Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại việt nam và sự can thiệp của ngân hàng nhà nước giai đoạn 2008 đến nay . Những vấn đề từ lý thuyết đến thực tiễn về Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại việt nam và sự can thiệp của ngân hàng nhà nước giai đoạn 2008 đến nay . Những điều cấn biết về Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại việt nam và sự can thiệp của ngân hàng nhà nước giai đoạn 2008 đến nay
Trang 1Mục lụcDanh mục phụ lục
1.1.2 Chức năng, vai trò của NHNN
1.1.2.1 Phát hành tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng
1.1.2.2 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng
1.1.2.3 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của Chính phủ
1.2 Khái quát chung về NHTM
1.2.1 Khái niệm NHTM
1.2.2 Chức năng của NHTM
1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lí phương tiện thanh toán1.2.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán
1.2.2.4 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính
1.2.3 Các nhiệp vụ cơ bản của NHTM
1.2.3.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn
1.2.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
1.2.3.3 Một số nghiệp vụ khác
1.3 Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
1.3.1 Khái niệm lãi suất
1.3.2 Phân loại lãi suất
Trang 21.3.2.1 Căn cứ vào tính chất của các khoản vay
1.3.2.2 Theo giá trị thực tế của khoản tiền lãi thu được
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
1.3.3.1 Cung – cầu trái phiếu và quỹ cho vay
1.3.3.2 Lạm phát kì vọng
1.3.3.3 Bội chi ngân sách
1.3.3.4 Những thay đổi trong thuế:
1.3.3.5 Tỷ giá hối đoái
1.3.3.6 Những thay đổi trong đời sống
Chương 2 : Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam và sự can thiệp của NHNN giai đoạn 2008 đến nay
2.1 Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng Thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay
2.1.1 Thực trạng cuộc đua lãi suất từ năm 2008 đến nay
2.1.1.1 Giai đoạn 2008: Khởi đầu cuộc đua lãi suất
2.1.1.2 Giai đoạn 2009: Lãi suất dần được ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ biến
động cao
2.1.1.3 Giai đoạn 2010: Lãi suất dần ổn định
2.1.1.4 Giai đoạn 2011: Lãi suất gắn liền với lạm phát
2.1.1.5 Năm 2012: Lãi suất bắt đầu hạ nhiệt
2.1.1.6 Giai đoạn 2013: Lãi suất tiếp tục giảm nhẹ
2.1.2 Nguyên nhân của cuộc chạy đua lãi suất
2.1.2.1 Ngoài nước
2.1.2.2 Trong nước
2.2 Sự can thiệp của NHNN đối với cuộc đua lãi suất
2.2.1 Chính sách tác động đến cuộc đua lãi suất
2.2.2 Mặt tích cực và những hạn chế của chính sách lãi suất của NHNN
Trang 32.2.2.1 Mặt tớch cực
2.2.2.2 Những hạn chế, tồn tại
Chương 3 : Một số vấn đề đặt ra trong việc điều hành lói suất của NHNN Việt Nam 3.1 Một số giải pháp định hớng điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới
3.1.1 Đổi mới cơ chế điều hành cơ chế lãi suất Ngân hàng
3.1.2 Hoàn thi n cụng c lói su t c a Chớnh sỏch ti n t ện cụng cụ lói suất của Chớnh sỏch tiền tệ ụ lói suất của Chớnh sỏch tiền tệ ất của Chớnh sỏch tiền tệ ủa Chớnh sỏch tiền tệ ền tệ ện cụng cụ lói suất của Chớnh sỏch tiền tệ
3.1.3 Đổi m i ới cơ chế quản lý của NHNN đối với NHTM và các tổ chức tín dụng
Trang 4Danh mục các bảng và hình vẽ
Bảng 1: Lãi suất của 1 số NHTM tính đến 6 tháng đầu năm 2008
Bảng 2: Lãi suất huy động VNĐ và USD ( ĐVT: %) của các NHTM khối nhà nước và TMCP 8 tháng đầu năm 2009
Bảng 3: Bảng lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các NHTM
( tính đến cuối quý I năm 2010)
Bảng 4: Lãi suất cho vay của một số NHTMCP ( 29/06/2010 )
Bảng 5: Lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Tài liệu tham khảo
1 Ponzi game và cuộc đua lãi suất ở Việt Nam, 76 trang
2 Cuộc đua lãi suất liệu đã đi đến hồi kết, 28 trang
3 Thực trạng thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ những năm 90 trở lại đây
Các trang web tham khảo
1 http://www.sbv.gov.vn
Trang 5Chương 1: Những vấn đề chung về Ngân hàng và Lãi suất
1.1 Những vấn đề chung về NHNN
1.1.1 Khái niệm NHNN
Ngân hàng nhà nước là một định chế tài chính công cộng, thực hiện chức năng độcquyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịutrách nhiệm trong việc quản lí Nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng cho các mụctiêu ổn định và phát triển đất nước
1.1.2 Chức năng, vai trò của NHNN
Ngân hàng Nhà nước liên quan đến ba chức năng cơ bản, đó là phát hành tiền
tệ, ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ Tuy nhiên, không phải ngân
hàng Nhà nước nào cũng mang đầy đủ ba chức năng này
1.1.2.1 Phát hành tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng
Đó là chức năng cơ bản và quan trọng hàng đầu của Ngân hàng Nhà nước.Thực hiện chức năng này sẽ ảnh hưởng đến tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia, vìvậy nó ảnh hưởng đến mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế-xã hội Việc phát hànhtiền được tập trung tuyệt đối vào Ngân hàng nhà nước theo chế độ Nhà nước nắm độcquyền phát hành tiền Giấy bạc ngân hàng và tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước pháthành là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong một quốc gia, nó có thể thựchiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không hạn chế
Những truờng hợp phát hành tiền của ngân hàng Nhà nước:
Phát hành tiền qua ngõ chính phủ
Khi ngân sách thâm hụt, hoạt động ngân sách sẽ tác động đên chính sách tiền
tệ Bởi lẽ chính phủ với tư cách là chủ thể kinh tế, như mọi chủ thể kinh tế khác thì thiếutiền chi tiêu sẽ phải đi vay tiền để bù đắp thiếu hụt Hoạt động vay của ngân sách sẽ rơivào một hoặc kết hợp hay đồng thời 3 phương thức sau:
Trang 6o Vay của công chúng thông qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc,công trái: phương thức này không ảnh hưởng đến mức cung ứng tiền của ngân hàng Nhànước Như vậy ngân hàng Nhà nước không phải phát hành thêm tiền
o Vay của nước ngoài
o Vay của ngân hàng Nhà nước
Phát hành tiền qua ngõ ngân hàng trung gian
Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian chủ yếu dưới 2hình thức:
o Chiết khấu hoặc tái chiết khấu
o Thế chấp hay ứng trước
Trong cả hai trường hợp trên, ngân hàng Nhà nước đều thực hiện việc phát hànhtiền tệ Kết quả là làm cho số lượng tiền tệ trong lưu thông gia tăng Theo các nhà kinh tếhọc xem việc làm này là một nghiệp vụ thanh khiết, vì nó có khả năng tự thanh toán vàtheo đúng nguyên tắc tín dụng
Phát hành tiền qua ngõ thị trường mở
Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở, ngân hàngNhà nước điều chỉnh lưu lượng tiền mặt trong lưu thông Với nghiệp vụ bán ngân hàngNhà nước thu hẹp lượng cung tiền mặt trong lưu thông, lãi suất lại tăng lên Bằng nghiệp
vụ mua, tức là bơm tiền vào lưu thông Lúc này lượng tiền lưu hành trên thị trường xã hộităng lên tạo ra các động lực gây giảm lãi suất
Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ
Bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua một sốngoại tệ nào đó và vàng, ngân hàng nhà nước một mặt làm tăng dự trữ quốc gia, mặt khác
nó làm tăng lưu lượng tiền mặt trong nền kinh tế, và đây chính là phương thức phát hànhtiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ
Phát hành cân đối:
Trang 7Mỗi khi có sự gia tăng một cách không chủ động của các khoản mục bên tài sản
có, buộc ngân hàng Nhà nước phải phát hành thêm tiền để cân đối nợ có trong bảng quyếttoán của mình như
o Chính phủ nhận được viện trợ phát triển của nước ngoài dưới dạng hàng hóa,vàng và ngoại tệ
o Chính phủ vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế
o Các tổ chức kinh tế, các ngân hàng trong nước vay nợ nước ngoài
o Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tăng mạnh
o Nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn mức bình thường…
1.1.2.2 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng
Trên cơ sở nắm trong tay độc quyền phát hành tiền, ngân hàng phát hành trởthành ngân hàng nhà nước - tức là trở thành ngân hàng của các ngân hàng Chức năngnày được thực hiện với các đối tượng giao dịch chủ yếu trong nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ
có của Ngân hàng nhà nước là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng kháctrong nền kinh tế, cụ thể:
a) Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng
Tiền gửi thanh toán: mục đích là để đáp ứng nhu cầu thanh toán thườngxuyên giữa các ngân hàng với nhau và để điều chỉnh mức dự trữ bắt buộckhi cần Mặt khác, còn giúp ngân hàng Nhà nước có thể tận dụng được
Trang 8nguồn vốn tạm thời dư thừa của ngân hàng trunng gian để thực hiện cácchức năng của mình.
b) Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng.Với chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng – ngân hàng, ngân hàngNhà nước là cơ quan quản lý và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, như là:
Ngân hàng Nhà nước thẩm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động chongân hàng trung gian
Điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trung gian bằng nhữngbiện pháp kinh tế và hành chính Ví dụ, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng,ban hành chinh sách lãi suất, …
1.1.2.3 Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của Chính phủ
Ngay từ khi mới ra đời, ngân hàng Nhà nước đã được xác định là ngân hàngcủa nhà nước Chức năng này của ngân hàng Nhà nước được thực hiện trên các mặt sau:
Ngân hàng Nhà nước thuộc sở hữu nhà nước ( ở hầu hết các quốc gia trênthế giới)
Ngân hàng Nhà nước tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xãhội, soạn thảo chính sách tiền tệ, kiểm tra và kiểm soát việc thực hiện chính sách tiền tệ.Bởi, với ưu thế nắm giữ nhiều thông tin kinh tế, ngân hàng Nhà nước có khả năng dựđoán và đề xuất các biện pháp quan trọng góp phần thiệt lập một chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội tối ưu Với việc tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hôi,cho phép ngân hàng Nhà nước có thể soạn thảo được một chính sách tiền tệ khả thi, tạomối liên kết chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, chính sách quản lý
nợ … nhằm đạt được các mục tiêu mà chiến lược kinh tế - xã hội đã đề ra
Trong quan hệ quốc tế, ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là người hướngdẫn, chỉ đạo và tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng quan hệ kinh doanh ngân hàng
Trang 9trên thị trường quốc tế, phát triển các dịch vụ thanh toán … nhằm phục vụ đắc lực chotiến trình hội nhập kinh tế toàn câu Ngân hàng thay mặt chính phủ ký kết các hiệp địnhtiền tệ, tín dụng và thanh toán với nước ngoài và tham gia với cương vị là thành viên củamột số tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế như IMF, WB…
Ngân hàng Nhà nước nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, tổ chức thanhtoán giữa kho bạc với ngân hàng trung gian, làm đại lý phát hành các loại trái phiếu nhànước, quản lý dự trữ quốc gia và cho chính phủ vay để cân bằng thu – chi ngân sáchtrong những trường hợp cần thiết
1.2 Khái quát chung về NHTM
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêusinh lợi và vì lợi ích của nền kinh tế
1.2.2 Chức năng của NHTM
1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại thực hiện nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
Huy động các nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm, có vốn nhàn rồi trong nềnkinh tế
o Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các
tổ chức xã hội, cá nhân dưới hình thái tiền tệ (nội tệ hoặc ngoại tệ)
Trang 10o Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân.
o Phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội
Cấp tín dụng đầu tư đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể trong nền kinh
tế xã hội
o Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các tổ chức kinh tế, cánhân
o Chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá
o Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp và các hình thức cấp tín dụngkhác…
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại góp phần tạolợi ích cho tất cả các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung cho nền kinh tế
1.2.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và quản lí phương tiện thanh toán
Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán thông qua việc nhận tiềngửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, từ đó làm cho
nó trở thành thủ quỹ của khách hàng Trên thực tế, khi việc thanh toán trực tiếp bằng tiềnmặt giữa các chủ thể kinh tế gặp nhiều hạn chế và rủi ro cao do phải tập hợp, kiểm tra,vận chuyển làm cho chi phí thanh toán cao mà lại thiếu chính xác và không an toàn, đặcbiệt khi hai đơn vị này cách xa nhau về mặt địa lý, điều này đã tạo nhu cầu và gia tăngkhối lượng thanh toán qua ngân hàng
Trong chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thực hiện các nhiệm vụ :
Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng
Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán khác nhau cho kháchhàng như: giấy chuyển tiền, ủy nhiệm chi, séc, thư tín dụng …
Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàngChức năng trung gian thanh toán của ngân hàng có ý nghĩa rất lớn đối với cáchoạt động của nền kinh tế Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngânhàng góp phần tiết giảm chi phí và lượng tiền mặt trong lưu thông và đảm bảo an toàn
Trang 11trong thanh toán Việc lựa chọn phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợpcho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, điều này góp phầntăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sảnxuất xã hội Mặt khác, việc cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúpcho ngân hàng thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng và do đó tạo điềukiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi.
1.2.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán,ngân hàng vừa nhận tiền gửi lại vừa cho vay bằng chuyển khoản, làm điều kiện và tiền đềcho hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền Với khoản tiền gửi nhận đượcban đầu thông qua cho vay bằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng tiềnmặt, nên ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn gấp nhiềulần, do đó tạo thêm bút tệ cho lưu thông Quá trình tạo tiền phụ thuộc vào hệ số nhân tiềngửi, mà hệ số nhân tiền gửi lại phụ thuộc vào tỷ lệ dự trũ bắt buộc, nghĩa là nếu tỷ lệ dựtrữ bắt buộc mà càng thấp thì khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại càng cao vàngược lại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao thì khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mạicàng thấp
1.2.2.4 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính
Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính của ngân hàng được thực hiện dựatrên việc khai thác các lợi thế so sánh về cơ sở vật chất, tính chuyên nghiệp và tínhchuyên môn hóa của đội ngũ nhân viên và ưu thế về thông tin Các dịch vụ tài chính màngân hàng thương mại cung cấp cho thị trường tài chính bao gồm:
Tư vấn tài chính
Môi giới tài chính
Dịch vụ ngân hàng điện tử
1.2.3 Các nhiệp vụ cơ bản của NHTM
1.2.3.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn
Trang 12Căn cứ vào tính chất kinh tế, nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mạiđược chia thành hai bộ phận cơ bản, bao gồm : nguồn vốn tự có của ngân hàng và nguồnvốn huy động
Nguồn vốn tự có: đây là nguồn vốn ngân hàng có thể sử dụng dài hạn,chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh, thường không quá 10% trong tổngnguồn vốn, nhưng nguồn vốn này có tính ổn định cao, có thể dùng để bù đắp tổn thấttrong quá trình kinh doanh
Nguồn vốn huy động: còn được gọi là tài sản nợ ngân hàng, bộ phận nguồnvốn này chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu nhất trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh Nguồnvốn huy động gồm:
o Tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiếtkiệm
o Nguồn vốn đi vay: phát hành các chứng từ có giá, vay của các ngân
hàng và các trung gian tài chính khác, vay của ngân hàng trung ương
1.2.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
Phần lớn nguồn vốn của ngân hàng được sử đụng để cho vay.Một phần nguồnvốn của ngân hàng sẽ để lại dưới dạng dự trữ ngân hàng nhằm đảm bảo chi tiêu cho ngânhàng Điều này góp phần mang lại sự an toàn cho ngân hàng trong quá trình hoạt động,song nếu dự trữ nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng
1.2.3.3 Một số nghiệp vụ khác
Thực chất đây là các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàngnhưng không phải sử dụng vốn một cách trực tiếp, chẳng hạn như các nghiệp vụ trunggian thanh toán và ngân quỹ gồm:
Mở tài khoản giao dịch cho khách hàng trong và ngoài nước
Cung ứng các phương tiện thanh toán cho khách hàng nư séc, ủynhiệm chi, thẻ rút tiền ATM…
Trang 13 Thực hiện các nghiệp vụ thu chi hộ.
Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán khác phục vụ cho các hoạt độngphát hành kinh doanh chứng khoản trên thị trường tài chính…
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giữa nghiệp vụ tạo vốn, nghiệp vụ
sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qualại với nhau đem lại thương hiêu, sự an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng
1.3 Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
1.3.1 Khái niệm lãi suất
Là giá cả tín dụng – quan hệ vay mượn về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc cácdạng thức tài sản khác nhau hoặc giá cả của của quyền sử dụng vốn trong một thời giannhất định
Công thức:
Lãi suất = Tiền lãi / Tiền gốc
- Tiền lãi là số tiền mà người nhận tín dụng phải trả cho người cấp tíndụng
- Tiền gốc là số tiền người nhận tín dụng được sử dụng theo hợp đồngtín dụng
1.3.2 Phân loại lãi suất
1.3.2.1 Căn cứ vào tính chất của các khoản vay
Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp chonhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa
Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là loại lãi suất mà các ngân hàng trả chocác khoản tiền gửi vào ngân hàng Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhautùy thuộc vào các loại tiền gửi: không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm … theo nguyên tắc :lãi suất tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
Trang 14 Lãi suất tín dụng ngân hàng: là loại lãi suất mà người đi vay vốnphải trả cho ngân hàng khi vay vốn từ ngân hàng Lãi suất tín dụng ngân hàng có nhiềuloại tùy theo các loại hình vay: ngắn hạn, dài hạn; có tài sản đảm bảo, không có tài sảnđảm bảo…
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất được các ngân hàng thương mai ápdụng cho khách hàng vay nợ dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá ( hối phiếu,lệnh phiếu…)khi chưa đến hạn thanh toán Lãi suất chiết khấu được tính theo tỷ lệ phầntrăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng cho kháchhàng vay Lãi suất chiết khấu là loại lãi suất trả trước mà người đi vay trả cho ngân hàngtrước khi sử dụng tiền vay
Lãi suất tái chiết khấu : là lãi suất được ngân hàng trung ương ápdụng khi các ngân hàng thương mại vay dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá ( hốiphiếu, lệnh phiếu, trái phiếu …) khi chưa đến kỳ hạn thanh toán Lãi suất tái chiết khấuđược tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu từ ngay khicho các ngân hàng thương mại vay Ngoài ra, còn có lãi suất tái cấp vốn cũng gần giốngnhư vậy nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho vay của các NHTM, và sau đó họ bánlại các khoản này cho NHTW để đổi lấy lương tiền mặt
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất cho vay giữa các ngân hàngthương mại trên thị trường liên ngân hàng Lãi xuất liền ngân hàng được hình thành theoquan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất này chịu sự chi phốibởi lãi suất tái chiết khấu
Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng thương mại sử dụng
để xây dựng lãi suất kinh doanh Mỗi quốc gia có quy định về lãi suất cơ bản khác nhau.Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương nước ngoài tương
tự như lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Fed Funds Rate của Hoa
Kỳ, London Interbank Offered Rate (LIBOR) của Anh, Tokyo Inter-Bank Offered Rate(TIBOR) của Nhật Bản, Euro Interbank Offered Rate của Liên minh châu Âu Các lãisuất trên đôi khi cũng được dịch sang tiếng Việt là lãi suất cơ bản
Trang 151.3.2.2 Theo giá trị thực tế của khoản tiền lãi thu được
Lãi suất danh nghĩa : là loại lãi suất phải thanh toán.( chưa loại trừ
lạm phát)
Lãi suất thực : là loại lãi suất đo lường sức mua của tiền nhận được.
Công thức tính lãi suất thực:
i r = i n – p
Trong đó: ir là lãi suất thực, in là lãi suất danh nghĩa, p là tỷ lệ lạm phát
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
Trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô,thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ chếthị trường Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũngnhư nhiều các nhân tố khác như:
1.3.3.1 Cung – cầu trái phiếu và quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầuhoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thịtrường Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chínhphủ và NHTƯ, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này
để xác định lãi suất Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổilãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kỳ chẳnghạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng điểm Mặt khác,muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảovững chắc
1.3.3.2 Lạm phát kì vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xuhướng tăng Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danhnghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩaphải tăng lên tương ứng Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết
Trang 16kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác nhưvàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể Tất cả những điều nàylàm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường Từ mối quan hệnày cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc
ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế
1.3.3.3 Bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền tăng
và làm tăng lãi suất Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về giatăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát Thông thường, Chính phủ thường tàitrợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu Lượng cung trái phiếu trên thịtrường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm và lãi suất thị trường có xuhướng tăng Mặt khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ,
dự trữ vượt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng
1.3.3.4 Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động đếnlãi suất Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập của các cánhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh doanh chứngkhoán Mọi người đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa Dovậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào lãi suất chovay những thay đổi của thuế
1.3.3.5 Tỷ giá hối đoái
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồngngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của người dân là coi ngoại tệ mạnh như một trongnhững loại tài sản tiết kiệm an toàn Chẳng hạn, khi hiện tượng đô la hoá xảy ra, ngườidân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ Làm như vậy ngườigửi hưởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ Sự chuyển dịch
Trang 17này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãi suấttiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế Như vậy, khi xây dựng chính sáchlãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãisuất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ Điều này giúpgiảm bớt sự dịch chuyển không mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lêngiá.
1.3.3.6 Những thay đổi trong đời sống
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của cácyếu tố thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng như nhữngbiến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, cácluồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước…
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hànhchính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa rabất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất
Trang 18Chương 2 : Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng thương mại Việt Nam và sự can thiệp của NHNN giai đoạn 2008 đến nay
2.1 Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng Thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay
2.1.1 Thực trạng cuộc đua lãi suất từ năm 2008 đến nay
2.1.1.1 Giai đoạn 2008: Khởi đầu cuộc đua lãi suất
Năm 2008 được coi là năm biến động lãi suất với các biến động trái chiều với một biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng
Diễn biến lãi suất trong năm 2008 gồm 2 giai đoạn chính: cuộc đua tăng lãisuất của các ngân hàng vào nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo chiều hướngngược lại, cuộc đua giảm lãi suất, dù mức độ quyết liệt kém hơn Những sự kiện lớn đốivới diễn biếnlãi suất năm 2008 diễn ra như sau:
a) Cuộc đua tăng lãi suất trong 6 tháng đầu năm 2008
Từ mức lãi suất tháng 1 là 8,5%, các ngân hàng bắt đầu vào cuộc đua lãisuất khởi đầu là các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Lãi suất tăng cao đến đỉnhđiểm vào tháng 6 năm 2008 là 18,5%
Bảng 1: Lãi suất của 1 số NHTM tính đến 6 tháng đầu năm 2008
Trang 19mức lãi suất cao nhất lên đến trên 18%/năm, còn thấp nhất là ngân hàng Sài Gòn ThươngTín ( Sacombank) 15.24% nhưng cũng vượt mức 15%/năm/.
Một thực tế khác đó là khi mà các ngân hàng Thương mại đang ra sứcchạy đua để tăng lãi suất huy động lên cao thì chắc chắn là lãi suất cho vay cũng khôngnằm ngoài cuộc chạy đua này.Khi lãi suất huy động của các NHTM tăng lên thì lãi suấtcho vay cũng tăng lên, gây ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp Và ảnh hưởng củalãi suất tới Doanh nghiệp được thể hiện:
Do lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hầuhết các doanh nghiệp đã bị giảm sút, nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ nên khả năng trả nợ làkhó khăn
Lãi suất vay cao, cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế đã dẫnđến tình trạng hầu hết các doanh nghiệp buộc phải cơ cấu lại hoạt động Sản xuất kinhdoanh , cắt giảm việc đầu tư, thu hẹp quy mô và phạm vi hoạt động
Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn ít, không chịu đựng đượcmức lãi suất cao, không có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động Sản xuất kinhdoanh đã phải ngừng hoạt động, giải thể và phá sản
b) 6 tháng cuối năm lãi suất giảm mạnh:
Bắt đầu từ tháng 7 trở đi, các ngân hàng lại bước vào cuộc đua lãi suất mớinhưng với xu hướng ngược lại so với 6 tháng đầu năm Cuộc đua ban đầu chỉ mới nhíchnhẹ từ 18,5% xuống còn 17,5% và bắt đầu giảm mạnh từ tháng 10 năm 2008 Tháng9/2008, khủng hoảng kinh tế nổ ra tại Mỹ và nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới lãisuất cơ bản liên tục giảm từ 14% đầu tháng 10 xuống còn 8.5% vàocuối tháng 12, mộtmức giảm rất nhanh 5.5% và 5 lần điều chỉnh giảm chỉ trong vòng 3 tháng Đến cuốitháng 12, lãi suất cho vay giảm chỉ còn từ 10-11%/năm
Mà các nguyên nhân gây ra việc lãi suất giảm mạnh có thể kể đến như là:
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là do các ngân hàng đã giữ được
tính thanh khoản của dòng tiền, đảm bảo được độ an toàn cao và tính rủi ro thấp Mặt