịt cao thì trong quá trình nuơi lợn sẽ tăng trọng nhanh hơn những đàn cĩ khối lượng nhỏ hơn Khối lượng khi đưa vào nuơi thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi đưa vào nuơi thịt, trình
độ chăm sĩc lợn con theo mẹ và lợn con cai sữa, kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con tập ăn cũng như thức ăn cho lợn con cai sữa
+ Kỹ thuật chăm sĩc nuơi dưỡng lợn thịt : ðối với chăn nuơi lợn
thịt, khâu chăm sĩc quản lý khơng địi hỏi cao như đối với lợn nái và lợn con Tuy nhiên để đàn lợn nuơi tăng trọng cao trong một thời gian ngắn thì nhất định phải chú ý đến một số điểm sau :
Cung cấp đầy đủ thức ăn cả về số lượng và chất lượng theo nhu cầu của đàn lợn nuơi
Cung cấp nước sạch cho lợn theo nhu cầu Do lợn nuơi theo hướng cơng nghiệp nên địi hỏi lượng nước là rất lớn Nếu chất lượng nguồn nước cung cấp khơng đảm bảo sẽ mang theo các tác nhân gây bệnh, hoặc làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn nuơi
Trong quá trình nuơi dưỡng phải đảm bảo vệ sinh chuồng trại thường xuyên Tạo cho vật nuơi một khơng gian sống thống mát
Cĩ lịch phụ sát trùng chuồng trại một cách định kỳ nhằm hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh trong khu vực chăn nuơi
Theo dõi sát sự sinh trưởng, phát triển của đàn lợn nuơi Nếu phát hiện cá thể nào bị bệnh cần kịp thời cách ly, chẩn đốn và điều trị bệnh kịp thời
+ Khối lượng kết thúc nuơi thịt: Khối lượng kết thúc nuơi thịt phụ
thuộc vào đặc điểm của giống, khả năng tăng trọng của lợn nuơi Tuỳ theo đặc điểm của từng giống lợn mà định ra khối lượng kết thúc nuơi khác nhau Lợn ngoại và lợn cĩ máu ngoại cĩ khối lượng kết thúc nuơi cao hơn
so với lợn nội
Trang 202.3 Chất thải chăn nuôi và ô nhiễm môi trường do hoạt ñộng chăn nuôi
2.3.1 Chất thải chăn nuôi
Mặc dù chất thải của ngành công nghiệp chăn nuôi lợn tồn tại ở rất nhiều dạng nhưng tựu chung lại chỉ có hai loại chính là chất thải rắn
và chất thải lỏng (V.Porphyre & N.Q.Côi, 2006) Sự ña dạng này do nhiều yếu tố tạo nên như nồng ñộ chất dinh dưỡng trong chất thải luôn biến ñổi, cách thức dọn chuồng, vệ sinh chuồng, hay quản lý phân chuồng hay nói rộng hơn ñó là cách con người tác ñộng vào nó nhằm phát huy mặt lợi ích
và hạn chế mặt có hại của chất thải chăn nuôi nói chung
Chất thải cơ bản nhất bao gồm hỗn hợp phân rắn và nước tiểu chưa qua xử lý Tính theo khối lượng chất thải chăn nuôi thường bao gồm 54% phân rắn và 46% nước tiểu, lượng phân thải ra dao ñộng tuỳ theo từng ñối tượng lợn nuôi (lợn thịt, lợn nái, lợn con), giai ñoạn sinh trưởng (ñối với lợn thịt) và mùa vụ (V.Porphyre & N.Q.Côi, 2006) Theo cách ước tính kinh ñiển, lượng phân rắn thải ra hàng ngày của lợn là vào khoảng 0,05 kg/kg khối lượng hơi Tuy nhiên tỷ lệ này chưa tính ñến các yếu
tố giống, thức ăn, và lượng urine mất ñi từ nước tiểu Theo mô hình ước tính khối lượng chất thải lợn NuFluxAWi mới ñược xây dựng gần ñây tại Thái Lan thì trung bình mỗi con lợn thải ra 2 - 6,5 kg/ngày (dạng sền sệt) (Menzi H, Gerber P, 2005) Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Cẩn cũng cho thấy trung bình lợn thải ra 1,5 - 3 kg phân/ngày với ñộ ẩm 66% (Lê Văn Cẩn, 1975)
Chất thải chăn nuôi chia ra thành 3 nhóm:
+ Chất thải rắn: Phân, chất ñộn, lông, chất hữu cơ tại các lò mổ + Chất thải lỏng: nước tiểu, nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc, vệ sinh
lò mổ, các dụng cụ…
+ Chất thải khí: CO2, NH3, CH4…
Trang 21Tùy theo ñặc ñiểm chuồng nuôi và hình thức thu gom chất thải, chất thải chăn nuôi lợn bao gồm: chất thải rắn, nước tiểu, nước thải chăn nuôi (hỗn hợp phân, nước tiểu, nước rửa chuồng )
- Các chất cặn bã của dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin …), các mô tróc ra
từ các niêm mạc của ống tiêu hóa và chất nhờn theo phân ra ngoài
- Các loại vi sinh vật trong thức ăn, ruột bị thải ra ngoài theo phân Chất thải rắn chủ yếu là phân, rác, thức ăn thừa của vật nuôi Chất thải rắn chăn nuôi lợn có ñộ ẩm từ 56-83%, tỷ lệ N, P, K cao, chứa nhiều hợp chất hữa cơ, vô cơ và một lượng lớn các vi sinh vật, trứng các ký sinh trùng có thể gây bệnh cho người và vật nuôi
Thành phần chính của chất thải (dạng rắn) trong chăn nuôi lợn chủ yếu là N (NH4), P2O5 và K2O Trong một nghiên cứu gần ñây của V.Porphyre & N.Q.Côi (2006) cho thấy thành phần chất gây ô nhiễm trong phân tươi lấy mẫu trong mùa hè và mùa ñông là khác nhau, nhất là ñối với thành phần P2O5 Trong khi mẫu lấy vào mùa hè có hàm lượng N
và P2O5 lần lượt là 1,60% và 3,51% tổng lượng phân tươi thì kết quả phân tích mẫu lấy vào mùa ñông lại cho thấy hàm lượng các chất này lần lượt là 1,57% và 1,99% Hàm lượng nitơ ammoniac (N-NH4) trong 1 kg phân tươi lấy mẫu vào mùa hè chứa 472 mg còn trong 1 kg phân khô là
Trang 221000mg; các giá trị này trong phân lấy mẫu vào mùa ñông lần lượt là 1552
mg và 3583 mg (V.Porphyre & N.Q.Côi, 2006)
Lượng phân thải ra trong một ngày ñêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi
và khẩu phần ăn Lượng phân lợn thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6-8% trọng lượng của vật nuôi Lượng phân thải trung bình của lợn trong 24 giờ ñược thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2.1 Khối lượng phân và nước tiểu của gia súc thải ra
trong 1 ngày ñêm Gia Súc Lượng phân (kg/ngày) Nước tiểu (kg/ngày)
Thành phần các chất trong phân lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Thành phần dưỡng chất của thức ăn và nước uống;
- ðộ tuổi của lợn (mỗi ñộ tuổi sẽ có khả năng tiêu hóa khác nhau);
- Tình trạng sức khỏe vật nuôi và nhu cầu cá thể: nếu nhu cầu cá thể cao thì sử dụng dưỡng chất nhiều thì lượng phân thải sẽ ít và ngược lại
K2O Nước phân chuồng nghèo lân, giàu ñạm và rất giàu Kali ðạm trong nước phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: urê, axit uric và axit hippuric, khi
ñể tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào ñất thì bị VSV phân giải axit uric và axit hippuric thành urê và sau ñó chuyển thành amoni carbonat
Trang 23Hàm lượng N trong mẫu nước rửa chuồng lấy vào mùa hè cũng thấp trong mẫu lấy vào mùa ñông (20,6 mg/lít ở mẫu mùa hè so với 155 mg/lít mẫu lấy vào mùa ñông) Tuy nhiên hàm lượng P2O5 trong nước rửa chuồng lấy mẫu vào mùa hè (226,8 mg/lít) lại cao hơn rất nhiều so với mẫu lấy vào mùa ñông (61mg/lít)
Hàm lượng K2O trong nước rửa chuồng lấy mẫu vào mùa hè là 3,0 mg/l còn mẫu lấy mùa ñông là 241 mg/l Như vậy cả hàm lượng nitơ
và hàm lượng kali trong chất thải lợn vào mùa ñông ñều cao hơn vào mùa
hè (V.Porphyre & N.Q.Côi, 2006) ðây là ñặc ñiểm cần lưu ý khi sử dụng chất thải từ chăn nuôi lợn làm phân bón cho cây trồng ñể việc bón phân có hiệu quả và tính hợp lý cao nhất
Nước thải chăn nuôi là một loại nước thải rất ñặc trưng và có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do có chứa hàm lượng cao các chất hữu
cơ, cặn lơ lửng, N, P và VSV gây bệnh
c) Chất thải khí
Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải (NH3, H2S, CH4, CO2, ) Các chất khí này thải ra do hoạt ñộng hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi, do sự lên men của VSV tron chất thải, chế biến thức ăn ước khoảng vài trăm triệu tấn/ năm
2.2.2 Ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi lợn
Theo số liệu của Tổng cục thống kê tại thời ñiểm 2010, tổng ñàn lợn
cả nước ñạt 27,3 triệu con Ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc ñộ rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa ñáp ứng ñược các tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi Do ñó năng suất chăn nuôi thấp
và gây ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Mỗi năm, ñàn gia súc gia cầm thải ra khoảng 75-85 triệu tấn chất thải, với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn ñịnh và nước thải không qua xử lý xả trực tiếp
ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng
Trang 24Chất thải chăn nuôi tác ñộng ñến môi trường và sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh: gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường ñất và các sản phẩm nông nghiệp ðây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hoá, do trong chất thải chứa nhiều VSV gây bệnh, trứng giun do vậy phải có các biện pháp thu gom và
xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa ñáng nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn ñến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ðặc biệt là các virus biến thể từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp
ñi sinh mạng của rất nhiều người
Ô nhiễm môi trường khu vực trại chăn nuôi do sự phân huỷ các chất hữu cơ có mặt trong phân và nước thải của lợn Sau khi chất thải ra khỏi cơ thể của lợn thì các chất khí ñã lập tức bay lên, khí thải chăn nuôi bao gồm hỗn hợp nhiều loại khí trong ñó có trên 40 loại gây mùi, chủ yếu là H2S và
NH3 Trong ñiều kiện kỵ khí cộng với sự có mặt của vi khuẩn trong phân
và nước thải xảy ra quá trình khử các ion sunphát( SO42-) thành sunphua (S2-) Trong ñiều kiện bình thường thì H2S là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn ñề về màu và mùi Nồng ñộ S2- tại hố thu nước thải chăn nuôi lợn có thể lên ñến 330 mg/l cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn (theo TCVN 5945-2005 cột C nồng ñộ sunfua là 1,0mg/l)
Càng thâm canh ngành chăn nuôi thì ô nhiễm môi trường càng tăng, nếu không có các biện pháp xử lý chất thải ñi kèm Trong quá trình chăn nuôi lượng khí CO2 thải ra chiếm 9% và lượng khí CH4 (một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần CO2) chiếm 37% Lượng khí CH4 chủ yếu ñược tạo ra ở ñộng vật nhai lại, những vi khuẩn phân hủy Cellulose trong cỏ ñể tạo ra năng lượng là một quá trình yếm khí, tiến trình
ñó gây ra sự thoát khí CH4 qua ợ hơi Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lượng khí NOx (có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO2)
và tạo ra 2/3 tổng lượng phát thải khí NH3, nguyên nhân chính gây mưa
Trang 25axit phá hủy các hệ sinh thái Mức phát tán ngày càng cao của các chất khí
sẽ ảnh hưởng tới khí hậu toàn cầu cũng như chất lượng ñất từng vùng Vì thế, ngay từ ñầu nên có các biện pháp bảo ñảm phù hợp ñể hạn chế tới mức thấp nhất ảnh hưởng xấu của chăn nuôi thâm canh ñối với khí hậu và ñất ñai Nguồn chất thải rắn và lỏng do vật nuôi thải ra bị tích tụ lại dẫn ñến các chất ñạm (nitơ) chuyển thành 1 lượng khá lớn khí NH3 Trong ñiều kiện hiếu khí, NH3 ñược VSV chuyển thành NO3- Khi thấm xuống ñất, một phần NO3- ñược vi khuẩn kỵ khí biến thành NO, NO2-, N2O; phần còn lại, theo thời gian, ngấm vào nước gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Khí NO2 bay vào không khí, gây tác ñộng xấu ñến tầng Ozon của khí quyển bao quanh trái ñất, trong ñó có gây hiệu ứng nhà kính Theo tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng
N2O trong khí quyển ðây là loại khí có khả năng hấp thu năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO2 ðộng vật nuôi còn thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu, 37% lượng khí CH4- loại khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khí CO2, theo Nguyễn Khoa Lý
Bên cạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm thì việc nuôi trồng thuỷ sản góp phần không nhỏ trong việc gây ra ô nhiễm Theo Lăng Ngọc Huỳnh, hình thức nuôi thâm canh theo hướng công nghiệp, thức ăn tổng hợp này có chứa protein thô (chiếm 30- 35%), trong khi ñó thuỷ ñộng vật chỉ hấp thụ 25- 40% lượng N, 17- 25%, lượng P, do hiệu quả hấp thụ N, P trong thức
ăn không cao ñã góp phần làm giảm nguồn ô nhiễm nước, theo Giáo trình
ô nhiễm nước - Trường ðại học Cần Thơ, trang 21-24 [27]
Các chất khí phát tán có nguồn gốc nông nghiệp và công nghiệp ñược chuyển hoá hoá học trong không khí Sol khí (gồm những hạt bụi, hạt keo phân tán có kích cỡ tử 0,01- 10 mm) ñược hình thành, gây ảnh hưởng hiệu ứng nhà kính Thêm nữa, sự hình thành các sản phẩm phản ứng làm thay ñổi khả năng oxy hoá của tầng ñối lưu dẫn tới sự hình thành các axít NH3
ñóng một vai trò lớn trong quá trình này Trong khi NH3 trong không khí
Trang 26ñược trung hoà nhờ các thành phần sol khí có tính axít và mưa axít thì ở trong ñất nó lại bị chuyển hoá thành axít nitric
Các hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, sử dụng phân bón) ñã ñược xác ñịnh là các nguồn lớn thải khí NH3 ra môi trường Số lượng ñàn vật nuôi ñã và ñang tăng ñáng kể, cũng tương tự là sự phát thải NH3 từ
phân bón nitơ (Sutton và cs 1993) Sự gia tăng mạnh nhất gây ra bởi nhóm
vật nuôi lợn và gia cầm Trong các hoạt ñộng chăn nuôi, sự thải NH3 vào môi trường trước hết là từ chuồng trại, nuôi vỗ béo mở (hở), chế biến và dự trữ phân, sử dụng phân bón trên ñất, …
Nitơ ñược thải ra ở dạng ure (ñộng vật có vú) hoặc axit uric (chim) và
NH3, nitrogen hữu cơ trong phân và nước tiểu của vật nuôi ðể biến ure hoặc axit uric thành NH3 cần có enzyme urease Sự biến ñổi này xảy ra rất nhanh, thường là trong ít ngày Biến ñổi các dạng phức hợp nitrogen hữu
cơ trong phân xảy ra chậm hơn (hàng tháng hoặc hàng năm) Trong cả 2 trường hợp, nitrogen ñược biến ñổi thành hoặc là ammonium (NH4+) trong ñiều kiện pH axit hoặc trung tính, hoặc thành ammoniac (NH3) trong ñiều kiện pH cao hơn
NH3 thoát ra sẽ gây ảnh hưởng xấu lên môi trường, như làm axit hóa ñất
và gây phì nhiêu hóa nước mặt giúp thực vật (tảo ñộc hại) phát triển sẽ tiêu diệt ñộng vật nước do làm giảm lượng oxy ðiều cần quan tâm ñặc biệt là
NH3 trong không khí chuồng nuôi, do nó thường xuyên ñược tích tụ trong chuồng có ñộ thông thoáng kém Tăng mức NH3 sẽ ảnh hưởng xấu ñối với sức khỏe và năng suất vật nuôi ðồng thời NH3 có thể ảnh hưởng xấu lên sức khỏe con người, dù chỉ ở mức thấp cũng có thể gây sưng phổi, sưng mắt Nồng ñộ cao NH3 trong không khí ảnh hưởng ñáng kể tới hô hấp và tim mạch của con người
Một số chất khí mật ñộ thấp trong không khí có nguồn gốc từ nông nghiệp và công nghiệp có thể hấp thụ một số loại bức xạ từ mặt trời Chúng làm cho một phần năng lượng không quay trở lại không gian, mà bị giữ lại
Trang 27ở tầng ñối lưu thấp hơn, vì thế lớp không khí gần mặt ñất bị nóng lên, gây hiệu ứng khí nhà kính một cách tự nhiên
Nói chung, các chất khí hấp thụ nhiệt bức xạ từ trái ñất ñược gọi là khí nhà kính Chúng là hơi nước, CO2, CH4, N2O và ozon, ñược hình thành trong các quá trình tự nhiên và có sẵn trong khí quyển từ trước thời kỳ công nghiệp Hoạt ñộng của con người ñã làm nổng ñộ các chất khí này tăng cao ( ngoại trừ H2O) nhất là từ thời kỳ công nghiệp hoá Ngoài ra còn có cả các chất khí khác không sinh ra một cách tự nhiên cũng góp phần vào quá trình này, như là floclohydrocacbon Trong ngành chăn nuôi có hai chất khí chủ yếu phát tán gây hiệu ứng nhà kính là CH4 và N2O Hàng thế kỷ qua, nồng
ñộ các chất khí này ñã tăng một cách ñáng kể Hàm lượng CH4 trong không khí tăng gấp 2 lần, nồng ñộ N2O tăng hơn 30%
CH4 là sản phẩm quá trình trao ñổi chất với sự góp sức của vi khuẩn
kỵ khí (vi khuẩn kỵ khí sinh metan) Trong sinh quyển, khí CH4 ñược sản sinh ở bất cứ nơi nào có chất hữu cơ phân huỷ trong ñiều kiện kỵ khí (thiếu oxy) Trong ngành chăn nuôi quá trình lên men thức ăn trong dạ dày ở các ñộng vật nhai lại lẫn không nhai lại ñều tạo ra CH4 Trong khi tiêu hoá xenluloza, ñộng vật nhai lại góp phần lớn nhất trong việc sản sinh ra khí
CH4 Khối lượng khí sinh ra phụ thuộc vào chất lượng và số lượng thức ăn
và các yếu tố ña dạng khác nữa
CH4 cũng sinh ra trong quá trình phân huỷ các chất thải gia súc, chủ yếu
là chất hữu cơ trong ñiều kiện kỵ khí Còn trong ñiều kiện hiếu khí, CO2 sẽ ñược hình thành Vì CH4 là chất gây hiệu ứng khí nhà kính mạnh hơn CO nên tốt hơn hết là cho các chất thải ñược phân huỷ trong ñiều kiện có oxy( hiếu khí)
Sự hình thành khí nhà kính N2O chủ yếu xuất hiện trong quá trình ñồng hoá nitơ trong ñất và chắc chắn có liên quan tới vi sinh vật kỵ khí, nitrat bị khử thành N2O hoặc nitơ phân tử Trong quá trình oxy hoá nhờ vi khuẩn của ion amoni tạo ra nitrat, N2O cũng ñược hình thành
Trang 28Trong ngành chăn nuôi, chất thải từ gia súc và thức ăn của nó là nguồn sinh N2O, hiện chiếm 13% tổng lượng N2O phát tán toàn cầu Chăn nuôi thâm canh có nghĩa là tạo ñiều kiện ñể tăng lượng N2O phát tán
Từ ngành chăn nuôi cũng phát tán lượng lớn NH3 Mặc dù bản thân chất khí này không gây hiệu ứng khí nhà kính, nhưng qua tác dụng tương
hỗ của NH3 với các chất khí phát tán do tác ñộng của con người và qua sự biến ñổi do vi sinh vật trong ñất, thì nó cũng ảnh hưởng tới hiệu ứng khí nhà kính và làm tổn hại tới chất lượng ñất
Việc kiểm soát chất thải chăn nuôi là một nội dung cấp bách cần ñược các cấp quản lý, các nhà sản xuất và cộng ñồng dân cư bắt buộc quan tâm ñể: hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe của con người, cảnh quan khu dân cư cũng như không kìm hãm sự phát triển của ngành
2.2.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ñến năng suất chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường
tự nhiên, do lượng lớn các khí thải và chất thải từ vật nuôi Các khí thải từ vật nuôi cũng chiểm tỷ trọng lớn trong các khí thải gây hiệu ứng nhà kính Phần lớn thì chất thải chăn nuôi ñược sử dụng làm phân bón Hiện nay, còn nhiều trang trại chăn nuôi hàng ngày thải ra một lượng lớn chất thải không ñược xử lý và ñổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẫn ngứa và ghẻ lở cao Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên ñất và ảnh hưởng lớn ñến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt ñộng gây ô nhiễm
do chăn nuôi vẫn ñang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên ñất dốc, ñầu nguồn nước v.v còn khá phổ biến ñã làm tăng diện tích ñất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn ñến hiệu quả chăn nuôi
Trang 29Tình hình dịch bệnh bùng phát trên quy mô rộng ngày càng tăng, dịch bệnh có nhiều nguyên nhân và từ nhiều nguồn khác nhau: do vius, vi khuẩn, ký sinh trùng Vì vậy ñể hạn chế các nguyên nhân gây bệnh trên, ô nhiễm môi trường chuồng nuôi là vấn ñề cấp bách cần giải quyết hiện nay Bệnh và các loại vi khuẩn gây bệnh trên lợn: bệnh tiêu hóa do vi khuẩn E.coli gây ra ỉa chảy ở lợn con, bệnh do ký sinh trùng gây ra làm lợn chậm lớn, còi cọc bên cạnh ñó chất lượng không khí trong chuồng nuôi cũng rất quan trọng, gia súc hít vào phổi những chất ñộc hại gây viêm nhiễm ñường hô hấp làm ảnh hưởng ñến sự tăng trưởng Phân và nước thải không ñược thu gom xử lý sẽ phân hủy gây ô nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng ñến năng suất chăn nuôi, môi trường chăn nuôi bao gồm các yếu tố: khí amoniac, hyñro sunfua, nhiệt ñộ, ñộ ẩm, bụi và các khí gây mùi hôi thối khác
Bảng 2.2 Các bệnh ñiển hình liên quan ñến chất thải chăn nuôi
Gây bệnh Tên mầm
thực phẩm Vật nuôi Người
Bệnh ngoài da Nấm, KST Nước, thức ăn, da,
Theo nghiên cứu của Viện Chăn nuôi (2006, Nguyễn Quế Côi ) về ảnh hưởng của môi trường tới năng suất chăn nuôi cho thấy: nếu lợn ñược chăn nuôi trong một môi trường không ô nhiễm có thể tăng trọng cao hơn nuôi trong môi trường ô nhiễm bình quân 34g/ngày/con (tăng 7% so với chuồng
Trang 30nuôi bị ô nhiễm), tỷ lệ lợn mắc bệnh ở chuồng ô nhiễm cũng cao hơn 7% so với chuồng không ô nhiễm ðiều ñó cho thấy môi trường có ý nghĩa rất lớn ñến năng suất chăn nuôi và công tác kiểm soát dịch bệnh ñối với vật nuôi
Rõ ràng ngành chăn nuôi phát triển nếu không ñi kèm với các biện pháp xử lý chất thải sẽ làm môi trường sống của con người xuống cấp nhanh chóng Môi trường bị ô nhiễm lại tác ñộng trực tiếp vào sức khoẻ vật nuôi, phát sinh dịch bệnh, gây khó khăn trong công tác quản lý dịch bệnh, giảm năng suất không thể phát triển bền vững
2.4 Một số giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chăn nuôi
Những giải pháp chủ yếu nhằm giảm khí thải trong chăn nuôi lợn bao gồm: Cải thiện chất lượng con giống, cải thiện chất lượng khẩu phần
và Quản lý tốt nguồn chất thải: biogas, chăn nuôi sinh thái, chăn nuôi hữu
cơ, ủ nóng, ủ nguội và ủ kết hợp, sử dụng cánh ñồng lọc…
Tuy nhiên vấn ñề quản lý nguồn chất thải là vấn ñề ñược quan tâm nhiều nhất Vì chất thải không những liên quan ñến lượng khí thải mà trực tiếp ảnh hưởng xấu ñến môi trường Khi thải từ chất thải chăn nuôi bao gồm NH3, H2S, CH4, N2O, NH3, NOx Các yếu tố ảnh hưởng ñến lượng khí thải trong quá trình phân giải chất hữu cơ của phân gồm nhiệt ñộ, ñộ ẩm, thành phần chất hữu cơ (loại gia súc, khẩu phần ăn)
Quản lý giống và dinh dưỡng:
- Cải thiện chất lượng giống bằng cách chọn lọc, sử dụng các giống, con lai có năng suất cao, tiêu tốn thức ăn/ñơn vị sản phẩm tốt
- Cân ñối khẩu phần ăn: hàm lượng protein thấp (phù hợp) nhưng cân bằng các năng lượng/protein, cân bằng các axit amin nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm thải N ra phân và nước tiểu
- Nâng cao giá trị dinh dưỡng của khẩu phần bằng việc bổ sung các chế phẩm sinh học như enzyme, axit hữu cơ, probiotics
Quản lý chất thải nhằm giảm CH 4 :
- Khi ủ: trộn tỷ lệ thích hợp rơm và phân
Trang 31- Bón phân ủ sau khoảng thời gian thích hợp
- Không bón phân ủ vào ñất ướt
- Hầm khí sinh học Biogas
Quản lý dinh dưỡng và chất thải nhằm giảm N 2 O, NOx:
- Phủ kín chất thải bằng bạt, nilon: giảm thiểu lượng thất thoát NH3
50 - 60%
- Tách nguồn chất thải rắn và lỏng riêng biệt ñể xử lý
- Bón phân dưới lớp ñất sâu và thời gian ngắn trước khi trồng, rải phân mỏng và ñều dưới lớp ñất sâu
- Bón ñủ lượng phân phù hợp với nhu cầu của cây trồng
- Giảm bón phân vào cuối mùa thu và mùa ñông : ñiều kiện thích hợp cho việc phát tán N2O trong mùa xuân
- Không bón phân vào lúc trời nóng hoặc quá ẩm ướt hoặc trước các cơn bão, cơn mưa lớn
- Giảm quá trình nitrate hóa trong ñất: tưới ngầm, ñất tơi xốp, thoáng khí, VSV cố ñịnh N, VSV ngăn cản quá trình nitrate hóa, thay ñổi pH
2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Giảm thiểu vấn ñề ô nhiễm môi trường và mùi ñã và ñang là chủ ñề cấp thiết ở các quốc gia có ngành chăn nuôi lợn công nghiệp phát triển như
Hà Lan, ðức, ðan Mạch Chiến lược giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát thải mùi có thể ñược phân chia thành hai nhóm chính: Giảm thiểu ảnh hưởng của các hợp chất sau khi nó ñã ñược sinh ra, và ngăn chặn tận gốc quá trình sản sinh các hợp chất gây ô nhiễm môi trường và gây mùi từ trong ruột già của lợn và từ chất thải trong hố phân Chất thải chăn nuôi là nơi chứa mầm bệnh, các chất hữu cơ, các chất chứa ni-tơ và axit phốt-pho-ric, kim loại nặng…, do ñó chúng có thể gây ô nhiễm không khí, nguồn nước mặt lẫn nước ngầm Chất thải từ hệ thống chăn nuôi lợn quy mô lớn gây tích tụ trong ñất và nước, gây ô nhiễm môi trường cũng như phát thải
Trang 32mùi vượt quá khả năng chựu ñựng của con người (Jongbloed và Lenis, 1998a) Hơn thế nữa các hợp chất phát thải từ chất thải của lợn có thể gây nên các bệnh nguy hiểm cho con người, ñặc biệt là các bệnh liên quan ñến ñường hô hấp (Donham, 2000; 1998; Iverson và cs, 2000) Các hợp chất gây ô nhiễm môi trường và phát thải mùi ñược sản sinh do quá trình chuyển hóa thức ăn bởi vi sinh vật trong ruột già của lợn và quá trình chuyển hóa các tiền chất gây ô nhiễm môi trường và mùi trong phân và nước tiểu bởi vi sinh vật Protein và các carbohydrates có khả năng lên men
là các tiền chất chủ yếu cho việc sản xuất các chất có khả năng ô nhiễm
môi trường và gây mùi (Le và cs., 2005a; Mackie và cs., 1998) Các hợp
chất gây mùi và ô nhiễm môi trường là tập hợp phức tạp các chất bay hơi khác nhau Các chất này có thể ñược phân chia thành 4 nhóm chính: (1) các hợp chất có chứa S, (2) các hợp chất indoles và phenols, (3) các axit béo
bay hơi và (4) amonia và các amine bay hơi (Le và cs., 2005a; Schiffman
và cs., 2001) Trong ñó ammonia là hợp chất gây ô nhiễm môi trường và có
khả năng làm mất cân bằng hệ sinh thái, ñặc biệt là ñất và nước Các hợp chất còn lại chủ yếu là các hợp chất gây mùi
Chăn nuôi lợn công nghiệp có tác ñộng lớn ñến vấn ñề ô nhiễm môi trường Việc không kiểm soát các khí phát thải từ phân gia súc (NH3, mùi,
CH4) dẫn ñến hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng do mùi thối của chất thải khi các trang trại chăn nuôi gần khu dân cư (Aarnink và Verstegen, 2007), hoặc ảnh hưởng ñến vấn ñề hiệu ứng nhà kính do khoảng 20% khí thải CH4
từ chất thải chăn nuôi và gia súc ăn cỏ (Tamminga, 2003) Hậu quả lâu dài
và to lớn hơn là do việc thải chất thải từ khu chăn nuôi vào nguồn nước (sông ngòi, kênh, rãnh nước) và bị rửa trôi xuống tầng nước ngầm dẫn ñến rủi ro lớn cho sức khoẻ con người và vật nuôi vì chất thải từ chăn nuôi chứa nhiều mầm bệnh (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) ví dụ Salmonella, Escherichia coli, Campylobacter, Rotavirus, Cryptosporidia có thể truyền cho người, và gây ra bệnh truyền nhiễm cục bộ hoặc lan rộng Hậu quả,
Trang 33hàng năm có khoảng 1,7 triệu trường hợp bị bệnh sốt tả lỵ và khoảng 600.000 trường hợp tử vong, bệnh ỉa chảy cũng gây nên cái chết cho khoảng 951.000 người ở vùng đông Nam Á Một trong những lý do của sự lan tràn dịch bệnh là do quản lý chất thải từ chăn nuôi chưa ựúng, chưa hợp
lý (thu gom, bảo quản, vận chuyển và khi rải phân) Ở các khu vực chăn nuôi không xử lý chất thải triệt ựể dẫn ựến việc gây ra các mùi khó chịu cho khu vực xung quanh mà còn tạo ra nguồn khắ phát thải, ựóng góp vào
sự ấm lên khắ hậu của toàn cầu Nhằm kiểm soát chặt chẽ vấn ựề ô nhiễm môi trường từ chất thải của các cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp ở châu Âu, Hội ựồng EU ựã ựưa ra những quy ựịnh nghiêm ngặt cho vấn ựề này (Aarnink và Verstegen, 2007) Mặc dù mỗi nước trong cộng ựồng châu
Âu có những quy ựịnh riêng cho mỗi nước, nhưng tất cả ựều tuân theo ựịnh hướng về giải quyết vấn ựề môi trường ựược ựề ra bởi EU
Trên cơ sở việc thúc ựẩy phát triển chăn nuôi và giảm thiểu vấn ựề ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi, các ựịnh hướng này tập trung vào một số ựiểm sau: (1) Kiểm soát chặt chẽ và phòng tránh các vấn ựề ô nhiễm (IPPC Directive 96/61/EC); (2) kiểm soát mức ựộ nitrate trong nước ngầm (Directive 96/671/EEC); (3) kiểm soát mức ựộ ô nhiễm không khắ (NEC Directive 2001/81/EC) Như vậy mục tiêu là giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ ựất, nước và không khắ và ựồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên Hội ựồng EU ưu tiên tập trung vào các cơ sở chăn nuôi quy mô công nghiệp (>750 lợn nái; >2000 lợn thịt; >40.000 gà), (Aarnink và Verstegen, 2007)
Trong quy ựịnh thì các cơ sở chăn nuôi công nghiệp này cần phải ựảm bảo ựủ các ựiều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị ựể giảm thiều mức ựộ ô nhiễm Việc kiểm soát mức ựộ nitrate trong nước bề mặt và trong nước ngầm do ảnh hưởng của dư thừa hàm lượng Nitơ trong chất thải ựược quy ựịnh nghiêm ngặt Mức ựộ nitrate trong nước ngầm không ựược vượt quá 50mg/l và việc bón phân tươi không vượt quá 170kg/ha/năm Ngoài ra
Trang 34NEC cũng đưa ra quy định mức tối đa cho phép trong việc kiểm sốt SO2,
NOx,và NH3
Việc quản lý chăm sĩc nuơi dưỡng cũng cĩ ảnh hưởng tích cực đến việc giảm thiểu ơ nhiễm mơi trường Tại các nước Châu Âu, ngành chăn nuơi lợn cơng nghiệp đang phải đương đầu vấn đề là một lượng lớn các khí độc hại thải ra ngồi mơi trường (Aarnink và Verstegen, 2007) Một số nhĩm giải pháp đã được đề cập như chổi sinh học và lọc sinh học để loại
bỏ các chất gây ơ nhiễm, hoặc sử dụng các chất phụ gia sinh học và hĩa học để trung hịa hay chuyển hĩa các chất khác khơng gây ơ nhiễm Tuy nhiên các giải pháp “chữa cháy” này được đánh giá là đắt đỏ và khơng thực
sự bền vững (Le và cs., 2005a; Sutton và cs., 1999) Trên thực tế, những
loại khí thải bay hơi như NH3, CH4 và các mùi chất thải bị thất thốt Aarnink & Verstegen (2007) đã đưa ra định hướng nhằm giảm thiểu tác động của việc đào thải N, từ chất thải của lợn liên quan đến (1) sử dụng khẩu phần ăn theo giai đoạn, (2) bổ sung các amino acid (AA) thiết yếu trong khẩu phần và (3) bổ sung phytase vào khẩu phần ăn cho lợn Nhằm làm giảm đào thải NH3 ra ngồi mơi trường thì giải pháp là (1) giảm protein ăn vào kết hợp bổ sung các AA thiết yếu, (2) hạn chế việc đào thải Nitơ từ nước tiểu bằng việc sử dụng trong khẩu phần các nguồn xơ dễ lên men; (3) sử dụng các muối acid trong khẩu phần nhằm làm giảm pH trong nước tiểu; (4) sử dụng nguồn xơ dễ lên men trong khẩu phần nhằm làm giảm pH trong phân
Theo nghiên cứu mới đây cho thấy việc phối hợp đồng bộ các giải pháp trên cho kết quả làm giảm tới 70% khí NH3 thải ra mơi trường trên lợn thịt vỗ béo (Aarnink và Verstegen, 2007) Thực tế, việc đào thải nguồn Nitơ và ra ngồi mơi trường chủ yếu qua đường phân và nước tiểu Nghiên
cứu của van der Peet-Schwering et al (1999) ước đốn việc đào thải Nitơ
là do ảnh hưởng của thức ăn ăn vào, biến động từ 38% đối với lợn cai con sau cai sữa, 63% đối với lợn thịt và 75% đối với lợn nái Cơ sở để làm
Trang 35giảm ñào thải Nitơ là cân ñối protein/AA trong khẩu phần và ñáp ứng ñủ nhu cầu cho gia súc
Rất ít các nghiên cứu tập trung ngăn chặn tận gốc quá trình sản sinh
ra các chất gây ô nhiễm và mùi Giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mùi tại gốc nơi nó sinh ra bằng cách thay ñổi thức ăn của lợn, thay ñổi hoặc hạn chế các cơ chất (có trong thức ăn) tạo ra các hợp chất ô nhiễm môi trường
và mùi, hay bằng cách chọn lọc các giống lợn theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn có một tiềm năng rất lớn, tuy nhiên ñây là một lĩnh
vực còn mới mẻ và chưa ñược nghiên cứu nhiều (Le và cs., 2005a) Một số
nghiên cứu cho thấy ứng với mỗi một % giảm mức protein thô trong khẩu phần thức ăn cho lợn có thể làm giảm 10% phát xạ ammonia trừ phân lợn
(Sutton và cs., 1997; Kay và Lee, 1997; Le và cs., 2007a), hay giảm thiểu
các axit amin chứa S trong khẩu phần có thể làm giảm ñến 80% phát xạ
mùi từ phân lợn (Le và cs., 2006) Aarnink & Verstegen (2007) cũng ñề
xuất giải pháp nhằm làm giảm mùi là (1) giảm lên men protein ở ruột già bằng việc cân bằng giữa protein và xơ dễ lên men trong khẩu phần và (2) hạn chế việc ñào thải AA gốc chứa lưu huỳnh Bên cạnh ñó sự phát xạ các chất gây ô nhiễm môi trường và mùi cũng như hiệu quả của các giải pháp giảm thiểu các chất phụ thuộc vào hệ thống chăn nuôi lợn cụ thể là các yếu
tố như con giống, chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải và các yếu tố lý hóa
của môi trường (Le và cs., 2005b; Le và cs., 2005a) Do vậy cần có các
nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mùi cụ thể cho từng hệ thống sản xuất
Việc xử lý chất thải chăn nuôi cũng làm giảm ñáng kể mùi khó chịu
từ chất thải và giảm bớt ô nhiễm môi trường Theo Rudrum (2005), ủ phân
là một trong những giải pháp quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn công nghiệp, giảm thiểu mùi phát tán trong không khí và giảm chi phí cho vận chuyển phân vì phân ủ nhẹ hơn phân tươi Trong quá trình ủ phân, vi sinh vật phân huỷ vật chất hữu cơ thành CO2, nước và NH3 Thêm vào ñó việc
Trang 36phát triển tạo nguồn năng lượng sạch, rẻ tiển từ nguyên liệu chất thải chăn nuôi sử dụng hầm lên men yếm khí ñã và ñang ñược nghiên cứu rộng khắp, những ưu ñiểm của hệ thống này không chỉ góp phần sử dụng một cách hiệu quả khí methane (CH4) phục vụ nhu cầu ñun nấu trong sinh hoạt của con người, ñồng thời giảm tác ñộng ñến bầu khí quyển của trái ñất, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước bề mặt, tăng các chất dinh dưỡng trong phân bón cho cây trồng Việc sử dụng hầm lên men yếm khí ñể sản xuất khí CH4 vào các mục ñích khác như nguồn chất ñốt sạch thay thế cho việc
mua dầu ñốt hoặc dùng củi ñể ñun nấu (Lansing và cs., 2008), hoặc ñể sản xuất ñiện (Lansing và cs., in press) và cho các mục ñích khác như hệ thống
nước nóng, hoặc chạy máy làm lạnh Sau quá trình lên men yếm khí trong hầm biogas thì các mầm bệnh bị giảm ñi ñáng kể, 50-90% hợp chất hữu cơ
bị giảm (San Thy và Ly, 2003)
2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta hiện nay chăn nuôi lợn nông hộ ñang tăng dần quy mô trang trại cũng như tăng ñầu lợn Chiến lược phát triển chăn nuôi lợn ñến năm 2020 ñã chỉ rõ phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp từ 3,79 triệu con lợn ngoại (chiếm 14,1% tổng ñàn năm 2006) lên 12,86 triệu con lợn ngoại (chiếm 37% tổng ñàn vào năm 2020) Song hành với sự phát triển của chăn nuôi lợn ngoại, số lượng trang trại nuôi lợn công nghiệp sẽ tăng từ 7,5 ngàn trang trại vào năm 2006 lên 14 ngàn trang trại vào năm 2020 (Cục chăn nuôi, 2008) Một trong những thách thức lớn nhất của chăn nuôi công nghiệp trang trại là ô nhiễm môi trường và phát xạ mùi Kết quả ñiều tra tại
8 vùng sinh thái của cả nước cho thấy có 73,7% các trang trại áp dụng các biện pháp xử lý chất thải trong ñó 64,3% áp dụng phương pháp biogas còn lại là áp dụng các phương pháp khác Chiến lược phát triển chăn nuôi ñến năm 2020 cũng ñã chỉ rõ phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp cần gắn liền với giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mùi (Cục chăn nuôi, 2008) Thực tế cho thấy mặt trái của vấn ñề là tăng quy mô ñầu lợn mà chưa ñi cùng với các giải pháp kỹ thuật thích hợp thì việc gây ô nhiễm môi
Trang 37trường, làm giảm năng suất chăn nuôi là ñiều không tránh khỏi Tuy nhiên việc nghiên cứu các giải pháp nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn còn ở dạng nghiên cứu manh mún nhỏ lẻ, cục
bộ tại một số vùng, ñịa phương, chưa ñược thực hiện một cách có hệ thống, dẫn ñến các kết quả chỉ thu hẹp trong phạm vi nhỏ Vấn ñề ô nhiễm trầm trọng do chất thải chăn nuôi ra ngoài môi trường( nước, không khí) tại các
cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp do sử dụng khẩu phần ăn không hợp lý và các biện pháp xử lý chất thải không triệt ñể ảnh hưởng ñến môi trường ñã
và ñang ñược cảnh báo tác ñộng lớn cho người và gia súc chăn nuôi Hơn nữa tình trạng ñối phó với dịch bệnh bùng phát là mối quan tâm hàng ñầu cần giải quyết hiện nay Bệnh do vi khuẩn ñường hô hấp chiếm tỷ lệ khá lớn Bệnh tiêu hóa do vi khuẩn E.coli gây ỉa chảy xuất hiện ở hầu hết các
cở sở chăn nuôi quản lý kém gây thiệt hại nghiêm trọng Bệnh ký sinh trùng gây ra làm giảm khả năng tăng trọng của lợn do chậm lớn còi cọc Chất lượng không khí trong chuồng nuôi bị ô nhiễm bị ô nhiễm làm cho người chăn nuôi, và gia súc hít phái những chất ñộc gây ra các bệnh viêm nhiễm mãn tính ñường hô hấp
Khảo sát vùng chăn nuôi lợn thâm canh tại hai xã Trực Thái (Nam ðịnh) và Trung Trâu (Hà Nội), tác giả Phùng Thị Vân và cs (2004) ñã cho thấy hầu hết các hộ chăn nuôi ñều ñể nước thải và chất thải tự do ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, ñặc biệt trong ngày nóng bức, mùi hôi thối nồng nặc xung quanh các khu vực chăn nuôi này Nồng ñộ khí H2S và NH3 ñều cao hơn mức cho phép (so với TCVN 5937-
95 và TCVN 5938-95) tới 4,7 lần ðể xử lý vấn ñề ô nhiễm và nâng cao năng suất chăn nuôi, các tác giả ñã ñưa ra giải pháp xử lý chất thải bằng Biogas kết hợp với biện pháp nâng ñộ cao chuồng nuôi, cải tạo mái tạo ñộ thông thoáng, cải tạo khu vực xung quanh chuồng nuôi Kết quả cho thấy hàm lượng NH3 ñã giảm 46,81%; khí H2S giảm 28,9% Kết quả áp dụng xử
lý nước thải từ chăn nuôi lợn công nghiệp ñã qua xử lý bằng hệ thống biogas cho thấy hàm lượng vi sinh vật, coliform trong trứng giun sán hầu như không còn nhưng hàm lượng E.coli còn ở mức ñộ cao (0,65x103)
Trang 38Từ những năm 2003, Viện Công nghệ môi trường - Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam ñã tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm ứng dụng dung dịch ñiện hóa thân thiện môi trường ñể khử mùi, khử trùng cho môi trường y tế, chăn nuôi Các kết quả thu ñược cho thấy dung dịch ñiện hóa thân thiện môi trường có khả năng loại bỏ mùi hôi (H2S, NH3) và các vi sinh vật gây bệnh ñạt trên 90% Dung dịch ñiện hóa thân thiện môi trường (Anolit) là một chất lỏng trong suốt không màu, có mùi Clo nhẹ Nó có chứa hỗn hợp các chất ôxy hoá chứa ôxy và clo (HClO, ClO2, HClO3, HClO4, H2O2, O2, ClO-, ClO2-, ClO3-, O-, HO2-, OH- ) làm cho anolit trở thành chất hoạt ñộng diệt vi trùng, virus và bào tử rất hiệu quả nên chỉ cần dùng ở nồng ñộ nhỏ và vì vậy ít ñộc hại Trong tập hợp các nghiên cứu chuyên về công nghệ hoạt hoá ñiện hoá và các sản phẩm của nó các tác giả
ñã ñưa ra các kết luận về việc sử dụng hiệu quả diệt khuẩn cao Dung dịch Anolit tập hợp nhiều hoạt chất sát khuẩn nên có khả năng sát khuẩn cao, diệt ñược hầu hết các nhóm vi khuẩn gam (+), gam (-), kể cả nha bào, virus, nấm mốc, xạ khuẩn không bị hiện tượng “nhờn thuốc” như các loại hóa chất khác Về bản chất dung dịch này do có tổng lượng khoáng nhỏ nên Anolit có tính chất gần giống nước khoáng thông thường và ñảm bảo sạch về phương diện sinh thái Anolit không làm nhiễm bẩn môi trường và không cần phải trung hoà nó sau khi sử dụng vì sau khi ñược sản xuất 5 ngày Anolit trở về dạng nước muối ban ñầu trước khi ñược kích hoạt ñiện hoá Nồng ñộ các hoạt chất trong Anolit không lớn (trung bình từ 0,2 – 0,3g/l) nên nó không gây nguy hiểm gì khi tiếp xúc với da và niêm mạc, bảo vệ an toàn các dụng cụ y tế ñược làm từ các vật liệu dễ bị ăn mòn Việc anolit là tập hợp của nhiều hoạt chất (Hydroperoxit, Ozon, Oxy nguyên tử, các hợp chất clo chứa oxy…) tồn tại ñồng thời do dung dịch nước ñược kích hoạt ñiện hoá, bảo ñảm cho anolit vừa có tính diệt vi khuẩn, virút và bào tử cao, vừa có tính tẩy rửa rất tốt
Nhìn chung một số nghiên cứu trước ñây ñã khắc phục ñược phần nào về tình trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợn, nhưng các chỉ tiêu về nồng ñộ khí ñộc, vi khuẩn trong chuồng nuôi, các chỉ tiêu của nước
Trang 39thải vẫn còn vượt mức cho phếp nhiều lần Các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở các quy mô trang trại chăn nuôi nhỏ từ 10- 20 lợ nái/1 trang trại (Phạm Nhật Lệ và Trịnh Quang Tuyên, 2000; Phùng Thị Vân và cs., 2004a) hoặc chỉ tập trung chủ yếu vào giải pháp về con giống và chuồng trại (Phùng Thị Vân và cs., 2004)