1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ

131 925 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 631 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ---–&&---HOÀNG THỊ LAN ANH TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-–&& -HOÀNG THỊ LAN ANH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH

TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ

Chuyên ngành: LL&PPDH Giáo dục Chính trị

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Phương Thủy

Trang 2

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành nhất, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Phương Thủy đã tận tình giúp đỡ để luận

văn được hoàn thành

Đồng thời xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Lý luậnchính trị - Giáo dục công dân, các thầy cô giáo khoa Lý luận chính trị - Giáodục công dân – Trường đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và tạomọi điều kiện thuận lợi cho các giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện luận văn

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo vàcác em học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện, đa tậntình giúp đỡ để luận văn dược hoàn thành

Cuối cùng, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình đã luônđộng viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học

Hà Nội, Tháng 4 năm 2014

Tác giả

Hoàng Thị Lan Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Những đóng góp mới của tác giả 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Kết cấu của luận văn 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ THỰC TRẠNG CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁ DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ 6

1.1 Dạy học tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong môn GDCD ở trường phổ thông 6

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6

1.1.1.1 Tích hợp và dạy học tích hợp 6

1.1.1.2 Gia đình và giáo dục đạo đức gia đình 12

1.1.1.3 Các giá trị đạo đức gia đình cần được đặc biệt lưu giữ và phát huy 17

1.1.2 Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn GDCD ở trường phổ thông 27

1.1.2.1 Chương trình tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong môn giáo dục công dân ở trường THPT 27

1.1.2.2 Lựa chọn phương pháp dạy học tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong môn giáo dục công dân ở trường PHPT 29

1.1.2.3 Ý nghĩa của việc tích hợp 34

Trang 5

1.2 Dạy học tích hợp nội dung giáo dục đạp đức gia đình trong môn

GDCD ở trường THPT Việt Trì – Phú Thọ 36

1.2.2 Vài nét về trường THPT Việt Trì – Phú Thọ 36

1.2.3 Thực trạng của việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học Giáo dục công dân cho học sinh THPT hiện nay 38

1.2.4 Tính tất yếu của việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong môn GDCD ở trường THPT Việt Trì – Phú Thọ 41

Kết luận chương 1 43

Chương 2: QUY TRÌNH, ĐIỀU KIỆN TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ 44

2.1 Quy trình thực hiện tích hợp 44

2.1.1 Quy trình thiết kế bài giảng 44

2.1.2 Quy trình thực hiện bài giảng trên lớp 46

2.1.3 Quy trình thực hiện bài giảng trên lớp 54

2.1.4 Quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh 55

2.2 Điều kiện thực hiện tích hợp 58

2.2.1 Điều kiện với đội ngũ giáo viên 58

2.2.2 Điều kiện với học sinh 61

2.2.3 Điều kiện với gia đình 62

2.2.4 Điều kiện với các cấp quản lý 64

Kết luận chương 2 66

Chương 3: THỰC NGHIỆM QUY TRÌNH TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ 67

3.1 Kế hoạch thực nghiệm 67

3.1.1 Giả thuyết thực nghiệm 67

3.1.2 Mục đích thực nghiệm 67

Trang 6

3.1.3 Đối tượng thực nghiệm 67

3.1.4 Các bước tiến hành thực nghiệm 68

3.2 Nội dung thực nghiệm 69

3.2.1 Điều tra kết quả đầu vào của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng 69 3.2.2 Nghiên cứu nội dung và lựa chọn đơn vị kiến thức 70

3.2.3 Thiết kế bài giảng các bài thực nghiệm 70

3.2.3.1 Giáo án giảng dạy các lớp đối chứng 70

3.2.3.2 Giáo án giảng dạy các lớp thực nghiệm 71

3.2.4 Kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh sau thực nghiệm 96

3.2.5 Điều tra trưng cầu ý kiến học sinh 96

3.3 Kết quả thực nghiệm 97

3.3.1 Kiểm tra nội dung bài học sau lần thực nghiệm thứ 1 97

3.3.2 Kiểm tra nội dung bài học sau lần thực nghiệm thứ 2 98

3.3.3 Kết quả trưng cầu ý kiến sau thực nghiệm 100

3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn GDCD cho học sinh THPT 103

3.4.1 Nhóm giải pháp đối với các cấp quản lý 104

3.4.2 Nhóm giải pháp đối với nhà trường 105

3.4.3 Nhóm giải pháp đối với giáo viên bộ môn 105

Kết luận chương 3 107

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

1 Bảng

Bảng 2.1: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2013 – 2014 môn Giáo dục công dân lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 69Bảng 2.2 Bảng kết quả học tập sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 97Bảng 2.3 Bảng kết quả học tập sau thực nghiệm của học sinh lớp thực

nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 98Bảng 2.4 Bảng thống kê ý kiến trả lời các câu hỏi sau thực nghiệm 101

2 Biểu

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 97Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập của học sinh lớp thực nghiệm

và lớp đối chứng sau lần thực nghiệm 2 99

Trang 8

Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợpquốc

Thể dục thể thao Phương pháp dạy học Phương pháp dạy học tích cực

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tổ ấm thân thương của mỗi người từ khi sinh ra, trưởngthành và khi về tới cõi vĩnh hằng Gia đình là tế bào của xã hội, không có giađình thì xã hội không thể tồn tại và phát triển, vấn đề giáo dục đạo đức giađình luôn được mọi quốc gia, dân tộc quan tâm Vì thế, giáo dục các giá trịđạo đức gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành nhâncách con người Ở lứa tuổi 16 – 18, học sinh trung học phổ thông đang trongquá trình hoàn thiện nhân cách, các em rất nhạy cảm với những tác động xungquanh Giáo dục giá trị đạo đức gia đình chính là cơ sở tạo nền tảng vữngchắc để các em trở thành những người công dân tốt của xã hội

Hiện nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự mở rộng của nềnkinh tế thị trường mọi mặt của đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, gia đìnhViệt Nam đang có bước chuyển mình từ mô hình gia đình truyền thống tam,

tứ đại đồng đường, sang mô hình gia đình hạt nhân, vấn đề tích hợp các giá trịđạo đức gia đình rất cần thiết và được đặt ra để xem xét Bên cạnh những tấmgương về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng như sự hy sinh lớnlao của các đấng sinh thành cho con cái, thì đâu đó vẫn thấy cảnh con cái bấthiếu, ngược đãi thậm chí cướp đi sinh mạng của người cha, người mẹ đã sinh

ra họ, hay cảnh anh em ruột đánh, chửi nhau, kiện tụng nhau để tranh chấp tàisản Như vậy, tích hợp các giá trị đạo đức gia đình đang trở thành vấn đề bứcthiết, đặt ra cho toàn xã hội, mỗi gia đình và mỗi nhà trường

Đối với nghề dạy học, nhiệm vụ “dạy chữ” và “dạy người” luôn đượcchú trọng và tiến hành đồng thời Nghĩa là người học không chỉ vững vàng vềchuyên môn, nghề nghiệp tương lai mà còn là những người có lập trường tưtưởng đúng đắn, có phẩm chất đạo đức cao đẹp Để làm được điều này giáodục cần được đổi mới cả về nội dung và phương pháp dạy học ở tất cả các

Trang 10

môn học, người học, cấp học Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình cho họcsinh trung học phổ thông thông là một trong số những cách giúp các em có cáinhìn đúng đắn, có cách ứng xử tốt đẹp với thế giới xung quanh

Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần 2 khóa VIII củaĐảng chỉ rõ: " Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện thói quen nề nếp sáng tạo của người học, đảm bảođiều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đạihọc" [18;41] Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Đảng và NhàNước ta nhấn mạnh: " Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển

từ truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người họcchủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy học người học phươngpháp tự học, tăng cường tính chủ động, tự chủ của học sinh, sinh viên trongquá trình học tập" [8,30] Luật giáo dục 2005(điều 5 khoản 2) đã nghi:

"Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duysáng tạo của người học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và chí vươnlên" [34,9] Trong thông báo kết luận của bộ chính trị vê tiếp tục thực hiệnnghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) phương hướng phát triển giáo dục vàđào tạo đến năm 2020 (số 242 – TB/TW) có nêu: "Cần coi trọng cả ba mặtgiáo dục: Dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt cần chú ý giáo dục lýtưởng, phẩm chất đạo đức; lối sống, lịch sử truyền thống và hướng giáo dục

về Đảng" Như vậy, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay rất coitrọng vấn đề giáo dục, đặc biệt là giáo dục về đạo đức lối sống trong nhàtrường phổ thông Vấn đề này được lồng ghép trong nhiều giờ học, bài học ởtất cả các môn học mà môn giáo dục công dân là môn học đặc trưng

Môn giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông hiện nay là sựtiếp nối môn giáo dục đạo đức ở các cấp học dưới, có vai trò giáo dục đạođức, chính trị, tư tưởng, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước Nhưng môn học này lại không được chú trọng, với thời lượng 1 tiết/1

Trang 11

tuần Ở một số trường lại do giáo viên môn khác kiêm nhiệm giảng dạy Độingũ giáo viên này không được đào tạo chuyên sâu nên không nắm chắc nộidung chương trình, vì thế chưa có phương pháp giảng dạy hiệu quả, làm mất đisức hấp dẫn của môn học Thực tế việc giảng dạy môn giáo dục công dân ởtrường THPT Việt Trì – Phú Thọ, trong đó có phần “Công dân với đạo đức”môn Giáo dục công dân lớp 10 hiện nay chưa được đào tạo chính quy nhưng lạingại đổi mới Phương pháp giảng dạy ít có sự đầu tư hiện đại vào giảng dạynên chưa phát huy được hết vai trò của môn học cũng như tạo hứng thú chohọc sinh trong học tập Bài giảng vẫn còn mang tính chất lý thuyết, sách vởchưa thực sự gắn liền với đời sống thực tiễn Đặc biệt các giờ học ngoại khoáchưa thực sự tác động mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh,các em chưa thể hiện tính độc lập sáng tạo, khả năng trình bày ý tưởng.

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề: “Tích hợp giáo dục đạo

đức gia đình trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên

ngành lý luận và phương pháp giảng dạy Giáo dục chính trị

2 Lịch sử nghiên cứu

Giáo dục đạo đức nói chung và tích hợp các giá trị đạo đức gia đình nóiriêng là một trong những nội dung được nhiều nhà nghiên cứu trong nước vànước ngoài quan tâm Điển hình trong đó phải kể đến là một số tác phẩm tiêu

biểu: Nói chuyện về giáo dục gia đình của A Makarenco – Nxb Kim Đồng năm 1977; Giải pháp tình huống giáo dục gia đình của Phạm Khắc Chương; Giáo dục gia đình với tuổi thiếu niên của Đức Minh – Tái bản lần thứ ba có

bổ sung, Nxb phụ nữ, 1977; Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mầm non của Nguyễn Công Hoàn – Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2006; Hai cuốn sách của GS Lê Thi chủ biên là Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình, Nxb KHXH, Hà Nội 1994 và Vai trò của gia đình trong sự hình thành nhân cách của con người Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1997

Trang 12

Điểm chung của các tác giả là đề cập tới gia đình và vai trò của giađình trong việc hình thành nhân cách, đạo đức con người, đặc biệt là trẻ em.Song chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề tích hợp các giá trị đạo đứcgia đình cho học sinh THPT Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt đượctrong các công trình khoa học trên, tôi tiếp tục đi sâu, phát triển hơn nữanhững vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục các giá trị đạođức gia đình thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCDlớp 10 trong chương trình ngoại khoá nhằm nâng cao nhận thức và đạo đứccho học sinh, giúp các em nắm được nội dung và trở thành những người côngdân tốt trong tương lai.

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Xây dựng quy trình, điều kiện và đề xuất một số giải pháp nhằm thựchiện việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn Giáo dụccông dân cho học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn Giáo dụccông dân ở trường THPT

Phạm vi nghiên cứu

Với đặc thù tri thức của môn học Giáo dục công dân, luận văn chỉnghiên cứu việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 cho học sinh trườngTHPT Việt Trì – Phú Thọ hiện nay

5 Những đóng góp mới của tác giả

Về mặt lý luận

Luận văn hệ thống hoá cơ sở lý luận của việc tích hợp các giá trị đạođức gia đình đi sâu và làm sáng tỏ thêm các giá trị đạo đức gia đình

Trang 13

Luận giải cơ sở thực tiễn của việc tích hợp các giá trị đạo đức gia đìnhcho học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ.

Về mặt thực tiễn

Tiến hành thực nghiệm dạy học tích hợp giáo dục đạo đức gia đìnhtrong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 cho học sinh trườngTHPT Việt Trì – Phú Thọ

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc tích hợpgiáo dục đạo đức gia đình trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ởtrường THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng kết hợpcác phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp thực nghiệm khoa học

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê toán học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, danh mục tài liệu thamkhảo luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1: DẠY HỌC TÍCH HỢP VÀ THỰC TRẠNG CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁ DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ

1.1 Dạy học tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong

môn GDCD ở trường phổ thông.

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Tích hợp và dạy học tích hợp

* Vài nét về khoa học tích hợp

Trong những tài liệu nghiên cứu về khoa học tích hợp người ta phântích và chia thành hai xu hướng, đó là xu hướng tích hợp các khoa học trongquá trình phát triển của nó và xu hướng tích hợp các môn học trong quá trìnhdạy học Chúng khác nhau cả về nguyên nhân và nội dung Xu hướng tíchhợp khoa học khi nghiên cứu đối tượng đều tuân theo quy luật nhận thức:Tổng quát – phân tích – tổng hợp Về thực chất đó là quá trình nhận thức tổngthể - bộ phận theo nhiều tầng bậc Ngày nay, khoa học tiếp tục phân hóa sâusắc song song với tích hợp liên môn Đặc biệt đó là hình thái khoa học ở thế

kỷ XX đã chuyển từ phân tích – cấu trúc – tổng hợp – hệ thống làm xuất hiệncác ngành, liên ngành với thái độ phát triển ngày càng nhanh Trong khi đó,dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học và vì thời gian học tập trong nhàtrường cũng không thể kéo dài nhiều nên xu hướng phải dạy học từ các mônhọc riêng rẽ sang dạy học tích hợp

* Khái niệm về tích hợp

Cuốn sách giáo khoa đầu tiên được soạn theo tinh thần tích hợp được rađời vào năm 2002, thế nhưng cho đến hiện nay vẫn chưa có cuốn sách nàocủa chúng ta nghiên cứu một cách công phu, đầy đủ và trọn vẹn về vấn đề tíchhợp Hiện nay những bài viết về vấn đề tích hợp cũng rất thưa thớt trên báo

Trang 15

chí Cho đến bây giờ chúng ta chưa có một quan điểm nào chính thống về vấn

Khi khái niệm tích hợp đã đi vào hệ thống giáo dục Việt Nam thì cácnhà nghiên cứu của chúng ta cũng đưa ra những định nghĩa về tích hợp Sáchgiáo viên Ngữ văn 6 tuy chưa có hẳn một mục riêng để đưa ra định nghĩa vềtích hợp, nhưng trong phần hướng dẫn giáo viên cũng quan niệm: "Tích hợp

là phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng

rẽ, các môn học, phân môn, hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đápứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau" [44;6]

Trang 16

Theo báo cáo khoa học của tiến sỹ Nguyễn Văn Đường: Tích hợpkhông phải làm sự tổ hợp, càng không phải là sự ghép nối hay phép cộng đơngiản Tích hợp được biểu hiện ở các cấp độ khác nhau trên các bình diện khácnhau [25]

Theo tự điển Tiếng Việt: Tích hợp có nghĩa là "sự hợp nhất, sự hòanhập, sự kết hợp"

Theo từ điển bách khoa toàn thư: "Tích hợp là hệ thống, là phổ hợp cácthiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệthống – chương trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó"

Có ý kiến cho rằng: Tích hợp là tổ hợp (conbination) hay phối hợp ordination) các môn học khác nhau Có ý kiến khác lại cho rằng, tích hợpchẳng qua là sự lắp ghép cơ giới, phép cộng đơn thuần giữa các môn học"

(co-Tích hợp (intergraytion): Là sự liên kết các đối tượng nghiên cứu,giảng dạy, học tập của cùng một hay vài lĩnh vực khác nhau trong cùng mộtkhoa học dạy học

Tích hợp chương trình (Program intergraytion): Là sự liên kết, hợp nhấtnội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luậtchung, gần gũi nhau Tích hợp nhằm giảm bớt được những phần kiến thứctrùng nhau, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

Tích hợp là thuật ngữ mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức

từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc phân môn trên cơ sởmột (hoặc một số) văn bản có vai trò là kiến thức nguồn

Như vậy tích hợp được hiểu là sự hòa nhập, sự kết hợp, hợp nhất Tíchhợp cần được quan niệm là: Một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối

ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau theonhững mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu,mục đích và yêu cầu khác nhau

Trang 17

* Quan niệm về dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp được tổ chức UNESCO định nghĩa: [49] Là một cáchtrình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thốngnhất bản chất của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá coi nhẹ giữacác lĩnh vực khoa học khác nhau (Hội nghị phối hợp trong các chương trìnhcủa UNESCO, Pari, 1972)

Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lýkhoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung

Theo hội nghị tại Manyland 4 – 1973, khái niệm dạy học tích hợp cònbao gồm cả việc dạy học tích hợp với các khoa học bởi có thể thấy: Khoa học

và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động có đặc trưng liên quan đến nhau Nếunhư khoa học đặc trưng bởi quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức mới, đi từđơn giản đến cái chung thì công nghệ lại đặc trưng bởi quá trình nhận đinh,lựa chọn giải pháp, đi từ nguyên tắc chung để giải quyết từng vấn đề cụ thể.Như vậy, một trong những bài học của nguyên tắc dạy học tích hợp là chỉ rađược sự phối hợp phụ thuộc lẫn nhau giữa nhận thức và hành động

Cũng theo xu hướng trên, Xavier Rayiers cho rằng giáo dục nhà trườngphải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển học sinh ở năng lựchành động, xem năng lực là cơ sở của sư phạm tích hợp [50]

Theo Xavier Rayiers, [50] dạy học tích hợp là một quan niệm về quátrình học tập trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở họcsinh những năng lực rõ ràng có dự tính trước những điều cần thiết cho họcsinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập học sinhvào cuộc sống lao động Như vậy, dạy học tích hợp làm cho quá trình học tậpcủa học sinh có ý nghĩa hơn

Từ góc độ lý luận dạy học, theo Nguyễn Văn Khải [31] "Dạy học tíchhợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển

Trang 18

năng lực của học sinh Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, họcsinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo.

Dạy học tích hợp là sự kết hợp quan điển liên môn và xuyên môn

Vậy quan điểm liên môn và xuyên môn là như thế nào?

Quan điểm liên môn: Trong đó chúng ta đề xuất những tình huống chỉ cóthể được tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đâychúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các môn học để giải quyết một tìnhhuống cho trước Các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc

mà kết hợp với nhau xung quanh những vấn đề đang cần được giải quyết

Quan điểm xuyên môn trong đó chúng ta chủ yếu phát triển những kỹ năng

mà học sinh có thể sử dụng ở tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống

* Bản chất của dạy học tích hợp.

Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập của học sinh có ý nghĩa,hình thành cho người học những năng lực cơ bản giúp họ có khả năng huyđộng một cách hiệu quả vốn kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tìnhhuống và có thể đối mặt với những tình huống khó khăn, bất ngờ hay một tìnhhuống chưa từng gặp

Dạy học tích hợp giúp người học phân biệt được cái cốt yếu với cái ítquan trọng Biết sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa và thiếtlập được mối quan hệ giữa các khái niệm đã học

Chính sự đan cài, lồng ghép của nhiều môn học với nhau trong quátrình dạy học tích hợp sẽ làm giảm bớt sự chồng chéo nội dung dạy học cácmôn học, việc xây dựng chương trình các môn học theo hướng này có ý nghĩaquan trọng làm giảm tình trạng quá tải nội dung học tập, đồng thời hiệu quảdạy học được nâng lên Nhất là trong bối cảnh hiện nay, do đòi hỏi của xã hội,

có quá nhiều tri thức mới và cần thiết đang dần được đưa vào trong chươngtrình học tập

Trang 19

Kế thừa và phát triển những thành tựu mà các lý thuyết về quá trìnhhọc tập và các trào lưu dạy học của thế giới đã đạt được, dạy học tích hợp cần

đề cập tới ba vấn đề lớn trong nhà trường

+ Vấn đề 1: Đó là cách thức học tập, học như thế nào Sư phạm tích

hợp cho rằng, học sinh cần có cách học tập và sử dụng kiến thức của mìnhvào những tình huống có ý nghĩa Nghĩa là lĩnh hội song song các kiến thức từđơn giản đến phức tạp

Tình huống có ý nghĩa với học sinh là những tình huống gần gũi vớihọc sinh hoặc sau này học sinh sẽ gặp trong đời sống Các tình huống có ýnghĩa biểu hiện bằng tranh ảnh, bằng lời nói, bằng trải nghiệm và bằng nhữngtrò chơi thân quen

Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần với cáctình huống tự nhiên mà học sinh sẽ gặp, trong đó có cả thông tin cốt yếu vàthông tin được nhận thức bằng những kiến thức, kỹ năng đã học từ trước

+ Vấn đề thứ 2: Sư phạm tích hợp cần nhấn mạnh, đồng tình với việc

phát triển các mục tiêu học tập riêng lẻ, cần tích hợp trong quá trình học tậpvới những tình huống có ý nghĩa với học sinh Về các tình huống có vấn đề,đóng góp của sư phạm tích hợp là nhấn mạnh tính liên môn của tình huống cóvấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống có ý nghĩa chứ không phải là cái

cớ để học tập Giáo viên có vai trò tổ chức hoạt động học tập các tình huống

có ý nghĩa đó Về phương pháp dạy học cũng có sự đổi khác, sư phạm tíchhợp chủ trương đa số quá trình học tập là các hoạt động tập thể, đồng thời tạođiều kiện để mỗi học sinh phát triển theo nhịp độ của mình

Sư phạm tích hợp cũng chủ trương giao nhiệm vụ cho học sinh thựchiện nhằm đào tạo các em thành người công dân có trách nhiệm, nhấn mạnhcác năng lực cần phát triển hơn là khâu tổ chức lớp Sư phạm tích hợp cốgắng giải quyết vấn đề: làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà trường

Trang 20

+ Vấn đề thứ 3: Sư phạm tích hợp đưa ra 4 quan niệm về vai trò của

môn học và cách tiếp nhận Theo D.Hainiu

Một là, trong một môn học, trong đó ưu tiên các nội dung của môn học,quan điểm này nhằm duy trì các khoa học riêng rẽ

Hai là, quan điểm đa môn, chủ trương đề xuất những đề tài có thểnghiên cứu ở các môn khác nhau, các môn này vẫn được duy trì riêng rẽ vàchỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu đề tài

Ba là, quan điểm liên môn, chủ trương đề xuất những tình huống chỉ cóthể tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học

Bốn là, quan điểm xuyên môn, chủ trương chủ yếu phát triển kỹ năng

mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các tình huống (tìm, xử lý, thông báothông tin ) đó là kỹ năng xuyên môn

Tuy vậy, nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi phải hướng tới các quanđiểm liên môn và xuyên môn Đó cũng là hai quan điểm cơ bản của sư phạmtích hợp

1.1.1.2 Gia đình và giáo dục đạo đức gia đình

* Gia đình:

Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học khác nhau Những chuyên đề nghiên cứu về gia đìnhluôn thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học không chỉ ở ViệtNam mà cả trên thế giới Đến nay khái niệm gia đình vẫn chưa được xác địnhmột cách thống nhất và rõ ràng, nhưng ở nhiều quốc gia đồng thuận một cách

hiểu chung nhất: Gia đình là một đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất là trẻ em.

Theo C.Mác: " Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình conngười bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữachồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình" [36,41]

Trang 21

Với quan điểm này khái niệm về gia đình vẫn được nhìn nhận với 3 nộidung cơ bản:

Một là, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội

loài người, con người cùng với quá trình tạo ra chính bản thân mình thì cũngtái tạo ra gia đình

Hai là, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở ra con người.

Ba là, gia đình được tạo lập bởi hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ hôn

nhân (chồng – vợ), quan hệ huyết thống (anh chị em)

Năm 1994 tổ chức UNESCO của liên hợp quốc đã phát động phongtrào "năm quốc tế gia đình" với chuyên đề: "Gia đình, các nguồn lực và tráchnhiệm trong thế giới đang thay đổi", đồng thời cũng khẳng định "gia đình làmột yếu tố tự nhiên cơ bản, một đơn vị kinh tế xã hội Gia đình được coi nhưmột giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần được lưu giữ và phát huy".Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra khái niệm: " Gia đình là một nhómngười có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung với cácthành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi, vềmọi mặt được pháp luật thừa nhận"

Ở Việt Nam, có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về gia đình Xét về góc

độ xã hội học, gia đình được định nghĩa:"Gia đình là một nhóm xã hội hìnhthành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng,các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi(kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ là những quan hệ có tính chất pháp lýđược Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời cũng có quy định rõ ràng vềquyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thànhviên trong gia đình" [1; 190]

Xét từ góc độ tâm lý học: Gia đình là một nhóm các quan hệ xã hội cóquan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm lý, có chung những gia trịvật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử Gia đình là một đơn vị

Trang 22

nhỏ nhất của xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và là tấm gương phảnchiếu những thành tựu cũng như mâu thuẫn xã hội.

Tổng hợp và toàn diện hơn những quan điểm trên tác giả Lê Thi chorằng: " Khái niệm gia đình được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên

cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó vàchung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại), gia đình có thể baogồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyếtthống, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyềnlợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều giàng buộc bởi tínhpháp lý, được thừa nhận và bảo vệ (được nghi rõ trong luật hôn nhân gia đìnhcủa nước ta Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyềnđược phép và những cấm đoán trong mối quan hệ tình dục giữa các thànhviên" [45;20,21]

Khái niệm gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được quy định trongđiều 8 – Luật hôn nhân và gia đình 2000: Gia đình là tập hợp nhũng ngườigắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệnuôi dưỡng, làm nảy sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theoluật định

Qua một số quan điểm về gia đình nêu trên cho thấy, khái niệm giađình được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau:

Một là: Gia đình là thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên cơ sở

hôn nhân Quan hệ hôn nhân là sự liên kết giữa các cá nhân (nam – nữ) theoquy định của pháp luật, nhằm cùng chung sống với nhau và xây dựng gia đìnhhạnh phúc Quan hệ hôn nhân được biểu hiện là một loại quan hệ xã hội gắnliền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng cùng nhau để cùng sinh sản vànuôi dưỡng con cái Trong các xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân là hiệntượng xã hội có tính giai cấp Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có các kiểu hôn

Trang 23

nhân đặc trưng và giai cấp thống trị dùng luật đề điều chỉnh các quan hệ hônnhân cho phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp mình.

Hai là, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con cái, là sự

tiếp nối và là quan hệ tất yếu của quan hệ hôn nhân, nó chỉ phát triển tốt đẹpdựa trên tình yêu chân chính và hôn nhân hợp pháp

Ba là, Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ hình thành giữa chủ thể và đối

tượng được nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau vì trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa

vụ Được họ hàng ủng hộ, pháp luật thừa nhận và bảo vệ lợi ích của mỗi người

Như vậy: Mặc dù không có một định nghĩa chung duy nhất về gia đìnhcho mọi nền văn hóa Song từ quan hệ trên đây có thể thống nhất về cơ bản:Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dựa trên quan hệhôn nhân và quan hệ huyết thống, được chính thức thừa nhận bởi pháp luậthay luật tục Họ có trách nhiệm với nhau, có chung tài sản và có cùng tráchnhiệm với gia đình nhất là với thế hệ sau Đó là các quan hệ vợ - chồng, cha

mẹ - con, anh chị em ruột

* Giáo dục đạo đức gia đình.

Gia đình có 4 chức năng cơ bản là: Chức năng tái sản xuất ra conngười; Chức năng kinh tế; Chức năng tổ chức đời sống gia đình; Chức nănggiáo dục Trong đó, giáo dục là chức năng cơ bản nhất của gia đình, sẽ cùngtồn tại cùng với sự tồn tại của gia đình Giáo dục gia đình là một nhân tốkhông thể thiếu trong hệ thống giáo dục của xã hội, tác động một cách tự giác

và có tác động đến sự phát triển của thế hệ trẻ Mục đích của giáo dục giađinh được quy định bởi trình độ kinh tế - xã hội, mà cơ sở của nó là hệ tưtưởng, những chuẩn mực đạo đức, hệ thống mối quan hệ qua lại giữa nhữngthành viên trong gia đình Nhìn chung, mục đích của giáo dục đạo đức giađình và xã hội thống nhất với nhau, đó là hình thành những người con ngoan,trò giỏi, những công dân tốt của xã hội So với mục đích của giáo dục nhàtrường và xã hội, mục đích của giáo dục gia đình có điểm khác là sự phân tác

Trang 24

và cụ thể hơn do nó áp dụng với từng người cụ thể và gắn với lợi ích của từnggia đình riêng biệt Đồng thời mục đích của giáo dục gia đình linh hoạt hơn,thay đổi theo sự biến đổi của từng đối tượng giáo dục, theo sự vận động vàphát triển của xã hội xung quanh, phụ thuộc vào chính sách của gia đình vànhững định hướng giá trị của nó.

Đặc trưng của giáo dục gia đình so với giáo dục nhà trường và xã hội

có những nét đặc thù:

Thứ 1, giáo dục gia đình được tiến hành với trẻ em ngay từ khi lọt lòng

thậm chí khoa học hiện đại đã chứng minh một cách thuyết phục việc giáodục trẻ em ngay từ trong bào thai (thai giao)

Thứ 2, giáo dục gia đình xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm

có khi không cần lời nói mà qua thái độ, các cư xử của các thành viên tronggia đình

Thứ 3, giáo dục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú ý đến những

nét cá biệt của con cái Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ, theo sự thayđổi của cuộc sống gia đình và xã hội Bởi vậy, giáo dục gia đình có tính thựctiễn cao, qua thực tế, bằng thực tế cuộc sống gia đình và rất trú trọng đến kếtquả của việc giáo dục

Thứ 4, giáo dục gia đình không thể thuần nhất, khác nhau về giới tính,

nghề nghiệp, tuổi tác; Bao gồm ông bà, cha mẹ, con cái Do đó giáo dục giađình mang tính phối hợp nhiều mặt

Thứ 5, giáo dục gia đình chủ yếu dựa vào phương pháp thuyết phục,

giảng giải bằng tình cảm, vận dụng linh hoạt, phong phú nhiều phương pháp

và nghệ thuật giáo dục Đó là việc kết hợp giáo dục truyền thống và hiện đại,kết hợp giữa uy quyền và tình thương yêu những người xung quanh, lòng baodung tha thứ

Thứ 6, phạm vi của giáo dục gia đình không chỉ khuôn lại trong việc

giáo dục trẻ em mà đối với toàn bộ các thành viên trong gia đình Nhưng thế

Trang 25

hệ trẻ, thế hệ đang hình thành và hoàn thiện nhân cách nên được gia đìnhquan tâm hơn cả.

Đạo đức gia đình là một hệ thống ý thức xã hội, bị chi phơi bởi kinh tế

- xã hội và lịch sử Đặc trưng của đạo đức gia đình là ý thức, năng lực và hành

vi tự giác, tự nguyện của con người Tiêu chuẩn của đạo đức gia đình phù hợpvới lợi ích chung của xã hội, của gia đình, theo đó mỗi người đều phải tự điềuchỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp Đạo đức gia đình là nền tảng chủyếu của đời sống tinh thần trong gia đình, xã hội Trong xã hội có giai cấp,đạo đức gia đình luôn mang tính giai cấp Trong quá trình cai trị và quản lý xãhội, giai cấp thống trị luôn áp đặt chuẩn mực của giai cấp mình cho toàn thể

xã hội

Giáo dục gia đình là nội dung nhằm xây dựng ý thức đạo đức, bồidưỡng tình cảm đạo đức, rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức để mỗi thànhviên trong gia đình có cuộc sống trong một môi trường đoàn kết, đậm tínhnhân văn Giáo dục gia đình hướng tới hoàn thiện nhân cách của các thànhviên trong gia đình đặc biệt là thế hệ trẻ Phương thức giáo dục chủ yếu bằngcòn đường nêu gương của cha mẹ - con cái Cha mẹ sống mẫu mực thì con cáinết na, nên người Đó là quan hệ nhân quả, giáo dục gia đình chỉ đạt kết quảnhư mong muốn với nội dung học tập, lao động nghề nghiệp, giáo dục thẩm

mỹ giới tính Do những đặc trưng và vai trò như vậy nên giáo dục gia đìnhngày nay càng trở nên quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và sự bềnvững của mỗi quốc gia nói chung

1.1.1.3 Các giá trị đạo đức gia đình cần được đặc biệt lưu giữ và phát huy

- Yêu thương, giáo dục con cái

Gia đình luôn là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Từ khi lọtlòng cho đến suốt cuộc đời mình, mỗi cá nhân đều tìm thấy ở gia đình sự đùmbọc về vật chất và tinh thần Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ hôn nhânthì quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ tình cảm tràn đầy tình yêu

Trang 26

thương và chăm sóc như một lẽ tự nhiên Gia đình vốn được coi là tế bào của

xã hội, bởi vậy gia đình có lành mạnh thì xã hội mới tốt đẹp Đó cũng là lý dotại sao gia đình luôn luôn tìm được chỗ đứng trong mọi chế độ xã hội Từ chế

độ phong kiến xưa kia, giáo dục gia đình luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng,bởi giáo dục nhà trường và xã hội hết sức mờ nhạt, chưa phát triển Gia đìnhtruyền thống luôn đề cao giáo dục gia đạo, gia phong và gia lễ Sự giáo dụctoàn diện này trên tất cả các lĩnh vực như đức, trí, thể, mỹ để hướng tới xâydựng hình ảnh người " quân tử" trong xã hội phong kiến với các phẩm chấtnhư: nhân - lễ - nghĩa – trí – tín, theo con đường tu thân, tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ

Ngày nay, xã hội đòi hỏi mỗi gia đình phải có trách nhiệm xây dựnggia đình mình thành gia đình văn hóa nhất là phải có trách nhiệm nuôi dạycon cái thành những người công dân tốt cho xã hội Tuy nhiên, khi xét về mốiquan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình thì đặc trưng nổi bật nhất chính

là tình yêu thương một cách tự nhiên và tự nguyện Chính tình yêu thương vacông lao to lớn của cha mẹ là nhân tố quan trọng nhen nhóm và nuôi dưỡngnhững phẩm chất đạo đức cho con cái: Lòng nhân ái, những cảm xúc yêuthương, ý thức nghĩa vụ, đạo lý làm người Tình cảm, sự hy sinh trời biển

mà cha mẹ dành cho con cái là vô cùng lớn lao

Ơn cha núi chất trời TâyLai láng nghĩa mẹ nước đầy biển Đông

Chim trời ai dễ đếm lôngNuôi con ai dễ kể công tháng ngàyNhiều nhân cách lớn đã được hình thành ngay từ thuở ấu thơ, trên cánhvõng với tiếng ru ngọt ngào, tha thiết yêu thương của mẹ Nhiều người con đãtrở thành vĩ nhân, anh hùng do ảnh hưởng của đức tính kiên trì, dũng cảm vàđức độ của người cha Thực tiễn đời sống xã hội luôn cho phép chúng ta tintưởng rằng gia đình cùng với những mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ là

Trang 27

trường học đầu tiên giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ cho conngười Đứa trẻ trong gia đình là con của cha mẹ nhưng đồng thời cũng làngười chủ nhân tương lai của đất nước Vì vậy, ngoài việc chăm sóc và yêuthương con cái, cha mẹ còn có nghĩa vụ hết sức nặng nề, đó là giáo dục concái của mình trở thành những người công dân tốt có ích cho xã hội Khi đócon cái sẽ trở thành niềm tự hào và hạnh phúc của cha mẹ.

Nhân cách của cha mẹ ảnh hưởng quan trọng đến tính cách của con cái,nếu như cha mẹ có nhân cách tốt đẹp, mẫu mực trong lời ăn tiếng nói, đếnthái độ cử chỉ, hành vi trong các mối quan hệ: vợ chồng yêu thương, quýtrọng nhau; đối với cha mẹ thì hết lòng chăm sóc; đối với bạn bè thì giữ đượcchữ tín; đối với người trên thì trân trọng, khiêm nhường; giúp đỡ những ngườigặp khó khăn, hoạn nạn thì con cái lúc nào cũng noi theo, xem đó là khuônmẫu mà mình phải hướng tới Ngược lại, cha mẹ có nhân cách xấu thì làmcho con cái tự ti với mọi người, sống thu mình, thụ động hoặc có nhữngtrường hợp cha mẹ bắt con cái phải làm theo những việc xấu của mình , concái chính là tâm gương phản chiếu của cha mẹ, như quá trình tiếp nối giữa

"nhân" và "quả" Từ đó một lần nữa khẳng định, phương pháp tốt nhất, hiệuquả nhất trong gia đình chính là sự nêu gương của cha mẹ trước con cái

Việc giáo dục, dạy bảo con cái trong gia đình còn thể hiện ở vai trò củaông bà Với suy nghĩ của người phương đông sống để đức cho con cháu, hìnhảnh của ông bà đối với con cháu rất gần gũi và thấm đượm tình cảm Ông bàthường kể chuyện cổ tích cho các cháu nghe, đọc thơ ca, hò, vè qua đó, chỉbảo điều hay, khuyên bảo, dạy dỗ các con cháu sống phải biết kính trênnhường dưới, lễ phép với mọi người, hòa nhã với bạn bè, hướng dẫn các cháu

ăn uống, nghỉ ngơi Khi cháu có khuyết điểm ông bà ân cần chỉ bảo để cháutìm ra đúng sai mà sửa

Hiện nay, nhiều gia đình trẻ không muốn hoặc không có điều kiện sốngchung với người già, mặt khác, do có nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, người

Trang 28

giúp việc trong gia đình đã làm cho vai trò của ông bà không còn trực tiếpnhư trước đây Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng

từ đó cho thấy, ông bà có vai trò quan trọng trong gia đình và điều đó phù hợpvới đạo lý của người Việt Nam "Uống nước nhớ nguồn"

- Tình nghĩa thủy chung

Dưới chế độ phong kiến, hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt "cha mẹđặt đâu con ngồi đấy" và phải "môn đăng hộ đối" mà bỏ qua giai đoạn tìmhiểu, hoàn toàn không có tình cảm trước hôn nhân, cho nên:

Lấy chồng không biết mặt chồng

Đêm nằm tơ tưởng như ông láng giềng

Nhưng trong quá trình chung sống, họ đã tìm ra được tiếng nói chung,tìm ra được sự đồng cảm sâu sắc vì trách nhiệm, nghĩa vụ phải xây dựng cuộcsống ấm no cho gia đình, nuôi dưỡng con cái nên người mà họ đã sống vớinhau đến đầu bạc răng long

Ngày nay, quan hệ hôn nhân gia đình dựa trên cơ sở của tình yêu chânchính và sự tự nguyện của cả nam và nữ Nhưng đạo lý "thuận vợ thuậnchồng tát bể Đông cũng cạn" vẫn luôn được đề cao Trong gia đình, sự hòathuận của vợ chồng là yếu tố cơ bản, tổng hợp tạo nên sức mạnh phi thường,khắc phục mọi khó khăn để xây dựng gia đình hạnh phúc Sự hòa thuận vợchồng không thể xây dựng trên cơ sở nào khác là tình nghĩa thủy chung và sựhiểu biết lẫn nhau giữa hai người

Tình nghĩa thủy chung chính là đức tính mà cả người vợ và ngườichồng đều mong muốn ở nhau Đó là sự tin tưởng, yêu thương cho dù tronggiàu sang hay khó khăn hoạn nạn Từ "tình" mà chuyển thành "nghĩa" và ngàycàng được củng cố, vun đắp trong quá trình chung sống, tạo lập, xây dựng giađình Trước đây, trong xã hội phong kiến, vợ chồng lấy nhau khi chưa có tìnhcảm, nhưng trải quả nhiều khó khăn, vui buồn trong cuộc sống, họ đã hìnhthành nên "nghĩa" vợ chồng Và cái đó mới chính là sức mạnh để họ gắn kết,

Trang 29

yêu thương nhau đến trọn đời Ngày nay, nhiều đôi vợ chông lấy nhau vì sắcđẹp, vì tiền tài danh vọng mà không phải vì "tình" Khi những thứ đó còn thìtưởng như tình cảm vợ chồng hạnh phúc tuyệt đỉnh Nhưng bỗng chốc, người

vợ gặp tai ương làm sắc đẹp tàn phai hay người chồng làm ăn khó khăn rồitrắng tay, không nhà, không cửa, lúc đó họ sẵn sàng dứt áo ra đi bỏ mặc người

vợ hay người chồng của mình, thậm chí cả đứa con thơ Bởi ngay từ khi lấynhau họ đã không xuất phát từ tinh yêu chân chính, lại không có cái "nghĩa"

vợ chồng thì tình duyên đổ vỡ như một lẽ tất yêu trong xã hội hiện nay

Vợ chồng ăn đời ở kiếp với nhau, ngoài nghĩa vụ phải quan tâm chămsóc lẫn nhau, còn phải có trách nhiệm chung lưng đấu cật xây dựng mọi mặtcho gia đình ngày càng thêm no ấm Vì vậy người vợ luôn luôn mong muốn ởngười chồng của mình đức tính thật thà trong suy nghĩ và hành động, đối xửtốt với cha mẹ, anh em bên nội cũng như bên ngoại: tạo dựng cho người vợniềm tin và sự nể phục

Chồng em áo rách em thươngChồng người áo gấm xông hương mặc người

Dĩ nhiên, quan hệ vợ chồng là sự đồng cảm, thấu hiểu ở cả hai phía, nóimột cách khác người vợ cần ở người chồng của mình những đức tính trên đểgiữ trọn đạo phu thê Dù cho nam nữ bình đẳng nhưng do đặc điểm giới quyđịnh, phái nữ vẫn là phái yếu cần được che chở, nương tựa trong gia đình.Ngược lại, người chồng cũng mong muốn ở người vợ của mình những đứctính cần cù, chịu thương chịu khó, quán xuyến công việc trong gia đình vàchăm sóc con cái, cha mẹ già, để cho người chồng yên tâm làm tròn tráchnhiệm và bổn phận của mình

Chồng giận thì vợ bớt lờiCơm sôi nhỏ lửa suốt đời chẳng khêMột người vợ dịu dàng biết nhường nhịn chồng đúng lúc không phải là

kẻ thua cuộc, mà ngược lại đã biết cách chiến thắng chính mình, biết kiềm chế

Trang 30

bản thân để chồng bình tĩnh lại và càng yêu quý vợ con hơn Bên cạnh đó,người chồng nào mà lại không lấy làm tự hào về dung nhan của vợ, đúng nhưtục ngữ có câu "trai tài, gái sắc" Song cái để người chồng yêu thương trântrọng người vợ thì vẻ đẹp hình thức ấy phải đi liền với vẻ đẹp tâm hồn, của trítuệ, tức nội dung luôn đi liền với hình thức, chứ không chỉ dừng lại ở quanniệm "cái nết đánh chết cái đẹp".

Thật vậy, hạnh phúc gia đình không chỉ được xây dựng trên cơ sở củaquan hệ tình cảm vợ chồng mà còn là yếu tố cốt lõi, có ảnh hưởng vô cùng tolớn đến các thành viên khác trong gia đình, nhất là con cái Vì vậy để gia đìnhphát triển bền vững thì vợ chồng phải có sự xây dựng, củng cố tình cảm yêuthương, phải có nghĩa vụ và trách nhiệm quan tâm, chăm sóc lẫn nhau để làmtròn bổn phận trong gia đình và với toàn xã hội

- Hiếu thảo

Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái không chỉ là mối quan hệ mộtchiều hướng về con mà con thể hiện qua tình yêu thương, thái độ kính trọngtrong cách cư xử của con cái đối với cha mẹ Thông qua cách cư xử với cha

mẹ có thể vẽ nên bức chân dung nhân cách của người con Cha mẹ là ngườisinh thành dưỡng dục, vượt qua bao gian khó vì con mà không nhận được sựtrân trọng yêu kính thì người đó làm sao có lòng yêu mến được những ngườixung quanh, làm sao có tình yêu đối với quê hương đất nước Vì thế lòng hiếuthảo của con cái với cha mẹ chính là bài học đầu tiên trong suốt quá trình hìnhthành nhân cách của mỗi con người

Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Trong gia đình Việt Nam truyền thống, giáo dục đạo đức được đặc biệtcoi trọng, trong đó chữ hiếu đứng đầu trăm nết của con người Mỗi cá nhân

Trang 31

phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc, chuẩn mực đạo đức gia đình, giatộc, phải tuân theo nền nếp gia phong "trên bảo dưới nghe", "trên kính dướinhường", mọi hành động khác đều bị coi là bất hiếu và bị trừng trị nghiêmkhắc Trong gia đình truyền thống, mọi người thường xem đạo hiếu là gốc rễcủa mọi việc dạy bảo đạo lý, gia phong Gia huấn răn dạy con cái ghi lòng tạc

dạ về công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ Làm con có hiếu là phải nốinghiệp được nhà, làm rạng rỡ tổ tông Hiếu không những được coi là đứngđầu của đức hạnh mà còn là cội nguồn để có được phúc thiện:

" Điều hiếu đứng vữngMuốn điều thiện theoPhúc thiện đúng đạoPhúc lành được gieo"

Từ khi nước ta bước vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thịtrường, mở cửa hội nhập quốc tế, cuộc sống có nhiều biến đổi ảnh hưởngkhông nhỏ tới các thành viên trong gia đình, nhất là thế hệ trẻ khiến chúng taphải nhìn nhận lại chức năng của giáo dục đạo đức gia đình Mặc dù đất nước

có nhiều đổi thay, nội dung giáo dục đạo đức gia đình cũng có nhiều biến đổi,

song đạo hiếu mà hạt nhân là tình thương, lòng kính trọng và sự phụng dưỡng cha mẹ vẫn là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục đạo đức gia

đình Nhân dân ta với đạo lý truyền thống rất coi trọng cách cư xử mà đặc biệt

là sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ Bởi cha mẹ là người đã sinh thành,vượt qua biết bao đắng cay, để dành cho con những điều tốt đẹp nhất Do vậy,thông qua cách cư xử của cha mẹ đối với con cái có thể vẽ nên bức chân dungkhái quát về đạo đức của người con đó

Sự hiếu thảo của con cái dành cho cha mẹ của mình được thể hiện ởnhững mặt sau:

- Luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ

- Thường xuyên tỏ lòng kính trọng, quý mến với cha mẹ

Trang 32

Con cái không thực hiện được những điều cơ bản trên gọi là "bất hiếu",

đã là người bất hiếu thì cũng là kẻ bất nhân Mặc dù con người đó có giàusang phú quý thì cũng vẫn bị mọi người khinh rẻ, mỉa mai

Thực hiện đạo hiếu với cha mẹ theo Khổng Tử là rất cao xa nhưngcũng rất gần gũi, rất khó khăn, nhưng cũng rất đơn giản Có lần ông đã dạyhọc trò: Ngày nay người ta cho rằng nuôi được cha mẹ là hiếu thảo Đếngiống chó, giống ngựa mà cũng có người chăm sóc chu đáo Nuôi mà không

tỏ lòng tâm kính thì lấy gì phân biệt được nuôi người và nuôi súc vật trongnhà? Theo ông cái quan trọng là "sắc nan" – tức là "cái khó" là làm sao giữcho được nét mặt lúc nào cũng vui hòa, phấn chấn thì dù cha mẹ có chịuchung sự thiếu thốn, ăn cơm độn khoai sắn với rau dưa cũng vẫn vui lòng hơnđược ăn giò hoa chả lụa mà con cái mặt nặng mày nhẹ, giận cá chém thớt gây nên cái cảnh

"Không ăn thì ốm, thì gầy

Ăn thì nước mắt chan đầy bát cơm" [9;50]

Từ thuở ấu thơ, cha mẹ đã giáo dục con cái lòng hiếu thảo và đối vớimỗi giai đoạn của cuộc đời, lòng hiếu thảo ấy lại được biểu hiện khác nhau.Đối với học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường THPT thì lòng hiếu thảokhông có gì quý hơn là nghe theo những lời hay lẽ phải của ông bà, cha mẹ;học hành chăm chỉ, tiến bộ; kính trên nhường dưới; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè

và những người xung quanh Đó chính là món quà ý nghĩa nhất mà con cáimuốn dành tặng cho bố mẹ mình

Ngày nay, không chỉ nước ta mà nhiều nước trên thế giới, thái độ vàhành vi tốt đẹp đối với người lớn tuổi, người già là tiêu chí văn hóa, văn minh.Phụng dưỡng, chăm sóc và kính trọng ông bà, cha mẹ là tiêu chuẩn đạo đứccủa con người, luôn đòi hỏi thế hệ trẻ phải nhận thức và hành động đúng Việcphát triển kinh tế thị trường ở nước ta, bên cạnh những mặt tích cực là khơi dậynhững tiềm năng sáng tạo cho sự phát triển, nó còn tiềm ẩn không ít những yếu

Trang 33

tố tiêu cực như: lối sống thực dụng, đua đòi, chạy theo giá trị vật chất mà chàđạp lên luân thường đạo lý Cuộc sống cho thấy nhiều bài học về cái giá phảitrả cho những hành vi thiếu đạo đức, vi phạm đạo hiếu trong gia đình.

Có thể nói, con cái chính là sự gắn kết tình yêu giữa cha và mẹ Khiđứa con ra đời, vợ chồng lúc này không chỉ gắn kết với nhau bằng tình yêu

mà con bởi trách nhiệm thiêng liêng với đứa con mà mình đã sinh ra Sự xuấthiện của đứa con sẽ làm cho vợ chồng trở nên giàu trách nhiệm hơn, tình cảmgiữa họ cũng sâu sắc hơn Con cái là lẽ sống và cũng là tương lai của cha mẹ,

do đó cha mẹ luôn hết lòng yêu thương và đặt hy vọng vào con, vì vậy nếucon cái biết hiếu thuận với cha mẹ, trở thành người công dân tốt có ích cho xãhội thì sẽ là niềm hạnh phúc vô bờ với mỗi bậc làm cha, làm mẹ Ngược lạinếu con cái trở thành kẻ vô ơn bạc nghĩa, thành kẻ lừa đảo ăn bám xã hội thì

sẽ trở thành nỗi khổ tâm, thành những giọt nước mắt âm thầm đau đớn củacha mẹ lúc về già Vì những lẽ trên cho thấy tính cấp thiết của việc giáo dụcđạo hiếu cho thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại ngày nay

Thật vậy, tình nghĩa anh chị, em là một trong những đạo lý quan trọng

mà từ xưa tới nay rất được người đời coi trọng Trong Nho giáo, một trongnhững tiêu chuẩn để đánh giá, nhìn nhận người quân tử là Ngũ luân gồm: vua– tôi; cha – con; chồng – vợ; anh – em; bạn – bè, từ đó cho thấy, ý nghĩa lớnlao trong việc gìn giữ, xây dựng mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình,Bởi họ là những người ruột thịt có cùng huyết thống, do cha mẹ sinh thành,

Trang 34

dưỡng dục, được ví như "khúc ruột trên" và "khúc ruột dưới" của cha mẹ; như

"răng" với "môi", "môi" hở thì "răng" lạnh Vì thế, cha ông ta khuyên "gàcùng một mẹ, chớ hoài đá nhau"; phải cùng nhau vun đắp tình cảm yêuthương, đùm bọc lẫn nhau, tạo dựng gia đình yên ấm, đem lại niềm vui choông bà, cha mẹ Đó là biểu hiện của lòng hiếu thảo của con cái trong gia đình

Trong mối quan hệ anh – em thì người anh, người chị luôn đóng vai trò

là "người lớn", có trách nhiệm chăm sóc, làm gương cho các em noi theo,luôn giữ được uy tín đồng thời tỏ ra khoan dung, độ lượng, hướng dẫn chỉ bảocác em khi mắc lỗi, để cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách trongcuộc sống Trong xã hội phong kiến, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" luôn hiệndiện thì người con trai, nhất là con trai trưởng có vị trí, vai trò rất lớn, đặc biệt

là khi cha mẹ khuất bóng họ sẽ đảm nhận nhiệm vụ lo cho gia đình và lo chocác em "quyền huynh, thế phụ" và phận làm em phải nhất nhất nghe theo,nhưng rất ít có sự ganh tị hay tranh chấp anh, em

Ngày nay, mỗi qua đình hầu hết chỉ có 1 đến 2 con, không phân biệttrai hay gái, đem lại sự bình đẳng trong quan hệ anh, em Song sự bình đẳng

đó không phải là "cá mè một lứa" mà là sự bình đẳng trong vai trò chăm sóc,phụng dưỡng cha mẹ xây dựng gia đình cũng như phần tài sản do cha mẹ đểlại Nhìn chung, tình cảm anh em vẫn được coi trọng "một giọt máu đào hơn

ao nước lã" Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường, giá trị vật chất, tiền bạc

đã làm cho nhiều gia đình anh không còn ra anh, em không còn ra em Trongnhững gia đình như vậy, anh em đi ngược lại với thuần phong mỹ tục, vớichuẩn mực đạo đức truyền thống, anh em đánh chửi nhau, kiện tụng, tranhchấp đưa nhau ra tòa Vì vậy, bên cạnh việc giáo dục đạo đức gia đình như:Yêu thương, giáo dục con cái; chung thủy; hiếu thảo thì sự đòn bọc lẫn nhau,hòa thuận kính trên nhường dưới trong quan hệ anh em cũng là một giá trị đạođức gia đình rất cần được coi trọng Nếu mỗi người trong xã hội đều thấm

Trang 35

nhuần được những giá trị đạo đức nói trên thì nhất định gia đình sẽ hạnhphúc, xã hội ngày một tốt đẹp

1.1.2 Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn GDCD

ở trường phổ thông

1.1.2.1 Chương trình tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong môn giáo dục công dân ở trường THPT

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, tôi xin được đề xuất địa chỉ

và nội dung cần tích hợp với học phần "Công dân với đạo đức" được thể hiện ở bảng sau:

Tên bài Địa chỉ tích hợp Nội dung tích hợp

Bài 10: Quan

niệm về đạo

đức

- Quan niệm vềđạo đức

- Vai trò của đạođức trong sự pháttriển của cá nhân,gia đình và xã hội

- Về kiến thức:

Hiểu được thế nào là đạo đứcPhân biệt được sự khái niệm đạo đứcvới các phạm trù khác

Thấy được vai trò của đạo đức với xãhội và trong mối quan hệ gia đình

- Về kỹ năng:

Phân biệt được hành vi vi phạm đạođức với các hành vi vi phạm pháp luậtkhác

- Hạnh phúc

- Về kiến thức:

Hiểu được thế nào là nghĩa vụ, lươngtâm, nhân phẩm, danh dự và hạnhphúc

- Về kỹ năng:

Biết thực hiện các nghĩa vụ đạo đứcliên quan đến bản thân mình

Trang 36

Biết giữ gìn danh dự, nhân phẩm củamình, phấn đấu cho hạnh phúc củabản thân.

- Về thái độ:

Coi trọng việc giữ gìn lương tâm,nhân phẩm, danh dự và hạnh phuc.Tôn trọng nhân phẩm của người khác.Bài 12: Công

- Về kiến thức:

Hiểu được: Thế nào là tình yêu? thếnào là tình yêu chân chính, hôn nhân

và gia đình

Biết được các đặc trưng tốt đẹp, tiến

bộ của chế độ hôn nhân nước ta

Nêu được các chức năng cơ bản củagia đình

Hiểu được các mối quan hệ trong giađình và trách nhiệm của mỗi thànhviên

- Về kỹ năng:

Biết nhận xét, đánh giá một số quanniệm sai lầm về tình yêu, hôn nhân vàgia đình

Thực hiện tốt trách nhiệm của bảnthân trong gia đình

- Về thái độ:

Yêu quý gia đìnhĐồng tình, ủng hộ các quan niệmđúng đắn về tình yêu, hôn nhân và gia

Trang 37

- Tự hoàn thiệnbản thân

- Tự hoàn thiệnbản thân như thếnào

- Về kiến thứcHiểu được thế nào là tự hoàn thiệnbản thân

Sự cần thiết phải tự hoàn thiện bảnthân theo chuẩn mực xã hội

- Về kỹ năng:

Biết tự nhận thức đạo đức của cá nhânđối với các chuẩn mực của xã hộiBiết đặt mục tiêu phấn đấu và rènluyện để tự hoàn thiện bản thân

1.1.2.2 Lựa chọn phương pháp dạy học tích hợp nội dung giáo dục đạo đức gia đình trong môn giáo dục công dân ở trường PHPT.

- Sử dụng phương pháp dạy học hiện đại

Các hoạt động dạy và học trong quá trình tích hợp giáo dục đạo đức giađình cần sử dụng những phương pháp dạy học thích hợp Tích hợp là cáchthức dạy học hiện đại, vì vậy khi giảng dạy giáo viên cũng cần sử dụng nhữngphương pháp hiện đại Cụ thể:

Sử dụng phương pháp đàm thoại: Đây là phương pháp sử dụng phổ

biến trong dạy học, nhất là các môn xã hội Trong sử dụng phương pháp đàmthoại giáo viên cần lưu ý Sau khi giáo viên đưa ra câu hỏi cần có thuyết trình

để nhận xét, tổng kết câu hỏi và kiến thức bài học Sử dụng phương pháp đàm

Trang 38

thoại giáo viên cần thực hiện theo 3 bước: Đặt câu hỏi; Học sinh suy nghĩ trảlời; Giáo viên kết luận vấn đề.

Sử dụng phương pháp nêu vấn đề: Sử dụng phương pháp giải quyết nêu

vấn đề tức là nội dung tri thức được trình bày dưới dạng các câu hỏi nghi vấnnhằm tạo tình huống có vấn đề, kích thích tư duy, khả năng tìm tòi, sáng tạocủa người học Sử dụng phương pháp nêu vấn đề cần thực hiện 3 bước: Đặtvấn đề và chuyển người học vào tình huống có vấn đề; Nghiên cứu giải quyếtvấn đề; Kết luận vấn đề

Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm: Xu thế đổi mới từ thuyết trình

truyền thống sang các phương pháp dạy học tích cực thì thảo luận nhóm làmột sự lựa chọn có nhiều ưu điểm, tạo tính độc lập, tích cực học tập của họcsinh Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, trước hết giáo viên phải đưa racâu hỏi, tình huống hay một câu chuyện nào đó cho học sinh tổ chức bàn bạc,trao đổi với nhau giúp mọi học sinh đều chủ động tham gia vào quá trình họctập, tạo cơ hội để học sinh có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của bản thân

để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học Quy trình thựchiện phương pháp này gồm các bước: Chuẩn bị nội dung thảo luận nhóm; Tổchức thảo luận nhóm; Tổng kết vấn đề

Sử dụng phương pháp trực quan: Triết học Mác – Lênin đã đề cập và

khẳng định vai trò của trực quan, nó được coi là cơ sở, nguồn gốc đầu tiên củanhận thức chân lý "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường nhận thức chân lý" Trong dạy họchiện đại ngày nay phương pháp trực quan đem lại hiệu quả cao Để dạy họcbằng phương pháp trực quan, giáo viên cần thực hiện theo các bước: Chuẩn bị

đồ dùng trực quan; Dạy học với đồ dùng trực quan

- Sử dụng những kỹ thuật dạy học hiện đại

Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định đượccác năng lực mà người học cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở

Trang 39

các công việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trongviệc phân tích nghề nghiệp khi xây dựng chương trình Xu thế hiện nay củacác chương trình dạy nghề đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lựccần có của người lao động trong thực tiễn sản xuất kinh doanh Phương phápđược sử dụng phổ biến để xây dựng chương trình là phương pháp phân tíchnghề (DACUM) hoặc phân tích chức năng của từng nghề cụ thể Theo cácphương pháp này, các chương trình đào tạo được thiết kế theo kiểu mô đuncác năng lực thực hiện Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nội dunggiảng dạy trong mô đun phải được xây dựng theo hướng "tiếp cận theo kỹnăng".

Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống cụthể của đời sống, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết nhiệm vụ đặt

ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mìnhchưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viênsắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghenhìn và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệbản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó người học vừa nắm được kiếnthức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉđơn thuần giảng dạy kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành

Hoạt động nào cũng cần có sự kiểm soát, trong dạy học cũng vậy ngườidạy cũng cần có sự kiểm soát, củng cố nhận thức đúng, uốn nắn những nhậnthức chưa đúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, đánh giá, điềuchỉnh Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo quan điểm là ngườihọc phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiệntrong thực tế Việc đánh giá riêng từng người khi họ hoàn thành công việc,đánh giá không phải là đem so sánh người này với người khác mà đánh giátheo tiêu chuẩn nghề

- Hướng dẫn các hoạt động ngoại khóa trong quá trình dạy học tích hợp

Trang 40

Hoạt động ngoại khóa giờ đang là xu thế của nhiều nước trên thế giới ởtất cả các bộ môn khoa học nhất là với các bộ môn khoa học xã hội Hoạtđộng ngoại khóa đóng vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung kiến thức, bổsung kỹ năng, kinh nghiệm sống cho học sinh, giúp cho học sinh trở thànhnhững con người toàn diện.

Do đặc trưng của bộ môn giáo dục công dân, với những kiến thức xãhội khó hiểu, khó nhớ với các em Việc tiến hành các giờ học ngoại khóa làviệc làm rất cần thiết Những năm gần đây, cấp học THPT nói riêng và cáccấp học nói chung đều có những tiết học được tổ chức ra ngoài phạm vi lớphọc với nhiều hình thức phong phú như: tham quan thực tế, tổ chức đi dãngoại, các buổi học chuyên đề hình thức học tập như trên gọi là hoạt độngngoại khóa Thực tiễn cho thấy, thông qua những tiết học như thế, học sinh rấthứng thú trong học tập, các em tự tin hơn, biết đoàn kết hợp tác cùng nhau vàchủ động trong việc tự trang bị kiến thức cho học sinh Vì thế hoạt động ngoạikhóa trở thành hoạt động không thể thiếu ở tất cả các cấp học Trong quá trìnhgiảng dạy môn học giáo dục công dân, hoạt động ngoại khóa được coi là mộtgiờ học chính thức Hình thức dạy – học được tổ chức với đầy đủ quy trình vàcác bước từ mục đích, kế hoạch, sắp xếp xen kẽ với nội dung chương trìnhhọc tập Thông qua những tiết học ngoại khóa này giúp học sinh có cơ hộikiểm tra tính đúng đắn của lý thuyết thông qua thực tiễn, điều chỉnh hành viđạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội Học sinh tiếp tục kế thừa và pháthuy những giá trị truyền thống của dân tộc cũng như nắm bắt những địnhhướng chính trị, xã hội và những vấn đề nóng bỏng của thời đại góp phầnphát triển tư duy, hình thành nhân cách cho học sinh

Trong khuôn khổ một giờ học ngoại khóa nội dung tích hợp các giá trịđạo đức gia đình cho học sinh THPT, chúng tôi đã cho xây dựng một quytrình bao gồm đầy đủ các bước được sắp xếp khoa học Vấn đề đặt ra là phảilàm thế nào để các hoạt động trong giờ học trở nên đa dạng, đưa giờ học gắn

Ngày đăng: 19/10/2014, 18:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Á - Nguyễn Đình Tuấn (1996), Nghiên cứu xã hội học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Chung Á - Nguyễn Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Chínhtrị Quốc gia
Năm: 1996
2. Mai Văn Bính (chủ biên), Nguyễn Hữu Khải, NguyễnThanh Mai, Lưu Thu Thuỷ, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình Sách giáo khoa lớp 10 môn GDCD, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình Sách giáokhoa lớp 10 môn GDCD
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Mai Văn Bính (Chủ biên), Lê Thanh Hà, Nguyễn Thanh Mai, Lưu Thu Thuỷ (2011) Sách giáo viên GDCD lớp 10. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên GDCD lớp 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Mai Văn Bính (chủ biên), Lê Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Mai, Lưu Thu Thủy (2007), Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 10
Tác giả: Mai Văn Bính (chủ biên), Lê Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Mai, Lưu Thu Thủy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lượcphát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. PTS Phan Khắc Chương – PGS.TS Hà Nhật Thắng (1998), Giáo trình đạo đức học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạođức học
Tác giả: PTS Phan Khắc Chương – PGS.TS Hà Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (đồng chủ biên) (2007), Dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường THPT những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và họcmôn Giáo dục công dân ở trường THPT những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Nguyễn Văn cư (chủ biên) (2007), Giáo trình phương pháp dạy học chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học chủnghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn cư (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
13. Nguyễn Văn Cường (2005), Lý luận dạy học đại học, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
14. Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh (2008), Thiết kế bài giảng GDCD 10, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng GDCD 10
Tác giả: Hồ Thanh Diện, Vũ Xuân Vinh
Nhà XB: NxbHà Nội
Năm: 2008
15. Phan Đại Doãn (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia Hà Nội
Năm: 1998
16. Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn Phúc (1999), Giáo trình phương pháp giảng dạy kinh tế chính trị ở các trường Đại học và Cao đẳng, Tập I, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhphương pháp giảng dạy kinh tế chính trị ở các trường Đại học và Caođẳng
Tác giả: Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
17. Vũ Cao Đàm (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoahọc và kỹ thuật
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (Khóa VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ 2 (Khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chinh trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chinh trị Quốc gia
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2011
22. Vương Tất Đạt (Chủ biên), Phùng Văn Bộ, Nguyễn Thị Kim Thu, Lê Văn Thứ, Đinh Văn Đức, Trần Thị Ngọc Anh (1994), Phương pháp giảng dạy GDCD, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạyGDCD
Tác giả: Vương Tất Đạt (Chủ biên), Phùng Văn Bộ, Nguyễn Thị Kim Thu, Lê Văn Thứ, Đinh Văn Đức, Trần Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 1994
23. Dương Minh Đức (2006), Phương pháp giảng dạy giáo dục công dân, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy giáo dục công dân
Tác giả: Dương Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
24. Đinh Văn Đức - Dương Thị Thúy Nga ( Đồng chủ biên), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, 2009, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạyhọc môn GDCD ở trường THPT
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2013 – 2014  môn Giáo dục công dân lớp thực nghiệm và lớp đối chứng - TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH  TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN  CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ
Bảng 2.1 Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2013 – 2014 môn Giáo dục công dân lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Trang 71)
Bảng 2.2. Bảng kết quả học tập sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ( phụ lục 4) - TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH  TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN  CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ
Bảng 2.2. Bảng kết quả học tập sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ( phụ lục 4) (Trang 97)
Bảng 2.3. Bảng kết quả học tập sau thực nghiệm của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) - TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH  TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN  CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ
Bảng 2.3. Bảng kết quả học tập sau thực nghiệm của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) (Trang 98)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w