Các kết quả ñiều tra của Đào Thị Lan Hoa 2000 [8] và Trần kim Loang 2006 [10] cho thấy tỷ lệ cây tiêu bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá do tuyến trùng của các vườn tiêu trồng trên trụ số
Trang 1TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
Trang 2TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
Chuyên ngành: Kỹ thuật trồng trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Kim Loang
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
Trang 3MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây tiêu là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp Trong những năm gần ñây diện tích
hồ tiêu ngày càng ñược mở rộng và trồng tại nhiều vùng ở nước ta
Theo ñịnh hướng phát triển cây hồ tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ñến năm 2010 thì diện tích hồ tiêu của nước ta khoảng 42.000 ha, sản lượng khoảng 70.000 - 80.000 tấn tiêu ñen Tuy nhiên, ñến năm 2004, diện tích trồng tiêu của cả nước ñã lên ñến trên 50.000 ha với sản lượng trên 85.000 tấn, trong ñó ở Tây Nguyên là 15.000 ha ñứng thứ hai sau vùng Đông Nam bộ (Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam, 2003) Đến năm 2007, tổng diện tích hồ tiêu khoảng 48.000 ha, giảm 2.000 ha so với năm 2006, chủ yếu tiêu chết do sâu, bệnh hại; trong ñó diện tích tiêu cho thu hoạch khoảng 42.000 ha, năng suất bình quân ñạt 19,8 tạ/ha, giảm 2,4 tạ/ha; sản lượng ñạt 83.000 tấn, giảm 17.000 tấn (17 %) so với năm 2006 (Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, 2008)
ĐắkLắk là một trong những tỉnh ở Tây nguyên có tiềm năng lớn về ñất ñai
và ñiều kiện khí hậu thích hợp cho phát triển sản xuất những cây trồng chủ lực, có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao trong ñó có cây hồ tiêu Trong những năm gần ñây, sản xuất hồ tiêu tại ĐắkLắk phát triển rất nhanh Chỉ trong vòng 8 năm từ năm
2000 ñến năm 2008, diện tích trồng hồ tiêu tại ĐắkLắk tăng gấp 3 lần (khoảng 1.500 ha vào năm 2000 và trên 4.700 ha vào năm 2008), sản lượng tăng gấp 10 lần [6] Tuy nhiên, từ năm 2005 trở lại ñây, chỉ số phát triển về sản lượng so với năm trước giảm dần (khoảng 240 % trong năm 2005 và trong năm 2008 chỉ ñạt 100 %) Điều này cho thấy việc sản xuất hồ tiêu tại ĐắkLắk hiện nay không bền vững Nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở nước ta cho thấy, sâu bệnh là một trong những nguyên nhân chính của việc giảm diện tích và sản lượng các vườn tiêu Bên cạnh ñó là sự tác ñộng không hợp lý và không ñồng bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác trên ñồng ruộng dẫn ñến sự mất cân bằng trong sinh thái Vấn ñề ñang
Trang 4làm người trồng tiêu ñang quan tâm và lo ngại nhất hiện nay là giữ cho năng suất vườn tiêu ñược ổn ñịnh, hạn chế ñược các loại sâu bệnh hại nguy hiểm mang tính hủy diệt vườn tiêu Kinh nghiệm trồng tiêu ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy các loại sâu bệnh phát sinh từ ñất khó có thể phòng trừ bằng biện pháp hoá học ñơn ñộc mà các kỹ thuật quản lý cây trồng tổng hợp thường có hiệu quả hơn Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu ñể bổ sung các kỹ thuật canh tác tổng hợp và biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trên cây tiêu là ñiều cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành ñề tài: “Điều tra,
nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu (Piper nigrum L.)
theo hướng bền vững tại ĐắkLắk”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác ñịnh các biện pháp kỹ thuật chủ yếu, ñặc biệt là trong quản lý bệnh hại tiêu ñể góp phần ổn ñịnh năng suất và ñảm bảo tính bền vững trong canh tác
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY HỒ TIÊU
1.1.1 Điều kiện khí hậu
* Phân bố ñịa lý
Hồ tiêu mọc hoang ở rừng thường xanh nhiệt ñới bang Tây Ghats và vùng phụ cận, thường là ở vùng ñồng bằng và ít khi ñược tìm thấy ở ñộ cao trên 1500m Ở vùng Châu Á-Thái Bình Dương, hồ tiêu ñược trồng nhiều ở Ấn Độ, Hải Nam (Trung Quốc), Indonesia, Malaysia, Sri Lanka, Thái Lan, Việt Nam và một ít ở Campuchia Ngoài vùng này hồ tiêu còn ñược trồng phổ biến ở Brazil và Madagascar [55] Ngay cả ở vùng nhiệt ñới, cây tiêu thường ñược trồng tập trung ở những nơi có khí hậu nóng, ẩm Yêu cầu ñặc trưng về mặt khí hậu của cây hồ tiêu là lượng mưa khá, nhiệt ñộ không thay ñổi nhiều, ẩm ñộ cao, ñộ dài ngày không chênh lệch nhiều giữa các mùa trong năm
Chevalier (1925) cho rằng hồ tiêu là cây trồng vùng xích ñạo ẩm, thường ít khi vượt quá vĩ ñộ 15o Bắc và Nam Tuy nhiên Biard và Roule (1942) tranh luận là
hồ tiêu vẫn ñược trồng ở Quảng Trị và Nghệ An vùng Trung Bộ, ở vĩ ñộ trên dưới
200 Ở Quảng Trị tiêu sinh trưởng tốt, trong khi ở Nghệ An tiêu phát triển có chậm trong mùa ñông (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005 ) [21]
Hiện nay hồ tiêu ñược trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích ñạo trong khoảng từ 200 vĩ Bắc và Nam Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Srilanka, Madagascar, Brazil là các nước có diện tích và sản lượng hồ tiêu ñáng
kể Tại Việt Nam, hồ tiêu ñược trồng phổ biến từ tỉnh Quảng Trị trở vào phía Nam, thích hợp ở ñộ cao 800 m, lên cao hơn tiêu phát triển kém [21]
* Nhiệt ñộ
Hồ tiêu thích nghi tốt với khí hậu ôn hoà, không chịu ñược nhiệt ñộ thay ñổi nhiều, nhiệt ñộ thấp nhất khoảng 10 0C, thích hợp nhất trong khoảng 20 - 30 0C, nhiệt ñộ ñất ở ñộ sâu 30 cm trong khoảng 25 - 28 0C [54]
Trang 6* Lượng mưa
Hồ tiêu thích hợp trong ñiều kiện mưa ñều, lượng mưa hàng năm trong khoảng 1.000 - 3.000 mm, lượng mưa lý tưởng cho cây tiêu sinh trưởng và phát triển là 1.250 - 2.500 mm, tuy nhiên cây tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường trong vùng ít mưa nhưng phân bố ñều Phân bố lượng mưa, tình trạng thoát nước và khả năng giữ ẩm của ñất ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu hơn là tổng lượng mưa Lượng mưa khá là ñiều thuận lợi nếu ñất thoát nước tốt, ngược lại tiêu dễ bị bệnh Khô hạn cũng là một yếu tố giới hạn sinh trưởng và phát triển của cây tiêu [17]
* Ẩm ñộ
Khí hậu nóng ẩm là ñiều kiện thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây tiêu nhưng ẩm ñộ cao liên tục lại hạn chế sinh trưởng cây tiêu và tạo ñiều kiện cho sâu bệnh phát sinh Cây tiêu chịu ñược ẩm ñộ khoảng 63 % trong mùa khô và 98 % trong mùa mưa [55]
* Ánh sáng
Tiêu là cây ưa bóng trong giai ñoạn cây con, ánh sáng tán xạ thích hợp cho yêu cầu sinh trưởng, phát dục và phân hoá mầm hoa Giai ñoạn tiêu ra hoa ñậu quả, nuôi quả ñến khi quả chín cây tiêu cần nhiều ánh sáng [17], [22] Việc
có ñủ ánh sáng trong giai ñoạn nuôi quả giúp giảm rụng quả non và tăng dung trọng hạt tiêu [61]
* Chế ñộ gió: Cây tiêu thích hợp với môi trường lặng gió và gió nhẹ
1.1.2 Điều kiện ñất ñai
Theo Phan Hữu trinh và cộng sự (1988) [22], Phan Quốc Sủng (2000) [17] và Sadanandan (2000) [55] ñất thích hợp cho cây tiêu cần có các ñặc tính:
* Lý tính: Tầng ñất canh tác trên 80 cm, có mực nước ngầm sâu trên 2 m,
tơi xốp, có khả năng giữ nước tốt, thành phần cơ giới từ nhẹ ñến trung bình, dễ thoát nước vào mùa mưa;
* Hoá tính: pH 5,5 - 6,5, tối thiểu 4,5 nhưng cần bón vôi ñể nâng lên trên
5, giàu N, K và Mg, khả năng trao ñổi cation ở mức 20 - 30 meq/100g ñất, tỉ lệ
Trang 7C/N ở tầng ñất canh tác cao (15 - 25)
Ở Ấn Độ tiêu ñược trồng trên ñất Alfisols (70 %), Mollisol (10 %), Oxisols (6 %) và Entisols (4 %) (trích dẫn từ Sadanandan, 2000) [55] Ở Sarawak (Malaysia) tiêu ñược trồng trên ñất phù sa, nhiều chất hữu cơ hoặc trên vùng ñất sét pha cát [46] Ở Bangka (Indonesia) tiêu ñược trồng trên ñất Podzolic vàng ñỏ và ñất cát pha sét [54]
Có thể trồng tiêu trên nhiều loại ñất khác nhau với yêu cầu: Đất dễ thoát nước, ñộ dốc dưới 5 %, không bị úng ngập; tầng canh tác dày trên 70 cm, mạch nước ngầm sâu hơn 2 m; ñất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ ñến trung bình,
pHKCl 5 - 6 [15]
1.2 GIỐNG HỒ TIÊU
Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) thuộc họ Piperaceae, có nguồn gốc từ bang
Tây Ghats (Ấn Độ), có lẽ ñã ñược trồng cách nay khoảng 6000 năm [56], [53] Tuy nhiên Chevalier (1925) cho biết cây tiêu chắc chắn l.à cây bản ñịa ở Đông Dương, bằng chứng là Balanca ñã tìm thấy tiêu dại ở vùng núi Ba Vì, miền Bắc Việt Nam Ở Campuchia, người Stiêng ñôi khi cũng thu hoạch tiêu trong rừng (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Các giống tiêu trồng có thể có nguồn gốc từ các giống tiêu mọc hoang, ñược thuần hoá và tuyển chọn qua rất nhiều ñời trong khoảng thời gian dài Trong
số hơn 100 giống tiêu ñược biết ñến, có một số giống ñã và ñang dần mất ñi trong sản xuất bởi nhiều lý do, chẳng hạn bị loại bỏ vì nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhất là bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến trùng, các giống tiêu bản ñịa dần dần ñược thay thế bằng một vài giống tiêu cao sản trong sản xuất ñại trà [53]
Việc phân ñịnh giống dựa vào phân tích nhiễm sắc thể rất tốn kém và không phải lúc nào cũng có ñiều kiện thực hiện Viện Nghiên cứu Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế ñưa ra bảng chỉ dẫn dựa vào các chỉ tiêu hình thái ñể nhận diện giống tiêu, bao gồm 29 chỉ tiêu về thân, lá và các ñặc tính sinh trưởng,
30 chỉ tiêu về gié và quả (hạt tươi) và sáu chỉ tiêu về hạt (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Trang 8Ravindran và cộng sự đã tiến hành phân tích hợp phần chính (principal component analysis) để phân định nhĩm giống hồ tiêu, xác định được tám hợp phần chính bao gồm:
1 Chỉ số kích thước lá, chiều dài lá, chiều rộng lá
2 Độ dày lá, độ dày biểu bì dưới lá, độ dày biểu bì trên lá
3 Tỉ lệ chiều dài lá/chiều dài gié, chiều dài gié, chiều dài cuống gié
4 Chiều dài và chiều rộng tế bào bảo vệ (guard cell)
5 Kích thước quả và hình dạng quả
6 Hình dạng lá và phía gốc lá
7 Tần suất khí khổng và mật độ diệp lục
8 Hình dạng lá ở cành cho quả và hình dạng lá ở cành bị (dây lươn) Trong 51 giống được phân tích, kết quả cho thấy cĩ 28 giống nằm chung một nhĩm, và điều đáng lưu ý là Panniyur 1 nằm vào một nhĩm riêng (trích dẫn
từ Ravindran và cộng sự, 2000) [53]
Kết quả điều tra trong sản xuất được tiến hành bởi Viện Nghiên cứu cây Gia vị Ấn Độ cho thấy chỉ riêng ở Ấn Độ đã cĩ 38 giống tiêu được trồng phổ biến và 63 giống khác được phát hiện [42]
Viện Nghiên cứu Gia vị Ấn Độ đã tiến hành chương trình tuyển chọn và lai tạo giống hồ tiêu từ năm 1953 với mục đích chọn tạo được các giống tiêu cĩ khả năng cho năng suất cao và kháng được sâu bệnh Viện đã đưa vào sản xuất giống tiêu lai Panniyur-1 cho năng suất cao và chống chịu tốt bệnh chết nhanh,
và đang khu vực hố hai giống Panniyur-2 và Panniyur-3 Hiện IISR đang trồng bảo quản và theo dõi tập đồn 2.300 ký hiệu giống bao gồm cả 940 ký hiệu tiêu hoang dại [43]
Sim và cộng sự (1993) cho biết cĩ ba giống tiêu được trồng nhiều ở Malaysia, trong đĩ Kuching là giống được trồng phổ biến nhất, cho năng suất
khá cao nhưng dễ nhiễm bệnh chết nhanh (do nấm Phytophthora sp.) Năm 1988
và năm 1991, trung tâm Sarawak đã phĩng thích thêm hai giống là Semongok perak và Semongok emas Hai giống này cho quả sớm sau khi trồng và kháng
Trang 9ñược bệnh thán thư, ngoài ra Semongok emas còn có ưu ñiểm ra hoa tập trung, chín ñồng ñều hơn, chỉ cần thu hoạch 2-3 lần, so với Kuching phải thu 4-6 lần Semongok perak tuy có phẩm chất thơm ngon, năng suất cao trong những năm ñầu kinh doanh nhưng kém bền vững sau vụ thứ ba vì dễ nhiễm bệnh chết nhanh (trích dẫn từ từ Paulus and Wong, 2000) [50]
Ở Indonesia, bên cạnh giống Bangka cho năng suất cao và ñược trồng phổ biến, còn có giống Belangtoeng cho năng suất trung bình, ba giống chống chịu tốt bệnh chết nhanh là Banjarmasin, Duantebei và Merefin, và hai giống chọn lọc cho năng suất cao ñược phổ biến trong sản xuất giữa thập niên 1990 là Natar 1 và Natar 2 (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Tại Việt Nam, giống hồ tiêu ñược nhập nội, chọn lọc và phát triển nhiều trong thập niên 1940 - 1950 [17], [22] Kể từ thập niên 1960 công tác nghiên cứu
về giống tiêu không ñược tiến hành liên tục
Năm 1947, giống Lada Belangtoeng có nguồn gốc Indonesia ñược nhập vào nước ta từ Madagascar, ñược xem là giống có nhiều triển vọng và có khả năng chống bệnh thối rễ [22]
Năm 1950, Nha Khảo cứu và Sưu tầm Nông Lâm Súc Miền Nam Việt Nam ñã khảo nghiệm việc trồng tiêu trên cao nguyên Bảo Lộc có ñộ cao trên 500m so với mặt biển [1] Sau sáu năm khảo nghiệm tác giả này ñã khẳng ñịnh tiêu hoàn toàn có thể sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất khá cao dưới ñiều kiện khí hậu cao nguyên nước ta Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của sáu giống tiêu: Srechea, Kampot (từ Campuchia), tiêu Quảng Trị, tiêu Sơn (Pleiku), tiêu Di Linh và giống Lada Belangtoeng, tác giả ñã kết luận giống Lada Belangtoeng tỏ ra hợp khí hậu vùng Bảo Lộc, sinh trưởng khỏe, ít bệnh tật, chùm tiêu dài, thơm cay, năm giống còn lại ít thích hợp hơn
Năm 1960 giống Lada Belangtoeng ñược ñưa ra trồng ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và giống cũng tỏ ra thích nghi với khí hậu vùng này, có nhiều ưu ñiểm
về sinh trưởng, năng suất và chống ñỡ bệnh tật hơn giống Quảng Trị [26]
Theo Trần Văn Hoà và cộng sự, (2001) [7] các giống tiêu có triển vọng
Trang 10phát triển ở nước ta gồm giống Sẻ ñịa phương vùng Đông Nam Bộ, các giống nhập từ Campuchia qua ñường Hà Tiên là Sréchéa, Kamchay, Kampot, Kep, giống Lada Belangtoeng từ Indonesia và Panniyur-1 từ Ấn Độ
Khi nói ñến triển vọng cây tiêu xuất khẩu ở Miền Nam Việt Nam, Tappan (1972) khuyến cáo nên du nhập bốn giống có ưu thế, gồm Balancotta và Kalluvalli gốc Ấn Độ cho năng suất cao và hạt lớn, Kuching gốc Malaysia cho năng suất cao, Lada Belangtoeng gốc Indonesia sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt bệnh thối rễ Chỉ trừ giống Lada Belangtoeng ñược nhập vào trồng khảo nghiệm ở nhiều vùng trong nước, các giống khác chưa ñược quan tâm nhập nội khảo sát một cách chính thức (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Các giống tiêu ñược trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống ñịa phương hoặc du nhập từ ñịa phương khác, giống thường mang tên ñịa phương có trồng nhiều hoặc ñịa phương xuất
xứ, do vậy có khi một giống tiêu ñược mang nhiều tên khác nhau, nhiều giống/dòng tiêu khác nhau lại mang cùng một tên Các giống ñược trồng phổ biến có thể phân thành ba nhóm dựa trên các ñặc tính hình thái, chủ yếu là kích
cỡ lá [21]:
1) Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu sẻ, gồm phần lớn các giống tiêu ñược trồng phổ biến ở nhiều ñịa phương, trong ñó có các giống: Vĩnh Linh (Quảng Trị), Tiêu Sơn (Gia Lai), Di Linh (Lâm Đồng), Sẻ Đất ñỏ (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang), Nam Vang (nhập nội từ Campuchia, gồm ba giống Kamchay, Kep và Kampot)
2) Tiêu lá trung bình gồm chủ yếu các giống tiêu nhập nội từ Madagascar,
Ấn Độ và Indonesia như: Lada Belangtoeng, Karimunda, Panniyur và Kuching
3) Tiêu lá lớn còn gọi là tiêu trâu như các giống Sẽ mỡ, Trâu Đất ñỏ (Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu)
Trong số các giống trên, giống Lada Belangtoeng ñược trồng phổ biến nhất, ñặc biệt là ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên [17] Có thể một số giống tiêu
có tên gọi khác nhau ở một số ñịa phương có nguồn gốc từ giống Lada
Trang 11Belangtoeng
Các số liệu ñiều tra của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy các giống tiêu trồng phổ biến hiện nay tại ĐắkLắk là Vĩnh Linh, Lộc Ninh, Trâu và Sẻ mở Năng suất bình quân của các giống tiêu này biến ñộng trong khoảng 2,35 - 3,80 tấn tiêu ñen/ha, trong ñó giống có năng suất thấp nhất là tiêu Trâu, còn giống có năng suất cao nhất là tiêu Vĩnh Linh [15] Tuy nhiên tất cả các giống này ñều bị nhiễm bệnh héo chết nhanh do nấm
Ấn Độ, ưa ánh sáng tán xạ vì vậy che bóng là yếu tố cần thiết ñể tạo môi trường
có tiểu khí hậu thích hợp với yêu cầu sinh thái của cây tiêu
Tại Ấn Độ cây trụ sống là loại trụ phổ biến nhất và cũng là loại trụ truyền thống ở nước này Một số cây trụ sống thường ñược sử dụng ở Ấn Độ là: Cây
vông (Erythrina indica), muồng ñen (Cassia siamea), muồng cườm (Adenanthera
pavoninal), mít (Artocarpus heterophylum), sồi lá bạc (Grevilea robusta), keo dậu
(Leucaena leucocephala) (trích dẫn từ Tôn nữ Tuấn Nam và cộng sự, 2005) Tại Srilanca, người ta sử dụng cây anh ñào (Gliricidia sepium) làm trụ sống cho cây
tiêu và thấy rằng vốn ñầu tư cho cây trụ thấp hơn hẳn các loại trụ khác như trụ
gỗ, trụ bê tông [41]
Trụ tiêu ở Indonesia là trụ gỗ, các bức tường gạch, một số vùng trồng tiêu với cây trụ sống như keo dậu, cây gòn và cây ăn quả Ở Sarawak (Malaysia), tiêu ñược trồng chủ yếu với trụ gỗ (thường ñược gọi là gỗ thép Borneo), hiện ñang có chương trình khuyến khích dùng trụ sống thay cho trụ gỗ (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Tại những vùng trồng tiêu lâu ñời ở Việt Nam nông dân thường ưa sử
Trang 12dụng trụ gỗ vì cho rằng tiêu leo bám dễ dàng, không bị cạnh tranh về nước, dinh dưỡng, ánh sáng như khi trồng trụ sống và không bị nóng làm tiêu tàn lụi sớm như khi trồng với trụ bê-tông hoặc bồn gạch xây Tuy vậy, thực tế sản xuất hiện nay cho thấy tiêu có thể ñạt ñược năng suất cao trên tất cả các loại trụ, miễn là có
chế ñộ chăm sóc phù hợp Các loại trụ sống rất phong phú như vông (Erythrina spp.), keo (Leucena leucocephala), lồng mức (Wrightia annamensis), ñỗ quyên (Glyricidia sepium), mít (Artocarpus heterophyllus), muồng cườm (Adenanthera
povonina), cóc rừng (Spondias pinnata) và gòn (Ceiba spp.) ñang ñược sử dụng ở
nhiều vùng trồng tiêu trọng ñiểm hiện nay như Đăk Lăk, Bình Phước, Quảng Trị
và Phú Yên Đặc biệt ở Quảng Trị do có gió Lào khô nóng, cây trụ sống tỏ ra ñặc biệt thích hợp cho việc trồng tiêu, các thử nghiệm trồng tiêu trên trụ bê-tông và bồn gạch không mấy thành công ở vùng này
Kết quả ñiều tra của Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (2005) [15] cho thấy tại ĐắkLắk, năng suất tiêu ñược trồng trên trụ sống không thua kém năng suất tiêu trồng trên trụ gỗ Trịnh Xuân Hồng (2000) [9] và Phan Quốc Sủng (2000) [17] cũng cho thấy trồng tiêu trên trụ sống còn giảm ñược chi phí ñầu tư, chăm sóc; mô hình trồng xen tiêu trong vườn cà phê với trụ sống của tiêu là cây che bóng cho cà phê ngày càng ñược nhân rộng vì ñã mang lại hiệu quả kinh tế cao Các kết quả ñiều tra của Đào Thị Lan Hoa (2000) [8] và Trần kim Loang (2006) [10] cho thấy tỷ lệ cây tiêu bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá do tuyến trùng của các vườn tiêu trồng trên trụ sống thấp hơn các vườn trồng trên trụ chết
1.3.2 Phân bón
Ở các vùng trồng tiêu lớn trên thế giới, chế ñộ phân bón ñược khuyến cáo cho cây hồ tiêu có khác nhau, căn cứ vào tính chất ñất cũng như khả năng năng suất hồ tiêu của từng vùng Tuy nhiên, mọi khuyến cáo về bón phân cho hồ tiêu ñều thống nhất cho rằng phân hữu cơ là loại phân cơ bản không thể thiếu ñược trong canh tác hồ tiêu
Kết quả nghiên cứu bón phân cho hồ tiêu ở Bangka (Indonesia) cho thấy rằng hàng năm cây hồ tiêu cần bổ sung lượng dinh dưỡng cho sự phát triển rễ,
Trang 13thân, lá, cành trên một hec-ta là: 90-180kg N, 6,5-13kg P2O5, 90-142kg K2O, 62kg Canxi, 9-19kg Mg Như vậy theo nghiên cứu này thì lượng phân cần cho một hec-ta hồ tiêu là: 143-243kg N, 10-27kg P2O5, 127-202kg K2O, 68-86kg Ca, 12-29kg Mg (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Wong (1986) (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21] ñã xác ñịnh với mật ñộ trồng 1.600 trụ/ha, mỗi năm vườn tiêu từ 3-8 tuổi hấp thu một lượng dinh dưỡng là 200kg N- 80kg P2O5-188kg K2O
Theo Dierolf và cộng sự (2001) [35], liều lượng N-P-K cân bằng cho vườn tiêu có năng suất 3 tấn/ha là 400N-200P2O5-500K2O kg/ha/năm, bón kèm
10 tấn phân hữu cơ và một lượng vôi nhất ñịnh Nghiên cứu lượng phân bón cho tiêu kinh doanh ở Bangka (Indonesia), Wahid và ctv (1990) khuyến cáo sử dụng phân hỗn hợp NPKMg 12-12-17-2 với lượng 400-600 g/trụ cộng với 500g dolomit, bón mỗi năm hai lần là thích hợp hơn cả
Theo tài liệu của tổ chức Krishiworld, tỷ lệ phân bón thích hợp bón cho tiêu ñầu kinh doanh là 1 N - 1,6 P2O5 - 0,6 K2O, ứng với mức bón 100-160-60 g/trụ/năm N-P2O5-K2O (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21] Trong một thí nghiệm cho hồ tiêu trên ñất ñỏ tại Nam Bahia (Brazil), các tác giả ñã xác ñịnh liều lượng N và P205 cho năng suất tiêu cao nhất là 132 kg N
và 240 kg P2O5, không thấy ảnh hưởng có ý nghĩa của phân kali ñến năng suất
hồ tiêu trong thí nghiệm này (Rafael và cộng sự, 1986) (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Nghiên cứu tương quan giữa dinh dưỡng lá và năng suất tiêu ñen (Nybe và cộng sự, 1989) [49] ñã xác ñịnh hai loại phân P và K ảnh hưởng mạnh nhất ñến năng suất tiêu
Theo khuyến cáo Hiệp hội Nghiên cứu cây gia vị Ấn ñộ, liều lượng phân bón áp dụng cho cây tiêu trên ñất ñỏ vùng nhiệt ñới có hàm lượng dinh dưỡng các nguyên tố chính trong ñất từ thấp ñến trung bình là 140g N, 55g P2O5, 270g
K2O kết hợp 600g vôi và 10kg phân chuồng/trụ/năm Tỷ lệ NPK ñược khuyến cáo áp dụng là 2,5 - 1 - 5, với mức bón lân thấp, kali gấp 2 lần phân ñạm (Indian
Trang 14spices, 2002) (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất ñiều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng ñến sự rụng gié quả và năng suất hồ tiêu cũng ñã ñược nhiều tác giả ñề cập Nồng ñộ thấp của chất 2,4-D kích thích quả tiêu phát triển Phun IAA ở nồng ñộ 50ppm, ZnSO4 ở nồng ñộ 0,5% làm giảm rụng gié là 63,6% và 48,4%
so với ñối chứng không phun Salvi và ctv (1988) ñã ghi nhận rằng phun chất ñiều hoà sinh trưởng làm giảm rụng gié, tăng trọng lượng quả và tăng hiệu quả kinh tế [38] Một nghiên cứu của IISR ñã chỉ ra rằng ñối với giống Subhakara và Sreekara bón 150-60-270 kg/ha N-P2O5-K2O kết hợp với Zn, B và Mo theo tỷ lệ 5:1:2 ñã cho năng suất hồ tiêu cao hơn không bổ sung vi lượng [42]
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy: với mật ñộ tiêu 1.750 cây/ha, hàng năm cây tiêu lấy ñi từ ñất khoảng 115kg N, 5kg P2O5, 120kg K2O
và 20kg MgO Do vậy các loại phân NPK tổng hợp có tỷ lệ 15-10-15, 18-12-18
và 18-6-18 là rất phù hợp trên cây tiêu
Theo khuyến cáo của Chính phủ Brazil (IPEAN, 1996) (trích dẫn từ Sadanandan, 2000) [55] lượng phân bón cho cây tiêu tùy thuộc vào khả năng cung cấp dinh dưỡng của ñất, ñặc biệt là dinh dưỡng lân và kali biến ñộng rất lớn giữa các loại ñất Nhưng nhìn chung, lượng phân trung bình cho tiêu là 200-300g NPK (12:12:17) + 500g dolomite + 300g lân nung chảy/cây/năm là hợp lý Với phân hữu cơ, có thể sử dụng 1-2kg khô dầu bông hoặc 3-5kg phân chuồng hoai/gốc/năm Cần sử dụng phân bón lá ñể bổ sung Mn, Mg, B và Mo thường xuyên cho nhu cầu của cây tiêu
Các nghiên cứu về chế ñộ bón phân cho cây hồ tiêu ở nước ta chưa nhiều Nguyễn Thị Thúy và Lương Đức Loan (1986) [20] nghiên cứu tác dụng của K
và Ca cho cây hồ tiêu trên ñất nâu ñỏ bazan ñã khẳng ñịnh vai trò của các yếu tố này ñối với năng suất tiêu Trên nền 100g N và 100g P2O5/trụ, mức bón K cho năng suất cao nhất là 120g K2O/trụ, tăng 51% năng suất so với ñối chứng không bón Nếu bón phối hợp K với vôi thì hiệu lực càng rõ hơn Mức bón 500g vôi + 120-240g K2O/gốc năng suất ñạt 2,01-2,21kg tiêu ñen/trụ Hiệu suất 1kg K2O
Trang 15ñạt từ 4,33-12,33kg tiêu ñen
Theo Trần Văn Hoà (2001) [7], lượng phân bón tùy thuộc vào ñất, giống
và tuổi cây, trong ñó phân hữu cơ ñóng vai trò quan trọng và tỷ lệ NPK phù hợp cho cây tiêu là (2:1:4) Lượng phân khoáng có thể chia 4 lần bón Lần 1 giúp cây phục hồi sau thu hoạch, lần 2 giúp thúc quá trình phân hóa mầm hoa (sau khi vào mùa mưa nửa tháng), lần 3 và 4 nhằm tăng ñậu quả và nuôi quả
Bảng 1.1 Khuyến cáo lượng phân bón cho cây hồ tiêu
Tuổi cây Phân chuồng
(kg/trụ)
N (g/trụ)
P2O5(g/trụ)
K2O (g/trụ) Năm thứ 1
Năm thứ 2
Năm thứ 3
10-20 15-20 15-20
Theo Lê Đức Niệm (2001) [16], lượng bón hàng năm phụ thuộc vào mật
ñộ và khoảng cách trồng:10kg phân chuồng hoai mục, 300 - 400g urê, 450 - 600g super lân, 200 - 250g clorua kali và 200 - 300g vôi/gốc/năm tương ñương
300 - 400kg N, 150 - 200kg P2O5 và 250 - 400kg K2O/ha/năm Phân chuồng, lân, vôi, 1/4 N và 1/4 K ñược bón sau khi thu hoạch, lượng N và K còn lại chia làm
ba lần bón vào ñầu, giữa và cuối mùa mưa
Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước ñều ñề cao vai trò của phân hữu cơ trong canh tác tiêu mặc dầu yêu cầu về phân bón vô cơ cho cây tiêu cũng khá cao Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự (2005) [21] tại
Bà Rịa Vũng Tàu cho thấy việc sử dụng các loại phân hữu cơ như phân bò, phân
gà, phân rác ñã hạn chế ñược sự phát triển của bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu
so với không bón phân Kết quả ñiều tra của Trần Kim Loang và cộng sự (2006) [10] cũng cho thấy các vườn tiêu thường xuyên ñược bón phân hữu cơ có mức
ñộ nhiễm bệnh héo chết nhanh thấp hơn các vườn không ñược bón phân hữư cơ Hiện nay nhiều hộ nông dân ñã sử dụng phân hữu cơ ñể bón thường xuyên cho cây tiêu nhất là những vùng ñầu tư thâm canh cao như Chư Sê (Gia Lai), Cư Jút
Trang 16(Đak Nông) với lượng 10 - 20 tấn/ ha/ năm
Nghiên cứu của Tôn Nữ Tuấn Nam và Bùi Văn Khánh (2004) [14] cho thấy, trên ñất ñỏ bazan, ñể ñảm bảo năng suất tiêu vào thời kỳ kinh doanh và ñạt hiệu quả kinh tế cao có thể áp dụng liều lượng phân khoáng 300kg N, 150kg
P205 và 225kg K20/ha/năm kết hợp với 40 m3 phân chuồng và phun phân bón lá Growmore 4 lần vào thời kỳ ra hoa ñậu quả Nếu thiếu nguồn phân chuồng có thể thay bằng các loại phân hữu cơ chế biến khác cũng có tác dụng tốt cho tiêu
1.3.3 Tỉa cành tạo tán
Kỹ thuật tạo tán ñể trụ tiêu có ñược hình dáng thích hợp và có nhiều cành mang quả là biện pháp kỹ thuật ñược quan tâm ở nhiều nước trồng tiêu Tùy theo vật liệu trồng ban ñầu là dây thân hay dây lươn (cành vượt) các biện pháp tạo hình cho tiêu có thể khác nhau Tiêu trồng bằng dây thân có thể dùng kỹ thuật cắt dây
ñể tạo hình trong khi ñó trồng bằng dây lươn thường ñược áp dụng kỹ thuật ñôn dây
Ở Malaysia, các nhà khoa học ñã khảo sát các kỹ thuật tạo hình theo ba phương pháp gọi là Kuching, Sarikei và Semongok, trong ñó tiêu ñược cắt dây thân một hay nhiều lần ñể tạo ñộ rậm rạp cần thiết Sau bảy năm thí nghiệm, người
ta ñã kết luận không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các phương pháp tạo hình mặc dù phương pháp Sarikei (dây thân ñược cắt một lần vào sáu tháng sau khi trồng sau ñó nuôi ba dây thân mới từ dây ñược cắt) cho năng suất trội hơn cả Chong và Shahmin (1981) [30] chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa về năng suất giữa các cây tiêu có 3, 4 hoặc 5 dây thân Trong một thí nghiệm khác, Chong và Yau (1985) [31] cho thấy trụ tiêu có năm dây thân cho năng suất cao hơn bảy hoặc chín dây thân Vì vậy số dây thân ñể lại cho một trụ tùy theo ñường kính trụ, thường 3-5 dây
Trong sản xuất hồ tiêu của nước ta hiện nay số dây thân ñược giữ lại trên trụ tùy theo mật ñộ trụ, kích thước trụ và tập quán canh tác của mỗi vùng Ở nhiều vùng trồng tiêu như Bình Phước, Đăk Lăk, Gia Lai, sau khi tiêu ñược cắt tạo hình một lần khi tiêu ñược 10-12 tháng tuổi thường ñể cho các mầm phát triển tự do
Trang 17thành dây thân mới và số dây thân có thể biến ñộng trong khoảng 6-15 dây trên trụ
gỗ, 20-40 dây trên trụ gạch xây Do ñặc tính ưa bóng nhẹ của hồ tiêu, nếu số dây thân trên trụ ít, không che chắn ñược nhau, tiêu có thể sinh trưởng kém, nhưng nếu
số dây thân quá dày, trong mùa mưa ñộ ẩm cao có thể là ñiều kiện tốt ñể nấm bệnh phát triển [21]
1.3.4 Tưới nước
Tiêu là loại cây thân leo có bộ rễ nông và phân bố hẹp nên rất mẫn cảm với nhu cầu nước tưới Thiếu nước tưới trong mùa khô hay bị úng nước trong mùa mưa ñều làm cho tiêu sinh trưởng kém, năng suất thấp hoặc bị chết
Nước tưới ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu, một nghiên cứu về ảnh hưởng của tưới nước trên giống tiêu Karimunda và Panniyur-1 từ năm 1988-
1996 ở Panniyur và Kerala (Ấn Độ) cho thấy tưới nước với tỷ lệ IW/CPE=0,25 làm tăng năng suất lên hơn 90% (Satheesan và cộng sự, 1997) (trích dẫn từ
Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Một nghiên cứu khác của IISR cũng cho thấy rằng lượng nước tưới cho một trụ tiêu từ 7-10 lít/ngày trong mùa khô sẽ ñạt năng suất cao nhất 4,07 kg/trụ/năm so với ñối chứng 1,33 kg/trụ/năm [42] Một mô hình tưới tiết kiệm nước trên tiêu tại Đồng Nai với chu kỳ tưới 3 ngày/lần, lượng nước tưới 20 lít/trụ/lần ñã ñược ñánh giá có hiệu quả cao so với ñối chứng [13] Đối với tưới nhỏ giọt, chu kỳ 3 ngày/lần, lượng nước tưới 280-320 lít/trụ/tháng là phù hợp nhất cho tiêu Sẻ 4-5 năm tuổi, trồng với khoảng cách 5 x 5 m [24] Kết quả ñiều tra khảo sát cũng cho thấy khi sử dụng hệ thống tưới phun dưới tán cho tiêu thì lượng nước tối ưu cần cho cây phát triển tốt từ 35-40 lít/trụ/lần tưới, trong khi tưới bồn truyền thống thì lượng nước tối ưu cần từ 100-120 lít/trụ/lần tưới Thực
tế chu kỳ tưới thay ñổi tuỳ thuộc vào ñộ bốc thoát hơi nước, lượng mưa hàng tháng và thời kỳ sinh trưởng của cây
Hệ thống vi tưới (micro-irrigation) ñược áp dụng từ thế kỷ 19 và phát triển mạnh trong những năm 60 khi chất dẻo Polyethylene ñược ứng dụng rộng rãi Sau ñó, việc bón phân qua hệ thống tưới (fertigation) cũng ñược ứng dụng ở
Trang 18các nước nông nghiệp phát triển nhằm tăng hiệu quả sử dụng và giảm chi phí bón phân Đây là kỹ thuật mũi nhọn giúp phát triển nông nghiệp ở những nơi gặp khó khăn nguồn nước như ở Úc, Nam Phi và Trung Đông Hiện nay hệ thống tưới tiết kiệm nước này ñược một số nhà vườn trồng tiêu ở nước ta sử dụng trên những khu vực khó khăn về nguồn nước tưới [24]
Mặc dầu tiêu là loại cây thân leo có bộ rễ ăn nông và phân bố hẹp nhưng nhiều nước trên thế giới trồng tiêu không tưới nước vì có lượng mưa phân bố tương ñối ñồng ñều trong năm, hơn nữa tập quán trồng tiêu dưới các loại cây thân gỗ rậm rạp dẫn ñến năng suất thấp và không có nhu cầu về tưới nước cho tiêu Tuy vậy ở Ấn Độ, thời kỳ khô hạn dài là yếu tố hạn chế năng suất hồ tiêu Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cây gia vị Ấn Độ ñã kết luận tưới nhỏ giọt với mức tưới 7 - 10 lít/ trụ/ ngày trong suốt mùa hè ñã làm năng suất tiêu tăng
200 % Tưới theo chu kỳ 1 tuần 1 lần trong suốt thời kỳ khô hạn với lượng nước
100 lít/trụ cũng có kết quả tương tự [42] Ở Thái Lan, tiêu ñược xem như là một loại cây trồng có tưới (Sadanandan, 2000) Tại Việt Nam, hiện nay hầu hết các vùng ñều trồng các giống tiêu có năng nuất cao và hầu như tất cả các vườn tiêu ñều ñược tưới nước ñể ñạt ñược năng suất cao [21]
1.3.5 Phòng trừ sâu bệnh
Sâu bệnh là vấn ñề ñầu tiên mà bất cứ người sản xuất nào cũng phải quan tâm khi muốn trồng tiêu Thành phần sâu bệnh trên cây tiêu rất phong phú và gây hại trên tất cả các bộ phận của cây, ñặc biệt là có một số sâu bệnh có thể hủy
diệt vườn cây như: bệnh héo chết nhanh do nấm Phytophthora spp., bệnh vàng lá chết chậm do tuyến trùng Meloidogyne spp., rệp sáp hại rễ, bệnh xoăn lùn do
virus
Nhóm côn trùng thường gây hại trực tiếp cho cây tiêu ñược ghi nhận là
rệp sáp Pseudococcus citri, rệp sáp giả Ferrisia virgata, Planococcus citri,
Lophobaris piperis; tuy nhiên các côn trùng gây hại còn mang thêm vai trò tác
nhân lan truyền các bệnh virus cho cây tiêu [32],[33],[37] Theo Gumbek (2002) [40] các côn trùng gây hại chính trên cây tiêu tại Sarawak (Malaysia) là sâu ñục
Trang 19thân Lophobaris piperis, bọ xít lưới Diconocoris hewitte, và bọ xít mép Dasynus
piperis
Tại Srilanca, theo Kularatne (2002) [45] các bệnh quan trọng nhất trên cây
tiêu gồm bệnh chết nhanh do Phytophthora, bệnh chết chậm do Fusarium, và bệnh lá nhỏ do virus Đối với bệnh chết nhanh nấm Phytophthora sp là tác nhân
gây bệnh chính Bệnh chết nhanh trước tiên ñược ghi nhận là do nấm
Phytophthora palmivora var piperis, nhưng sau ñó nấm ñược ñặt lại tên Phytophthora palmivora MF4 (Tsao và ctv., 1985) Tên nấm bệnh ñược
Alizadeh và Tsao (1985) ñã xác ñịnh lại chủng P palmivora MF4 phân lập từ cây ca cao và hồ tiêu với tên P capsici, theo nghĩa rộng, và cuối cùng là
Phytophthora capsici sensu lato (Tsao và Alizadeh, 1988) (trích dẫn từ Trần
Kim Loang và cộng sự, 2006) [10] Bệnh rất nguy hiểm, nấm gây bệnh tấn công trên tất cả các phần của cây tiêu, và ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây, trường hợp nấm bệnh tấn công vào rễ hoặc cổ rễ sẽ gây cây chết ñột ngột (chết
ẻo, hoặc héo rũ)
Sarma và cộng sự (1991) [51] cho rằng nguyên nhân gây bệnh thối gốc
trên cây hồ tiêu ở Ấn Độ là do Phytophthora capsici gây nên Tại Philippines
[52], Thái Lan [51] ñã phát hiện có sự xâm nhập và gây hại của loài
Phytophthora parasitica Tuy nhiên loài gây hại phổ biến vẫn là loài Phytophthora capsici Tại Việt Nam, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về tác nhân
gây bệnh chết nhanh trên cây tiêu Theo Phạm Văn Biên (1989) [2]
Phytophthora sp là một trong những tác nhân gây bệnh hại rễ và gốc thân cây
tiêu ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại hồ tiêu tại Tân Lâm (Quảng Trị) của Nguyễn Ngọc Châu (1995) [5] cho biết tác nhân gây bệnh héo chết nhanh là do nấm
Phytophthora palmivora var piperis Từ các mẫu rễ tiêu bị bệnh thu thập ñược
ở Long Khánh (Đồng Nai), Nguyễn Vĩnh Trường và cộng sự (2002) [23] ñã xác
ñịnh nấm gây bệnh cây tiêu tại các vùng này là Phytophthora capsici bằng kỹ
thuật sinh học phân tử Bằng phương pháp PCR và men cắt, Trần Kim Loang và
Trang 20cộng sự (2006) [10] bước ñầu ñã xác ñịnh ñược tại Tây Nguyên có loài
Phytophthora gây hại trên cây tiêu là P capsici và P palmivora
Theo Manohara và Sato (1992) [47] ở Ấn Độ, Malaysia, Indonesia bệnh
do nấm Phytophthora gây hại trên cây hồ tiêu là loại bệnh nghiêm trọng nhất Ở
Malaysia sự thiệt hại khoảng từ 5 - 10 %, tuy nhiên ở các vùng bị nhiễm bệnh nặng thì sự thiệt hại có thể lên ñến 95 % [44] Tại Việt Nam, các khảo sát của Nguyễn Đăng Long và Bùi Cách Tuyến (1987) [12] ở một số vùng trồng tiêu của Việt Nam cho thấy bệnh héo chết nhanh trên cây hồ tiêu xuất hiện hầu hết các ñịa phương trồng tiêu trong nước Năm 1985, sự thiệt hại ước tính ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai khoảng 65 %; huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là 30 %; huyện Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang là 4 % Đến năm 1987, ở xã Bình Giã, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai sự thiệt hại lên ñến 90 % Kết quả ñiều tra của Trần Kim Loang và cộng sự (2006) [10] cho thấy, có khoảng 25 - 83 % vườn tiêu tại ĐắkLắk, Đak Nông và Gia Lai bị bệnh héo chết nhanh
Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthora capsici, ñiều trị bằng
metalaxyl, hoặc acid phosphoric, fosetyl-Al rất có hiệu quả [48] Thuốc Phosacide 200 nồng ñộ 4% và Alliette 80WP nồng ñộ 0,2% có hiệu quả trừ bệnh
Phytophthora [25]
Anith và cộng sự (2002) [29] ñã thành công trong việc phân lập dòng vi
khuẩn ñối kháng với Phytophthora capsici từ vùng rễ cây tiêu, ñã chọn ñược chủng PN-026, có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong vườn ươm Theo Anandaraj và Sarma (2003) [28], dòng Pseudomonas
fluorescens IISR-51 có hiệu quả trên 50 % trong phòng trừ nấm Phytophthora capsici so với công thức ñối chứng Diby và cộng sự (2005) [36] thấy rằng ngoài
khả năng hạn chế sự phát triển của nấm P capsici gây hại cây tiêu, với hiệu lực phòng trừ trên 70 % trong ñiều kiện phòng thí nghiệm, nấm P fluorescens còn
có khả năng kích thích sinh trưởng cây tiêu với hiệu quả trên 57 % trong ñiều kiện nhà lưới Tại Việt Nam, Trần Thị Thu Hà và cộng sự (2008) [59] nghiên cứu tính ñối kháng của 5 dòng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens phân lập từ
Trang 21vùng rễ cây tiêu tại Quảng Trị ñã chọn ñược 1 dòng có khả năng ức chế hoạt
ñộng của nấm Phytophthora gây bệnh chết nhanh cây tiêu, các tác giả cũng ñã
khẳng ñịnh khả năng kích thích sinh trưởng, khả năng mọc rễ của dòng vi khuẩn này ñối với cây tiêu trong ñiều kiện nhà lưới
Nhiều loài nấm ñối kháng ñã ñược các tác giả trong và ngoài nước khuyến
cáo sử dụng ñể hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora gây bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu như: Trichoderma, Gliocladium… Theo kết quả nghiên cứu của Witkowska và cộng sự (2002) [60], tất cả các dòng Trichoderma ñược ñánh
giá ñều ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh trên cây trồng, và những thử nghiệm cũng cho thấy những enzyme thủy phân ñóng vai trò trong sự ức chế
sự phát triển của nấm bệnh Hiện nay tại Mỹ, các chế phẩm PlantshieldTM và
RootshieldTM từ loài Trichoderma harzianum nòi T22 ñã ñược khuyến cáo ñể
sử dụng phòng trừ một số bệnh do nấm Botryris, Pythium, Rhizoctonia,
Fusarium trên một số cây trồng Chế phẩm ñược sử dụng bằng cách phun lên lá,
tưới hay bón vào ñất Promote Plus cũng là một chế phẩm Trichoderma (T
koningii và T harzianum) ñược khuyến cáo sử dụng tại ñây ñể phòng trừ bệnh
do nấm Rhizoctonia solani, một số loài Pythium và S rolfsii (trích dẫn từ Trần
Kim Loang và cộng sự, 2008) [11]
Diby và cộng sự (2005) [36], Anandaraj và cộng sự (2003) [28] nhận thấy nấm Trichoderma harzianum IISR-1369, IISR-1370 phân lập từ vùng rễ cây tiêu co khả năng hạn chế nấm P capsici và kích thích sinh trưởng cây tiêu Các
tác giả còn nhận thấy hiệu lực phòng trừ sẽ cao hơn nếu kết hợp giữa 2 dòng T
Harzianum IISR-1369 với P fluorescens IISR-11 Tại Việt Nam, Trần Kim
Loang và cộng sự (2008) [11] ñã chọn lọc ñược 5 isolates nấm Trichoderma từ
rễ và ñất trồng tiêu tại Tây nguyên có khả năng ñối kháng cao với nấm
Phytophthora gây hại trên cây tiêu tại ñây Chế phẩm Tricô-VTN của các tác giả
khi ñược sử dụng với nồng ñộ 0,3 - 0,4 % có thể hạn chế sự gây hại của nấm Phytophthora trên cây tiêu và cây ca cao trong nhà lưới Bên cạnh ñó, chế phẩm
Trang 22này cũng cho thấy có hiệu lực cao trên ñồng ruộng khi ñược sử dụng với lượng
40 g/ gốc tiêu/ năm,
Đối với bệnh chết chậm biểu hiện sự sinh trưởng chậm, lá có màu vàng nhạt, lá hoa và quả rụng dần từ gốc ñến ngọn, các ñốt cũng rụng dần từ trên xuống gốc Hiện tượng vàng của cây có thể do sự cộng hợp của các tác nhân
Fusarium sp., Rhyzoctonia sp., và tuyến trùng Meloidogyne sp., rệp sáp hại rễ,
và do cây thiếu dinh dưỡng [17] Eng (2002) [37] cho rằng có thể sử dụng biện
pháp sinh học phòng trừ tuyến trùng rễ với nấm Verticilium chlamydosporium và
Paecilomysec lilacinus ký sinh trứng tuyến trùng Biện pháp phòng trừ tổng hợp
cần ñược xây dựng trong ñó có biện pháp tăng cường sự hoạt ñộng của các tác nhân phòng trừ sinh học có sẵn trong môi trường rễ tiêu nhất là các loài nấm
Paecilomysec lilacinus và Pasteuria penetrans
Việc kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ một cách cân ñối cho cây tiêu ñã ñược nhiều tác giả ñề cập ñến Bởi vì phân hữu cơ ngoài các chất ña lượng, còn
có các chất vi lượng, có tác dụng cải thiện lý hóa tính ñất, tăng khả năng thoát và giữ nước, hạn chế ñược sự phát triển của một số tuyến trùng và nấm bệnh trong ñất thông qua việc thúc ñẩy hoạt ñộng của vi sinh vật ñối kháng Các thí nghiệm bón phân chuồng ủ hoai cho tiêu tại Quảng Trị cho biết ở các công thức bón phân
hữu cơ ñã làm giảm mật ñộ tuyến trùng Meloidogyne incognita so với ñối chứng
không bón phân hữu cơ [4]
Bệnh virus trên cây tiêu có biểu hiện các ngọn bị chùn lại, lá non quăn tít, ñọt chùn, cây không phát triển và lùn hẳn lại Virus ñã ñược phát hiện trên những cây tiêu có triệu chứng lùn (Sarma và cộng sự, 1991) [57], virus gây bệnh ñược truyền qua các tác ñộng cơ học cắt cành và ghép cành Ở Mã Lai, rệp sáp
giả Ferrisia virgata là tác nhân lan truyền bệnh virus PYMV (Piper Yellow Mottle Virus), cây ớt Capsicum annuum có biểu hiện các lá bị quăn queo khi ñược lây nhiễm nhân tạo với hai loài rệp Aphis gossypii và Myzus persicae ñã
sống trên cây tiêu bị bệnh [37] Ở Sri Lanka, theo De Silva (1996) [32] loài rệp
sáp giả Planococcus citri (Hoptera: Pseudococcidae) có khả năng lan truyền
Trang 23bệnh PYMV Triệu chứng khảm vàng lá cây tiêu là một hỗn hợp của PYMV và CMV (Cucumber Mosaic Virus) PYMV ñược xác ñịnh là tác nhân gây bệnh chính, lây truyền bởi việc cắt ghép, vectơ lan truyền có thể kể thêm là bọ xít lưới
Diconocoris distanti (Hemiptera: Tingidae) Virus PYMV không lan truyền bởi
tác nhân cơ học hoặc qua hạt giống Nguồn virus CMV phân lập có thể lây nhiễm nhân tạo thành công trên cây chỉ thị bằng tác ñộng cơ học và bằng rệp
Aphis gossypii, nhưng không thành công với rệp ñào Myzus periscae, tuy nhiên
việc lây nhiễm ngược lại cho cây tiêu thì không thể hiện triệu chứng bệnh [33] Theo Eng (2002) [37] cây bị bệnh virus không thể chữa trị ñược, nên có thể sử dụng cây sạch bệnh, vật liệu nhân giống cần ñược lấy từ những cây khỏe mạnh Sarma và Saju (2004) [58] với khái niệm quản lý bệnh hại tổng hợp (IDM, Integrated Disease Management) ñã ñề xuất nên chú ý việc sử dụng các tác nhân
phòng trừ sinh học thân thiện với môi trường Nấm ñối kháng M anisoplae ñược
thương mại hoá có thể sử dụng phòng trừ các ñối tượng côn trùng hại giữ vai trò vectơ truyền bệnh như rệp sáp [18]
Theo De Waard (1979) [34], việc sử dụng phân bón ở liều lượng 400kg N,
180 kg P, 480 kg K, 425 kg Ca và 112 kg Mg kết hợp tủ gốc có thể phòng bệnh vàng lá Các biện pháp tủ gốc trong mùa nắng và thiết lập các hệ thống mương rãnh thoát nước tốt cho vườn tiêu sẽ làm cho năng suất vườn cây ñược cải thiện ñồng thời hạn chế ñược tuyến trùng gây hại [7]
Hiện nay ñể phòng trừ sâu bệnh trên cây hồ tiêu ñặc biệt là các loại sâu bệnh phát sinh từ ñất như bệnh héo chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm, rệp sáp hại rễ hầu hết các nước ñều áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, chú trọng ñến việc bảo vệ các vi sinh vật có ích trong ñất bằng cách sử dụng các chế phẩm sinh học
Biện pháp kỹ thuật canh tác ñóng vai trò rất quan trọng ñây là biện pháp quan trọng ñầu tiên ñể ngăn chặn sự lây nhiễm và phát tán của nấm bệnh Lượng mưa cao trong suốt mùa mưa dẫn ñến úng nước, trong ñiều kiện như vậy cây tiêu sẽ
Trang 24bị nhiễm nấm Phytophthora Trong suốt thời gian ñọng nước, ñiều kiện yếm khí
tạm thời xuất hiện với lượng oxy thấp và sự gia tăng dịch rễ sẽ kích thích nấm bệnh nảy mầm và phát triển Tất cả các yếu tố này sẽ làm tăng khả năng mẫn cảm của cây kí chủ do giảm sự sản sinh ra Phenol oxydases, giảm việc sản xuất Phytoalexin, ức chế hệ sinh vật ñất và giảm sự cố ñịnh ñạm Vì vậy thoát nước
hợp lý sẽ làm giảm sự gia tăng mật ñộ Phytophthora capsici Tại Malaysia, các
nghiên cứu của Ahmed (1993) cho thấy tiêu ñược trồng trong ñiều kiện sạch cỏ
phát triển tốt hơn khi ñược che phủ ñất bằng cây Desmodium trifolium Điều
chỉnh các cây che bóng, các cây choái sống phải ñược chặt bỏ ngọn vào mùa mưa ñể tránh việc tăng ñộ ẩm và ñể ánh sáng chiếu vào vườn cây làm thay ñổi tiểu khí hậu trong vườn thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển, làm giảm sự phát triển của bệnh (trích dẫn từ Anandaraj, 2000) [27]
Tại Indonesia, Manohara và cộng sự (2002) [48] ñã ñưa ra qui trình phòng trừ tổng hợp bệnh héo chết nhanh cây hồ tiêu như sau: có hệ thống thoát nước tốt, hạn chế làm cỏ bón phân hợp lý và tỉa các cành thấp dưới ñất ñặc biệt là
trong mùa mưa Để hạn chế làm cỏ nên trồng cây lạc dại (Arachis pintoii) ñể phủ
sự phát triển của nấm bệnh làm cho năng suất vườn tiêu ñược cải thiện
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Huyện Ea H’Leo tỉnh ĐắkLắk
* Nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ bình quân năm của huyện Ea H’Leo là 22,7 0C (trung bình 5 năm
2005 - 2009) Tháng có nhiệt ñộ thấp nhất trong năm là tháng 12 và tháng 1 (20
0C và 19,8 0C), cao nhất là tháng 4 và tháng 5 (24,6 - 25,0 0C) Chênh lệch nhiệt
ñộ bình quân giữa các tháng trong năm không lớn lắm, chỉ từ 20 - 25 0C Nhìn
chung nhiệt ñộ bình quân nằm trong phạm vi nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng
và phát triển của cây hồ tiêu Tuy nhiên ñây cũng là phạm vi nhiệt ñộ thích hợp
cho sự phát triển của nhiều loài sinh vật gây hại cho cây trồng
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 82,5 %, nhưng giữa các tháng mùa
mưa và mùa khô có sự chênh lệch rất lớn Các tháng mùa khô có ñộ ẩm không
khí dao ñộng từ 72,8 - 82,5 %, trong khi ñộ ẩm không khí của các tháng mùa
mưa ñạt tới 74 - 90,4 % Độ ẩm cao trong mùa mưa ñã tạo ñiều kiện cho sự phát
triển của các sinh vật gây hại cây, vì thế tại hầu hết các loại bệnh gây hại cây
trồng ñều xuất hiện trong mùa mưa
* Chế ñộ mưa
Tổng lượng mưa hàng năm của huyện Ea H’Leo khoảng 2.101,8 mm,
phân bố thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 ñến tháng 10, chiếm trên
93 % lượng mưa của cả năm Cao ñiểm tập trung vào tháng 8 và tháng 9 với
lượng mưa khoảng 450 - gần 500 mm Lượng mưa lớn và tập trung ñã tạo ñiều
kiện cho sự lây lan và phát tán các sinh vật gây bệnh, ñặc biệt là nấm và tuyến
trùng Lượng mưa trong mùa khô rất thấp, có những năm hoàn toàn không có
mưa liên tục trong 2 - 3 tháng Vì vậy cần phải tưới nước cho các cây ngắn ngày
trồng trong mùa khô và một số cây lâu năm có hệ thống rễ tơ ăn nông như cây hồ
Trang 26tiêu Biện pháp tưới nước ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho các sinh vật gây hại trong ñất tồn tại và phát triển trong mùa khô
Một số yếu tố khí hậu chủ yếu của vùng Ea H’Leo ñược trình bày trong
Nhiệt ñộ ( o C), ñộ
ẩm không khí (%)
Lượng mưa Nhiệt ñộ Độ ẩm không khí
Đồ thị 2.1: Biến trình các yếu tố khí tượng huyện Ea H’Leo (2005 - 2009)
Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đăk Lăk
* Đất ñai
Tổng diện tích tự nhiên trong ñịa giới hành chính của xã Ea H’Leo là 34.048 ha Theo kết quả ñiều tra thổ nhưỡng của Phân viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp Miền trung thực hiện năm 2005, trên ñịa bàn xã có 979 ha ñất
ñỏ bazan (hiện nay cây hồ tiêu ñang ñược trồng chủ yếu trên loại ñất này) Đặc ñiểm của loại ñất này là có tầng canh tác dày, tơi xốp, giàu chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng khoáng, tuy nhiên ñất thường chua, pHKCl thường dưới 5 Điều này cho thấy ñây là vùng ñất thích hợp cho việc phát triển hầu hết các loại cây ñặc biệt là các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu , ñồng thời cũng thích hợp cho sự phát triển của các sinh vật gây hại sống trong ñất
Trang 272.1.2 Huyện Cư Kuin tỉnh ĐắkLắk
* Nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ bình quân năm của huyện Cư Kuin là 24 0C (trung bình 5 năm
2005 - 2009) Tháng có nhiệt ñộ thấp nhất trong năm là tháng 12 và tháng 1 (21,8
0C và 21,1 0C), cao nhất là tháng 4 và tháng 5 (25,6 - 26,1 0C) Chênh lệch nhiệt
ñộ bình quân giữa các tháng trong năm khoảng 5 0C, ngang với huyện Ea H’Leo Nhìn chung nhiệt ñộ bình quân của huyện Cư Kuin cao hơn huyện Ea H’Leo và rất thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây hồ tiêu và cả các loài dịch hại
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 82 % Cũng giống như ở huyện EaH’Leo, giữa các tháng mùa mưa và mùa khô có sự chênh lệch rất lớn về ñộ
ẩm không khí Các tháng mùa khô có ñộ ẩm không khí dao ñộng từ 73,2 - 84,6
%, trong khi ñộ ẩm không khí của các tháng mùa mưa ñạt tới 74,8 - 89,6 % So với huyện Ea H’Leo thì không sai khác nhiều về ñộ ẩm không khí bình quân
* Chế ñộ mưa
Tổng lượng mưa hàng năm của huyện Cư Kuin khoảng 2.026,2 mm, phân
bố thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 ñến tháng 10, chiếm trên 94 % lượng mưa của cả năm So với huyện Ea H’Leo thì chế ñộ mưa của huyện Cư Kuin rải ñều trong các tháng mùa mưa hơn Mặc dầu cao ñiểm vẫn vào tháng 8, tháng 9 với tổng lượng mưa khoảng 2.000 mm nhưng lượng mưa vào 2 tháng này tại huyện Cư Kuin chỉ vào khoảng trên dưới 400 mm Điều này ñã dẫn ñến sự khác biệt về các kỹ thuật canh tác trên vườn tiêu tại 2 ñiểm ñiều tra này
Một số yếu tố khí hậu chủ yếu của huyện Cư Kuin ñược trình bày trong
ñồ thị 2.2
Trang 28Nhiệt ñộ (oC), ñộ
ẩm không khí (%)
Lượng mưa Nhiệt ñộ Độ ẩm không khí
Đồ thị 2.2: Biến trình các yếu tố khí tượng huyện Cư Kuin (2005 - 2009)
Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Đăk Lăk
* Đất ñai
Tổng diện tích tự nhiên trong ñịa giới hành chính của xã Ea BHôk là 4.200 ha Theo kết quả ñiều tra thổ nhưỡng của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Miền trung thực hiện năm 2005, trên ñịa bàn xã có 1.194 ha ñất ñỏ bazan chiếm 28,43 % diện tích ñất tự nhiên của xã Đặc ñiểm của loại ñất này là
có tầng canh tác dày, tơi xốp, giàu chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng khoáng, tuy nhiên ñất thường chua, pHKCl thường dưới 5 Điều này cho thấy ñây là vùng ñất thích hợp cho việc phát triển hầu hết các loại cây ñặc biệt là các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu , ñồng thời cũng thích hợp cho sự phát triển của các sinh vật gây hại sống trong ñất
Trang 292.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vườn tiêu kinh doanh dưới 10 năm tuổi, có quy mô trên 100 trụ/ vườn
2.2.2 Địa ñiểm và thời gian nghiên cứu
- Địa ñiểm nghiên cứu
Tại xã Ea B’Hôk - huyện Cư Kuin và xã Ea H’Leo - huyện Ea H’Leo
- Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2009 ñến tháng 9 năm 2010
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình canh tác hồ tiêu tại một số vùng trồng chính ở
ĐắkLắk
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật trong canh tác hồ tiêu theo hướng bền vững
- Xây dựng mô hình ICM trên cây hồ tiêu tại ĐắkLắk
2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp ñiều tra
Thu thập các thông tin cần thiết về tình hình sản xuất tiêu tại các Phòng Nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật của ñiểm ñiều tra kết hợp với phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân và ñiều tra trực tiếp trên ñồng ruộng Mỗi ñiểm ñiều tra 30 hộ
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Thí nghiệm 1: Xác ñịnh kỹ thuật làm ñất thích hợp trong vườn tiêu ñể hạn chế sự gây hại của các loại bệnh phát sinh từ ñất
- Địa ñiểm thí nghiệm: Xã Ea H’Leo - huyện Ea H’Leo - tỉnh ĐắkLắk
- Vật liệu thí nghiệm: Giống tiêu Vĩnh Linh trồng năm 2004 bằng hom dây thân trên trụ gỗ, khoảng cách trồng là 2,5 x 2,5 m, mật ñộ 1.600 cây/ha
- Thí nghiệm gồm 3 công thức, nhắc lại 3 lần, bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu
nhiên (RCBD) mỗi công thức 0,1 ha
+ CT1: Tạo bồn chung quanh gốc tiêu, làm cỏ bằng tay (Đối chứng)
Trang 30+ CT2: Tạo bồn chung quanh gốc tiêu, nhổ cỏ gốc, làm cỏ giữa hàng bằng tay, vun gốc
+ CT3: Tạo bồn chung quanh gốc tiêu, nhổ cỏ gốc bằng tay, vun gốc, ñào rãnh thoát nước ở giữa hàng tiêu, trồng cây lạc dại che phủ ñất giữa các hàng tiêu
- Sơ ñồ bố trí thí nghiệm:
CT1 CT2 CT3 CT2 CT3 CT1 CT3 CT1 CT2 Lần nhắc 1 Lần nhắc 2 Lần nhắc 3
* Thí nghiệm 2: Phòng trừ bệnh héo chết nhanh bằng các chế phẩm hữu cơ
và sinh học
- Địa ñiểm thí nghiệm: Xã Ea BHôk, huyện Cư Kuin, tỉnh ĐắkLắk
- Vật liệu thí nghiệm: Giống tiêu Vĩnh Linh trồng năm 2003 bằng hom dây lươn trên trụ muồng ñen, khoảng cách trồng là 2,5 x 2,5 m, mật ñộ 1.600 cây/ha
- Thí nghiệm gồm 5 công thức, nhắc lại 3 lần, bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu nhiên (RCBD), mỗi ô cơ sở 45 cây (3 hàng x 15 cây)
CT1: Trichoderma (10 g/ gốc/ lần, hàng năm tưới vào gốc 4 lần cách nhau
2 tháng từ ñầu mùa mưa)
CT2: Pseudomonas fluorescens (20 g/ gốc/ lần, hàng năm tưới vào gốc 2
lần cách nhau 2 tháng từ ñầu mùa mưa)
CT3: Aliette 80WP (0,3 %, 4 lít dung dịch/ gốc/ lần, tưới vào gốc và phun lên cây bệnh và các cây chung quanh cây bệnh, 2 lần cách nhau 1 tháng từ khi phát hiện bệnh)
CT4: Phân Compomix (2 kg/ gốc, mỗi năm bón 1 lần từ ñầu mùa mưa) CT5: Đối chứng: Bón phân chuồng, không xử lý chế phẩm sinh học hoặc thuốc hóa học
Trang 31* Thí nghiệm 3: Phòng trừ bệnh vàng lá chết chậm bằng các chế phẩm hữu
cơ và sinh học
- Địa ñiểm thí nghiệm: Xã Ea B’Hôk, huyện Cư Kuin, tỉnh ĐắkLắk
- Vật liệu thí nghiệm: Giống tiêu Vĩnh Linh trồng năm 2005 bằng hom dây lươn trên trụ muồng ñen, khoảng cách trồng là 2,5 x 2,5 m, mật ñộ 1.600 cây/ha
- Thí nghiệm gồm 5 công thức, nhắc lại 3 lần, bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu nhiên (RCBD), mỗi mỗi ô cơ sở 45 cây (3 hàng x 15 cây)
CT1: Sincocin 0,56 SL + Agrispon 0,56 SL (0,2 %, 4 lít dung dịch/ gốc/
lần, hàng năm tưới vào gốc 2 lần vào ñầu và cuối mùa mưa)
CT2: Olisan 10 DD (0,3 %, 4 lít dung dịch/ gốc/ lần, hàng năm tưới vào
gốc 2 lần vào ñầu và cuối mùa mưa)
CT3: Vimoca 10G (20 g/ gốc/ lần, rải quanh gốc 2 lần ñầu và cuối mùa mưa)
CT4: Phân Compomix (2 kg/ gốc, mỗi năm bón 1 lần từ ñầu mùa mưa) CT5: Đối chứng: Bón phân chuồng, không xử lý chế phẩm sinh học hoặc thuốc hóa học
2.3.3 Xây dựng mô hình ICM cho hồ tiêu
- Địa ñiểm: Xã Ea B’Hôk, huyện Cư Kuin, tỉnh ĐắkLắk
- Vật liệu: Giống tiêu Vĩnh Linh trồng năm 2003 bằng hom dây lươn trên trụ muồng ñen, khoảng cách trồng là 2,5 x 2,5 m, mật ñộ 1.600 cây/ha, tỷ lệ cây
bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá chết chậm <10 %
- Bố trí mô hình gồm 2 công thức:
+ Công thức mô hình: Áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ của kết quả ñiều tra, nghiên cứu như: trồng cây che phủ ñất, vun gốc tiêu, tạo rãnh thoát
Trang 32nước giữa hai hàng tiêu, bón phân chuồng 10 kg/trụ/năm, phun phân bón lá 3 - 4 lần/năm, phân khoáng bón với lượng 350 N - 150 P205 - 300 K20Kg N /ha, tưới
chế phẩm sinh học Trichoderma (10 g/ gốc, 4 lần/ năm cách nhau 2 tháng từ ñầu mùa mưa) Khi phát hiện các cây bị bệnh nặng do nấm Phytophtora, tuyến trùng,
rệp sáp, virus thì ñào ñốt Xử lý các gốc tiêu ñã ñào bằng thuốc hóa học hay các chế phẩm sinh học tùy theo loại sâu bệnh gây hại
+ Công thức ñối chứng: Các biện pháp kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh thực hiện theo nông dân
Số liệu ñược xử lý thống kê bằng các phần mềm EXCEL và SARS
2.4 CHỈ TIÊU THEO DÕI
2.4.1 Chỉ tiêu ñiều tra: Tình hình sử dụng giống, các biện pháp kỹ thuật canh
tác áp dụng (cây choái, cây trồng xen, chế ñộ bón phân, tưới nước, vệ sinh ñồng ruộng), tình hình dịch hại và biện pháp phòng trừ
2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi một số biện pháp kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật trong canh tác hồ tiêu theo hướng bền vững
2.4.2.1 Chỉ tiêu xác ñịnh kỹ thuật làm ñất thích hợp:
+ Tỷ lệ cây tiêu bị sâu, bệnh hại phát sinh từ ñất (%)
+ Tỷ lệ cây tiêu bị chết do sâu, bệnh (%)
+ Hóa tính ñất trước và sau thí nghiệm
+ Năng suất (kg tiêu ñen/ trụ)
Tỷ lệ cây bệnh (TLCB) và tỷ lệ cây chết (TLCC) ñược tính theo công thức:
TLCB, TLCC (%) = A/B x 100 A: Tổng số cây bị bệnh (hay cây chết) B: Tổng số cây theo dõi
Trang 332.4.2.2 Chỉ tiêu theo dõi bệnh héo chết nhanh:
+ Tỷ lệ cây tiêu bị bệnh héo chết nhanh (%) + Tỷ lệ cây tiêu bị chết do bệnh héo chết nhanh + Hiệu lực thuốc (%)
2.4.2.3 Chỉ tiêu theo dõi bệnh vàng lá chết chậm:
+ Tỷ lệ cây tiêu bị bệnh vàng lá chết chậm (%) + Tỷ lệ cây tiêu bị chết do bệnh vàng lá chết chậm (%)
+ Mật ñộ tuyến trùng Meloidogyne spp trong ñất và rễ trước và sau
khi xử lý 1, 2, 3 tháng
+ Hiệu lực thuốc (%) Hiệu lực thuốc ñược tính theo công thức Handerson-Tilton và Abbott [3]
2.4.3 Chỉ tiêu theo dõi xây dựng mô hình ICM cho cây hồ tiêu:
+ Tỷ lệ và mức ñộ cây bị sâu, bệnh gây hại (%) + Tỷ lệ cây chết do sâu, bệnh (%)
+ Hóa tính ñất trước và sau thí nghiệm + Năng suất (tấn tiêu ñen/ ha)
Trang 34CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 TÌNH HÌNH CANH TÁC HỒ TIÊU TẠI MỘT SỐ VÙNG TRỒNG CHÍNH Ở ĐẮKLẮK
ĐắkLắk là tỉnh có diện tích trồng tiêu lớn thứ hai tại Tây nguyên Tuy nhiên lại là một trong những tỉnh có năng suất và sản lượng tiêu cao Theo niên giám thống kê tỉnh ĐắkLắk năm 2009, tổng diện tích tiêu trên toàn tỉnh là 5.035
Huyện Krông Năng 287,00 805,00
Huyện Krông Buk 108,00 195,00
Huyện Buôn Đôn 250,00 521,00
Huyện Cư M'Gar 680,00 1.785,00
Huyện Ea Kar 485,00 1.345,00
Huyện Krông Păc 172,00 447,00
Huyện Krông Bông 10,00 15,00
Huyện Krông Ana 182,00 517,00
Trang 35Số liệu trong bảng 3.1 cho thấy, Ea H’Leo là huyện có diện tích trồng tiêu
và sản lượng tiêu nhiều nhất ở tỉnh ĐắkLắk, kế ñến là huyện CưM’Gar và huyện
Cư Kuin
Do thời gian thực hiện luận văn có giới hạn, chúng tôi chỉ ñiều tra tình hình canh tác hồ tiêu tại 2 ñiểm có diện tích trồng tiêu lớn và mức ñộ nhiễm
bệnh do nấm Phytophthora cao ở ĐắkLắk:
- Xã Ea B’Hôk, huyện Cư Kuin
- Xã Ea H’Leo, huyện Ea H’Leo
Bảng 3.2: Tình hình sản xuất hồ tiêu tại các ñiểm ñiều tra
(Đến tháng 7 năm 2010)
Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị
tính Xã Ea B’Hôk Xã Ea H’Leo Diện tích trồng tiêu: ha 314,00 388,20
- Kiến thiết cơ bản ha 65,00 62,80
- Kinh doanh ha 249,00 325,40 Năng suất tấn/ ha 3,20 3,50 Diện tích trồng thuần ha 307,00 369,90 Diện tích trồng trên cây
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Cư Kuin và Trạm BVTV huyện Ea H’Leo
Cả 2 xã Ea B’Hôk và Ea H’Leo có khoảng 300 - 400 ha tiêu, trong ñó trên
80 % là các vườn tiêu trong giai ñoạn kinh doanh Đây là các xã trồng tiêu chính của 2 huyện, diện tích trồng tiêu của xã Ea B’Hôk chiếm gần 50 % diện tích trồng tiêu của huyện Cư Kuin, diện tích trồng tiêu của xã Ea H’Leo chiếm gần
30 % diện tích trồng tiêu của huyện Ea H’Leo
Các số liệu còn cho thấy trên 90 % diện tích ñược trồng thuần, việc chọn cây trụ cho tiêu leo hoàn toàn khác nhau ở 2 xã, khoảng 95 % diện tích tiêu tại
xã Ea B’Hôk ñược trồng trên trụ sống, trong khi ở xã Ea H’Leo có ñến 98 % diện tích trồng trên cây trụ chết
Trang 36Đồ thị 3.1: Phân bổ lượng mưa trong năm tại huyện Ea H’Leo
Đồ thị 3.2: Phân bổ lượng mưa trong năm tại huyện Cư Kuin
(2008 - 2010)
Trang 37Số liệu khí tượng của 2 huyện (phụ lục 1 và phụ lục 2) cho thấy hầu như không có sự sai khác ñáng kể về nhiệt ñộ và ẩm ñộ không khí giữa 2 huyện trong thời gian ñiều tra (2009 - 2010) Tuy nhiên sự phân bổ lượng mưa có sự sai khác ñáng kể (ñồ thị 3.1 và 3.2) và ñây là nguyên nhân chính dẫn ñến sự khác nhau về chế ñộ canh tác giữa 2 ñiểm ñiều tra
Tại huyện Ea H’Leo, mưa thường tập trung vào 3 tháng 7, 8, 9, cao ñiểm vào tháng 9, với tổng lượng mưa 3 tháng chiếm khoảng 45 % tổng lượng mưa cả năm, ñặc biệt trong năm 2009 lượng mưa trong tháng 9 lên ñến trên 1.000 mm Lượng mưa cao và tập trung trong thời gian ngắn như vậy là ñiều kiện rất thích hợp ñể bệnh héo chết nhanh phát triển Vì vậy tại Ea H’Leo, biện pháp ñào mương thoát nước gần như là biện pháp chủ lực ñể hạn chế sự phát triển của bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu
Tại huyện Cư Kuin, 2 tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 và tháng 9 Tuy nhiên tại Cư Kuin lượng mưa ñầu mùa bao giờ cũng cao hơn ở Ea H’Leo
Đồ thị 2.1 và 2.2 cho thấy, lượng mưa trung bình trong 5 năm (2005 - 2009) của tháng 5 tại Cư Kuin lên ñến gần 300 mm, trong khi ở Ea H’Leo chỉ ñạt trên 200mm cũng vào thời ñiểm này Đặc biệt trong năm 2008, lượng mưa vào tháng
5 tại Cư Kuin lên tới 500 mm Nhìn chung phân bổ lượng mưa tại huyện Cư Kuin ít tập trung hơn ở Ea H’Leo, vì thế nông dân tại ñây không có tập quán ñào mương thoát nước, mặc dầu vậy các biện pháp thoát nước khác như vun gốc, không ñào bồn sâu vẫn ñược chú trọng ñể hạn chế sự phát triển của bệnh héo chết nhanh
3.1.1 Giống tiêu
Cây tiêu là cây ñược nhân giống chủ yếu phần phương pháp vô tính, chủ yếu bằng dâm cành (cành thân và cành lươn) Ở nước ta, cây tiêu ñược nhân giống vô tính qua nhiều chu kỳ mà không chú ý ñến việc chọn lọc, phục tráng giống nên ñã làm tăng nguy cơ sớm già cỗi ở các vườn tiêu mới trồng và lây lan một số các bệnh nguy hiểm, làm giảm năng suất và hiệu quả kinh tế của cây tiêu Chính vì vậy mà giống tiêu tốt, chống chịu sâu bệnh là yếu tố hàng ñầu quyết
Trang 38ñịnh việc phát triển sản xuất tiêu
Vấn ñề chọn giống tiêu ở nước ta hoàn toàn tự phát và nông dân thường không quan tâm ñến yếu tố sâu bệnh khi chọn giống Một khó khăn trong khi ñiều tra về giống tiêu là thường nông dân không biết rõ nguồn gốc và gọi tên theo kinh nghiệm, theo nguồn gốc ñịa phương Các kết quả ñiều tra của chúng tôi dựa vào những mô tả về ñặc ñiểm hình thái các giống tiêu của Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (2005) [15]
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng giống tiêu tại các ñiểm ñiều tra (tháng 12/2009)
Địa ñiểm Giống tiêu
Mức ñộ phổ biến
Năng suất (kg tiêu ñen/ trụ)
Loại hom (% vườn sử dụng) Hom thân Hom lươn
+ + +: Giống ñược > 50 % số hộ ñiều tra trồng
+ +: Giống ñược 20 - 50 % số hộ ñiều tra trồng
+: Giống ñược < 20 % số hộ ñiều tra trồng
- : Giống không ñược các hộ ñiều tra trồng
Kết quả ñiều tra trên ñịa bàn 2 xã cho thấy giống tiêu Vĩnh Linh ñang ñược người dân sử dụng rất phổ biến, kế tiếp là giống Lộc Ninh, giống tiêu Sẻ hầu như không còn ñược sử dụng trong sản xuất, nếu có thì chỉ còn rải rác vài cây trong vườn không ñáng kể
Trên ñịa bàn xã Ea B’Hôk, giống tiêu Trâu ít ñược người dân sử dụng, song tại xã Ea H’Leo thì mức ñộ phổ biến của giống này cũng không thua kém
so với giống Lộc Ninh
Trang 39Về tình hình sử dụng hom giống có sự khác biệt nhau giữa 2 ñiểm ñiều tra Tại ñiểm ñiều tra xã Ea B’Hôk, việc sử dụng hom lươn ñể nhân giống ñược người dân ở ñây cho là thích hợp; ngược lại hom thân lại ñược sử dụng ñể nhân giống khá phổ biến trên ñịa bàn xã Ea H’Leo Tuy nhiên qua phỏng vấn trực tiếp nông dân chúng tôi nhận thấy nhiều chủ hộ tại ñây ñang muốn chuyển lại trồng bằng hom lươn vì cho rằng trồng tiêu bằng hom dây lươn cho năng suất ổn ñịnh
và bền hơn trồng bằng hom thân Riêng giống tiêu Trâu, ñược người dân sử dụng hom lươn ñể nhân giống tại 2 ñiểm ñiều tra
Kết quả ñiều tra cũng cho thấy năng suất tiêu tại xã Ea H’Leo cao hơn năng suất tiêu tại xã Ea B’Hôk trên cả 3 giống tiêu Điều này có thể do ở xã Ea H’Leo tiêu ñược trồng ở mật ñộ cao hơn và không ñược che bóng
Bảng 3.4: Tình hình nhiễm một số sâu bệnh chính trên các giống tiêu tại các
ñiểm ñiều tra (tháng 12/ 2009)
Địa ñiểm Giống tiêu
Bệnh héo chết nhanh
(%)
Bệnh vàng lá chết chậm
(%) Vườn
bệnh
Cây bệnh Vườn bệnh Cây bệnh
Trang 40thấy giống Vĩnh Linh và giống Lộc Ninh mẫn cảm với sâu bệnh hơn so với giống tiêu Trâu, ñặc biệt ñối với bệnh héo chết nhanh và bệnh vàng lá chết chậm
là 2 bệnh có thể dẫn ñến hủy diệt vườn cây
Bảng 3.5: Kết quả trắc nghiệm t 0,05 về tỷ lệ cây bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá chết chậm của các giống tiêu trồng tại các ñiểm ñiều tra
Kết quả ñiều tra của Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (2005) [15] cũng cho thấy giống tiêu Trâu và Vĩnh Linh ít bị nhiễm bệnh vàng lá chết chậm Tuy nhiên các tác giả cũng khuyến cáo cần theo dõi ñến mức ñộ nhiễm bệnh này trên giống Vĩnh Linh do vào thời ñiểm ñiều tra các vườn tiêu Vĩnh Linh ñược ñiều tra phần lớn nhỏ tuổi hơn các vườn tiêu giống khác Điều này cũng ñã ñược Trần Kim Loang và cộng sự (2006) [10] ñề cập ñến ñối với bệnh héo chết nhanh Kết quả ñiều tra của chúng tôi cho thấy hiện nay mức ñộ nhiễm bệnh héo chết nhanh và vàng lá chết chậm của giống tiêu Vĩnh Linh ngang với giống Lộc Ninh, chỉ có giống tiêu Trâu ít bị nhiễm bệnh nhưng năng suất lại thấp Một khả năng có thể ñặt ra trong tương lai là sử dụng tiêu Trâu làm gốc ghép ñể sản xuất giống tiêu ít nhiễm các bệnh hại rễ