xây dựng lộ trình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động ở Việt Nam
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CUU KHOA HOC:
NGHIÊN CUU XAY DUNG LO TRINH THUC HIEN
BAO HIEM XÃ HỘI ĐŨI VỚI MỌI NGƯỜI LA0 ĐỘNG 0 VIET NAM
CHỦ NHIỆM: T8 NGUYỄN TIẾN PHÚ
THU KY: CN HOANG THI HUE
Hà Nội - 2004
5828
4157 04
Trang 2NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN DE TAI:
1/ Chi nhiém đề tài: Tiến sỹ Nguyễn Tiến Phú, Phó Chánh văn phòng Bảo hiểm xã hội Việt Nam
2l Thư ký đề tài: Cử nhân Hoàng Thị Huế, Văn phòng Bao
hiểm xã hội Việt Nam
3/ Những người tham gia thực hiện đề tài:
+ Thạc sỹ Nguyễn Thanh Hương, Văn phòng Bảo hiểm xã
hội Việt Nam
+ Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Hương, Giảng viên Khoa Kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Trang 3
BẢO HIỂM XÃ HÔI VIỆT NAM
TOM TAT DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC:
, NGHIÊN tỨU XÂY DUNG LO TRINH THUC HIEN
BAO HIEM XA HGI B61 VOI MO! NGUGI LAO DONG 0 VIET NAM
CHỦ NHIỆM: TS NGUYÊN TIẾN PHÚ THƯ KÝ: CN HOANG THỊ HUẾ
Hà Nội- 2005
Trang 4
Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2004
NGHIÊN CỨU XÂY DỤNG LỘ TRÌNH
THỰC HIỆN BHXH ĐỐI VỚI MỌI NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) Quyền lợi tham gia và hưởng các chế độ BHXH của người lao động đã được Hiến pháp năm 1980 xác định Tiếp đó, Nghị quyết
Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “ Thực hiện các chính sách xã hội bảo
đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã
hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ” [16, trang 212]
Nghị quyết cũng đã xác định lộ trình thực hiện sự nghiệp BHXH ở Việt Nam trong thời gian tới như sau: ”Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm cho mọi
người lao động, mọi tầng lớp nhân dân " [16, trang 212]
Nhưng, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, việc thực biện các chế
độ, chính sách BHXH, BHYT đối với người lao động còn bị hạn chế còn gặp nhiều khó khăn do khả năng kinh tế của đất nước ta có mức độ, chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói và nhận thức của người lao động còn hạn chế, bất cập Vì vậy, việc thực hiện BHXH, BHYT đối với mọi người lao động đời
hỏi phải có lộ trình thích hợp, tránh chủ quan, duy ý chí
Để xây dựng được lộ trình thích hợp cần có những nghiên cứu cơ bản
cả về lý luận lẫn thực tiễn của vấn để này Vì vậy, việc chọn dé tai: “
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG LỘ TRÌNH THỰC HIỆN BHXH ĐỐI VỚI
MỌI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM" là rất cần thiết vừa có ý nghĩa
lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn cao
Trang 5
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cho việc xây đựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở Việt Nam trong thời gian tới
- Đánh giá thực trạng tình hình lao động, việc làm và thực hiện
BHXH đối với người lao động ở nước ta trong thời gian qua
- Xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế ở Việt Nam
3- Phạm vi nghiên cứu:
Do yêu cầu, thời gian và kinh phí đối với đẻ tài cấp bộ, ngành có mức
độ nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ hạn chế trong việc xây đựng lộ
trình tiến tới thực hiện một số chế độ BHXH chủ yếu đã thực hiện ở Việt
Nam Riêng chế độ chăm sóc sức khoẻ, khám, chữa bệnh (bảo hiểm y tế -
BHYT) cho người lao động nói riêng và nhân dân nói chung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: "Mở rộng y tế tự nguyện, tiến tới BHYT toàn dân" (16, trang 107], đối tượng thực hiện BHYT là toàn dân (trong đó có người lao động) cũng không thuộc phạm vi nghiên cứu của
đề tài này
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề thực hiện mục đích nghiên cứu trên, dé tài sử dụng các phương
pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng Mác - Lênin;
- Phuong pháp kế thừa;
- Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê;
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
5 Kết cấu nội dung chủ yếu của đề tài:
Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, kết cấu nội dung chủ yếu của đề tài
ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, gồm 3 chương:
- Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở Việt Nam
Nghiên cửa xây dựng lộ trình thực liện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 6Tóm tắt dé tài nghiên cứu khoa học 2004 3
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN
XÂY DỤNG LỘ TRÌNH THỤC HIỆN BHXH ĐỐI VỚI
MỌI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Trong chương này đề tài thé hiện 3 nội dung chủ yếu sau:
Nội dung thứ nhất: Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội
mang đậm tính nhân văn cao cả
Để làm rõ nội dung này trước tiên đề tài nêu Tổng quan về BHXH,
trong đó xác định một số khái niệm cơ bản trong hoạt động BHXH:
- Khái niệm về bảo hiểm xã hội: Hiện nay ở Việt Nam chưa có định
nghĩa thống nhất về thuật ngữ BHXH
Đề tài cho rằng BHXH là sự bảo vệ, che chắn của Nhà nước, của xã
hội, của cộng đồng đối với tất cả các thành viên trong xã hội, trong cộng đồng thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với những khó
khăn về kinh tế do bị ngừng hoặc giảm nguồn thu nhập từ lao động, gây ra
bởi các rủi ro xã hội như ốm đau, bệnh tật, chăm sóc y tế, tai nạn lao động,
mất khả năng lao động, tuổi già, từ trần, gia đình đông con (sau đây gọi
tất là rủi ro xã hội)
Có thể hình tượng hoá BHXH như là "tấm lưới chắn phía dưới" để
bảo vệ diễn viên khi đang diễn trò hoặc luyện tập trong các rạp xiếc, nó chẳng những bảo đảm an toàn cho điễn viên khi biểu diễn hoặc luyện tập không may bị rơi xuống mà còn tạo sức bật cho diễn viên đứng dậy tiếp tục
diễn trò hay luyện tập
Trang 7Tóm tắt dé tai nghiên cứu khoa học 2004 4
Ngoài ra, BHXH cồn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: dưới
góc độ pháp lý, dưới góc độ kinh tế - tài chính, dưới góc độ chính trị - xã hội và dưới góc độ quản lý
Nội dung của BHXH được biểu hiện thông qua hệ thống các chế độ
BHXH cụ thể được quy định trong hiến pháp, bộ luật, đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác
Sau đó để tài giới thiệu một số khái niệm khác như, khái niệm về trợ cấp BHXH, khái niệm về quỹ BHXH, khái niệm về tiền đóng BHXH Tiếp theo, đề tài nêu rõ các chức năng, tính chất và những nguyên tắc
cơ bản của BHXH Đề tài khẳng định, với những chức năng, tính chất và
căn cứ vào quy định về các chế độ BHXH, ta thấy BHXH là một chính sách mang đậm bản chất nhân văn Mỗi chế độ BHXH đều gắn với một nội dung sinh học nào đó trong vòng đời hoạt động của con người Ngay từ khi còn nằm trong bào thai người mẹ đến khi sinh nở đã được BHXH che chắn bảo vệ (chế độ trợ cấp thai sản); khi lớn lên đi làm việc, không may bị ốm
đau, bệnh tật, tai nạn được BHXH khám , chữa bệnh, trợ cấp tiền lương (chế
độ trợ cấp tai nạn lao động, chế độ BHYT và trợ cấp ốm đau); già cả, mất
khả năng lao động, về nghỉ hưu được BHXH chỉ trả lương hưu và lo chăm
sóc sức khoẻ (chế độ hưu trí và BHYT); khi từ trần được cấp tiền mai táng
phi va bao dam nguồn sống cho những người thân tộc còn lại (chế độ tử
tuất); trong quá trình làm việc không may bị thất nghiệp cũng được trợ cấp tiền lương (chế độ thất nghiệp); thậm chí gia đình đông con gặp khó khăn trong cuộc sống cũng được trợ cấp (chế độ trợ cấp gia đình)
Cuối phần tổng quan về BHXH, đề tài giới thiệu vài nét về lịch sử
phát triển của BHXH ở thế giới và Việt Nam
Sau đó, dé tài xác định sự cần thiết phải thực hiện BHXH đối với mọi
người lao động Vì vậy, ngày nay, trên thế giới, đã có trên 174 nước thực
hiện chính sách BHXH và BHXH luôn là một chính sách lớn, là trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, là một trong những công cụ
Nghiên cứu xây đựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 8Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 5
quan trọng để điều tiết và phân phối lại thu nhập trong xã hội của mỗi quốc
Tiếp đến, đề tài nêu rõ khái niệm về lộ trình Từ “lộ trình” có nghĩa
là đường phải đi qua; đường đi ” [20, trang 415]
Với nghĩa đen của từ “ lộ trình” như vậy, trong phạm ví nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi quan niệm “lộ trình” là đường ải, nước bước trong lịch trình tiến tới thực hiện BHXH đối với mọi người lao động như Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vạch ra Thực chất"lô rrình" ở đây chính là chiến lược hoặc ít ra cũng là
kế hoạch dài hạn để thực hiện việc mở rộng đối tượng, tăng thêm số người
lao động tham gia BHXH, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho đất nước
Như vậy, nội hàm chủ yếu của lộ trình tiến tới thực hiện BHXH đối
vợi mọi người lao động ở nước ta sẽ bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Xác định tính chất, đặc điểm và phân chia các đối tượng (người LĐ)
sẽ thực hiện BHXH trong thời gian tới thành các nhóm (tổ) đối tượng có
tính chất, đặc điểm giống nhau hoặc tương đối giống nhau để có các giải
- Xác định các biện pháp để thực hiện lộ trình đã vạch ra
- Xác định các điều kiện cần thiết để thực hiện lộ trình trên
- Tổ chức thực hiện lộ trình này như thế nào
- Kiến nghị với Nhà nước, với các cơ quan hữu quan và cơ quan sự
nghiệp BHXH để thực hiện tốt lộ trình
Đề tài cũng xác định rõ sự cần thiết phải xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động (sau đây gọi tất là lộ trình) Thể hiện
Trang 9Tóm tắt dé tài nghiên cứu khoa học 2004 6
qua sự cần thiết đối với người lao động, người sử dụng lao động và đối với
Nhà nước Đề tài nhấn mạnh, đến bây giờ có thể nói, trên thế giới quốc
gia nào cũng muốn thực hiện BHXH cho mọi người lao động Nhưng điều
đó không phải dễ dàng thực hiện, ngay cả trong các nước kinh tế đã phát
triển mạnh
Mỗi quốc gia đều phải căn cứ vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể của nước mình để vạch ra một /ô /rinh thích hợp tiến tới thực hiện
BHXH cho mọi người lao động như chúng ta đang làm hiện nay Không một nước nào thực hiện BHXH ngay một lúc đồng bộ cho tất cả người lao
động Đó là một tất yếu khách quan
Nội dung thứ 2 của chương 1, đề tài xác định cơ sở khoa học về các mối quan hệ kinh tế, xã hội, truyền thống trong với việc xây dựng lộ trình
thực hiện BHXH đối với mọi người lao động
Đề tài dự báo những định hướng chủ yếu xây dựng và phát triển kinh
tế, xã hội Việt Nam trong thời gian tới làm cơ sở để xác định lộ trình tiến tới thực hiện BHXH đối với mọi người lao động
Tiếp theo, đề tài nêu rõ truyền thống quý báu của dân tộc ta về tình đoàn kết, tương thân tương ái, đó là những tiền đề, là cơ sở cho bảo hiểm xã hội hình thành và phát triển ở Việt Nam Nội dung cuối cùng của chương 1
đề tài giới thiệu vài nét về quá trình thực hiện BHXH ở một số quốc gia trên thế giới, làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng lộ trình ở nước ta
Hiện nay, mức độ bao phủ BHXH so với tổng lực lượng LÐ của một
số nước như sau: các nước có thu nhập cao trong khối OECD: trên 80%; các
nền kinh tế chuyển đổi của Đông Âu: hơn 60%; các nước Mỹ La Tỉnh có
thu nhập trung bình: khoảng 30-40%; các nước Đông Á: đưới 30%, Nam Á,
Châu Phi cận Sahara: dưới 10% [theo Lương Phan Cừ Báo cáo khoa học của đề tài:”Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật BHXH trong giai đoạn hiện nay”, Văn phòng Quốc hội, Vụ Các vấn để
xã hội, Hà Nội, tháng 3/2005, trang 47]
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Na.
Trang 10Tóm tắt dé tai nghién citu khoa hoc 2004 7
Chương 2
ĐÁNH GIÁ THỤC TRANG TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG,
VIỆC LÀM VÀ THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI
Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
Trong chương 2, đề tài nghiên cứu 3 nội dung lớn
Nội dung thứ nhất, đề tài nêu vài nét về quá trình phát triển kinh tế,
xã hội của nước ta trong những năm gần đây Trong đó nêu rõ những thành tựu và những tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lộ trình thực
hiện BHXH ở nước ta trong thời gian tới
Nội dung thứ hai , đề tài đánh giá thực trạng về lao động và việc làm ở Việt Nam trong thời gian qua; nêu rõ các thành tựu, các mặt còn yếu kém, bất cập trong lĩnh vực này đã ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng tham gia BHXH của người lao động như thế nào
Nội dung cuối cùng của chương 2, đê tài đánh giá thực trạng tình
hình thực hiện BHXH ở nước ta theo các giai đoạn chủ yếu:
- Giai đoạn từ năm 1945 — 1964: Giai đoạn này chính sách BHXH đã
dần hình thành và bát đầu thực hiện ở Việt Nam Với việc ra đời của Điều
lệ tạm thời về BHXH đã đánh dấu “mốc son ” quan trong, lần đầu tiên nước
ta có chính sách BHXH tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, đối tượng được tham gia BHXH còn rất hạn hẹp; các chi phí vẻ BHXH còn nặng về cơ chế
bao cấp, đều do NSNN đài thọ, nguyên tắc người tham gia BHXH phải
đóng góp cho quỹ BHXH chưa được thực hiện
- Giai đoạn từ năm 1965 — !994, về cơ bản , chính sách BHXH trong
giai đoạn này vẫn được thực hiện theo các Điều lệ tam thời về BHXH đã
được ban hành trước đây, nhưng đã được sửa đổi , khắc phục những quy
định chưa phù hợp trong các chế độ BHXH Từ năm 1976 trở đi, chính sách BHXH đã được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước
Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế - xã hội biến động lớn, hệ thống chế
độ chính sách BHXH phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần nên còn chắp vá, thiếu
Trang 11Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 8
đồng bộ và xư dần các nguyên tắc, nội dung cốt lõi của BHXH vốn đã được
xác định ngay từ khi ra đời Đối tượng được tham gia và thụ hưởng chính
sách BHXH chỉ giới hạn là người cán bộ, công nhân viên chức làm trong
khu vực quốc doanh va lực lượng vũ trang (khu vực nhà nước), (ạo ra sự phân biệt giữa người lao động làm việc trong khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh; do đó đã tạo ra sự mất công bằng trong việc hưởng quyền lợi BHXH của người lao động và vi phạm nguyên tắc lấy số đông bù số ít trong
BHXH nhất là đối với các chế độ ngắn hạn, tạo nguy cơ mất cân bằng thu-
chi quỹ BHXH, kinh phí dành để chỉ trả các chế độ BHXH: trở thành một gánh nặng lớn cho NSNN trong giai đoạn này
Để khắc phục những hạn chế của chính sách BHXH trước đây, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VỊI để ra: “Đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội theo hướng: mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đêu đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội Từng bước tách quỹ bảo
hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước khỏi Ngân sách và hình _ thành quỹ bảo hiểm xã hội chung cho người lao động thuộc mọợi thành phần
nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, bình sỹ Quân đội nhân dân và Công an
nhân dân kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995
Đây là những cơ sở pháp lý cơ bản và hoàn chỉnh nhất từ trước đến
nay để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động BHXH ở Việt Nam Nhằm mục tiêu cơ bản là góp phần đảm bảo cuộc sống của người lao
đông khi gặp rủi ro xã hội ngoài ý muốn; bảo dam an sinh xã hội và mang
ý nghĩa kinh tế - xã hội, nhân văn rất lớn, thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây:
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 12Tóm tắt dé tài nghiên cứu khoa học 2004 9
- Phạm vi đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng tới mọi người lao động trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước thuộc mọi thành phần kinh tế và lực lượng vũ trang nên mang tính xã hội cao
- Quy định rõ người lao động muốn được hưởng BHXH thì phải đóng BHXH; người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH
để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử dụng, nhằm đảm bảo nguyên tắc có đồng mới được hưởng
- Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất theo chế độ tài
chính của Nhà nước, hạch toán độc lập với NSNN và được Nhà nước bảo
hộ Quỹ được sử dụng để chỉ trả các chế độ BHXH theo quy định của pháp
luật Quỹ phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng thu - chí lâu đài và ổn định, được thực hiện các biện pháp để bảo tổn giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ
- Các chế độ BHXH bao gồm: Chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất Nội dung các chế độ BHXH nhìn chung ít thay đổi so với
các quy định trước đây, chủ yếu chỉ bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước về BHXH
- Nhằm thực hiện việc tách chức năng quản lý Nhà nước về BHXH ra
khỏi chức năng tổ chức thực hiện BHXH; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập
hệ thống BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH hiện nay ở Trung ương và địa phương thuộc hai hệ thống Lao động-Thương binh
và Xã hội và Tổng liên đoàn Lao động, để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước và sau đó Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết
Trang 13Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 10
một sự cải cách, đổi mới thực sự trong việc thực hiện BHXH ở Việt Nam
tạo cơ hội cho việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp BHXH ở Việt Nam ngày càng phát triển và bền vững
Hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương gồm ba cấp:
- O Trung ương là BHXH Việt Nam
- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh), trực thuộc BHXH
Việt Nam
- Ở các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện), trực thuộc BHXH tỉnh
- Giai đoạn từ năm 1995-2004, sau gần 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện, ổn định chính trị-xã hội được giữ vững, quốc phòng, an ninh được củng cố
Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và phát triển.Với những điều kiện
thuận lợi đó chính sách BHXH, BHYT vừa được ban hành càng có cơ hội thực hiện tốt hơn
Đề tài nêu rõ các thành tựu chủ yếu đã đạt được và những hạn chế, tồn
tại, yếu kém của hệ thống BHXH ở Việt Nam trong 10 năm kể từ 1995 đến 2004 Đề tài nhấn mạnh, tuy cồn một số tồn tại, hạn chế, nhưng với
những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua có thể khẳng định hệ thống
BHXH ở Việt Nam sẽ đảm bảo tốt việc thực hiện mở rộng đối tượng tham gia BHXH đến mọi người lao động
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam
Trang 14Tóm tắt dé tài nghiên cứu khoa học 2004 I1
Tóm lại: Trong thời gian qua, chính sách BHXH đã có nhiều sửa đổi,
bổ sung và cải cách lớn cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch
sử, thực hiện công cuộc đổi mới BHXH, đi đúng quỹ đạo và bản chất nhân đạo của BHXH, thực hiện cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và
là một chính sách lớn của Nhà nước ta nhằm đảm bảo công bằng và an sinh
xã hội Đối tượng tham gia BHXH đã từng bước được mở rộng, số lượng người lao động được tham gia BHXH ngày càng nhiều
Chương 3 -
XÂY DỤNG LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI MỌI NGƯỜI LAO ĐỘNG
Trong chương 3 đề tài nghiên cứu 3 nội dung chủ yếu sau:
Nội dụng thứ nhất, đề tài tiến hành phân loại và xác định đặc điểm
của các đối tượng chưa tham gia BHXH
Để đơn giản trong nghiên cứu, căn cứ vào những quy định hiện hành
về đối tượng tham gia loại hình BHXH bắt buộc, để rdi phân chia các đối tượng chưa tham gia BHXH thành 3 Joai chi yéu sau:
- Đối tượng là những người lao động hiện nay thuộc điện tham gia loại hình BHXH bắt buộc nhưng chưa được tham gia BHXH
- Đối tượng là những người lao động hiện nay chưa thuộc diện tham
gia loại hình BHXH bắt buộc Đối tượng này để tài lại phân thành nhiều nhóm (tổ) nhỏ:
+ Ñhóm đối tượng gồm những người lao động làm việc trong khu
vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp
+ Nhóm đối tượng gồm những người lao động làm nghề buôn bán,
dịch vụ, xây dựng
+ Nhóm đối tượng gồm những người lao động là những thợ tiểu, thủ công nghiệp đang và sẽ làm việc trong các làng nghề
Trang 15Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 12
+ Nhóm đối tượng gồm những người lao động tự do, có việc làm theo hợp đồng dưới 3 tháng, hợp đồng một vụ việc mà thời gian thực hiện dưới 3 tháng, sau đó không tiếp tục làm việc với chủ SDLĐ đó nữa; những người lao động tự lao động cho chính mình (kể cả số lao động tham gia khu vực
kinh tế phí chính quy); những người làm việc ở nhà mà không có tiền lương
và những người có nhiều thời gian không làm việc ở đâu cả
- Đối tượng không tham gia BHXH Đối với loại đối tượng này khi xây dựng lộ trình thì không cần phải chú ý tới họ
Tiếp theo, đề tài xác định các đặc điểm chung và riêng cho từng nhóm đối tượng chưa được tham gia BHXH làm cơ sở cho việc xây dựng lộ
trình sau này Trong đó, đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu đặc điểm của
nhóm đối tượng là những người lao động hiện nay chưa thuộc diện tham
gia loại hình BHXH bắt buộc
Đối tượng hiện nay chưa thuộc điện tham gia loại hình BHXH bắt buộc rất đa dang, phức tạp, dự tính có khoảng trên 31 triệu người lao động, chiếm gần 74% tổng lực lượng lao động hiện tại, trong tương lai tỷ lệ này
sẽ giảm, cho nên có thể nói: (hực chất việc xây dựng lộ trình thực hiện
BHXH cho mọi người lao động chính là xây dựng lộ trình cho loại đối tượng này
Sau khi xác định các đặc điểm chung của các đối tượng này, đề tài đi sâu nghiên cứu đặc điểm riêng theo từng nhóm đối tượng:
Nội dung thứ 2 của chương 3 và cũng là nội dung chủ yếu nhất của
để tài là tiến hành xây dựng lộ trình và giải pháp thực hiện BHXH đối
với mọi người lao động
Đề tài xác định các nguyên tắc và yêu cầu chủ yếu đối với lộ trình
thực hiện BHXH cho mọi người lao động như sau:
Khi xây dựng lộ trình cần đểm bảo các nguyên tắc:
- Phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
các chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 16Tóm tắt dé tai nghiên cứu khoa học 2004 13
- Phải đảm bảo thực hiện tốt chiến lược phát triển con người của quốc gia, coi con người là yếu tố trung tâm vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu của các chính sách xã hội,
- Phải tạo mọi điều kiện thuận lợi, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và sán chơi bình đẳng để mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức, đơn vị, mọi
doanh nghiệp, mọi đối tượng và cá nhân trong xã hội phát huy hết tiềm
năng, nội lực đóng góp, làm giàu cho đất nước, cho cộng đồng, cho đơn vị,
cho doanh nghiệp, cho chính bản thân và gia đình mình Đảm bảo công
bằng xã hội
Lộ trình cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lộ trình thực hiện chính sách BHXH phải phù hợp với trình độ phát
triển của nền kinh tế, phải tương đồng với các chính sách xã hội khác
- Lộ trình thực hiện chính sách BHXH phải xuất phát từ những giá trị
truyền thống và đặc trưng văn hoá của dân tộc ta
- Đảm bảo việc thực hiện chính sách BHXH luôn gắn liền và đồng bộ với thực hiện hệ thống chính sách xã hội khác của Đảng và Nhà nước ta
nhằm phát huy vai trò tổng hợp của hệ thống chính sách xã hội nói chung
- Lộ trình phải đảm bảo tính khả thi cao, phù hợp với đặc điểm , tính chất, điều kiện kinh tế, trình độ nhận thức, nhu cầu tham gia BHXH và
hoàn cảnh của từng loại đối tượng người lao động, tránh chủ quan, áp đặt
lộ trình Sau đó đề tài tiến hành xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với
mọi người lao động dưới 2 dạng sau:
1 Lộ trình chung
Trang 17Tóm tắt dé tai nghiên cứu khoa học 2004 14
- Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 Giai đoạn này có thể tạm
coi là giai đoạn chuẩn bị để sự nghiệp BHXH ở Việt Nam chuyển sang giai
đoạn phát triển cao hơn cả về chất lượng lẫn số lượng nhằm tiến tới thực hiện BHXH đối với mọi người lao động Vì vậy, trong giai đoạn này hoạt động BHXH ở nước ta cần thực hiện các nội dung chủ yếu sau đây:
+ Chuẩn bị cơ sở pháp lý
+ Chuẩn bị điểu kiện kinh tế-xã hội của mọi ngành, mọi cấp, moi
người SDLÐ và người lao động trong xã hội
Hai nội dung này chính là chuẩn bị điều kiện “cẩn” cho việc thực biện lộ trình
+ Chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý điều
hành của các đơn vị, cơ quan và tổ chức thực hiện BHXH đối với mọi người
lao động Đây là điều kiện “đứ” để đảm bảo cho việc thực hiện chính sách BHXH thắng lợi
Số đối tượng dự báo sẽ thực hiện BHXH từ 2005 đến năm 2010, đảm bảo cho 12 triệu lao động (chiếm khoảng 25% lực lượng lao động cả nước) tham gia đóng BHXH, trong đó có 5,7 triệu lao động hiện nay đã và dang
đóng BHXH, BHYT
- Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020 Giai đoạn này tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH và thực hiện mở rộng đối tượng tham gia BHXH cho khoảng 50% lực lượng lao động cả nước
- Giai đoan từ năm 2021 đến 2030 Giai đoạn này tiến hành mở rộng thêm một số chế độ BHXH và sẽ thực hiện BHXH cho 80% số người lao
động trong lực lượng lao động cả nước và sau đó đến năm: 2040 thì hầu hết
người lao động được tham gia BHXH và tiếp tục thực hiện cho các thế hệ
trẻ bắt đầu tham gia vào lực lượng lao động của nước nhà
2 Về lộ trình và giải pháp cụ thể để thực hiện BHXH đối với
người lao động thuộc các nhóm đối tượng khác nhau:
Đề tài xác định như sau:
2.1 Lộ trình về xảy dựng và ban hành các cơ sở pháp lý về BHXH
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 18Tóm tắt dé tài nghiên cứu khoa học 2004 15
- Từ năm 2005 đến năm 2006: xây dựng và ban hanh Luat BHXH
cùng các văn bản hướng dẫn thực hiện tạo cơ sở pháp lý tương đối ổn định
lâu đài cho việc thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở nước ta
- Từ năm 2007 trở đi tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH
và tập trung vào chức năng quản lý nhà nước về BHXH như tăng cường
kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, bảo đảm tính thống
nhất, tính nghiêm minh của pháp luật
2.2 Lộ trình và giải pháp đốt với các đối tượng là những người lao
động hiện nay thuộc diện tham gia loại hình BHXH bắt buộc nhưng chưa được tham gia BHXH
- Giai đoạn từ 2005 đến 2010: Giai đoan này đảm bảo có 12 triệu lao động tham gia thường xuyên đóng BHXH (trong đó, hiện đã có 5,7 triệu
LÐ đang đóng BHXH) Số này chủ yếu gồm toàn bộ (khoảng 99%) những người LÐ hiện nay thuộc diện tham gia loại hình BHXH bắt buộc, thực hiện theo quy định trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội Việt Nam
và Luật BHXH sẽ ban hành vào năm 2006 Ngoài ra sẽ thực hiện BHXH đối với một số người lao động thuộc các nhóm đối tượng lao động làm kinh doanh buôn bán, dịch vụ và trong các làng nghề, là những lao động có khả năng về tài chính và có nhu cầu được tham gia các loại hình BHXH
Muốn vậy cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể sau đây:
+ Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện chính sách BHXH cần phối hợp với các cơ quan, Bộ, ban, ngành chức năng như ngành Thống kê, Lao động-Thương binh và xã hội, Tài chính (thuế, hải quan), Ngân hang, Kho bạc Nhà nước, Kế hoạch và Đầu tư, Quản lý đô thị, Nội vụ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các hội để xác định chính xác số đơn vị SDLĐ và
số lao động hiện đang sử dụng để quản lý và yêu cầu thực hiện tham gia
BHXH theo quy định của pháp luật Đay là một việc làm khó vì các đơn vị SDLĐ và người lao động mà họ sử dụng luôn biến động, nhưng vẫn phải
làm mạnh Bảo hiểm xã hội Việt Nam là người chủ trì phối hợp với Tổng
cục Thống kê và các cơ quan hữu quan khác tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Trang 19Tóm tắt đê tài nghiên cứu khoa học 2004 16
này ở cấp trung ương (vạch kế hoạch điều tra, tổng hợp và phân tích đánh
giá kết quả thống kê trên phạm vi toàn quốc) Các BHXH địa phương có
trách nhiệm phối kết hợp với các cơ quan Đảng, chính quyền, sở, ban ngành
tại địa phương để điều tra, thu thập số liệu tại địa phương Sau khi có kết
quả điều tra sẽ đánh giá chính xác số người lao động biện nay thuộc diện
tham gia loại hình BHXH bắt buộc nhưng chưa được tham gia BHXH để có
chế tài xử lý tương ứng với sai phạm mà người SDLĐ gây ra
+ Xây dựng một số công cụ pháp lý tạo lập thiết chế đủ mạnh để thực thi pháp luật BHXH một cách nghiêm túc
+ Tăng cường công tác tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH; về
quyền lợi và nghĩa vụ của người LÐ, người SDLĐ khi tham gia BHXH Giải pháp này thực hiện cả ở trung ương và địa phương, chủ yếu là ở địa phương
bằng nhiều hình thức do các cơ quan, đơn vị BHXH thực hiện và phối hợp
với các cơ quan thông tin đại chúng khác cùng thực hiện
+ Tiến trình mở rộng đối tượng tham gia BHXH trước tiên tập trung
vào khu vực kinh tế Nhà nước, sau đó đến các thành phần kinh tế khác, chú
trọng các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; các doanh nghiệp vừa và
nhỏ hoạt động theo Luật doanh nghiệp; các hợp tác xã đã chuyển đổi và
hoạt động theo Luật Hợp tác xã
+ Tạo mọi điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để các
doanh nghiệp, các hợp tác xã hoạt động tốt, có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh doanh có hiệu quả và có lợi nhuận cao Trên cơ sở đó thực hiện BHXH cho mọi người lao động thuộc diện tham gia loại hình BHXH bắt buộc Giải pháp này do các cơ quan hữu quan, các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp
từ Trung ương đến địa phương thực hiện
+ Triển khai thí điểm loại hình BHXH tự nguyện đối với người lao
động chưa thuộc diện tham gia loại hình BHXH bắt buộc Sau đó hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với loại hình BHXH tự nguyện vào năm 2010 để
từ năm 2011 triển khai đại trà loại hình BHXH tự nguyện trên phạm vi cả nước, nhất là đối với người lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, ngư, diém nghiệp Cần có nhận thức đúng về loại hình BHXH tự nguyện Đây
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 20Tóm tắt dé tai nghién citu khoa hoc 2004 17
chỉ là hình thức bổ sung cho loại hình BHXH bắt buộc và thực hiện chủ yếu đối với người lao động có thu nhập cao, ổn định và/hoặc đã tham gia loại
hình BHXH bắt buộc để khi kgông may gặp rủi ro xã hội sẽ được quỹ
BHXH chỉ trả trợ cấp cao hơn Trước mắt, loại hình BHXH tự nguyện được
áp dụng cho các đối tượng người lao động hiện nay chưa thuộc điện tham
gia loại hình BHXH bắt buộc chỉ là hình thức quá độ để chuyển dần sang loại hình BHXH bắt buộc trong tương lai gần
+ Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện BHXH tiếp tục hoàn thiện
cơ cấu tổ chức bộ máy, bổ sung cán bộ và các điều kiện, trang bị kỹ thuật hiện đại đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực và trình độ quản lý; hoàn thiện các quy trình, quy phạm quản lý đối tượng và nghiệp vụ chuyên môn; ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hệ thống và
tích hợp cơ sở dữ liệu về BHXH làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung và
hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH trong các giai đoạn tiếp theo
- Giai đoạn từ 2011 trở ải: Tiếp tục thực hiện BHXH đối với các lao động trong điện bắt buộc còn sót chưa được tham gia và thực hiện BHXH đối với những người lao động mới bước vào diện bắt buộc nhằm đảm bảo mọi người LÐ trong điện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật phải được tham gia BHXH
2.3 Lộ trình và giải pháp đối với các đối tượng là những người lao
động hiện nay chưa thuộc diện tham gia loại hình BHXH bắt buộc
- Giai đoạn từ năm 2005 đến 2010: Có thể nói đây là giai đoạn chuẩn
bị cho việc thực hiện BHXH đối với mọi người LÐ thuộc các thành phần kinh tế ngoài thành phần kinh tế Nhà nước, vì vậy giai đoạn này phải thực hiện ít nhất từ 0,8 - 1 triệu lao động hiện nay chưa thuộc điện tham gia loại
hình BHXH bắt buộc tạo đà cho việc mở rộng đối tượng tham gia trong các
giai đoạn sau Để thực hiện mục tiêu này cần thực hiện các giải pháp sau đây:
+ Ban hành các văn bản quy phạp pháp luật về loại hình BHXH tự nguyện trong năm 2006 cùng với việc ban hành các văn bản hướng dẫn
Trang 21Tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học 2004 18
thực hiện Chính sách, chế độ BHXH tự nguyện phải tương đồng với chính
sách, chế độ BHXH bắt buộc để dễ dàng chuyển đổi giữa hai loại hình này
Tổ chức triển khai thực hiện thí điểm loại hình này từ 2007 đến 2010 đảm
bảo cho 0,8 - 1 triệu lao động tham gia loại hình BHXH tự nguyện
+ Tăng cường công tác tuyên truyền sâu, rộng về pháp luật BHXH
nói chung và loại hình BHXH tự nguyện nói riêng trên các phương tiện thông tin đại chúng, dưới nhiều hình thức, đa dạng về thể loại và phong phú
về nội dung nhằm nâng cao một bước nhận thức của người LD, người SDLD và các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, các ngành, các cấp uỷ đảng và
chính quyền từ trung ương đến địa phương, để việc tham gia BHXH thực sự
tự giác, vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mọi người lao động, mọi người
SDLĐ trong xã hội để trong tương lai chuyển hầu hết các đối tượng tham
gia loại hình BHXH tự nguyện sang thực hiện loại hình BHXH bắt buộc
+Phát triển sản xuất khu vực ngoài kinh tế Nhà nước, nhất là khu vực nông thôn để tạo thêm nhiều việc làm mới, tạo điều kiện để người lao động tăng thêm thu nhập cải thiện đời sống và tham gia BHXH theo các
loại hình BHXH đã ban hành Chú ý phát triển sẳn xuất trong các làng nghề, đây là một nguồn lao động rất dồi dào và khả thi để mở rộng diện tham gia BHXH; các trang trại nông nghiệp, lâm nghiệp cũng là một nguồn
bổ sung lực lượng người lao động tham gia BHXH vì đây là một loại hình
sản xuất kinh doanh nông nghiệp đã và đang phát triển lâu đài, bền vững ở Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế thị
trường
+ Tổ chức bộ máy, bố trí, sắp xếp cán bộ, viên chức thực hiện loại hình BHXH tự nguyện Xây dựng và ban hành các quy định, quy trình nghiệp vụ thực hiện loại hình này từ khâu đăng ký đến khâu cuối cùng nhận
trợ cấp BHXH, đặc biệt là đối với chế độ hưu trí và chế độ tuất, đòi hỏi
quản lý đối tượng với thời gian đài hàng vài chục năm, thậm chí hàng trăm
năm
- Giai đoạn từ 2011 đến 2020: tiếp tục mở rộng đại trà các đối tượng
tham gia các loại hình BHXH đảm bảo đến cuối năm 2020 khi đất nước đã
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọt người lao động ở Việt Nam
Trang 22Tóm tất dé tài nghiên cứu khoa học 2004 19
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì số lao động tham gia BHXH cũng đạt được khoảng 50% tổng số lao động trong lực lượng
lao động và loại hình BHXH bất buộc chiếm ưu thế tuyệt đối
- Giai đoạn từ 2021 trở di: tiếp tục mở rộng đối tượng đến mọi ngưồi
lao động kế cả các lao động tự do, đảm bảo đến năm 2030 đạt con số 80%
lực lượng lao động được tham gia BHXH và đến năm 2040 thì hầu hết
người lao động trong các thành phần kinh tế thuộc mọi tầng lớp nhân dân
đêu được tham gia các loại hình BHXH như Nghị quyết Đại hội Dang IX đã
xác định
Sau đó đề tài xác định các điều kiện cần thiết để thực hiện lộ trình,
bao gồm các điều kiện pháp lý, điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật
và điều kiện về tổ chức bộ máy và con người thực hiện sự nghiệp BHXH
Tiếp đến đề tài đưa ra kế hoạch tổ chức thực hiện lộ trình qua 4 bước
Nội dung cuối cùng của chương 3 đề tài đưa ra những kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan hữu quan nhằm đảm bảo thực hiện lộ trình đã xây
đựng trên, gồm:
- Kiến nghị với Nhà nước
- Kiến nghị với các Bộ, ban, ngành chức năng, đoàn thể của Nhà nước ở Trung ương,
- Kiến nghị với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương
- Kiến nghị với hệ thống BHXH Việt Nam
KẾT LUẬN
Đề tài "Vghiên cứu xảy dựng lộ trình tiến tới thực hiện BHXH đối
với mọi người lao động ở Việt Nam" là một đê tài nghiên cứu rất khó Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu phải dựa trên cơ sở của
các dự báo trong tương lai về kinh tế - xã hội, về chính sách, về luật pháp và đặc biệt là dự báo về sự phát triển dân số, lao động, việc làm, thu nhập,
trình độ dân trí của đất nước và nhu cầu được tham gia BHXH của người lao
Trang 23Tom tat đề tài nghiên cứu khoa học 2004 20
động ở nước ta trong tương lai xa, nhưng các số liệu dự báo về các lĩnh vực
này đều rất hạn chế và không đây đủ, rất nhạy cảm và biến động
Đề tài đã có những đóng góp chủ yếu sau:
1 Trong chương 1, Đề tài nêu tổng quan về BHXH, mà nội dung này lâu nay ở nước ta vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất, còn nhiều ý kiến
6 Cuối chương 1, Đề tài giới thiệu sơ bộ một vài nét về quá trình thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới để thấy rõ những khó khăn và
tình trạng chung trong việc thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở
các quốc gia trên thế giới kể cả các nước phát triển
7 Trong chương 2, Để tài đánh giá thực trạng, nêu rõ các thành tựu
và các mặt còn tồn tại, yếu kém về lao động, về giải quyết việc làm và thực
hiện BHXH đối với người lao động ở nước ta trong những năm qua
8 Trên cơ sở các luận cứ khoa học đã xác định ở chương 1 và đánh
giá thực trạng về lao động, việc làm và tình hình thực biện BHXH đối với
người lao động ở Việt Nam trong thời gian qua ở chương 2, trong chương 3
Đề tài tiến hành xác định nguyên tắc, yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến
việc xây dựng lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi người lao động ở Việt
Nam trong thời gian tới và tiến hành xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho
các loại đối tượng chưa được tham gia BHXH và đưa ra các giải pháp để
thực hiện lộ trình đó theo từng giai đoạn chủ yếu trong dự báo tiến trình phát triển của lịch sử, kinh tế và xã hội Việt Nam trong tương lai nhằm đảm
Nghiên cứu xây dung lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 24Tóm tắt đê tài nghiên cứu khoa học 2004 2I
bảo đến năm 2040 thì mọi người lao động ở nước ta đều được tham gia BHXH
9 Cuối cùng, để tài xác định các điều kiện cần thiết cho việc thực
hiện lộ trình; đưa ra kế hoạch tổ chức thực hiện lộ trình và nêu rõ các kiến nghị với Nhà nước, với các cơ quan Bộ, ban ngành, đoàn thể ở Trung ương; với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương và với hệ thống BHXH Việt
Nam nhằm đảm bảo thực hiện tốt lộ trình thực hiện BHXH đối với mọi
người lao động trong thời gian tới đã xây dựng
Đề tài đã cung cấp một lượng thông tin đảm bảo độ tin cậy và có căn cứ khoa học, vì vậy đề tài có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các
: nhà hoạch định chính sách va quản lý, thực hiện sự nghiệp BHXH cũng
như các nhà nghiên cứu, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và các
người quan tâm đến lĩnh vực BHXH
Do trình độ, khả năng và thời gian có hạn, chắc chắn đề tài không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong có sự góp ý của các nhà khoa học
và người quan tâm để kết quả của để tài được hoàn thiện và trong thời gian tới sẽ được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam Xin chân thành cảm ơn
Trang 25Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 1
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách mang đậm bản chất nhân
văn cao cả của con người; nhằm hạn chế và khắc phục các rủi ro xã hội, ổn
định cuộc sống của người lao động nói riêng và của nhân dân nói chung; góp phần đảm bảo công bằng, ổn định chính trị và an sinh xã hội, tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển bền vững nên kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến chính sách BHXH Quyền lợi tham gia và hưởng các chế độ BHXH của người lao động đã được
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 xác định:
“Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp BHXH theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền lợi đó Nhà nước hướng dẫn các hợp tác xã (HTX) thực hiện từng bước chế độ
BHXH đối với xã viên” [21, trang 96] Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2001, có hiệu lực từ năm 2002) một lần nữa khẳng định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với
người lao động Công dân có quyên được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ
Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí.” [21, trang
155 và 156]
Bộ Luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi bổ sung năm 2002),
trong đó dành cả Chương XII để quy định về các chế độ BHXH thực hiện tại Việt Nam dưới 2 loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Trên cơ
sở đó, Chính phủ và các Bộ, ban, ngành hữu quan đã ban hành các nghị
định và thông tư liên tịch quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các chế
độ chính sách BHXH và BHYT cho người lao động
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 26Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 7
- Dưới góc độ kinh tế - tài chính, bảo hiểm xã hội là một quỹ tiên tệ
tập trung khá lớn được huy động từ các bên tham gia BHXH để hỗ trợ tài
chính cho người lao động và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ổn
định cuộc sống an lành của người lao động nói riêng và của xã hội nói chung
- Dưới góc độ chính trị - xã hội, bảo hiểm xã hội biểu thị mối liên kết giữa các bên tham gia BHXH trên cơ sở lợi ích chung; biểu thị mối quan hệ
giữa các thế hệ con người với nhau; giữa người đang nghỉ hưu với người trẻ
tuổi đang làm việc; giữa người khoẻ mạnh với người bị ốm yếu; giữa người
có việc làm với người không may bị thất nghiệp; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người giàu với người nghèo; giữa người
may mắn với người không may mắn gặp phải rủi ro xã hội; biểu hiện sự
tương trợ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa những người sống trong cộng
đồng, trong xã hội thể hiện quan hệ "mình vì mọi người, mọi người vì mỗi người" Đông thời nó cũng biểu thị mối quan tâm của Nhà nước đối với người lao động, lực lượng chủ yếu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thông qua
việc Nhà nước ban hành và thực hiện chính sách BHXH, đóng góp, bảo hộ
quỹ BHXH và thành lập các cơ quan, tổ chức thực hiện sự nghiệp BHXH
- Dưới góc độ quản lý, thực chất BHXH là một chính sách, một công
cụ hữu hiệu của Nhà nước để tổ chức sử dụng và điều tiết, phân phối lại thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm xã hội trong nước bằng các kỹ thuật nghiệp
vụ huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động khi đang làm việc, có thu nhập từ lao động và các nguồn thu khác để hình thành một quỹ tiền tệ mang tính chất xã hội tập trung, gọi là Quỹ BHXH
- Nội dung của BHXH được biểu hiện thông qua hệ thống các chế độ BHXH cụ thể được quy định trong hiến pháp, bộ luật, đạo luật và các văn
bản pháp quy khác của quốc gia Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong Công ước 102, được thông qua ngày 28/06/1952 quy
định các chế độ BHXH gồm chín chế độ (nhánh) trợ cấp sau: Chăm sóc y
tế (BHYT); trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hưu trí);
Trang 27Dé tai nghiên cứu khoa học 2004 8
họ bị giảm hay mất nguồn thu nhập do gặp phải rủi ro xã hội dẫn đến bị
suy giảm hoặc mất khả năng lao động, hoặc mất việc làm và hội tụ đủ các
điều kiện hưởng chế độ BHXH theo quy định của pháp luật
Người lao động được hưởng loại trợ cấp nào, với mức trợ cấp và độ dài thời gian được hưởng bao nhiêu là tuỳ thuộc vào: tính chất, mức độ của hiện tượng rủi ro, bất trắc xẩy ra yêu cầu BHXH; mức suy giảm khả năng
lao động; thời gian tham gia đóng BHXH và mức đóng BHXH của họ
Ngoài ra, còn phụ thuộc vào mức tăng trưởng của phần quỹ BHXH nhàn rỗi
được cơ quan BHXH đưa vào các hoạt động sinh lợi
Để xây dựng hệ thống mức các loại trợ cấp BHXH nêu trên, các nhà hoạch định chính sách phải dựa trên cơ sở khoa học, tính toán nhiều yếu tố
ảnh hưởng, trong đó bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
- Tình hình phát triển của nền kinh tế quốc dân
- Mức sống (hoặc mức lương) tối thiểu và mức sống (hoặc mức lương) trung bình của người lao động khi đang làm việc
- Khả năng đóng góp tiền BHXH của đại đa số người lao động trong cộng đồng, trong xã hội
- Nhu cầu BHXH của người lao động trong cộng đồng, trong xã hội
- Mối quan hệ giữa lợi ích của ba bên: người lao động (LĐ), người sử dụng lao động (SDLĐ) và Nhà nước
1.1.3 Quỹ BHXH được hiểu như thế nào?
Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về quỹ BHXH Theo chúng tôi có thể hiểu Quỹ BHXH là tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHXH, của chủ SDLĐ, của Nhà nước và của các nguồn thu khác, tạo
Nghiên cứa xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 28Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 9
thành một quỹ tiền tệ tập trung, để chi trả các chế độ BHXH cho những người tham gia BHXH và gia đình họ khi họ gặp rủi ro xã hội theo quy định của pháp luật và chị cho việc quản lý quỹ BHXH Vì vậy, thực chất Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời nó cũng là một loại gwÿ dự phòng
đảm bảo an sinh xã hội mang ý nghĩa kinh tế - xã hội rất lớn Quỹ BHXH
chính là nguồn tài chính đặc trưng cho sự phát huy nội lực của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước được tích tụ dần mà thành Đó
là một tiềm năng rất lớn của mỗi quốc gia để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Đây cũng là một nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn cơ bản, để đầu tư vào những công trình trọng điểm của đất nước đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt, tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho ngudi LD, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần cho người LD, tao điều kiện mở rộng đối tượng tham gia BHXH, tăng nguồn thu cho quỹ và đảm bảo an sinh xã hội
Trong thực tế, Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ luôn luôn biến động,
tăng lên ở đầu vào (do các nguồn thu tăng lên) và giảm đi ở đầu ra (do các nguồn chỉ từ quỹ), như là một “ông ” tiền chảy liên tục trong hệ thống của
quỹ Đặc biệt đối với những nước có đông lực lượng LĐ chưa tham gia BHXH (như nước ta chẳng hạn) thì tiềm năng của quỹ còn khá dồi dào
xác định chính xác mức đóng BHXH không phải dễ dàng và không phải lúc
nào cũng làm được, bởi vì nó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau và
bản thân các nhân tố này cũng thường xuyên biến động Thông thường mức đóng được ổn định trong một thời gian dài để việc thực hiện chính sách
thuận lợi và cuộc sống người lao động ổn định, đỡ bị ảnh hưởng
Trang 29Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 ` 10
1.2 Chức năng của BHXH:
Bảo hiểm xã hội có các chức năng chủ yếu sau:
1.2.1 Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp lại một phần thu nhập cho người lao động đã tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm
hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm trên cơ sở những điều kiện xác định Nhằm giúp họ khắc phục khó khăn về kinh tế, ổn định cuộc sống
1.2.2 Phân phối và phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc lẫn
chiều ngang giữa những người tham gia BHXH có thu nhập cao với người
có thu nhập thấp; giữa người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm
yếu, bệnh tật phải nghỉ việc; giữa thế hệ trẻ tuổi đang làm việc với thế hệ nhiều tuổi đã về hưu, giữa những người may mắn với những người không
may mắn góp phần bảo đảm công bằng và an sinh xã hội;
1.2.3 Góp phần kích thích người LĐ yên tâm, hãng hái lao động sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất, tỉnh thần cho xã hội và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, ổn định cuộc sống của gia đình;
1.24 Gắn bó lợi ích giữa người LÐ với người SDLĐ tạo điều kiện cho sản xuất ngày càng ổn định và phát triển bền vững
Với chức năng trên, BHXH là một chính sách mang đậm bản chất
nhân văn của nhân loại Mỗi chế độ BHXH đều gắn với một nội dung sinh
học nào đó trong vòng đời hoạt động của con người Con người ai cũng trải qua các giai đoạn "sinh, lão, bệnh, tử” Ngay từ khi còn nằm trong bào thai người mẹ đến khi sinh nở đã được BHXH che chắn bảo vệ (chế độ trợ cấp thai sản); khi lớn lên đi làm việc, không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn được BHXH khám , chữa bệnh, trợ cấp tiền lương (chế độ trợ cấp tai nạn lao động, chế độ BHYT và trợ cấp ốm đau); già cả, mất khả năng lao động,
về nghỉ hưu được BHXH chỉ trả lương hưu và lo chăm sóc sức khoẻ (chế độ
hưu trí và BHYT); khi từ trần được cấp tiền mai táng phí và bảo đảm nguồn
sống cho những người thân tộc còn lại (chế độ tử, tuất); trong quá trình làm việc không may bị thất nghiệp cũng được trợ cấp tiền lương (chế độ thất
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 30Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 H
1.3.1 Bảo hiểm xã hội mang tính tất yếu khách quan trong bảo đảm
đời sống xã hội Đó là một nhu cầu thiết yếu của con người;
1.3.2 Rủi ro xã hội được trợ cấp bảo hiểm xã hội có tính ngẫu nhiên,
phát sinh không đồng đều theo thời gian, không gian, đối với mỗi ngành nghề và mỗi người LÐ;
1.3.3 Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, tính
nhân văn vừa có tính dịch vụ Đặc biệt, khi nền kinh tế - xã hội càng phát triển thì tính chất xã hội và tính dịch vụ càng cao
1.4 Những nguyên tắc cơ bản và yêu cầu của BHXH:
Để BHXH thực sự là một chính sách mang đậm tính nhân văn sâu sắc
thì khi đề ra và thực hiện nó phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản và yêu
cầu sau:
1⁄41 Mọi người lao động phải được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền
lợi đối với BHXH, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp,
giàu nghèo Khi tham gia BHXH họ phải đóng BHXH để tự BHXH cho
bản thân và gia đình theo quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc đóng
- hưởng BHXH;
1.4.2 Quỹ BHXH phải đảm bảo can bang THU - CHI trong dai han,
có như vậy quỹ mới có nguồn để chỉ trả các chế độ BHXH và thực hiện
được chức năng của BHXH
Trang 31Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 12
1.4.3 Người SDLĐ phải có trách nhiệm đóng BHXH (trích theo một
tỷ lệ nào đó của tổng quỹ lương phải trả cho người LÐ) cho người LÐ mà
họ sử dụng theo quy định của pháp luật
1.4.4 Nhà nước với £ cách là người quản lý xã hội, phải có trách nhiệm bảo hộ giá trị của quỹ và đóng hỗ trợ thêm cho quỹ khi cần thiết,
đồng thời giúp đỡ, tạo điều kiện cho các hoạt động BHXH và thực hiện
quản lý nhà nước về BHXH Với tư cách là một chủ SDLĐ rất lớn (toàn bộ công chức, viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, lực lượng công an, cảnh sắt ) cũng phải trích từ NSNN để đóng BHXH cho người lao động như các
chủ SDLĐ khác
Tỷ lệ đóng góp cho quỹ BHXH của các bên tuỳ thuộc vào từng nước
trong từng thời kỳ và cho từng chế độ BHXH, cho từng loại hình BHXH
(bắt buộc hay tự nguyện)
1.4.5 Bảo hiểm xã hội phải lấy "số đông người đóng góp để bù đắp,
hỗ trợ cho một số ít người được hưởng các chế độ BHXH", thể hiện mối quan tâm của cộng đồng, của xã hội đến từng cá nhân trong cộng đồng,
trong xã hội Đồng thời phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích của các bên tham
gia BHXH, giữa khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH của
người lao động;
1.46 Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương (hoặc thu nhập) lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối
thiểu cho người được hưởng BHXH;
1.4.7 BHXH phải thực hiện dần dần từng bước, tránh nôn nóng, làm sao đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu được BHXH của người LÐ trong từng thời gian nhất định Đồng thời phải đảm bảo tính chất ổn định tương đối lâu dài để tránh bị động, dễ gây mất
cân bằng, vỡ quỹ, gây khó khăn cho người LÐ và xã hội
1.4.8 Khi thực hiện sự nghiệp BHXH phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tính thống nhất, tính phổ biến trên toàn cục với tính đa dạng, phong
Nghiên cứu xâáy dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 32Dé tai nghién citu khoa hoc 2004 13
phú và những đặc thù riêng của từng loại hình BHXH, của từng loại đối
tượng tham gia BHXH, của từng chế độ BHXH nhằm đảm bảo san sẻ, dàn
trải các rủi ro trên bình diện rộng cả về không gian lẫn thời gian; giữa người
này với người khác, giữa loại đối tượng này với loại đối tượng khác, giữa
chế độ BHXH này với chế độ BHXH khác, giữa thế hệ lao động trẻ với thế
hệ lao động già, giữa người đang làm việc với người đã nghỉ việc, giữa người khoẻ với người bị ốm đau, giữa người có việc làm với người thất nghiệp
1.4.9 Ngoài ra, khi thực hiên sự nghiệp BHXH cũng phải quán triệt quan điểm bảo lưu, kế thừa, cải tiến, phát triển một cách linh hoạt và mềm
dẻo các kinh nghiệm đã có của trong và ngoài nước nhằm thực hiện tốt chức năng phục Vụ con người, tất cả vì con người, động lực quyết định sự
phát triển của xã hội
Các nguyên tắc trên đây có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với
nhau Bởi vậy, cần vận dụng chúng một cách tổng hợp và hợp lý thì mới có thể đem lại hiệu quả thiết thực như mong muốn
2 Vài nét về lịch sử phát triển của BHXH ở thế giới và Việt Nam
Trên thế giới, BHXH ra đời từ rất sớm, đã có mầm mống từ thế kỹ
thir XIII Nhưng mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX, mới xuất hiện đạo luật đầu
tiên về BHXH ở nước Đức Nên sản xuất công nghiệp phát triển đã làm cho
đội ngũ những người lao động làm thuê ngày càng tăng lên nhanh chóng,
đồng thời cũng làm cho các rủi ro, bất trắc trong lao động tăng theo Khi
gặp phải rủi ro, ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động sẽ làm người lao động
giảm hoặc mất khả năng lao động, dẫn đến thu nhập bị giảm hoặc mất, ảnh hưởng tới cuộc sống của bản thân và gia đình
Để bảo vệ mình, người lao động đã liên kết lại, đấu tranh buộc giới chủ phải cam kết bồi thường và đảm bdo an toàn thu nhập cho họ Trong quá trình đó, đã xuất hiện các tổ chức BHXH chuyên nghiệp, đóng vai trò trung gian giúp việc thực hiện các cam kết của giới chủ với giới thợ thông,
Trang 33Dé tai nghién citu khoa hoc 2004 14
qua những hoạt động đặc thù của nó, nhằm mục đích điều hoà mối quan hệ giữa chủ và thợ, giải quyết các phát sinh bất trắc, rủi ro xẩy ra với người
LD Hoat động BHXH được thực hiện trên cơ sở đóng góp của giới chủ,
giới thợ và có sự tham gia của nhà nước trong một số trường hợp Các chế
độ và phạm vi đối tượng tham gia BHXH cũng ngày được mở rộng Mới đầu, chỉ có chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động cho công nhân công nghiệp, sau đó đã mở rộng ra các chế độ BHXH khác như thai sản, tuổi già,
tử tuất, y tế và cho cả người lao động làm thuê trong các lĩnh vực khác Đến nay, BHXH đã được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới
Ở Việt Nam, BHXH cũng đã có mầm mống từ thế kỷ thứ XVH dưới đạng “quỹ thương”, “nghĩa điền”, đến thế kỷ thứ XIX đã xuất hiện các “Hội tương tế”, "Hội ái hữu" để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong khi gặp hoạn
nạn, nhưng chưa hình thành BHXH
Chỉ đến khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời (02/9/1945), BHXH mới thực sự hình thành
và thực hiện ở Việt Nam Ngày nay, BHXH đã trở thành một chính sách lớn
của Đảng và Nhà nước ta, đã được Hiến pháp thừa nhận và luật pháp quy định, đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tiến trình phát triển của nền kinh tế- xã hội Việt Nam (sẽ nói kỹ trong chương 2 của để
dung đổi mới chính sách BHXH, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền
vững hệ thống an sinh xã hội , tiến tới thực hiện BHXH cho mọi người lao động mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã vạch ra Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, đã động viên mọi người lao động an tâm làm việc,
thúc đẩy thị trường lao động phát triển, đồng thời cũng tạo nên sự công
bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp của các thành phần
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 34Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 15
kinh tế cùng tham gia vào nên kinh tế nước nhà Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH không đơn thuần chỉ có ý nghĩa về mặt số lượng mà chính
sách BHXH của chúng ta còn chú ý mở rộng cả về mặt chất lượng: từng
bước thực hiện BHXH đến mọi người L; thực hiện nguyên tắc có đóng có
hưởng; từng bước nâng cao quyền lợi hưởng BHXH, cải thiện đời sống người về hưu trí và hưởng các trợ cấp thường xuyên (trợ cấp hàng tháng);
nâng cao chất lượng phục vụ, chăm sóc đối tượng; đảm bảo chỉ trả kịp thời, đúng đối tượng, đủ số lượng và tận tay đối tượng, không còn tình trạng nợ
đọng lương hưu như thời bao cấp trước đây Từ đó góp phần nâng cao lòng tin của người dân vào chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta
Sự cần thiết phải thực hiện BHXH đối với mọi người lao động thể
hiện cụ thể trên các mặt sau:
3.1 Cần thiết đối với chính bản thân và gia đình người LÐ
Như chúng ta đã biết, con người muốn sống, trước tiên cần kiếm
được những vật dụng thiết yếu như cái ăn, cái mặc, nhà ở Điều này đã từng
là cuộc chiến đấu gian khổ, liên tục hàng triệu năm nay của con người và đến nay vẫn còn là một trong những vấn đề nóng hổi, gay cấn và thường xuyên đối với hàng tỷ người trên thế giới Muốn sản xuất ra nhiều của cải
vật chất và tỉnh thần, con người cần phải có sức khoẻ, có kỹ năng, có tri
thức Sản phẩm được tạo ra càng nhiều, càng đa đạng, càng phong phú thì
cuộc sống của con người càng đầy đủ, càng văn minh Con người phải lao động, phải làm việc để tạo ra của cải vật chất và có nguồn thu nhập nuôi sống chính bản thân và gia đình họ Khi nền kinh tế hàng hoá hình thành và
phát triển, tất yếu dẫn đến sự chuyên môn hoá trong sản xuất và hoạt động của đời sống xã hội; tiếp đến quá trình công nghiệp hoá nền sản xuất làm cho tính chất xã hội hoá của sản xuất ngày càng cao, đã tạo ra một đội ngũ những người lao động làm công ăn lương ngày càng đông đảo và cuộc sống
của họ và gia đình hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ, khả năng lao động của
chính họ Với điều kiện bình thường, mỗi người sẽ có cuộc sống riêng tư phù hợp với khả năng thu nhập tài chính từ công ăn, việc làm của mình
Trang 35Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 16
cũng gặp thuận lợi, "xuôi chèo, mát mái", có đầy đủ những điều kiện sống bình thường với thu nhập ổn định, mà trái lại, thường gặp nhiều trường hợp rủi ro, khó khăn, bất lợi, "hoạ vô đơn trí, phúc bất trùng lai", (tạm dịch là
tai hoạ không chỉ đến một lần, còn phúc thì chẳng đến nhiều lần) như ốm
đau, bệnh tật, dịch bệnh, tai nạn, mất việc làm, già cả khiến cho khả năng
lao động, khả năng tự phục vụ suy giảm hoặc mất hẳn và các mối nguy hiểm khác đang từng giờ, từng phút đe doạ, bao vây họ tứ phía, dẫn đến thu
nhập bị giảm hoặc mất, vì vậy các nhu cầu sống cũng bị giảm theo; làm cho cuộc sống bình thường bị đe doa, bị nghèo đói, chết chóc Muốn khắc
phục, hạn chế những rủi ro đó, con người đã tìm ra nhiều biện pháp Ngày nay, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, chủ động nhất, chứa đầy
tính nhân văn của con người đó là thực hiện chính sách BHXH do nhà nước
quy định, vì vậy BHXH đã trở thành một nhu cầu bức thiết của mọi người
LĐ, đặc biệt đối với người LÐ làm việc trong nên kinh tế thị trường, rủi ro thường xuyên diễn ra và không loại trừ bất cứ ai Như vậy, BHXH thực chất đã trở thành một công cụ, một biện pháp quan trọng và hiệu quả để tạo
ra một mang lưới an toàn cho con người
Mục dích lớn nhất của BHXH là góp phần ổn định đời sống cho người LÐ và gia đình họ khi gặp rủi ro sẽ được quỹ BHXH thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập thông qua khoản tiền trợ cấp để khắc phục khó
khăn, ổn định cuộc sống Do đó BHXH có tác dụng rất lớn đối với người
LD, làm cho họ yên tâm sản xuất, làm việc để cống hiến cho xã hội cho
cộng đồng, không phải lo lắng về những rủi ro mà không may mình gặp phải trong lao động, sản xuất, công tác và sinh hoạt, kể cả khi về hưu trí vẫn
có lương hưu đảm bảo cuộc sống thường nhật
3.2 Cần thiết với sự phát triển bên vững, ổn định nên kinh tế-xã hội của quốc gia
Bảo hiểm xã hội góp phần phát triển bền vững và ổn định nền kinh tế
xã hội được thể hiện dưới các góc độ sau đây:
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 36Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 17
- Dưới góc độ đảm bảo sản xuất ồn định và ngày càng phát triển nhờ
yếu tố cøn người - lực lượng quyết định kết quả của sản xuất, kinh doanh,
được đảm bảo cuộc sống, yên tâm làm việc và sản xuất như đã nói trên Ở
đây, yếu tố con người được bảo đảm phát huy đối với tất cả các bên tham
gia BHXH:
+ Người lao động được tham gia BHXH sẽ yên tâm, phấn khởi, hãng
hái sản xuất, công tác; toàn tâm toàn ý vào công việc của cơ quan, đơn vị và đặc biệt là các doanh nghiệp; họ tự giác tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng,
kỹ sảo, nghiệp vụ chuyên môn để tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng
cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, sắn sàng chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh
tranh, đứng vững trong nền kinh tế thị trường; đồng thời làm cho nền sản
xuất xã hội ngày càng hiệu quả hơn
+ Người sử dụng lao động thực chất là các doanh nghiệp, tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân có thuê mướn lao động Người SDLĐ nếu là hộ gia đình, cá nhân cũng được quyền tham gia và hưởng BHXH như người lao động Nhưng quan trọng hơn, đó là vấn dé dam bảo ổn định và phát triển
sản xuất, kinh doanh thắng lợi, ngoài việc phải chăm lo đầu tư mua sắm
máy móc thiết bị, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến
quản lý còn cần chăm lo đến người LĐ mà họ sử dụng, như tổ chức đào tạo, bôi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, rèn luyện bản lĩnh, tác phong nghề
nghiệp; thường xuyên chăm lo đến đời sống vật chất, tỉnh thần của họ bằng cách thực hiện tốt nghĩa vụ đóng BHXH cho họ, thăm hỏi, chăm sóc họ khi
bị rủi ro, cơ nhỡ Có như vậy họ mới gắn bó thực sự với chủ, tích cực lao động, sản xuất, phát huy tính năng động, sáng tạo, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cho người SDLĐ Mặt khác, nhờ đó mà các mối quan hệ xã hội giữa người LÐ và người SDLĐ, giữa người LÐ với
tổ chức Công đoàn, giữa những người LÐĐ với nhau sẽ được cải thiện, an
sinh xã hội sẽ tốt đẹp, ổn định hơn, nhờ vậy mà nền sản xuất của quốc gia
sẽ ổn định và có xu hướng phát triển tốt Những kết quả trên, không phải
Trang 37Dé tai nghién citu khoa hoc 2004 18
lúc nào cũng thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể, có thể đo đếm, lượng hoá
được ngay, nhưng trong nền kinh tế thị trường, nó lại có ý nghĩa sống còn đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Vì trong xã hội nói chung hay trong
một doanh nghiệp nói riêng bao giờ chiến lược về con người cũng cần được
đặt lên hàng đầu Đầu tư cho con người là đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất
và lâu dài nhất Hiện nay, nhiều người SDLĐ đã có nhận thức đúng về vai
trò của người LĐÐ nên đã luôn chú ý cải thiện mối quan hệ của họ với người
LD Họ hình tượng hoá, coi doanh nghiệp như một con ?öxzyên, người SDLĐ
là người cầm lái, còn tập thể người LĐ là những người chèo thuyền, đẩy
thuyền đi, họ luôn có nhau và cần nhau; mặt khác người SDLĐ cũng thấy
rõ đẩy thuyền đi và lật thuyền cũng chính là người LĐ mà họ sử dụng Việc Nhà nước quy định bắt buộc người SDLĐ có trách nhiệm đóng BHXH cho
người LĐ mà họ sử dụng, để bảo hiểm cho họ khi bị rủi ro là một điều cần
thiết Tuy phải thường xuyên (theo định kỳ) trích ra một phần kinh phí đóng BHXH cho người LÐ, nhưng mức phí bỏ ra này đã được tính toán khoa học,
kỹ càng, chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất xẩy ra các rủi ro, biến cố đối với một tập hợp số lớn người lao động nên nhỏ hơn rất nhiều so với chỉ phí họ phải bỏ ra một lần để khác phục các rủi ro cho những người lao động mà họ
thuê mướn Nhờ vậy, khi chẳng may LĐ mà họ sử dụng gặp các rủi ro xã hội, đã có quỹ BHXH hỗ trợ khắc phục, nên sản xuất của họ vẫn được ổn
định và phát triển Mặt khác, mức phí này đã được tính vào giá thành sản
phẩm để người tiêu dùng gánh chịu Trong trường hợp này, người SDLĐ
thực chất chí là người phân phối phí BHXH cho các sản phẩm, dịch vụ do
họ làm ra mà thôi, chứ không ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ
- Dưới góc độ dàn trải rủi ro và đầu tư tăng trưởng nền kinh tế:
Như chúng ta đã biết, một nguyên tắc quan trọng nhất của BHXH là dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít Nhờ vậy mà phương thức riêng
vốn có của BHXH là dàn trải rủi ro xã hội theo nhiều chiều, nhiều thế hệ, theo cả không gian và thời gian được thực hiện Càng nhiều người tham gia
thì mức độ dàn trải càng cao và như vậy mức độ ảnh hưởng của rủi ro càng
được phân tán rộng, mức thiệt hại cho sản xuất do rủi ro gây ra càng ít,
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 38Dé tài nghiên cứu khoa học 2004 19
bình quân cho một LÐ càng nhỏ, nhất là đối với phần quỹ BHXH để thực
hiện các chế độ dài hạn, đặc biệt là chế độ hưu trí, thời kỳ đầu khi mới tham gia, quỹ chưa phải chi cho các chế độ này mà được tồn tích lại thành một nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi khá lớn Đây là một kênh vốn rất lớn để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động Đến lượt nó, số lao động mới có việc làm do việc đầu tư của quỹ này tạo ra lại tham gia đóng BHXH làm cho quỹ BHXH ngày càng tăng thêm Đây là
một nguồn tiểm năng lâu bền cho việc ổn định và phát triển quỹ Khi có thêm nhiều việc làm mới cho LÐ sẽ giảm được thất nghiệp nhờ vậy mà xã hội ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo càng tạo điều kiện cho nền kính
tế phát triển bền vững Mối quan hệ này như “đông xoáy ốc ”, vòng sau lớn
hơn vòng trước làm cho quỹ BHXH càng lớn dần và đồng nghĩa với nó là xã
hội ngày càng phát triển một cách ổn định, bền vững
3.3 Cần thiết với sự tồn tại và phát triển bên vững của nhà nước Ngày nay, trên thế giới, BHXH luôn là một chính sách lớn, là trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, là một trong những công cụ
quan trọng để điều tiết và phân phối lại thu nhập trong xã hội của mỗi quốc
gia Nhà nước thông qua chính sách BHXH và các tổ chức hoạt động BHXH đảm bảo cho mọi người LĐ, mọi tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh được bình đẳng, công bằng, tạo thế ổn định và phát triển bền vững, hiệu quả nền kinh tế-xã hội của đất nước Mặt khác,
khi chính sách BHXH thực hiện tốt, nhà nước sẽ không phải chi tiêu nhiều cho việc thực hiện BHXH đối với người lao động mà chủ yếu khoản chỉ này
do quỹ BHXH chỉ trả nên NSNN có thêm được nguồn kinh phí để chi cho
các chính sách an sinh xã hội khác và đầu tư cho việc phái triển kinh tế-xã
Trang 39Đề tài nghién citu khoa hoc 2004 20
hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, xã hội và quốc phòng; giữ vững chủ quyền độc lập và lãnh thổ của mỗi quốc gia
Đối với nước ta, một nước đông dân đứng vào thứ 14 trên thế giới,
năm 2004 có khoảng 82,l triệu dân, trong đó có khoảng 52 triệu người trong độ tuổi lao động; lại là một trong những nước nghèo nhất thế giới nên ngoài vai trò đã nêu trên BHXH còn có ý nghĩa rất to lớn đối với người dân
nói chung, người LÐ nói riêng: chính sách BHXH từ khi chuyển đổi sang
cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho mọi người LÐ
đều có quyền được tham gia và hưởng BHXH, đã tạo sân chơi bình đẳng giữa những người LÐ làm việc trong các thành phần kinh tế; tạo điều kiện
cho việc sử dụng, sắp xếp, phân bố lại lực lượng LÐ trong xã hội giữa các khu vực lao động, giữa các vùng miền trong cả nước, góp phần giảm đáng
kể sức ép tăng chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức, viên chức nhà nước để được hưởng BHXH
3.4 Thực hiện việc tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH đối với người LĐ là hoạt động thể hiện tính nhân văn sâu sắc
Bảo hiểm xã hội là một vấn đẻ hết sức nhậy cảm, liên quan đến cuộc sống an lành của mọi người trong xã hội, nên luôn được sự quan tâm và thu hút của xã hội Vì thế, ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới quyền và nghĩa vụ tham gia BHXH đều được luật pháp quy định cụ thể do Nhà nước
quản lý chặt chế để đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ đó phải được thực thi
nghiêm túc đối với mọi người LĐ Người LĐ, người SDLĐ đều có nghĩa vụ
đóng bảo hiểm để bảo hiểm cho chính bản thân mình và cho người LÐ mà
mình sử dụng Nhưng khi người LÐ còn khoẻ, còn đang lao động, có việc làm, có thu nhập ổn định thì chưa được hưởng các chế độ BHXH Số người
LD này chiếm đa phần trong tổng số người lao động tham gia đóng BHXH, nhưng không vì thế mà họ bị thiệt thòi Trong cả cuộc sống lao động và làm
việc ai giám đảm bảo chắc chắn là mình sẽ không gặp các rủi ro trên? Và
khi đó sẽ được quỹ BHXH trợ cấp sẽ được hưởng thụ mối quan tâm, săn
sóc, hỗ trợ của xã hội, của cộng đồng Còn lại một số ít người LĐ không may gặp rủi ro xã hội và có đủ điều kiện quy định sẽ được hưởng chế độ
Nghiên cứu xây dựng lộ trình thực hiện BHXH cho mọi người lao động ở Việt Nam.
Trang 40Đề tài nghiên cứu khoa học 2004 2I
BHXH, nhờ có tỉnh thần tương trợ, đoàn kết và sự đóng góp BHXH của nhiều người LD khác dành cho họ, thể hiện bản chất nhân văn sâu sắc của
chính sách BHXH đối với mọi người LĐÐ khi tham gia BHXH Như vậy
quyền hưởng BHXH luôn gắn liền với nghĩa vụ tham gia BHXH, đó là mối quan hệ nhân - quả lâu dài và bền vững gắn bó giữa người LÐ với người
SDLĐ và Nhà nước Chỉ có như vậy, chính sách BHXH mới thực hiện được
bản chất nhân văn, nhân đạo của mình
4 Khái niệm về lộ trình
4.1 Thế nào là lộ trình:
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán Việt (có chú giải) của Giáo sư Nguyễn
Lân thì: " - Tir “/6” c6 2 nghĩa: 1- Đường đi; 2- Bày ra ngoài; không giữ kín
được
- Từ “rình” có nghĩa là đường đi
- Từ “!ô trinh” có nghĩa là đường phải đi qua; đường đi: Một mình trong chốn non xanh, không ai mà hỏi lộ trình trở ra (Lục Vân Tiên)
" (20, trang 415]
Với nghĩa đen của từ “ lộ trình” như vậy, trong phạm vi nghiên cứu
của để tài này, chúng ta có thể hiểu “lộ trình” là đường đi, nước bước trong lịch trình tiến tới thực hiện BHXH đối với mọi người lao động như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vạch ra Thực chất”iô mrình" ở đây chính là chiến lược hoặc ít ra cũng là
kế hoạch dài hạn để thực hiện việc mở rộng đối tượng, tăng thêm số người
lao động được tham gia các chế độ chính sách BHXH, nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho quốc gia
Như vậy, nội hàm chủ yếu của lộ trình tiến tới thực hiện BHXH đối vợi mọi người lao động ở nước ta sẽ bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Xác định tính chất, đặc điểm và phân chia các đối tượng (người LD)
sẽ thực hiện BHXH trong thời gian tới thành các nhóm (tổ) đối tượng có