CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CÔNG TRÌNH DỰ THI NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC SINH VIÊN “NHÀ KINH
TẾ TRẺ - NĂM 2009 ” TÊN CÔNG TRÌNH:
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI
THUỘC NHÓM NGÀNH : KHOA HỌC KINH TẾ
TP HCM, Tháng 6 / 2009
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
*****
CH ƯƠNG 1: ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THEO CÁC LÝ THUYẾT
HIỆN ĐẠI
1.1.VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1
1.1.1.Phá giá đồng tiền 1
1.1.2.Kinh nghiệm quốc tế về phá giá đồng tiền 2
1.2.MÔ HÌNH CÂN BẰNG TRONG NỀN KINH TẾ 3
1.3.KHÁI QUÁT TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC (REER) 6
1.4.PHƯƠNG PHÁP TÍNH TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC 6
CHƯƠNG 2: HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CHO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 2.1.THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM TRONG NĂM 2008 8
2.1.1.Tình hình điều hành tỷ giá năm 2008: 8
2.1.2.Tại sao Ngân hàng Nhà nước lại phải nới lỏng biên độ của tỷ giá hối đoái? 10
2.2.PHÂN TÍCH, DỰ BÁO TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC (REER) Ở VIỆT NAM 12
2.2.1.Cách tiếp cận tỷ giá mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước 12
2.2.2.Nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực từ năm 1999 đến 2008 12
2.2.3.Tính tỷ giá thực hiệu lực (REER) bằng Microsoft Excel 13
2.2.4.Phân tích số liệu đã tính được : 15
2.2.5.Dự báo tỷ giá thực hiệu lực đến cuối năm 2009 18
2.2.6.Kiểm định quan hệ giữa tỷ giá và xuất nhập khẩu 1999-2008 20
2.2.7.Kiểm định tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 1999-2008 dựa trên điều kiện Marshall- Lerner: 21
2.3 PHÂN TÍCH TRẠNG THÁI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM QUA BIỂU ĐỒ SWAN: 26
Trang 32.3.1.Phân tích cán cân kinh tế vĩ mô đối nội: 27
2.3.2.Phân tích cán cân kinh tế vĩ mô đối ngoại (cán cân vãng lai) 32
CHƯƠNG 3: ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VIỆT NAM ĐỂ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ GIÚP VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2009-2015 3 1 TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM NĂM 2009-2010 38
3.1.1.Triển vọng kinh tế thế giới năm 2009: 38
3.1.2.Triển vọng đồng USD năm 2009 39
3.1.3.Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2009-2010 40
3.2.ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ NĂM 2009-2010 41
3.2.1.Khuyến nghị chính sách cân bằng kinh tế vĩ mô theo đồ thị Swan 41
3.2.2.Khuyến nghị tỷ giá VND/USD năm 2009 giao động với biên độ 5%-9% 44
3.3.VIỆT NAM CÓ PHÁ GIÁ MẠNH VND KHÔNG? 45
3.4.PHÁ GIÁ NHỎ, GIẢI PHÁP TỐI ƯU ĐỂ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 47
3.4.1.Phá giá nhỏ hỗ trợ gói kích cầu nền kinh tế Việt Nam: 47
3.4.2.Phá giá nhỏ và hiện tượng Đolla hoá nền kinh tế 48
3.4.3.Phá giá nhỏ và khuynh hướng tiêu dùng 48
3.4.4.Phá giá nhỏ và phân phối lại thu nhập, vốn, lao động 49
3.5.PHỐI HỢP CÁC CHÍNH SÁCH ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU CÂN BẰNG KHI PHÁ GIÁ NHỎ: 49 KẾT LUẬN
PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
\
Trang 4EIU Economist Intelligence Unit - The Economist (Anh)
NEER Tỷ giá danh nghĩa đa phương
ER Tỷ giá danh nghĩa VND/USD
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
Trang 5IB Internal balance
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ giá REER từ quý 1-1999 đến quý 4-2008
Bảng 2.2: Tỷ giá danh nghĩa, REER, tỷ giá kỳ vọng qua các năm 1999-2008 Bảng 2.3: Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam 2009
Bàng 2.4: Dự báo CPI các nước năm 2009 so với 2008
Bảng 2.5: Dự báo REER các quý trong năm 2009
Bảng 2.6: Bảng cán cân vãng lai từ 2005-2009
Bảng 2.7: Số liệu tỷ lệ đầu tư/GDP từ 2002-2009
Bảng 2.8: Tăng trưởng GDP và ICOR của một số nước Đông Á
Bảng 2.9: Mức đóng góp một số nhân tố vào tăng trưởng kinh tế
Bảng 2.10: Tiết kiệm tư nhân và chính phủ so với GDP từ 2002-2009 Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2009 (%) Bảng 3.2: Số liệu lạm phát của các nước từ 1999-2010
Trang 7Hình 2.6: Trạng thái kinh tế Việt Nam theo biểu đồ Swan năm 2008-2009
Hình 2.7: Đồ thị tăng trưởng GDP, CPI, tỷ lệ thất nghiệp từ 1999-2009
Hình 2.8: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP từ 1997-2009
Hình 2.9: ICOR Việt Nam qua các giai đoạn 1991-2008
Hình 2.10: Chỉ số CPI của Việt Nam và thế giới 2004-2010
Hình 2.11: Nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai, tính theo % GDP 1999-2009 Hình 2.12: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư Việt Nam 2002-2009
Hình 2.13: Thâm hụt ngân sách Việt Nam và một số nước 2001-2007
Hình 2.14: Cán cân thương mại 1999-2009 (Đơn vị tính: Triệu USD)
Hình 3.1:Tăng trưởng GDP của các nước trên thế giới 2003-2009
Hình 3.2: Đồ thị tỷ giá USD/ JPY 2008-2009
Hình 3.3: Đồ thị REER và NEER của Việt Nam 1999-2009
Hình 3.4: Các yếu tố chi phối tổng cầu AD
Trang 8DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Điều kiện Marshall – Lerner.
Phụ lục 2: Các hệ số co giãn xuất khẩu và nhập khẩu của 15 nước công nghiệp và 9
nước phát triển.
Phụ lục 3: Năm lý do không nên phá giá đồng nội tệ.
Phụ lục 4: Tỷ giá danh nghĩa giữa VN và các nước 1999-2008.
Phụ lục 5: Tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh giữa VN và các nước 1999-2008
Phụ lục 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu của VN qua các đối tác 1999-2008
Phụ lục 7: Bảng tỷ trọng thương mại giữa VN và các đối tác thương mại
Phụ lục 8: Chỉ số CPI của VN và các nước 1999-2008.
Phụ lục 9: Điều chỉnh CPI của VN và các nước 1999-2008.
Phụ lục 10: REER của VN qua các quý 1999-2008.
Phụ lục 11: Bảng dự báo REER qua các quý 1999-2008.
Phụ lục 12: Bảng số liệu kiểm định TG danh nghĩa với xuất nhập khẩu.
Phụ lục 13: Mô hình kiểm định TG và xuất nhập khẩu Quý 1-1999 đến Quý 1-2009 Phụ lục 14: Bảng số liệu GDP, xuất nhập khẩu của VN để kiểm định Marshall –Lerner
1999-2008
Trang 91 Lý do chọn đề tài:
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008 đã đi qua, kéo theo những tàn phá dữ dội, đưa các nền kinh tế thế giới
và Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái và khó khăn trong vấn đề tăng trưởng kinh tế, những bất ổn trong kinh tế vĩ mô Trong giai đoạn 2002-2008, nền kinh tế Việt Nam xuất hiện những dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô, nó tồn tại đến năm 2008, thêm vào đó, kinh tế Việt Nam hứng chịu tiếp cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm cho GDP Việt Nam năm
2008 chỉ tăng 6,23%, thấp nhất trong 5 năm Có thể nói rằng vấn đề tỷ giá trong 6 tháng đầu năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009 luôn là đề tài nóng nhất trên các trang báo và được các nhà hoạch định chính sách thảo luận nhiều nhất Chẳng hạn, tỷ giá USD/VND sẽ
mở biên độ bao nhiêu, đồng VND bị định giá cao bao nhiêu, tại sao tỷ giá danh nghĩa giảm không có lợi cho xuất khẩu, có nên phá giá đồng VND như các tổ chức quốc tế đưa
ra khuyến nghị…? Điều này đã làm cho các nhà hoạch định chính sách phải suy nghĩ rấtnhiều
Tỷ giá và các biến số GDP, xuất khẩu, nhập khẩu, tài khoản vãng lai, lãi suất, lạm phát có mối liên kết với nhau, nên để tìm hiểu sự biến đổi của tỷ giá thì phải kiểm định mối quan hệ giữa các biến này với tỷ giá Mối quan hệ giữa thu nhập quốc dân với thâm hụt thương mại có mối quan hệ nghịch biến hay đồng biến để từ đó có đánh giá tác động của thâm hụt thương mại đối với sự phát triển kinh tế VN…
Với niềm đam mê nghiên cứu khoa học, đề tài sẽ đi phân tích trạng thái nền kinh
tế VN theo mô hình cân bằng đối nội và đối ngoại nổi tiếng – mô hình Swan, tính toán
tỷ giá thực hiệu lực (REER) từ Quý 1-1999 đến Quý 4-2008, dự báo REER các Quý trong năm 2009, kiểm định điều kiện Marshell – Lerner đối với VN,…từ đó đề tài đưa ra
các giải pháp cho chính sách tỷ giá năm 2009 giúp VN ổn định kinh tế vĩ mô
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra, đề tài này nhắm vào một số mục tiêu được liệt kê giới đây:
+ Xem xét diễn biến tỷ giá trong năm 2008 có thể hiện mối quan hệ với các biến số
vĩ mô, mối tương quan hàng hoá với các đối tác, tỷ giá có thể hiện được vai trò của mình trong việc xác định đúng giá các hàng hoá thương mại?
+ Kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá danh nghĩa với xuất - nhập khẩu để thấy rõ tại sao trong thời gian qua VN luôn bị thâm hụt thương mại
Trang 10+ Tính toán tỷ giá thực hiệu lực (REER) từ 1999-2008, dự báo REER trong các quý của năm 2009 Kiểm định điều kiện Marshell – Lerner ở VN để thấy rõ hơn tác động của REER và GDP đối với thâm hụt thương mại và giải thích trong điều kiện hiện nay, VN có nên phá giá mạnh đồng VND hay không?
+ Phân tích trạng thái cân bằng đối nội và đối ngoại của nền kinh tế VN thông qua
mô hình Swan để xem ảnh hưởng của tỷ giá thực hiệu lực (REER) đối với các biến
số đối nội và đối ngoại
+ Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm 2009, từ đó đề tài đưa
ra các khuyến nghị về chính sách tỷ giá cho trường hợp VN
3 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng để làm sáng tỏ tác động của các biến số đối với tỷ giá hối đoái, tính tỷ giá thực hiệu lực (REER) Nguồn dữ liệu được sử dụng là dữ liệu thứ cấp lấy từ IFS- Cơ sở dữ liệu tài chính quốc tế, WorldBank và ADB, Tổng Cục Thống Kê nên rất đáng tin cậy
4 Kết cầu đề tài:
Đề tài được trình bày theo 3 chương
+ Chương 1: ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THEO CÁC LÝ THUYẾT HIỆN ĐẠI
+ Chương 2: HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CHO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
+ Chương 3: ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VIỆT NAM ĐỂ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ GIÚP VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NĂM 2009-
2015
Cuối cùng là phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 11“Chỉ có khoa học mới đưa loài người tiến bộ
Chỉ có khoa học sinh viên mới tự khẳng định bản thân mình
Hãy cho tôi thêm một phút để tôi tự tìm hiểu thêm về khoa học”
Tác giả đề tài
Trang 131.1.1 Phá giá đồng tiền
Phá giá là việc nâng cao hay giảm thấp sức mua của đồng tiền đối với các ngoại tệ
và có thể xem là một sự điều chỉnh tỷ giá mạnh, cực đoan (khác với điều chỉnh tỷ giá bình thường ở điểm cơ bản là điều chỉnh tỷ giá bình thường là một việc làm thường xuyên với mức độ nhỏ về thay đổi tỷ giá, không gây ra những biến động lớn cho sự phát triển kinh tế
- xã hội) Về nguyên lý, mục đích của phá giá là để tăng khả năng cạnh tranh quốc tế và cải thiện tình hình cán cân thương mại trong tài khoản vãng lai Lập luận được nêu ra là phá giá sẽ giúp tăng giá hàng nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu Tuy nhiên, để thực hiện việc phá giá thành công cũng cần phải có hàng loạt các điều kiện đi kèm
Điều kiện Marshall – Lerner
Theo lý thuyết Marshall – Lerner1 thì không phải bao giờ việc phá giá cũng làm tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu cũng đều cải thiện được cán cân vãng lai Điều kiện Marshall – Lerner chỉ ra là: khi nào mà độ co dãn của đường cầu xuất khẩu cộng với độ co dãn của đường cầu nhập khẩu lớn hơn 1 (nnk + nxk> 1) thì phá giá mới giúp cải thiện cán cân thương mại
Điều kiện Marshall – Lerner cũng hàm ý chỉ việc chọn thời điểm phá giá cũng rất quan trọng Nếu giá hàng nhập khẩu đang thấp và có xu hướng hạ, phá giá sẽ có lợi vì hàng nhập khẩu sẽ không tăng giá lên nhiều, nhờ đó hạn chế tăng giá thành sản xuất nội địa với đầu vào nhập khẩu, hạn chế mặt trái của phá giá là gây nên lạm phát Bên cạnh đó, nếu như nhu cầu trên thị trường thế giới đối với hàng xuất khẩu của quốc gia tiến hành phá giá đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng thì đầy cũng là một thời điểm tốt để phá giá
vì nó sẽ nhanh chóng làm tăng xuất khẩu cả về số lượng và giá cả
1
Những trình bày chi tiết về điều kiện Marshall - Lerner được đưa ra trong phụ lục 1
Trang 142
-Dự trữ ngoại tệ: Một quốc gia khi điều kiện Marshall- Lerner và các điều kiện
khác nếu thuận lợi, thì trong thực tế có thể tiến hành việc phá giá nhằm giúp cải thiện cán cân thanh toán vãng lai, tiến tới lập lại mục tiêu cân bằng ngoại Tuy nhiên, khi thực hiện phá giá cán cân thanh toán vãng lai sẽ bị xấu đi trong thời gian đầu, và chỉ hồi phục sau một thời gian nhất định
Tình hình biến động trong cán cân thanh toán vãng lai khi một quốc gia tiến hành phá giá (với điều kiện Marshall-Lerner đã thoã), đã được các nhà khoa học thống kê và
mô tả tổng quát thành một đường cong gọi là đường cong J Đường cong J hàm ý rằng thời gian đầu khi tiến hành phá giá cần thiết lập một chính sách tiền tệ thắt chặt và một lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn để can thiệp nhằm duy trì mức tỷ giá mới vì cán cân tài khoản vãng lai xấu đi sẽ tạo ra một áp lực tiếp tục làm tăng tỷ giá và làm nền kinh tế rơi vào vòng lẫn quẩn của phá giá và lạm phát Bên cạnh đó, mức độ và hình thức phá giá cũng cần xem xét kỹ
1.1.2 Kinh nghiệm quốc tế về phá giá
Kinh nghiệm quốc tế về phá giá
Năm 1987, Gylfason đã công bố một bảng tổng hợp về hệ số co dãn của 24 nước
mà ông đã nghiên cứu - kết quả các hệ số co dãn được ông tính là sau 2, 3 năm kế từ lúc phá giá Chúng ta thấy rằng sau 2, 3 năm thì phá giá sẽ cải thiện tài khoản vãng lai (Current Account) Tuy nhiện, khi phá giá thì trong thời gian đầu CA bị xấu đi sau đó nó được cải thiện Điều này được diễn tả bởi hiệu ứng tuyến J:
CA
Trang 15Đồ thị hiệu ứng tuyến J: do P.Kgruman phát hiện năm 1991 sau khi ông nghiên
cứu phá giá USD trong thời gian 1985-1987 Ông cho rằng trong dài hạn thì tổng hệ số co dãn là 1,9 điều này khẳng định sau khi phá giá CA sẽ được cải thiện trong dài hạn Năm
1985, Goldsyein va Kahn đã đi đến kết luận rằng hệ số co dãn trong dài hạn (> 2 năm) có giá trị gần gấp đôi so với hệ số co dãn trong ngắn hạn (0-6 tháng) Ngoài ra, tổng hệ số co dãn trong ngắn hạn có xu hướng gần đến 1 trong khi đó trong dài hạn thì chúng luôn luôn lớn hơn 1
Kinh nghiệm của quốc tế về hiệu quả của phá giá
Connolly va Taylor (1976 và 1979) phát hiện rằng phá giá danh nghĩa làm cho tỷ giá thực giảm trong ngắn hạn và trung hạn Báo cáo của họ năm 1979 cho rằng phá giá danh nghĩa có tác động tích cực lớn đến giá cả nhưng tác động này sẽ chậm dần, khoảng 9 quý sau khi phá giá thì tỷ lệ thực quay trở lại mức trước phá giá chừng 2 năm Mặc dù về chi tiết có khác nhau nhưng điểm chung nhất đã được công nhận bằng công trình nghiên cứu của Donovan (1981), Bautisia (1981), Morgan va David (1981) Gần đây hơn Edwards (1986) đã phân tích 29 trường hợp phá giá trong giai đoạn 1962-1979 Ông thấy ở một số nước phá giá danh nghĩa đã thành công trong việc làm giảm gá trị thực của đồng tiền (Xem phụ lục 2)
Tuy nhiên sau 12 quý một số hoặc toàn bộ các ảnh hưởng bị giảm đi Thực tế, giá trị thực trở nên quá cao ở Bolivia (1979), ở Ai cập 1982, Israel (1971) Edwards chỉ ra ở những nước bị mất đi phần lớn (hoặc hoàn toàn) ảnh hưởng của biện pháp phá giá danh nghĩa là nước thực hiện chính sách tỷ giá đi kèm với chính sách tiền tệ mở rộng, thâm hụt tại chính lớn hoặc tăng lương Các nước thực hiện chính sách vĩ mô phù hợp thì các tác
động này chỉ bị giảm sút không lớn Nghiên cứu của Edwards chỉ ra rằng: trong điều kiện
các nhân tố khác không đổ, trung bình nếu phá giá danh nghĩa 10% thì năm đầu tiên giá trị thực giảm 7%.
Tuy nhiên, tác động thực của phá giá danh nghĩa dần dàn sẽ giảm đi Sau 3 năm tác động của phá giá danh nghĩa 10% trung bình sẽ làm giảm giá trị thực khoảng 5% Điều rất thú vị ở đây là tìm ra ảnh hưởng của các thay đổi trong chính sách tiền tệ thì tác động điều chỉnh của nó sẽ giảm đi rất nhiều Nếu giảm giá danh nghĩa 10% đi cùng với tăng tín dụng 10% thì chỉ giảm được 2% giá trị thực trong năm đó, sau 2 năm giá trị thực trở nên quá cao
1.2 MÔ HÌNH CÂN BẰNG TRONG NỀN KINH TẾ
Mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô rất đa dạng, song có 2 mục tiêu quan trọngnhất là:
Trang 16Thứ nhất, công ăn việc làm đầy đủ, và giá cả ổn định Đây là mục tiêu cân bằng
nội (Internal balance – IB)
Thứ hai, cán cân thanh toán chính thức cân bằng, tức là quốc gia tránh được thâm
hụt hoặc thặng dư quá lớn trong cán cân tài khoản vãng lai Đây là mục tiêu cân bằng ngoại (External Balance – EB).Trong chế độ tỷ giá cố định, các CP đạt được cân bằng bên ngoài thông qua các chính sách kinh tế (chủ yếu là tiền tệ và tài khoá) mà không được phá giá hay nâng giá (trừ trường hợp mất cân đối cơ bản)
Nếu tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài, buộc CP phải lựa chọn: hoặc là phá giá nội tệ, hoặc là giảm dự trữ ngoại hối quốc gia, nghĩa là trạng thái cân bằng bên ngoài của nền kinh tế bị phá vỡ Vậy CP phải làm thế nào để cân bằng cả hai mục tiêutrên?
Những thay đổi trong chính sách tiền tệ và tài khoá nhằm ảnh hưởng đến mức tổng cầu gọi là chính sách thay đổi chi tiêu (expenditure changing policies) Trong khi đó, phá giá hay nâng giá tiền tệ nhằm điều chỉnh cơ cấu chi tiêu lên hàng hoá nội địa và nước ngoài gọi là chính sách dịch chuyển chi tiêu (expenditure switchinh policies)
Các khái niệm cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài đã được Trevor Swan
(1955) mô tả bằng đồ thị và được biết đến là “Swan Diagram” Do không đề cập đến
luồng chu chuyển vốn quốc tế nên mô hình Swan Diagram coi điều kiện bên ngoài chính là trạng thái cân bằng cán cân vãng lai
Hình 1.2: Đồ thị Swan
Trục trung của đồ thị biểu diễn tỷ giá Trục hoành biểu diễn chi tiêu trong nước, bao gồm: tiêu dùng (C), đầu tư (I), và chi tiêu của CP (G)
Trang 17Đường IB có độ nghiêng đi xuống từ trái sang phải là vì khi tỷ giá giảm (nâng giá nội tệ) dẫn đến xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng, do đó để duy trì công ăn việc làm đầy đủ thì cần thiết phải tăng chi tiêu trong nước, được giải thích như sau:
Khi nền kinh tế có công ăn việc làm đầy đủ, thì thu nhập quốc dân đạt giá trị tối đa tại Y( là một hằng số), X là xuất khẩu, M là nhập khẩu
Y = (C+I+G) + (X-M)
Chi tiêu trong nước : (C+I+G) = Y +(M-X)
Y không đổi, nên (M-X) tăng thì (C+I+G) cũng phải tăng để trạng thái luôn cân bằng Những điểm nằm bên phải đường IB đều thuộc vùng áp lực lạm phát lên nền kinh
tế, bởi vì ứng với mỗi mức tỷ giá nhất định, nhu cầu chi tiêu trong nước là lớn hơn so với mức chi tiêu để duy trì công ăn việc làm đầy đủ Trái lại, bên trái IB là vùng áp lực giảm phát (suy thoái) bởi vì tại đó nhu cầu chi tiêu nhỏ hơn so với mức chi tiêu để duy trì công
ăn việc làm đầy đủ
Đường EB có độ nghiêng đi lên từ trái sang phải là vì: khi tỷ giá tăng (phá giá nội tệ), dẫn đến xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, do đó để cán cân vãng lai không trở nên thặng dư, thì chi tiêu trong nước phải tăng để kích thích tăng nhập khẩu đủ để hấp thụ phần xuất khẩu tăng thêm Bên phải đường EB thể hiện chi tiêu trong nước lớn hơn mức chi tiêu mà tại đó cán cân vãng lai cân bằng, do đó cán cân vãng lai trở nên thâm hụt Trong khi đó, bên trái đường EB là vùng cán cân vãng lai thặng dư
Tại điểm A, nền kinh tế đạt được đồng thời cân bằng bên trong và bên ngoài
Giả sử nền kinh tế ở tại điểm B, vừa có lạm phát, vừa có thâm hụt tài khoản vãng lai Nếu CP muốn duy trì đồng thời tỷ giá cố định và giảm thâm hụt cán cân vãng lai bằng cách cắt giảm chi tiêu trong nước, thì nền kinh tế sẽ duy chuyển về điểm C Điều này sẽ đưa nền kinh tế đến tình trạng đình trệ và thất nghiệp
Phương án 2, để đạt được cân bằng bên ngoài thông qua phá giá đồng nội tệ nhằm kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, tức đưa nền kinh tế đến điểm D thì nền kinh tế phải đối mặt với áp lực lạm phát lớn hơn
Có thể rút ra bài học từ mô hình trên: “việc sử dụng chỉ một công cụ duy nhất,
hoặc là mở rộng tài khoá hoặc là phá giá tiền tệ nhằm đạt được đồng thời hai mục tiêu là cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài là không thể Do đó, để đạt đồng
thời hai mục tiêu là cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài (tức từ trạng thái B về trạng thái A), CP cần đến đồng thời ít nhất là hai công cụ, ví dụ, chính sách thiểu phát và phá giá tiền tệ với hàm lượng thích hợp Từ bài học này, Nobel Prize và Jan Tinbergen (1952)
đã nghiên cứu và đưa ra kết luận: một quốc gia có bao nhiêu mục tiêu cần đạt được, thì
Trang 18phải sử dụng ít nhất bấy nhiêu công cụ Kết luận này được biết đến một cách rộng rãi với
tên gọi là : “quy tắc bao nhiêu mục tiêu - bấy nhiêu công cụ” – (instruments – targets
rule).
1.3.KHÁI QUÁT TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC (REER)
Đối với tỷ giá thực (RER) thì có thể hiểu đây là cở sở để định ra giá trị thực của đồng tiền trong nước và một đồng tiền ngoại tệ khác, liên quan đến chỉ số lạm phát giữa Việt Nam so với chỉ số lạm phát của một quốc gia khác, vì vậy có thể gọi là tỷ giá thực song phương
Còn tỷ giá thực hiệu lực (Real Effective Exchange Rate – REER) cũng được tính toán nhằm định giá trị thực của đồng nội tệ so với một loại ngoại tệ khác, do đó ta thường gọi tắt là tỷ giá thực đa phương Tỷ giá thực hiệu lực cung cấp những thông tin quan trọng
về sức cạnh tranh hàng hoá của một nền kinh tế
Trong chỉ tiêu này, thuật ngữ “real” có thể được hiểu như là “lạm phát được điều chỉnh” Sự tác động của giảm giá đồng nội tệ có thể được bù đắp bằng lạm phát trong nước, nếu như đồng nội tệ giảm giá 10% và lạm phát trong nước đang tăng cao hơn 10%
so với mức của thế giới, thì không có thay đổi trong sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước, “real” thực hiện việc điều chỉnh đó Công việc điều chỉnh được tiến hành bằng cách nhân tỷ giá danh nghĩa với một chỉ số lạm phát thích hợp giữa VN và nước ngoài
Thuật ngữ “effective” ở đây nghĩa là tỷ trọng thương mại.Vì một nước có nhiều đối tác thương mại, cho nên ta cần tính sức cạnh tranh trung bình đối với 10 nhóm nước gồm: Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Đức, Malaysia
1.4.PHƯƠNG PHÁP TÍNH TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC
Ta thấy REER là mức độ biến thiên của giá trị thực của đồng nội tệ so với năm cơ
sở, đồng thời là tỷ giá mục tiêu cho năm (t) nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh như là năm gốc, chỉ số này được tính dựa theo:
Một năm cơ sở (base)
Chỉ số tỷ giá danh nghĩa
Chỉ số giá cả theo CPI
Tỷ trọng thương mại cuảc các đối tác thương mại
Trang 19base : tỷ giá VNĐ và đồng tiền nước i năm cơ sở (1 ngoại tệ bằng bao nhiêu đồng VN)
e i : tỷ giá giữa VND và đồng tiền nước i năm t (1 ngoại tệ bằng bao nhiêu đồng VN)
CPI i : chỉ số giá cả của đối tác thương mại i năm t
CPI VN : chỉ số giá của VN năm t
W i : tỷ trọng thương mại của đối tác thương mại i năm t
Nếu REER > 1, thì nội tệ được xem là định giá thực thấp và ngoại tệ được coi là định giá thực quá cao và nó sẽ giúp cải thiện cán cân thương mại vì nếu chuyển một đồng ngoại tệ sang nội tệ sẽ mua được nhiều hàng hoá trong nước hơn so với nước ngoài Chính điều này sẽ kích thích xuất khẩu gia tăng
Nếu REER < 1, thì nội tệ được xem là định giá thực quá cao và ngoại tệ được coi
là định giá thực quá thấp, sẽ có tác động xấu đến cán cân thương mại
Nếu REER = 1, thì sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của hai đồng tiền là như nhau, tức hai đồng tiền là ngang giá sức mua, do đó, tác động làm cho cán cân thương mại cân bằng
Trang 20CHƯƠNG 2 :
HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI CHO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
2.1.THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM NĂM 2008
2.1.1 Tình hình điều hành tỷ giá năm 2008:
Năm 2008, các chuyên gia nhận định, kinh tế VN tiếp tục hội nhập sâu hơn với nền kinh
tế thế giới, do đó sức ép tăng giá cũng “nặng” hơn Từ thực tế điều hành giá cả sau một năm gia nhập WTO, CP và các Bộ, Ngành đã đề ra một số giải pháp nhằm hoá giải sức
ép tăng giá trong năm 2008
Hình 2.1: Đồ thị USD/VND từ 2008-2009
(Nguồn : h tt p : //fi nan ce .y ahoo c o m)
Một trong những nguyên nhân chính khiến lạm phát năm 2007 là 2 con số là do lúng túng trong điều hành chính sách tiền tệ Do đó, công cụ quan trọng để kiểm soát lạm phát hiện nay vẫn là chính sách tiền tệ
Động thái mới nhất từ phía NHNN nhằm kiểm soạt lạm phát trong năm 2008 là quyết định nới lỏng biên độ tỷ giá VND/USD từ +/-0,5% lên +/-0,75% ngay trong những ngày cuối năm 2007(ngày 24/12/2007) nhằm tăng khả năng thanh khoản cho thị trường và tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá trong cảnh nguồn vốn đổ vào VN ngày càng lớn, tạo điều kiện cho dòng vốn vào và ra nhịp nhàng hơn Theo NHNN, việc mở rộng biên độ lần này nằm trong chủ trượng tạo điều kiện để nền kinh tế VN thích nghi với mức độ mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới
Khi mà cung lớn hơn cầu thì điều đó đồng nghĩa với việc tỷ giá sẽ phải giảm Tình trạng thiếu tiền đồng và thừa USD vẫn diễn ra trên thị trường, kéo dài đến những ngày đầu năm 2008, khiến tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng liên tục điều chỉnh giảm sâu Để giảm
Trang 21bới áp lực cho các Ngân hàng trong bối cảnh cung ngoại tệ thừa, có điều kiện ấn định tỷ giá theo cung cầu vốn thực tế, ngày 10/3/2008 NHNN đã mở thêm biên độ tỷ giá thêm một khoảng là +/- 0,25%, cho phép các ngân hàng tự đưa ra tỷ giá trong “phạm vi cho phép” là +/- 1% so với tỷ giá chính thực liên ngân hàng.
Sáu tháng đầu năm 2008, tỷ giá trên thị trường tự do có diễn biến phức tạp Đầu năm,
tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 -16.200 VND/USD, thì đến giữa tháng 3/2008, tỷ giá “sụt hố” xuống 15.400 VND/USD Đột ngột, trung tuần tháng 6/2008, có thời điểm giá chợ đen lên tới 19.000-19.800 VND/USD Thị trường ngoại tệ tự do xảy ra hiện tượng
“sốt ảo” do ảnh hưởng yếu tố đầu cơ, nhà đầu tư đỗ xô đi mua USD và do tâm lý từ một
bộ phận dân cư Tâm lý này bắt nguồn từ những thông tin không thuận lợi như: tỷ lệ lạm phát tiếp tục tăng cao trong các tháng vừa được công bố
Vai trò can thiệp tỷ giá của NHNN chưa kịp thời để dập tắt những xáo trộn, biến động
tỷ giá, làm cho thị trường ngoại hối không ổn định, khi thì “ế USD” khi thì “sốt USD” đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với doanh nghiệp, nhà là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có sử dụng ngoại tệ
Ngày 26/6/2008, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đã ký quyết định tăng biên độ
tỷ giá VND/USD từ +/- 1% lên +/-2%, áp dụng từ 27/6/2008 Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước quyết định công bố lãi suất cơ bản tiếp tục được áp dụng mức 14%/ năm kể từ ngày1/7 Ngày 27/6, ngày đầu tiên chính thức áp dụng biên độ dao động tỷ giá VND/USD +/-2%, tỷ giá USD niêm yết tại ngân hàng thương mại tăng 230 đồng so với ngày 26/6, ởmức 16.846 VND/USD Cùng thời điểm, giá USD trên thị trường tự do giảm hơn 400VND/USD, đặc biệt có sự chênh lệch tỷ giá VND/USD theo từng khu vực Giá USD mua vào 17.400 VND và bán ra 17.775 VND, giảm 400 VND/USD Sức mua USD trên thị trường tự do tăng khá mạnh, lượng khách hàng đến hỏi mua tăng khoảng 20% so với bình thường Tuy nhiên, theo một số ngân hàng TMCP, lượng USD bán ra vẫn còn hạn chế, thậm chí có ngân hàng chỉ mua vào chứ không bán USD ra Do vậy, chuyện doanh nghiệp mua USD theo tỷ giá niêm yết vẫn khó
Từ ngày 7/11/2008, biên độ tỷ giá giao dịch VND/USD được mở rộng 2% lên 3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố (Quyết định số 2635/ QĐ – NHNN ngày 6/11/2008) Theo NHNN, lãi suất của đồng USD liên tục được điều chỉnh giảm và tỷ giá của đồng tiền này so với nhiều đồng tiền chủ chốt của thế giới và khu vực
+/-đã tăng khá mạnh từ đầu năm đến nay: 10% so với Euro; 5,51% so với Baht Thái; 3,11%
so với dolar Singapore; 7,02% so với ringit Malaysia…Việc điều hành tỷ giá tương đối
Trang 22linh hoạt (tăng biên độ từ +/-2% lên +/-3%) sẽ giúp các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tếthích ứng tốt hơn với các biến động trên thị trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Phước Thanh - Tổng GĐ Vietcombank thảo luận về việc tăng biên
độ tỷ giá của NHNN: “Ngoài việc tăng tính linh hoạt cho thị trường, quyết định của
NHNN còn phát đi một tín hiệu cho thấy tỷ giá có thể được điều chỉnh để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu”(theo Báo Thanh Niên ra ngày 7/11/2008).
Tại quyết định số 622/QĐ – NHNN ngày 23/3/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá giữa VND với USD tăng từ mức +/- 3% lên mức +/-
5%, có hiệu lực kể từ ngày 24/3/2009 Theo NHNN, việc điều chỉnh trên “bắt” theo những
tín hiệu mới của nền kinh tế, như nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong quý1/2009 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp, cán cân thương mại thăng dư, Mặt khác, việc điều chỉnh tỷ giá này cũng nhằm để “tăng cường khả năng điều chỉnh linh hoạt của nền kinh tế” Quyết định trên sẽ giúp cho tỷ giá biến động hai chiều linh hoạt hơn, bám sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng và doanh nghiệp chủ động lập phương án sản xuất kinh doanh năm 2009
2.1.2 Tại sao NHNN lại phải nới lỏng biên độ của tỷ giá hối đoái?
Trong thời gian qua đồng đôla Mỹ liên tục giảm giá vì nhiều lí do như tình trạng suy thoái và những diễn biến xấu của thị trường nhà đất, tín dụng, tài chính của Mỹ…Chính vì thế, đồng USD đã rẻ đi rất nhiều so với đồng VND
Hình 2.2: Đồ thị USD/EUR từ 2008-2009
(Nguồn : www.k it c o c o m )
Trang 23Tuy nhiên, tỷ giá của chúng ta vẫn chưa phản ánh hết được điều này So với mức giảm thực tế của giá trị đồng USD thì mức giảm của tỷ giá VND/USD chậm hơn khá nhiều Nguyên nhân là do, chúng ta duy trì tỷ giá hối đoái cố định với biên độ giao động khá hẹp.
Xưa nay, chủ trưởng của Nhà nước vẫn là duy trì chính sách đồng tiền yếu Nghĩa
là duy trì tỷ giá hối đoái ở mức cao, VND thấp hơn giá trị thực của nó, để kích thích xuất khẩu Qua biểu đồ bên dưới, ta thấy REER của Việt Nam luôn ở mức cao hơn 100 ở năm gốc là 1994, tức là VND luôn định giá thấp hơn giá trị của nó
Hình 2.3: Đồ thị REER từ 1994-2008
(Nguồn : CEIC, Merrill Lynch calculations)Tình hình hiện nay, giá USD xuống quá thấp lại gây trở ngại cho nhập khẩu Khi nhập khẩu các hàng hoá tính bằng USD, chúng ta sẽ phải trả nhiều tiền hơn mức giá đáng lẽ phải trả Đó được xem là “nhập khẩu lạm phát” Khi nới rộng biên độ của tỷ giá hối đoái, giá trị đồng tiền Việt sẽ được điều chỉnh gần với giá trị thực hơn, và chắc chắn là sẽ tăng giá hơn nữa so với đồng USD Đều này giúp hạn chế được tình hình “nhập khẩu lạm phát” và cả lạm phát vì đồng tiền mất giá ở trong nước
Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ không có tác dụng tích cực trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định hoặc dao động trong biên độ nhỏ Hiện nay, chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho lãi suất trong nước tăng lên, luồng vốn nước ngoài vì thế sẽ đổ và làm cho đồng nội tệ lên giá Nếu muốn tỷ giá hối đoái không đổi, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải mua đô la vào Điều này sẽ làm tăng cung tiền và khiến lãi suất giảm trở lại, nghĩa là chính sách tiền tệ không đem lại hiệu quả gì Nếu muốn chính sách này có tác dụng, tỷ giá phải thả nổi hoặc có biên độ dao động lớn Trong điều kiện tỷ giá cố định của nước ta hiện nay, nới rộng biên độ tỷ giá là biện pháp cần thiết
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến NHNN phải nới rộng biên độ tỷ giá hối đoái là để điều chỉnh hoạt động mua bán đô la Mỹ trên thị trường Trong khi các Ngân hàng thương mại đang ngần ngại trước việc mua vào đồng USD, một sự nới rộng hơn nữa biên độ tỷ giá sẽ khiến các Ngân hàng có được tự do hơn trong việc định giá đồng tiền này
Trang 24tuỳ theo diễn biến thị trường Hơn nữa mức giá mua vào của Ngân hàng thương mại sẽ không quá chênh lệch so với thị trường, làm giảm động cơ đầu cơ của một số người, thu gom đô la với giá rẻ rồi bán lại cho Ngân hàng để hưởng chênh lệch.
Do đó, nới lộng biên độ tỷ giá hối đoái trong điều kiện hiện nạy là cần thiết, nhưtác động của nó đến đâu thì còn phải chờ đợi và xem xét
2.2.PHÂN TÍCH, DỰ BÁO TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC (REER) Ở VIỆT NAM
2.2.1 Cách tiếp cận tỷ giá mục tiêu của NHNN
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tỷ giá mục tiêu mà trong điều hành chính sách
tỷ giá NHNN đã vận dụng Chẳng hạn, có thể tiếp cận theo phương pháp ước lượng tỷ giá thực cân bằng dài hạn thông qua một mô hình mà nhà kinh tế Sebastian Edwards xây dựng năm 1988 Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng mô hình này để tính toán sự tác động vào tỷ giá của các biến số vĩ mô như: tiêu dùng Chính phủ, luồng vốn ròng vào Việt Nam, tăng trưởng GDP thực, đầu tư,…
Các tiếp cận khác về tỷ giá mục tiêu là sử dụng kinh tế vĩ mô mở Mô hình này giúp liên kết các khu vực kinh tế, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong một tổng thể nhằm đánh giá tác động của các chính sách đối với nền kinh tế Đồng thời mô hình cũng cho phép đánh giá tác động riêng biệt của chính sách tỷ giá đối với cán cân vãng lai, cán cân vốn
Cũng có thể tiếp cận tỷ giá mục tiêu dựa trên mô hình cân bằng đối nội và cân bằng đối ngoại bởi vì mục tiêu hàng đầu của các chính sách kinh tế là tạo ra và duy trì trạng thái cân bằng cho nền kinh tế Cùng với các chính sách tác động vào mức cầu nội địa thì chính sách tỷ giá có thể góp phần điều chỉnh nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng
Một cách tiếp cận được coi là khá phổ biến đối với tỷ giá mục tiêu mà các cuộc tranh luận vừa qua đề cập đến là chỉ số tỷ giá hiệu lực thực (Real Effective Exchange Rate– REER) Chỉ số này cho phép đánh giá và dự báo tỷ giá thực theo hướng xem xét sức mua đối ngoại thực tế của đồng tiền quốc gia và sự tác động đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của quốc gia đó Chỉ số này dựa vào một năm cơ sở (base year) và một rổ đồng tiền của các đối tác chủ yếu về thương mại, vay nợ đầu tư,…
Ứng với mỗi đồng tiền trong rổ thì tỷ giá với đồng VN sẽ được đem so sánh ở hai thời điểm năm cơ sở và hiện hành Sau đó điều chỉnh thông qua lạm phát hai nước và quyền số thương mại Chỉ số REER là tổng hợp thành của các chỉ số thành phần theo các cách tín nêu trên
2.2.2 Nghiên cứu tỷ giá thực hiệu lực từ năm 1999 đến 2008
Trang 25“Rổ tiền” sử dụng để tính chỉ số REER: “Rổ tiền” được sử dụng trong phạm vi
của đề tài gồm có 10 loại tiền, tương ứng với 10 quốc gia mà Việt Nam đang là đối tác xuất nhập khẩu trên nhiều lĩnh vực
Các nước đó là: United States, France, Germany, Korea, Singapore, Thailand, Malaysia, Japan, China, Australia “Rổ tiền” còn được hiểu là một nhóm các tỷ giá được niêm yết này sẽ được dùng để làm cơ sở để tính tỷ giá thực hiệu lực, nếu có càng nhiều quốc gia được sắp xếp vào nhóm thì kết quả tính tỷ giá thực hiệu lực càng chính xác
Lựa chọn năm cơ sở: Năm cơ sở là năm được sử dụng làm gốc tính toán tỷ giá
thực đa phương Lựa chọn năm cơ sở chính xác có tác động đến giá trị của tỷ giá thực hiệu lực, từ đó tác động không nhỏ đến phương thức điều hành tỷ giá Theo quan điểm của GS Trần Ngọc Thơ và các thành viên đề tài của Giáo Sư2, có bốn mốc thời gian có thể được lựa chọn làm năm cơ sở là vào các năm 1992, 1994, 1999 và 2001 Mỗi năm được nêu có những đặc điểm khác nhau
Năm 1999 là năm sau khủng hoảng tài chính Châu Á, đồng tiền của nhiều quốc gia trong khu vực trở về tỷ giá thực cân bằng Cũng trong năm này VN đã hai lần thực hiện điều chỉnh giảm giá mạnh đồng tiền của mình, điều này cho thấy một động thái tích cực từ các nhà hoạch định chính sách tiền tệ khi trả VND về giá trị thực của nó Cán cân thương maị Việt Nam gần như cân bằng, năm mà đồng tiền chung Euro ra đời và được đưa vào rổ.Vì vậy, đề tài chọn năm 1999 làm năm cơ sở để tính REER
Dữ liệu thu nhập ban đầu của các quốc gia trong “rổ tiền”
Về tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa được thu thập từ tỷ giá công bố trên thị
trường vào thời điểm từ năm 1999 đến năm 2008, là tỷ giá giữa giá trị đồng VN so với các đồng ngoại tệ trong “rổ tiền” (Xem phụ lục 4)
Về giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu: Số liệu được sưu tầm từ ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), Niêm giám thống kê, Tổng cục thống kê, Direction of Trade của IMF từ Quý I-1999 đến Quý 4-2008, dữ liệu được thiết kế theo từng quý để phục vụ công việc phân tích và dự báo Có tất cả 40 quý và giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu được quy đổi thành đơn vị tính là triệu USD (Xem phụ lục 6)
Về chỉ số CPI: Số liệu về CPI của các nước trong “rổ tiền” được thu thập trên cơ
sở chỉ số giá tiêu dùng của năm này so với chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ của năm trước (Xem phụ lục 8)
2.2.3 Tính tỷ giá thực hiệu lực (REER) bằng Microsoft Excel
2
:Phương pháp tiếp cận cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam – 2006
Trang 26Điều chỉnh các tỷ giá còn lại về kỳ cơ sở, bằng cách lấy tỷ giá ở thời điểm t chia cho tỷ giá ở thời điểm gốc rồi sau đó nhân cho 100 (Xem phụ lục 5).
Lấy kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đối với nước i tại thời điểm t chia cho tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam đối với các nước đó trong
“rổ tiền” tại thời điểm t (Xem phụ lục 7)
Bước 3: Điều chỉnh chỉ số giá tiêu dùng CPI về năm cơ sở
Chọn kỳ gốc (kỳ cơ sở - i
base) là Quý 1-1999 (Q1-1999=100), công việc điềuchỉnh chỉ số giá tiêu dùng CPI của các năm còn lại ở thời điểm t về kỳ cơ sở được thực hiện bằng cách lấy chỉ số giá CPI ở thời điểm t đó chia cho CPI kỳ cơ sở nhân với 100 (Xem phụ lục 9)
Bước 4: Tính toán tỷ giá thực đa phương của VND( Xem phụ lục 10)
REER W i
*
ei
CPI iCPI VN * Ei
e i : tỷ giá giữa VND và đồng tiền nước i năm t (1 ngoại tệ bằng bao nhiêu đồng Việt Nam)
CPI i : chỉ số giá cả của đối tác thương mại i năm t
CPI VN : chỉ số giá của VN năm t
W t : tỷ trọng thương mại của đối tác thương mại i năm t
Kết quả tính REER như sau:
Trang 27Bảng 2.1 : Tỷ giá REER từ quý 1-1999 đến quý 4-2008
(Nguồn : Tác giả tự tính)
2.2.4 Phân tích số liệu đã tính được :
Qua chỉ số REER tính được ở từng quý, có thể nhận thấy rằng chỉ số REER từ năm
1999 đến 2005 theo xu hướng tăng, tức là đồng VN được định giá định giá thấp, có lợi cho xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam, đây cũng chính là thông điệp của việc điều hành tỷ giá của Chính phủ theo hướng có lợi cho xuất khẩu, vì xuất khẩu của Việt Nam chiếm hơn70% GDP
Ta thấy càng về cuối năm 2005, tỷ giá thực hiệu lực có xu hướng ngày càng tiến gần về ngang giá sức mua (tức REER càng gần về 100) Năm 2006-2007, REER tiếp tục tăng và vào quý I-2008, tỷ giá thực hiệu lực càng tiến về với ngang giá sức mua (REER=99.8), liên tiếp các Quý còn lại của năm 2008 REER liên tục giảm mạnh
Vào quý 3, REER giảm xuống còn 87.282, tức Đồng VN đang định giá cao hơn12.718% Điều này có thể giải thích là do lạm phát của Việt Nam trong Quý 2, 3 luôn nằm
ở mức cao
Vào thời điểm Quý 4 năm 2008, REER của Việt Nam đã giảm xuống còn90,122% Điều này có nghĩa là tỷ giá đã lệch khỏi vị trí được xem là khá tốt và theo hướng
cường giá tiền tệ (overvaluation), tức là đồng Việt Nam được định giá cao hơn 9.878%.
Khi tỷ giá thực tế giảm chứng tỏ giá hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn và giá hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn một cách tương đối, điều này sẽ góp phần làm giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hay nói cách khác sẽ không có lợi cho cán cân thưong mại của Việt Nam nếu như không điều chỉnh tỷ giá chính thức một cách hợp lý
Trang 28Hình 2.4: So sánh NEER – USD/VND và REER của Việt Nam từ 1999-2008
(Nguồn : IMF, Direction of Trade Statistics May 2009)Đồng Việt Nam tăng giá sẽ có ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, do đó đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách quản lý tỷ giá phải có chính sách phá giá VND tương ứng với mức giảm của tỷ giá REER, chẳng hạn nếu ta muốn phá giá đồng Việt Nam so với đô
la Mỹ thì cần thiết phải tính ra tỷ giá kỳ vọng dựa trên công thức:
Tỷ giá kỳ vọng = (% giảm tỷ giá REER) x (tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t) + (tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t) Khi tỷ giá thực hiệu lực tăng thì cần phải điều chỉnh
tăng giá VND lên cũng với cơ sở như vậy
So với cách tính đơn giản về tỷ giá thực với cách tính tỷ giá thực đã được đề cập tại Mục 2.2.3 của đề tài thì kết quả chỉ số REER tính được là khác nhau, mặc dù xu hướng biến động vào những thời điểm gần đầy là giống nhau
Theo cách tính đơn giản : tỷ giá thực = (tỷ giá danh nghĩa x giá hàng ngoại)/ giá hàng nội hay: %tăng/giảm tỷ giá thực tế = % tăng/giảm tỷ giá danh nghĩa - % chênh lệch lạm phát Tỷ giá thực Quý 4-2000=(14.514 x 101,065)/99,534= 14.737, tỷ giá thực Quý 4 năm 2008 = (17.380 x 123,737)/188.926 = 11.383, ta xác định được tỷ giá thực tế của USD/VND vào Quý 4 năm 2008 giảm 22,75% so với Quý 4-2000 Trong khi nếu căn cứ vào tỷ giá thực hiệu lực thì vào Quý 4 năm 2008 tỷ giá này là 90,122 và Quý 4 năm 2000 là 104,402, tức tỷ giá thực hiệu lực Quý 4 năm 2008 giảm 14.28% so với Quý 4 năm2000
Tuy có khuynh hướng biến động giống nhau, nhưng với cách tính có kể đến ảnh hưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu và chỉ số CPI cho nhiều nuớc có quan hệ thương mại với Việt Nam, cho phép ta khẳng định rằng chỉ số REER vẫn là căn cứ khoa học hơn
Trang 29được sử dụng để phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam và cán cân thương mại, thì không nên chỉ dựa vào mối quan hệ giữa giá trị của đô la Mỹ và đồng Việt Nam mà phải dựa vào mối quan hệ với nhiều đồng tiền khác.
Với thực tế biến động USD/VND thời gian qua đã tạo ra hiện tượng sốt đô la trên thị trường hiện nay, người dân và nhà đầu tư hoàn toàn có lý do để cho rằng giá trị thực của đô la Mỹ còn cao hơn rất nhiều so với thời điểm hiện tại khi các số liệu thống kê cho thấy tỷ giá cứ tăng ổn định theo bậc thang Thử đặt vấn đề là làm sao biết được đồng Việt Nam hiện nay được định giá như thế nào, khuynh hướng sẽ đi theo hướng nào?
Trên cơ sở định lượng khoa học, ta tiến hành tính tỷ giá kỳ vọng của đồng ViệtNam so với đô la Mỹ ở từng thời điểm, ta có bảng:
Bảng 2.2: Tỷ giá danh nghĩa, REER, tỷ giá kỳ vọng qua các năm 1999-2008
Tỷ giá danh nghĩa REER Tỷ giá kỳ vọng Q1 2006 15,927.0 106.691 16,918.1 Q2 2006 15,996.0 107.690 16,992.6 Q3 2006 16,055.0 108.582 17,226.1 Q4 2006 16,061.0 104.871 17,432.9 Q1 2007 16,024.0 103.479 16,843.3 Q2 2007 16,125.0 103.852 16,581.5 Q3 2007 16,105.0 103.635 16,746.1 Q4 2007 16,000.0 102.248 16,690.4 Q1 2008 15,960.0 99.800 16,359.6 Q2 2008 16,514.0 95.892 15,992.0 Q3 2008 16,517.0 87.282 17,192.4 Q4 2008 17,380.0 90.122 18,617.6
(Nguồn: Vietcombank, tác giả tự tính)Nếu tỷ giá danh nghĩa vào Quý 4-2008 là 17.380, REER của Việt Nam là 90,122, tức Việt Nam lên giá 9,878% thì thị trường kỳ vọng vào Quý 1-2009,VND phải bị phá giá xuống mức 17.380 x 9,878% +17.380 = 19.096,8 Đây là mức NHNN phải điều chỉnh ngay từ cuối Quý 4-2008 Nhưng hiện này tỷ giá danh nghĩa vẫn đang quanh quẩn con số17.000-18.000
Do thị trường kỳ vọng tỷ giá cao hơn nữa trong khi NNHN giữ tỷ giá thấp hớn mức kỳ vọng của thị trường nên trong thời gian năm 2008 và quý 1-2009, tỷ giá danh nghĩa USD/VND có xu hướng tăng lên nữa, nhiều doanh nghiệp cố “găm” ngoại tệ, không muốn bán cho NH Và điều này còn tiếp diễn nữa cho đến khi nào tỷ giá được điều chỉnh sát với kỳ vọng của thị trường
Trang 302.2.5 Dự báo tỷ giá thực hiệu lực đến cuối năm 2009
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và Eview để dự báo
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để dự báo bằng cách vào đường dẫn Tools\Data Analysis\Regession\OK Trong dự báo này thể hiện mối liên hệ giữ tỷ giá thực hiệu lực và các nhân tố có liên quan như kim ngạch xuất nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng,…sau đó ước lượng sự thay đổi tỷ giá này trong tương lại Các bước thực hiện như
sau:
Bước 1: Đưa vào phương trình hồi quy gồm 1 biến phụ thuộc (Y) là tỷ giá thực
hiệu lực REER và 13 biến độc lập là tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu (X1), tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu (X2), chỉ số tiêu dùng CPI của các nước gồm Việt Nam (X3), United States (X4), France (X5), Germany (X6), Korea (X7), Singapore (X8), Thailand (X9), Malaysia (X10), Japan (X11), China (X12), Australia (X13) Nhập lệnh xử lý theo đường dẫn trên ta được kết quả sau: (Xem Phụ lục 11)
Bước 2: Kiểm định sự cần thiết của các biến độc lập
Trong mô hình trên hệ số R (Multiple R) = 0,9394 thể hiện mức độ tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Y là tương đối mạnh Đồng thời hệ số xác định thể hiện qua R Square là 0,8825 cũng gần với 1 có nghĩa là khả năng giải thích của các biến độc lập với biến phụ thuộc Y là khá cao
Trang 31Tuy nhiên, trị số thống kê T-stat của các biến độc lập rất khác nhau Theo một nguyên tắc không được chứng minh, nếu t-value (giá trị tuyệt đối của t) của các biến độc lập lớn hơn 2 (hoặc > 1,96) thì ta có thể kết luận là có mối quan hệ về mặt thống kê, hay nói cách khác là có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
Như vậy, có 12 biến gồm: X1, X2, X3, X4, X6, X7, X8, X9, X10, X11, X12, X13, có giá trị tuyệt đối t-stat khá thấp (<1,96) ở mức ý nghĩa 5%, do đó về mặt lý thuyết thì ta phải sử dụng các phương pháp kiểm định để xem xét có cần thiết để đưa các biến này vào mô hình hồi quy trước đó hay không, các phương pháp kiểm định này được tích hợp sẵn trong một
số phần mềm thống kê như Eview hay SPSS và được các phần mềm xử lý rất dễ dàng và nhanh chóng Tuy nhiên, vì các biến có T-stat thấp được liệt kê trên ta biết rằng chúng luôn có mặt trong công thức tính REER, do đó chúng là một trong những nhân tố cấu thành nên biến phụ thuộc Y, nói chính xác hơn các biến đó chúng ta nên đưa vào mô hình
để dự báo, mô hình ban đầu vẫn giữ nguyên mà không nên loại bỏ đi một biến nào
Việc sử dụng phương trình hồi quy trên để làm cơ sở dự báo tỷ giá chính thức đến cuối năm 2009 cho thấy đây là một dạng của dự báo cơ bản về tỷ giá hối đoái, nhưng với một mô hình đơn giản chỉ dựa vào kim ngạch xuất nhập khẩu và chỉ số CPI của các nước như vậy, chắc chắn là vẫn còn thiếu các biến có ý nghĩa mà chưa được đưa vào mô hình
Phương trình hồi quy có thể viết lại:
Y = 0,002X 1 + 0,001X 2 – 0,441X 3 – 0,880X 4 + 4,625X 5 - 0,967X 6 – 0,662X 7 – 0,263X 8 - 0,825X 9 – 0,256X 10 + 1,046X 11 + 0,099X 12 + 0,342X 13 -80,835
2.2.4.2 Dự báo tỷ giá thực hiệu lực đến hết năm 2009
Theo IMF Country Report No 09/110 về Việt Nam đưa ra vào tháng 4-2009, IMF
dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 15.48% so với năm 2008 (tức đạt 53,167 tỷ USD), còn tổng kim ngạch nhập khẩu 2009 dự báo giảm khoảng19.88% (tức đạt 60,241 tỷ USD), ta có kết quả hồi quy bảng Excel:
Bảng 2.3: Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam 2009
(Nguồn : IMF, IMF Country Report No 09/110) Còn với dữ liệu thống kê đã được công bố của Quỹ tiền tệ (IMF) trong “World Economic Outlook Database, April 2009”, thì chỉ số lạm phát hay chỉ số giá tiêu dùng
Trang 3220
-(Inflation, Consumer price) trung bình của các nước trong “rổ tiền” tương ứng với X3, X4,
X5, X6, X7, X8, X9, X10, X11, X12, X13 dự báo trong năm 2009 so với năm 2008 như sau:
Bàng 2.4: Dự báo CPI các nước năm 2009 so với 2008
(Nguồn: IMF, Worl Economic Outlook Database, April 2009) Thay thế số liệu lần lượt vào phương trình hồi quy ban đầu, ta sẽ ước lượng được
Y, tức là dự báo tỷ giá thực hiệu lực REER cho năm 2009 Kết quả như sau:
Bảng 2.5: Dự báo REER các quý trong năm 2009
(Nguồn: Tác giả tự tính)
2.2.6 Kiểm định quan hệ giữa tỷ giá và xuất nhập khẩu 1999-2008
Mô hình tỷ giá và xuất nhập khẩu (Xem phụ lục 13)
Đề tài tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá danh nghĩa và xuất nhập khẩu của Việt Nam trong khoảng thời gian 1999-2008, ứng với 10 cặp quan sát ngẫu nhiên: X (tỷ giá hối đoái) và Y (kim ngạch xuất khẩu hoặc nhập khẩu)
Mô hình giữa tỷ giá và xuất khẩu: Y = 3,93 X – 53.468
Mô hình tỷ giá với nhập khẩu: Y= 4,662X – 63.926
Đánh giá độ phù hợp của mô hình
Đối với mô hình quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá và xuất khẩu: Hệ số xác định R2 bằng 0,6797 thể hiện có 67,97% biến thiên của Y (xuất khẩu) là có thể được giải thích bởi
sự phụ thuộc tuyến tính của Y và X (tỷ giá)
Đối với mô hình hồi quy tuyến tính giữa tỷ giá và nhập khẩu: Hệ số xác định
R2=0,5630 thể hiện rằng có 56,3% biến thiên của Y (nhập khẩu) là có thể giải thích bởi sự phụ thuộc tuyến tính của Y vào X (tỷ giá)
Trong bảng phân tích ANOVA, Giá trị P (Significance F) tính được là rất nhỏ và nhỏ hơn kho so sánh với mức ý nghĩa = 5%, nên ta kết luận mô hình hồi quy tuyến tính xây dựng được phù hợp với tổng thể
Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của hồi quy
Giả thuyết : H0: 0 (Y và X không có quan hệ tuyến tính)
H1: 0 (Y và X có liên hệ tuyến tính)
Trang 33Mô hình tỷ giá và xuất khẩu: Y = 3,93 X – 53.468
Mô hinh tỷ giá và nhập khẩu: Y= 4,662X – 63.926
Kết luận: Trong giai đoạn từ Quý 1-1999 đến Quý 1-2009, khi tỷ giá tăng 1 đồng (đồng
nội tệ mất giá) thì xuất khẩu sẽ tăng 3,93 triệu USD và nhập khẩu sẽ tăng nhiều hơn là4,66 triệu USD Điều này lý giải một phần vì sao trong thời gian qua Việt Nam liên tục có thâm hụt mậu dịch, cho dù kim ngạch xuất khẩu đã gia tăng đáng kể
Nhận xét chung về các kết quả kiểm định:
Qua kết quả kiểm định trên, ta thấy mặc dù thâm hụt hay thặng dư mậu dịch do nhiều yếu tố quyết định, bên cạnh đó có một yếu tố rất quan trọng đó là cơ chế điều hành
tỷ giá trong thời gian qua có xu hướng khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu trong biên độ cho phép Các kết quả kiểm định đều cho thấy có mối tương quan khá cao giữa tỷ giá với xuất nhập khẩu và cán cân mậu dịch trong thời gian qua
2.2.7 Kiểm định tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 1999-2008 dựa trên điều kiện Marshall- Lerner:
Giới thiệu mô hình:
Giả thiết cơ bản cho mô hình là một nước sẽ sản xuất một hàng hoá được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đồng thời nhập khẩu hàng hoá khác từ phần còn lại của thế giới,khi đó cân bằng thương mại (xuất khẩu ròng) NX được xác định như sau:
Trong đó:
NX : cán cân thương mại Việt Nam
EX: xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ
IM: nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
: giá cả tương đối hàng hoá nhập khẩu so với hàng hoá sản xuất trong nước (tỷgiá thực REER)
y : thu nhập quốc dân (GDP)
Trang 34Hàm cầu xuất khẩu phụ thuộc vào tỷ giá thực REER Khi phá giá tiền tệ, đồng nội
tệ mất giá, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trở nên rẻ hơn trên góc độ người tiêu dùng nước ngoài Do đó tạo nên lợi thế canh tranh về giá cả, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tăng cường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài
Tương tự như vậy, hàm cầu nhập khẩu cũng chịu tác động của tỷ giá thực Khi đồng tiền trong nước mất giá, hàng hoá nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn, nên người tiêu dùng trong nước có xu hướng chuyển sang tiêu dùng các mặt hàng thay thế mang lại những lợi ích tương tự có giá cả rẻ hơn Ngoài ra, cầu nhập khẩu có thể thay đổi khi thu nhập quốc dân thay đổi Cùng với đà tăng trưởng và phát triển kinh tế, thu nhập người tiêu dùng ngày càng được cải thiện Khi thu nhập tăng lên, người tiêu dùng có khuynh hướng thích sử dụng hàng ngoại hơn vì vậy sẽ làm tăng nhập khẩu
Trong ngắn hạn hàng hoá thường không co giãn theo giá bởi vì người ta thường không thay đổi thói quen một cách dễ dàng Do đó, ta xét điều kiện Marshall- Lerner trongdài hạn với mô hình kinh tế lượng thực chứng phân tích cho Việt Nam như sau:
: là hệ số co giãn của nhu cầu xuất khẩu
E IM 1 với E IM là hệ số co giãn của nhu cầu nhập khẩu
( EX /
Điều kiện Marshall- Lerner cho rằng nếu cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
IM ) và với >0 thì khi phá giá VND sẽ ảnh hưởng tích cực đến cán cânthương mại cũng như cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam
Kết quả hồi quy:
Sử dụng kinh tế lượng hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất với các dữ liệu kinh tế vĩ mô được thu thập như sau:
Y dNX / d : mức độ thay đổi cán cân thương mại so với biến động của tỷ giá thực
X 1 EX / : xuất khẩu thực tế đã được điều chỉnh bởi tỷ giá thực
X 2 IM : nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ nước ngoài
X 3 dy / d : mức thay đổi của GDP so với biến động của giá trị thực đồng VND
Trang 35Kết quả mô hình:
Y= 774,372 – 17,824X 1 + 15,654X 2 – 0,205X 3
Theo kiểm định, ta có hệ số R (Multiple R) = 0,8262 thể hiện mức độ tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Y là tương đối mạnh Hệ số xách định thể hiện qua R Square là 0,6826 thể hiện khả năng giải thích của các biến độc lập với các biến phụ thuộc Y là khá cao Điều này có nghĩa là kết quả của mô hình hồi quy này rất phù hợp với hoàn cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1999-2008, các hệ số hồi quy sẽ có ý nghĩa trong việc phân tích đánh giá về tình hình xuất nhập khẩu trong giai đoạn này
Để kiểm tra mô hình ta chọn ban đầu có đúng hay không ta sử dụng kiểm định sau Nếu t-value (giá trị tuyệt đối của t) của các biến độc lập lớn hơn 2 (hoặc > 1,96) thì ta kết luận là có mối quan hệ về mặt thống kê, hay nói cách khác là có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Theo mô hình kiểm định trên, ta có giá trị tuyệt đối của các biến X1,X2,X3 đều lớn hơn 2, nên ta kết luận mô hình ban đầu ta chọn là đúng
Hệ số cho thấy tác động của xuất khẩu thực (EX/ ) lên mức độ tăng giảm của
NX Hệ số = -17,824 cho thấy ảnh hưởng của xuất khẩu thực kỳ này đến mức độ biếnđộng của cán cân thương mại của kỳ sau là mối tương quan ngược chiều
Tương tự hệ số 15,654 cho thấy sự tác động thuận chiều của nhập khẩu hànghoá và dịch vụ đến cán cân thương mại kỳ sau là rất lớn
Biến số X3 ( dy / d ) có hệ số 0,205 với sai số chuẩn rất thấp 0,0240 Vậymức độ giải thích của biến này trong mô hình là rất tốt, biến X3 có hệ số âm có nghĩa là
Trang 36thu nhập quốc dân có mối tương quan nghịch biến đối với sự thay đổi của cán cân thương mại Điều này được hiệu là tăng trưởng kinh tế sẽ không giúp cải thiện cán cân thươngmại.
Với kết quả của mô hình hồi quy trên, ta có điều kiện Marshall- Lerner:
17,824 15,654 0
Từ năm 2002 đến 2007, cán cân thương mại và dịch vụ của nước ta liên tục bị thâm hụt, tỷ giá thực hiệu lực REER cao hơn 1 trong suốt thời kỳ này nên kim ngạch xuất khẩu thực tế (EX/ ) càng nhỏ hơn so với tổng kim ngạch nhập khẩu cùng kỳ Trong trường hợp phá giá VND đưa tỷ giá thực cao hơn thì sẽ thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời cũng làm cho kim ngạch nhập khẩu tăng nhiều hơn Theo điều kiện Marshall- Lerner, thì tổng hệ số co dãn xuất khẩu và nhập khẩu nhỏ hơn 0 nên việc phá giá tiền tệ sẽ không mang lại hiệu quả trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay
Như ta đã biết, các biến kinh tế thường có tác động trễ, sự biến động của tỷ giá trong kỳ này sẽ có ảnh hưởng đến cán cân thương mại trong các kỳ sau đó Do đó, để xem xét tác động của các yếu tố này ta hồi quy lại mô hình trên và đưa thêm các biến trễ vào, ta
có kết quả như sau:
Theo mô hình ta thấy Adjusted R-squared vẫn cao (68,29%) nên chứng tỏ có sự tác động trễ của xuất khẩu và nhập khẩu quá khứ lên cán cân trong những kỳ sau Hơn nữa các hệ số ∑ -32,114 ∑ 27,981 cũng đúng với ý nghĩa thống kê
Khi tỷ giá thực tăng lên (đồng nội tệ mất giá), hàng hoá xuất khẩu trở nên rẻ hơn
so với người tiêu dùng nước ngoài Tuy nhiên, xuất khẩu không tăng lên ngay được vì hoạt động xuất khẩu thường được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn Còn kim ngạch nhập
Trang 37khẩu thì tăng lên do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng Do vậy cán cân thương mại và dịch
vụ có xu hướng giảm xuống cho đến khi tỷ giá thực sự tác động đến xuất khẩu làm cải thiện cán cân thương mại Điều này phù hợp với “đường cong tuyến J”
Kết luận
Hình 2.5: Tình hình xuất nhập khẩu 1999-2009 ĐVT: Triệu USD
Xuất khẩu Nhập khẩu
4 tỷ USD, năm 2008 đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6%), thuỷ sản (năm 2007 là 3,8 tỷ USD, năm
2008 là 4,6 tỷ USD, tăng 21,2%)
Bên cạnh đó hàng hoá nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam là máy móc thiết bị, dụng
cụ phụ tùng (năm 2007 đạt gần 10,4 tỷ USD, tăng 56,5% và năm 2008 13,7 tỷ USD, tăng23,3% so với năm 2007), xăng dầu (năm 2007 là 7,5 tỷ USD, tăng 25,7% và năm 2008 là10,9 tỷ USD, tăng 41,2%), sắt thép (năm 2007 đạt 4,9 tỷ USD, tăng 66,2% và năm 2008đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5%
Với cơ cấu như trên, các mằt hàng xuất khẩu đa số là các mặt hàng có độ co dãn cao với giá Kể từ năm 2002-2008, các mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta đang ở mức tăng rất thấp (vào khoảng 10-12%) do phải cạnh tranh với các nước trên thế giới khi Việt Nam gia nhập WTO
Trong khi đó, nước ta chủ yếu nhập khẩu các mặt hàng ít co giãn với giá, đó là những hàng hoá không thể thay thế Khi giá cả hàng hoá nước ngoài đắt hơn thì nhu cầu
Trang 38trong nước đối với hàng hoá nước ngoài sẽ giảm, nhưng giảm rất ít do đó là những mặt hàng thiết yếu, ngược lại giá cả lại đắt hơn nhiều làm cho kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng.
Theo kết quả hồi quy trên, hệ số co giãn của hàm xuất khẩu lớn hơn hệ số co giãn của hàm cầu nhập khẩu nên biến động của xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ lớn hơn Điều này sẽ không ảnh hưởng tích cực đến cán cân thương mại
2.3 PHÂN TÍCH TRẠNG THÁI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM QUA BIỄU ĐỒ SWAN:
Đạt được đồng thời cân bằng bên trong (cân bằng nội) và cân bằng bên ngoài (cân bằng ngoại) là một mục tiêu trọng tâm của các chính sách kinh tế vĩ mô Cả cân bằng nội
và cân bằng ngoại đều dựa vào hai biến số nền tảng: mức cầu nội địa và tỷ giá thực hiệu lực (REER) Đến lượt mình, cả hai biến số này phản ảnh các điều kiện và chính sách kinh
tế vĩ mô
Thâm hụt cán cân vãng lai xảy ra khi REER bị định giá cao, và/ hoặc có mức cầu nội địa thực cao quá mức Biểu đồ Swan là một trong những công cụ có thể sử dụng để phân tích trạng thái của nền kinh tế, điểm đạt được trạng thái cân bằng nội và cân bằng ngoại, cũng như các vùng mất cân bằng khác nhau Đề tài sẽ đi phân tích nền kinh tế Việt Nam theo biểu đồ Swan:
Hình 2.6: Trạng thái kinh tế Việt Nam theo biểu đồ Swan năm 2008-2009
Theo đồ thị, tại trạng thái cân bằng đối nội và đối ngoại thì REER = 100 Trục trung của đồ thị biểu diễn tỷ giá Trục hoành biểu diễn chi tiêu trong nước, bao gồm: tiêu dùng (C), đầu tư (I), và chi tiêu của chính phủ (G)
Theo cách tính REER của đề tài, thì REER của Việt Nam Quý 4 năm 2008 giảm xuống còn 90.122%, tức là đang bị định giá cao hơn 9.878% Thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài dai dẵng từ năm 2005 đến năm 2008, năm 2008 thâm hụt cán cân vãng lai 9,2 tỷ
Trang 39USD, và dự báo năm 2009 sẽ là 7,3 tỷ USD, đưa nền kinh tế Việt Nam nằm bên phảiđường cân bằng ngoại EB.
Bảng 2.6: Bảng cán cân vãng lai từ 2005-2009
(Nguồn: IMF, Vietnam: Selected Economic Indicators, 2005–2009) Năm 2008 tình trạng thất nghiệp của người lao động tăng cao, ước tính khoảng500.000 người lao động mất việc năm 2008, tăng 4,6%, dự báo năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp tăng khoảng 5% Có nghĩa là nền kinh tế Việt Nam đang nằm bên trái đường cân bằng nội
IB Do đó, đề tài cho rằng trạng thái nền kinh tế Việt Nam nằm tại điểm B là phù hợp nhất trong năm 2008 và 2009 Vậy nền kinh tế Việt Nam đối diện với thất nghiệp cao và thâm hụt cán cân vãng lai nền nằm ở vùng số (2)
Để nền kinh tế Việt Nam (điểm B) trở về trạng thái cân bằng đối nội và đối ngoại, tức tại điểm A, đề tài tiến hành phân tích các yếu tố đối nội và đối ngoại của kinh tế Việt Nam
2.3.1 Phân tích cán cân kinh tế vĩ mô đối nội:
Trong giai đoạn 1999-2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng rất ấn tượng,
tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao năm 1999 với mức 4,4% nhưng sau đó tỷ lệ này tăng với mức khoảng 2,1 %-2,2 %/ năm và giữ ổn định cho tới năm 2007 Bên cạnh đó, trong năm2000-2001, lạm phát ở mức âm thể hiện mức giảm chung của hàng hoá và dịch vụ tiêudùng
Lạm phát giảm chứng tỏ trong nền kinh tế, hàng hoá được sản xuất ra nhiều nhưng cầu tiêu thụ ít đi Lạm phát giai đoạn này giảm co thể được giải thích bởi cuộc khủng bố11-9-2001 ở Mỹ, làm cho giá cả các mặt hàng trên thế giới giảm mạnh Khi kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi thì người dân chi tiêu nhiều hơn, đẩy giá cả hàng hoá, lạm phát tăng trở lại trong giai đoạn 2002-2007
Năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại đạt 6,23% so với năm 2007 Trong điều kiện khó khăn toàn cầu, kinh tế Việt Nam tăng trưởng dương cũng là một điều đáng chú ý, trong khi các quốc gia khác tăng trưởng kinh tế ở mức âm
Từ đầu đến giữa năm 2008, do giá cả các mặt hàng trên thế giới tăng cao, đã đẩy lạm phát của Việt Nam trong 2008 lên cao, theo IMF lạm phát Việt Nam năm 2008 khoảng 23,1%
Trang 40Hình 2.7: Đồ thị tăng trưởng GDP, CPI, tỷ lệ thất nghiệp từ 1999-2009
(Nguồn: IMF, ADB, GSO, Bộ Lao động-Thương binh xã hội)
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua:Tăng trưởng GDP trung
bình giai đoạn 2000-2007 đạt 7,6% Năm 2007, tăng trưởng 8,48%
Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây không phải là một hiện tượng thần
kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng
Năm 2008, chịu ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tài chính thếgiới, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.19% Tốc độ tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với năm
2007 và mục tiêu đã đề ra của chính phủ Nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều nhất là công nghiệp và xây dựng
Năm 2008, tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng chỉ khoảng 6.33%, trong khi
đó năm 2007 là 10.6% Ngành xây dựng có mức suy giảm mạnh nhất từ mức 12.01% năm
2007 xuống 0.02% năm 2008 Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tăng trưởng 3.79%, không biến động nhiều so với tỷ lệ 3.4% của năm 2007
Quý 1 năm 2009 tăng trưởng GDP đạt 3.1%, thấp hơn nhiều so với năm 2008 và những năm trước đó Tăng trưởng công nghiệp chỉ còn 1.5%, dịch vụ 5.4%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0.4% Điều này báo trước một năm 2009 là năm khó khăn với kinh tế Việt Nam