1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN CHUYÊN ĐỂ TÌM HIỂU TIẾNG VIỆT LỊCH SỬ

15 469 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 56,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như phương pháp so sánh loại hình giúp quy các ngôn ngữ vào những loại hình khác nhau, hay phương pháp so sánh đối chiếu phát hiện những tương đồng và khác biệt chủ yếu trên diện đồn

Trang 1

BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN : CHUYÊN ĐỀ TÌM HIỂU TIẾNG VIỆT LỊCH SỬ

ĐỀ BÀI: Vấn đề nguồn gốc của Tiếng Việt.

BÀI LÀM:

I - Ph n m ần mở ở đ u ần mở

Tiếng nói là nhịp cầu cảm thông để trao đổi tư tưởng trong sinh hoạt xã hội giữa con người cùng dòng giống xứ sở Có con người là có ngôn ngữ Ngôn ngữ văn tự có ảnh hưởng rất lớn và quan hệ mật thiết đến sự hưng vong của giống nòi Dân tộc có một trình độ văn hóa cao, càng văn minh thì họ lại càng chú trọng đến ngôn ngữ văn tự Dân tộc ta, ngót năm ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói Từ Bắc chí Nam, ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe và hiểu một thứ tiếng, đó là tiếng Việt Nam

- Tiếng Việt có phải tự ngàn xưa đã là một tiếng nói thật sự thuần Việt hay là một kết quả của sự hỗn hợp trại lẫn của nhiều tiếng nói khác nhau ?!

II- Ph n n i dung ần mở ội dung

1 Về phương pháp xác định nguồn gốc ngôn ngữ

Trong lịch sử, có những ngôn ngữ mà vì một lí do nào đó đã bị chia tách ra thành nhiều

ngôn ngữ khác nhau Ngôn ngữ bị chia tách đó thường được gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ sở Như vậy, về nguyên tắc, có thể tìm tòi ngược dòng thời gian lịch sử

của những ngôn ngữ được giả định là vốn cùng “sinh ra” từ một ngôn ngữ mẹ, để quy chúng vào những nhóm, những chi, những ngành, những dòng khác nhau, tuỳ theo mức độ thân thuộc nhiều hay ít

Đối với mỗi ngôn ngữ, ba mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng như các tiểu hệ thống của nó biến đổi không đồng đều, có những mặt, những yếu tố được bảo toàn rất lâu

dài; nhưng cũng có những yếu tố đã biến đổi với những mức độ khác nhau “Hầu như trong mỗi từ hoặc mỗi hình thức của từ lúc nào cũng có một cái gì đó mới và một cái

gì đó cũ”.

Trang 2

Sự biến đổi ngữ âm (điều cần tìm kiếm đầu tiên trong khi nghiên cứu quan hệ cội

nguồn của ngôn ngữ) không phải là những biến đổi hỗn loạn mà thường có lí do, có quy luật và theo hệ thống.

Và có một điểm đáng chú ý, được coi là tiền đề quan trọng trong việc phân loại các

ngôn ngữ theo quan hệ cội nguồn, là tính võ đoán trong quan hệ ngữ âm với ý nghĩa.

Bởi thế, ta có quyền giả định rằng: những từ gần gũi nhau về âm thanh có liên quan hoặc gắn bó với nhau ở ý nghĩa thường luôn luôn bắt nguồn từ cùng một gốc nào đó

Nếu như phương pháp so sánh loại hình giúp quy các ngôn ngữ vào những loại hình khác nhau, hay phương pháp so sánh đối chiếu phát hiện những tương đồng và khác biệt chủ yếu trên diện đồng đại ở một hay nhiều bình diện, bộ phận của ngôn ngữ, thì

để phát hiện ra sự thân thuộc giữa các ngôn ngữ về mặt cội nguồn người ta dùng phương pháp so sánh–lịch sử Có thể nói, phương pháp so sánh–lịch sử từ việc so sánh, tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp để rồi qua đấy xác

định xác định nguồn gốc của một ngôn ngữ, hay quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ

về mặt nguồn gốc

2 Về các ý kiến khác nhau trong việc xác định nguồn gốc tiếng Việt

Khái niệm Tiếng Việt chỉ có thể dùng để trỏ tiếng Việt từ khi nó bắt đầu tách ra khỏi nhóm Việt-Mường chung cách đây khoảng một nghìn năm, nghĩa là từ khi bắt đầu

có cách phát âm Hán-Việt và tiếng Việt đã có đủ 6 thanh điệu Không nên dùng khái niệm tiếng Việt đối với những giai đoạn phát triển trước đó

Theo quan niệm truyền thống, khái niệm tiếng Việt dùng để chỉ các nhóm ngôn ngữ nguồn gốc của nó Ví dụ: khi tìm hiểu nền văn minh Văn Lang, Âu Lạc… người ta phải tính đến thời đại các vua Hùng cách đây khoảng 4000 năm Thứ tiếng Việt nguyên thủy đó chắc chắn không phải là thứ tiếng Việt ngày nay

Hiện nay, quan điểm xếp tiếng Việt vào họ Nam Á (được nêu ra từ năm 1856) được nhiều người chấp nhận và được coi là có cơ sở khoa học nhất Tuy nhiên, có những ý kiến khác không xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ này

Ý kiến trước tiên phải kể đến là ý kiến của Taberd (1838): “tiếng Việt chỉ là

một nhánh bị thoái hoá của tiếng Hán” Cơ sở để Taberd đưa ra ý kiến này là trong

vốn từ của tiếng Việt hiện nay thì từ vựng có nguồn gốc Hán chiếm đa số Tuy nhiên, mặc dù có tới 75% từ vựng tiếng Việt có gốc Hán nhưng đại đa số những từ đó đều là những từ văn hoá (những từ thể hiện trình độ phát triển của xã hội) Do đó, chúng phải

là những từ vay mượn, chứ không phải là những từ mang tính nguồn gốc Và theo

Trang 3

Maspéro (1912): Bất cứ từ Hán nào vào tiếng Việt đều phải chịu sự chi phối của cơ cấu tiếng Việt.

Loại ý kiến thứ hai là những ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam

Đảo Đó là ý kiến của Bình Nguyên Lộc với hai cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc

Việt Nam (Sài Gòn, 1972) và Lột trần Việt ngữ (Sài Gòn, 1973), và gần đây là ý kiến

của tác giả Hồ Lê (1996) Cơ sở của những ý kiến này là sự tương ứng từ vựng giữa

tiếng Việt với các ngôn ngữ khác nhau trong họ Nam Đảo Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, đây là những tương ứng chưa phải là những tương ứng mang tính hệ thống và do

đó khả năng vay mượn là rất lớn Khả năng này còn được đẩy lên cao hơn nữa khi mà, như chúng ta đã biết, sự cư trú đan xen giữa những cư dân Nam Á và cư dân Nam Đảo

là có thực và diễn ra trong một khoảng thời gian dài Cần phải nói thêm rằng, tác giả Bình Nguyên Lộc đã cho rằng “có 40% từ Mã Lai trong vốn từ của tiếng Việt”, tuy nhiên “trong hai cuốn sách của ông chỉ thấy kể có khoảng dăm chục từ” (1) Do vậy,

có thể nói, việc nêu vấn đề tiếng Việt có quan hệ họ hàng với các ngôn ngữ Nam Đảo chỉ mang tính giả thiết và trong tình hình như vậy có thể nói giả thiết ấy chưa được chứng minh

Ý kiến thứ ba, đáng chú ý hơn cả, cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Thái Cần phải nói ngay rằng, trong số những ý kiến không xếp

tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á thì cách lí giải cho ý kiến này có vai trò quan trọng

nhất Ý kiến này được Henry Maspéro đề xuất vào đầu thế kỉ 20, và trong một thời

gian dài, nó đã chi phối quan niệm về phân loại nguồn gốc ngôn ngữ của các nhà ngôn

ngữ trên thế giới Bằng phương pháp so sánh-lịch sử, với lập luận chặt chẽ, tỉ mỉ về các khía cạnh từ vựng cơ bản, ngữ pháp và thanh điệu, Maspéro đã làm những nhà

nghiên cứu đương thời không có cách gì bác bỏ được Cụ thể là:

- Về từ vựng: giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Thái cũng như với các ngôn ngữ

Mon-Khmer đều có sự tương ứng;

- Về ngữ pháp: tiếng Việt gần với tiếng Thái và khác rất xa với các ngôn ngữ

Mon-Khmer hiện nay bởi các tiếng Mon-Mon-Khmer có cơ sở sơ sài về hình thái học trong khi đó tiếng Việt là một ngôn ngữ không có giá trị hình thái học

- Về thanh điệu: với Maspéro, thanh điệu tiếng Việt là một vấn đề quan trọng vì tiếng

Việt hiện nay là một ngôn ngữ cũng có thanh điệu như các ngôn ngữ Thái và Hán Trong khi đó, cho đến nay, các ngôn ngữ Mon-Khmer vẫn là các ngôn ngữ không có thanh điệu

Trang 4

Tuy nhiên, những luận điểm của Maspéro không phải là không có hạn chế và những hạn chế đó sau này đã được A.G Haudricourt chỉ ra một cách thuyết phục

Ý kiến thứ tư Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc San cho rằng: Tổ tiên xa xưa của Tiếng Việt là tiếng Môn- Khơ me Hiểu theo nghĩa rộng Môn- Khơ me bao gôm hàng

trăm ngôn ngữ, phân bố thành ba vùng lớn:

- Vùng Bắc gồm: Tiếng Kha mu, Palauangwa, Khaisi, Mảng

- Vùng Nam gồm các tiếng : Jahaic, Senoic, Semelaic( Aislan), Môn

- Vùng Đông gồm các tiếng : Khơme, Banar, Katu, Pear

Từ tiếng Đông Môn- Khơ me lại tách ra một ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ gọi là pro-to Việt tu Ngôn ngữ này tồn tại trong một thời gia rồi lại tách ra làm hai là

Ka-tu và pro-to Việt Chứt Khoảng thời gian này tức là cách đây hơn 4000 năm một số bộ tộc người nói tiếng pro- to Việt Chứt- tổ tiên trực tiếp của người nói Tiếng Việt ngày nay- đã từ vùng Thương Lào và bắc khu IV cũ do sự hấp dẫn của nền văn minh lúa nước phía Bắc mà di dân ra vùng vịnh Bắc Bộ ngày nay hòa huyết với các cư dân nói tiếng Thái- Kađai

Một số vùng đồng bằng có các địa danh bằng tiếng Tày- Thái sau này bị các cư dân nói tiếng Việt- Chứt xâm lấn Các cư dân này lúc đầu.cư trú tại vùng sơn cước sau di

cư xuống vùng đồng bằng quanh vinh Hà Nội Tiếng nói mới của các cư dân đồng bằng Bắc bộ hồi ấy đa số là từ Việt Chứt đã vận hành theo cơ chế Tày Thái, giản hóa

âm tiết và đi vào con đường đơn tiết hóa trở thành Tiếng Việt- Mường chung, trong khi

ấy tiếng nói của cư dân ở lại vùng Thương Lào và khu IV trở thành tiếng Poọng Chứt

Tiếng nói của cư dân Bắc bộ ở đây lúc nàylà tiếng tiền Việt Chứt, nó có cơ tầng Môn- Khơ me và có sự mô phỏng cơ chế Tày – Thái đây là tiếng nói của thời đại các vua Hùng Dần dần về sau, tiếng Tiền Việt Chứt sẽ đi sâu vào quá trình đơn tiết hóa, thanh điệu hóa và rụng dần các phụ tố để trở thành tiếng Việt – Mường chung Trong khi ở miền bắc xuất hiện tiếng Việt Mương chung thù ở miền Trung khoảng 2700

2800 năm trước đây, khu vực Quảng Bình và Hà Tĩnh cũng bắt đầu tách ra khỏi nhóm Môn – Khơ me và trở thành Poọng Chứt

Khoảng 2500 năm về trước một đợt di dân của người Mã lai- Nam đảo đỏ bộ vào bờ biển miền Nam Trung bộ Viêt Nam tạo ra vương quốc Chăm, tách đôi cư dân Ba Na,

Mơ Nông thành hai nửa Bắc và Nam Do hoàn cảnh này, tổ tiên của người Việt ở lại đây lại có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa mã Lai Nam đảo Cùng thời gian ấy , một đợt di dân của người Thái sang miền Đông tách đôi Mèo- Dao làm hai khu vực và làm chủ vùng Quảng Tây Vân Nam

Trang 5

Ở Miền Bắc sâu khi tiếng Việt Mường chung đã tiến trên con đường đơn tiết hóa và

đã mở đầu quá trình thanh điệu hóa thì lại trải qua một giai đoạn lâu dài tiếp xúc với tiếng Hán dưới thời kì Bắc thuộc do đó từ thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ XII, tiếng Việt Mường chung sẽ tách ra làm hai bộ phận Bộ phận nằm sâu ở vùng núi và vùng sơn cước các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh ít bị ảnh hưởng của tiếng Hán hơn nên trở thành tiềng Mường, còn bộ phận ở vùng đồng bằngBắc Bộ thì do ảnh hưởng của Tiếng Hán mà dần dần tách thành tiếng Kinh( Việt) Sự tách đôi Việt- Mường cách đây trên 1000 năm Kể từ lúc này Tiếng Việt mới thật sự trở thành Tiếng Việt theo nghĩa ngôn ngữ học

Ý kiến thứ năm của giáo sư Nguyễn Thiện Giáp: Căn cứ vào những tài liệu mới được công bố gần đây, hiện nay có thể kết luận: Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt-Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon-Khmer, họ Nam Á

Trong nhóm Việt-Mường, ngoài tiếng Việt và tiếng Mường (Mường Sơn La, Mường

Thanh Hoá, Mường Nghệ An) còn có tiếng Nguồn cũng được coi là ngôn ngữ bà con gần nhất với tiếng Việt

Trong tiểu chi Việt Chứt, ngoài nhóm Việt-Mường còn có nhóm Pọng Chứt gồm các

ngôn ngữ Chứt, Pọng (bao gồm Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, Arem) ở vùng núi các tỉnh phía nam khu IV và các tiếng như Ahơ (Phon Soung), Maleng (Pakadan), Thà Vựng ở Lào Đây là những bà con xa hơn của tiếng Việt

Proto Việt Chứt, tức cái ngôn ngữ mẹ, chung cho cả nhóm Việt-Mường và Pọng Chứt, không tách trực tiếp từ proto Mon-Khmer mà tách ra từ khối proto Việt Katu Thời gian chia tách này xảy ra cách đây trên 4000 năm, địa bàn cư trú ban đầu của cư dân nói tiếng proto Việt Chứt là vùng kéo dài từ khu vực miền núi Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị sang đến Trung Lào Từ đó, một bộ phận cư dân đã vượt Trường Sơn, tràn

ra miền Bắc, cư trú ở các vùng cao Nghệ–Tĩnh, Thanh Hoá, Hoà Bình, Sơn La, Vĩnh Phú(1) Nếu bộ phận cư dân proto Việt Chứt ở lại quê hương cũ, vẫn giữ nguyên quan

hệ tiếp xúc với cư dân Katu, Bana, Khmer thì bộ phận cư dân proto Việt Chứt di cư ra Bắc lại có những quan hệ tiếp xúc mới với những cư dân nói ngôn ngữ thuộc họ Thái-Kađai (như tổ tiên của người Tày, người Nùng, ) Sự tiếp xúc với Thái-Thái-Kađai rất sâu đậm, tạo ra một sự hoà nhập về nhiều mặt trong huyết thống, trong văn hoá vật chất cũng như tinh thần Sự diễn biến mạnh mẽ của tiếng Việt, tiếng Mường theo hướng từ

bỏ nhiều nét Mon-Khmer vốn có trong nguồn gốc của mình để chuyển thành những ngôn ngữ hoàn toàn âm tiết tính như ngày nay cũng bắt nguồn từ sự tiếp xúc với loại hình họ Thái-Kađai Tiếp theo đó, một bộ phận cư dân Việt-Mường phía Bắc đã rời bỏ

Trang 6

đồi núi, toả về đồng bằng, sinh sôi, phát triển mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng Đó là tiền đề cho việc hình thành cái nối của vùng Kinh sau này(2)

Sự tiếp xúc với người Hán, tiếng Hán, văn hoá Hán đã xảy ra trước khi người Hán xâm

lược, nhưng để lại dấu ấn sâu đậm vẫn là sự tiếp xúc trực tiếp trong suốt 1000 năm Bắc thuộc Ảnh hưởng của tiếng Hán, nền văn hoá Hán không toả ra đồng đều trên lãnh thổ

bị chiếm đóng Ảnh hưởng đó ở vùng phía bắc sâu đậm hơn ở vùng phía nam, ở vùng đồng bằng sâu đậm hơn ở vùng núi Chính vì vậy, sự khác biệt vốn đã có giữa nhóm Pọng Chứt và nhóm Việt Mường ngày càng rõ nét và cuối cùng đã phân hoá thành hai nhóm ngôn ngữ các đây từ 2000 đến 2500 năm Trong nội bộ nhóm Việt-Mường về sau lại phân hoá thành tiếng Việt(3) ở miền châu thổ sông Hồng và tiếng Mường ở miền thượng du Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ Sự phân hoá này diễn ra cách đây từ 1000 đến

1500 năm

Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ Mối quan hệ với tiếng Hán không còn là quan hệ trực tiếp như trước nữa Mặc dù nhà nước phong biến Việt Nam vẫn

duy trì việc sử dụng chữ Hán, coi chữ Hán là văn tự chính thức, việc tổ chức học hành, thi cử bằng chữ Hán ngày càng có quy mô, nhưng tiếng Hán không còn là sinh ngữ như trước nữa Từ đây tiếng Việt diễn biến theo quy luật nội tại, nó còn bắt cả kho từ ngữ gốc Hán diễn biến theo quy luật của mình

Khi nước nhà giành được độc lập, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng

nói Đây là một loại chữ được tạo ra theo nguyên tắc và trên cơ sở của tiếng Hán Bên cạnh nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Hán, theo truyền thống Hán, còn có một nền văn hiến dân tộc viết bằng chữ Nôm ngày càng phát triển

Cũng từ đó, vai trò của tiếng Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ Mặc dù nó không được coi là ngôn ngữ chính thức dùng ở công văn, giấy tờ, học hành, thi cử, nhưng

trong thực tế, nó vẫn trở thành ngôn ngữ có uy thế nhất trong toàn bộ lãnh thổ Tác

dụng của tiếng Việt bắt đầu toả ra mạnh mẽ đối với các vùng ngôn ngữ thiểu số Lúc đầu chỉ là ở phía bắc, về sau, với đà nam tiến ồ ạt, liên tục của người Việt, ảnh hưởng

đó ngày càng lan rộng Bước đầu, nó lan truyền đến địa bàn khu IV, hình thành phương ngữ khu IV Sau đó tiếng Việt lại nam tiến, tạo điều kiện hình thành một phương ngữ mới là tiếng miền Nam Hai phương ngữ mới này có hoàn cảnh hình thành khác nhau,

do đó có những đặc trưng khác nhau

Sự hình thành chữ quốc ngữ gắn liền với sự truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây.

Chữ quốc ngữ là một thứ chữ được xây dựng theo nguyên tắc ghi âm bằng chữ Latin Loại chữ này được dùng phổ biến từ rất lâu ở châu Âu Đến thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đem nguyên tắc ấy dùng vào việc ghi âm tiếng Việt, tạo ra một thứ chữ

Trang 7

thuận lợi hơn đối với mục đích truyền đạo Mấy thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ chỉ được dùng hạn chế trong những kinh bổn đạo Thiên Chúa

Sự áp đặt chế độ thuộc địa Pháp đưa đến việc bãi bỏ việc học, việc thi cử, việc dùng

chữ Hán; đưa đến sự thắng lợi của chữ quốc ngữ Buổi đầu nhân dân lạnh nhạt với chữ quốc ngữ, mặc dù một số trí trức "Tây học" đã ra sức cổ động cho nó(4) Thái độ lạnh nhạt ấy thay đổi từ khi hình thành các phong trào đấu tranh văn hoá có ý nghĩa chính trị như phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở đầu thế kỉ XX Những người lãnh đạo phong trào đưa việc dùng chữ quốc ngữ lên hàng đầu trong sáu biện pháp của bản sách

lược gọi là Văn minh tân học sách (1907) và lên tiếng kêu gọi đồng bào vì tương lai

của đất nước mà nên dùng thứ chữ tiện lợi ấy Những tài liệu văn hoá bằng chữ quốc ngữ do phong trào này phát hành đã được phổ biến khá rộng Mặt khác, sự tiếp xúc với

tiếng Pháp, với nền văn hoá Pháp đã dẫn đến sự hình thành nền báo chí Việt Nam bằng chữ quốc ngữ, nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sự đổi mới trong thơ ca, những tiếp thu

về từ vựng, ngữ pháp.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện,

có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào tình thế ngôn ngữ, tức là thế tương quan giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau đã phân kì lịch sử phát triển của tiếng Việt như sau(5):

A

Giai đoạn proto

Việt

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu

ngữ của lãnh đạo)

- 1 văn tự: chữ Hán

Vào khoảng thế kỉ VIII, X

B Giai đoạn tiếng

Việt tiền cổ

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu

ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán

- 1 văn tự: chữ Hán

Vào khoảng thế kỉ X–XII

C Giai đoạn tiếng

Việt cổ

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn

- 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm

Vào khoảng thế kỉ XIII–XVI

D

Giai đoạn tiếng

Việt trung đại

- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn

- 3 văn tự: chữ Hán, chữ Nôm và

chữ quốc ngữ

Vào khoảng thế kỉ XVII, XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX

E Giai đoạn tiếng - Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Vào thời Pháp thuộc

Trang 8

Việt cận đại Việt và văn ngôn Hán

- 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, quốc

ngữ

F Giai đoạn tiếng

Việt hiện đại

- Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt

- 1 văn tự: chữ quốc ngữ

Từ năm 1945 trở đi

3 Về cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt qua hai bài báo của A.G Haudricourt

3.1 Lập luận của A.G Haudricourt trong việc chứng minh nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt

Trong hai năm 1953 và 1954, A.G Haudricourt đã lần lượt công bố hai bài báo quan

trọng:

- Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt

- Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt

Với hai bài báo này, ông đề nghị phải xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á, chứ không phải là họ Thái như H Maspéro đã đề nghị Cần phải nói ngay rằng, A.G Haudricourt không phải là người đầu tiên nêu ra quan điểm xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam Á Mà, như đã trình bày ở trên, quan điểm này đã được đề xuất từ năm 1856,

và hiện nay, đây là quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình nhất bởi cơ sở khoa học của nó Trong số những ý kiến ủng hộ đó, có thể coi lập luận của Haudricourt là đầy đủ nhất và là những lí lẽ đại diện cho cách phân loại này Hơn thế nữa, qua lập luận của Haudricourt chúng ta còn có thể rút ra được những cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt

Thứ nhất, về vấn đề từ vựng Sau khi tiến hành khảo sát lại nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Việt mà Maspéro đã dẫn ra để làm chứng cứ trong công trình so sánh của ông, Haudricourt đã chỉ ra rằng nhóm từ ấy về cơ bản là những từ thuộc về Mon-Khmer, chứ không phải là vừa gốc Thái vừa gốc Mon-Khmer như Maspéro đã chỉ ra

Vì vậy, trên phương diện từ vựng, quan hệ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Thái là quan hệ vay mượn

Trang 9

Thứ hai, về vấn đề ngữ pháp, cụ thể là vấn đề cấu tạo từ bằng phương thức phụ tố Hiện nay người ta vẫn nhận thấy dấu vết của phương thức này Ví dụ điển hình là cặp

từ giết – chết:

kchết xát hoá > giết

Ngoài ra, còn có một số cặp từ khác: cọc-nọc, kẹp-nẹp, con-non…

Qua những cặp từ như vậy, chúng ta có thể chứng minh chúng là hệ quả của phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố còn lưu giữ trong các ngôn ngữ Mon-Khmer Tuy nhiên, điểm lập luận này, đối với Haudricourt, không phải là quan trọng nhất

Điểm quan trọng ở đây chính là vấn đề thanh điệu Haudricourt cho rằng, việc hiện nay tiếng Việt có hệ thống thanh điệu giống như tiếng Thái còn các ngôn ngữ Mon-Khmer không thanh điệu chưa nói lên điều gì về nguồn gốc Bởi hệ thống thanh điệu có thể

xuất hiện, có thể mất đi trong lịch sử của một ngôn ngữ Hơn nữa, theo V.B Kasevich,

ở một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Tây Phi tuy chúng đều có thanh điệu và thậm chí

có những điểm giống nhau đến kì lạ về ngữ pháp nhưng “tuyệt đối rõ ràng là những

ngôn ngữ này không phải là họ hàng” (tr.198).

Theo Haudricourt, thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có, nói cách khác, trước

đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu và hiện nay nó là một ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái Chính vì điều này mà Haudricourt đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon-Khmer:

- Giữa thanh điệu và phụ âm đầu có liên quan chặt chẽ đến nhau theo hướng các phụ

âm đầu tắc vô thanh tương ứng với một thanh có âm vực cao, còn những phụ âm đầu hữu thanh thì tương ứng với thanh điệu có âm vực thấp

- Thanh điệu tiếng Việt có sự tương ứng với cách kết thúc âm tiết:

+ Hai thanh ngang-huyền: âm tiết mở;

+ Hai thanh hỏi-ngã: âm cuối xát;

+ Hai thanh sắc-nặng: âm cuối tắc yết hầu.

Và cuối cùng, dựa trên kết quả phục nguyên, Haudricourt đã đưa ra sơ đồ về nguồn gốc

các thanh trong tiếng Việt như sau:

Trang 10

Đầu công nguyên

(không thanh)

Thế kỉ thứ VI (ba thanh)

Thế kỉ XII (sáu thanh) Ngày nay

Sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt

Từ những lí lẽ trên, A.G Haudricourt đã khẳng định: “tốt nhất là chỉ nên xếp tiếng Việt là thành viên của nhánh Mon-Khmer thuộc họ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay”.

III- Ph n k t lu n ần mở ết luận ận

Tiếng Việt, hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với gần ba triệu người Việt hải ngoại, mà phần lớn là người Mỹ gốc Việt Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc

hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại) Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, cùng các dấu thanh để viết

Ngày đăng: 19/10/2014, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt - BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN CHUYÊN ĐỂ TÌM HIỂU TIẾNG VIỆT LỊCH SỬ
Sơ đồ v ề nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w