xác định, mức, tiền lương, người, lao động
Trang 1BAO HIEM XA HOI VIET NAM
BAO CAO TONG KET DE TAI CAP BO
CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH MỨC TIÊN LƯƠNG CUA NGUOI LAO DONG LAM CAN CU THUC HIEN
CHINH SACH BHXH
Chủ nhiệm đề tài: ĐÔ QUANG KHÁNH
7140 19/2/2009
HÀ NỘI - 2008
Trang 2BAO HIEM XA HOI VIET NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CUU KHOA HOC
ane mw ma ye er
DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC:
CU SO KHOA HC XÁC ĐỊNH MỨC TIỀN LUONG CUA NGUUI LAO BONG LAM CAN CU THUC HIEN CHINH
SACH BAO HIEM XA HOI
CHU NHIEM: DO QUANG KHANH
Bà Nội - 2002
Trang 3BAO HIEM XA HOI CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM VIET NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 2⁄4 QĐ-BHXH
Hà Nội, ngàyZ⁄ tháng 2] năm 2005
QUYẾT ĐỊNH CỦA TỔNG GIÁM ĐỐC BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
V/v thành lập Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu đề tài khoa học năm 2002
TỔNG GIÁM ĐỐC BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
- Căn cứ Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
- Căn cứ Quyết định số 1147/QĐ-KH ngày 01 tháng 06 năm 1996
của Bộ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học - Công nghệ) về việc công nhận Bảo hiểm xã hội Việt Nam là đầu mối
kế hoạch khoa học, công nghệ;
- Căn cứ Quyết định số 2626/BHXH-TTKH ngày 24 thang 12 nam
2001 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc giao nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học năm 2002;
- Căn cứ Quyết định 278/2003/QĐ-BHXH-TTCB ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về chức nang,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Nghiên cứu khoa học
bảo hiểm xã hội;
- Theo để nghị của Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học bảo hiểm xã hội,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 Thành lập Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu đề tài khoa học: “Cơ sở khoa học xác định mức tiên lương của người lao động làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH ” do CN Đỗ Quang Khánh làm chủ
nhiệm.
Trang 4Điều 2 Chỉ định và mời các thành viên sau đây vào Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu:
1 Ông Đỗ Văn Sinh, ThŠ, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt
Nam: Chủ tịch Hội đồng
2 Ông Kiểu Văn Minh, CN, Trưởng Ban Thu BHXH, Bảo hiểm xã
hội Việt Nam: Nhận xét 1
3 Ông Dương Xuân Triệu, TS, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa
học BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Nhận xét 2
4 Ông Bùi Văn Hồng, TS, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Ủy viên |
5 Ông Phan Duy Tập, TS, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Ủy viên
6 Ông Phạm Đình Thành, TS, Phó trưởng Phòng Quản lý khoa học,
Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Ủy
viên
7 Bà Trịnh Thị Hoa, TS, Phó trưởng Phòng Quản lý khoa học, Trung
tâm Nghiên cứu khoa học BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Thư ký hội
đồng
Điều 3 Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký Giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH, Trưởng ban Tổ chức cán bộ, Chánh
Văn phòng Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Chủ nhiệm đề tài và các Ông (Bà) có
tên ở Điều 2 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này /
Trang 5CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM
Độc lập - Tu do - Hạnh phúc
Hà nội, ngày 03 tháng $ năm 2005
NHẬN XÉT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
“ Cơ sở khog học xóc định mức liền lương
của người lo động làm căn cú thực hiện chính sóch BHXH”
Do Củ nhôn: Đỗ Quang Khónh - Phó Giắm đốc BHXH tp Hồ Chi Minh
làm chủ nhiệm đề tời
Sau khi đọc bản báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài “Cø sở khoa học xác định mức tiển lương của người lao động làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH" được thể hiện ở 96 trang chưa kể Ø7 phụ lục kèm theo được
trình bày thành 3 chương theo kết cấu truyền thống Xin nêu một số ý kiến
nhận xét như sau:
` 1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện tốt chính sách BHXH là yếu tố quan trọng đảm bảo sự công
bằng xã hội giữa những người lao động, giữa các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế trong lĩnh vực BHXH như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã xác định "Thực hiện và hoàn thiện chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn dịnh, từng bước được cải thiện" Nghị quyết Đại hội [X của Đảng đã nhấn mạnh: “Thực hiện các chính
sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm Bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế Dé dam bảo thực hiện các chính sách BHXH đối với người lao động thì việc xác định
mức đóng, thời gian đóng, mức hưởng là điều kiện hết sức quan trọng để giải
quyết các chế độ BHXH Do vậy, việc nghiên cứu đề tài ” Cơ sở khoa học xác định mức tiên lương của người lao động làm căn cứ thực hiện chính sách
BHXH” là hết sức cần thiết
2 Kết quả nghiên cứu của đề tài
* Về bố cục: Đề tài được kết cấu 3 chương bố trí hợp lý, lôgic, mang
tính khoa học
* Về nội dung:
- Chuong I, dé tài đã phân tích mối quan hệ giữa tiên lương - thu nhập với mức đóng và mức hưởng tiền trợ cấp BHXH cụ thể.
Trang 6Phan I, tác giả đã nêu được những khái niệm về tiền lương, thu nhập, bản chất của tiền lương-thu nhập và khái niệm, chức nãng, nguyên tắc của BHXH đó là những iý luận cơ bản về tiền lương, thu nhập và tiền trợ cấp BHXH làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá ở các chương II, III
Phần H, tác giả đi sâu phân tích mối quan hệ giữa tiền lương - thu nhập
với mức đóng và mức hưởng tiền trợ cấp BHXH để từ đó thấy rõ được mối
quan hệ ràng buộc, biện chứng giữa tiền lương- thu nhập với mức đóng và
mức hưởng BHXH Tác giả cũng đã khẳng định mức trợ cấp BHXH phụ thuộc
vào tiền lương, thu nhập của người lao động khi còn làm việc đó là cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH sau này và là cơ sở cho việc xây dựng phương án
tính mức trợ cấp BHXH ở chương III
Phần II, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm của các nước về mức đóng,
mức hưởng khác nhau, nhưng tựu trung lại các nước đều xác định mức trợ cấp BHXH căn cứ vào mức thu nhập của người lao động, đó là những cơ sở, kinh nghiệm để tác giả phân tích, xây dựng phương án tính mức đóng và mức trợ
cấp ở chương III ,
- Chương 2, đề tài đã phân tích thuc trang tién luong - thu nhap va tién
lương làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH đối với ngời lao động hiện nay
cụ thể:
Phan I, tac giả phân tích, đánh giá thực trạng tiền lương- thu nhập ở thành phố Hồ Chí Minh Phân này tác giả đã phân tích thực trạng về chính sách, chế độ tiền lương hiện hành (mức tiền lương tối thiểu, hệ thống thang
lương, bảng lương, phụ cấp lương ) và đặc biệt là tác giả phân tích thực trạng
tiền lương- thu nhập ở thành phố Hồ Chí Minh đối với khu vực nhà nước và
khu vực sản xuất kinh doanh, tác giả phân tích, đánh giá khái quát thực trạng tiền lương- thu nhập của từng khối loại hình (hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp theo
luật doanh nghiệp) để làm rõ những bất hợp lý về tiền lương, thu nhập giữa
các lĩnh vực, khu vực kinh tế trên địa bàn thành phố, những ảnh hưởng đến việc tham gia đóng hưởng BHXH đối với người lao động Tôi đánh giá cao về
phần phân tích, đánh giá ở phần này
Phần II, Tác giả phân tích thực trạng tiền lương làm căn cứ thực hiện
chính sách BHXH, phần này tác giả đánh giá được tình hình thực hiện mức tiền lương làm căn cứ đóng, hưởng BHXH của doanh nghiệp, mức tiền lương
làm căn cứ giải quyết chế độ hưu trí và qua đó tác giả đã đưa ra được những bất hợp lý trong việc xác định mức tiền lương làm căn cứ thực hiện chính sách
BHXH hiện hành đối với từng khu vực (sự tách biệt rất lớn giữa khu vực nhà
Trang 7nước và khu vực ngoài nhà nước) Từ việc phân tích, đánh giá tác giả đưa ra
những nhận xét quan trọng để làm cơ sở cho việc xây dựng một số phương án xác định mức tiền lương làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH ở chương III
Tôi hoàn toàn đồng tình với nhận xét của tác giả: mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH hiện nay hoàn toàn tách khỏi tiền lương thực tế của người lao
động
- Chương 3, có thể xem là những đóng góp cơ bản nhất của kết quả
nghiên cứu, với nội dung nghiên cứu ở phần này, để tài đã đưa ra những
phương án xác định mức tiền lương làm căn cứ thực hiện các chính sách
BHXH cho người lao động cụ thể:
+ Đối với phương án: Mức tiền lương làm căn cứ thực hiện nghĩa vụ
đóng góp BHXH của sử dụng lao động, người lao động là “17% tổng quỹ tiên
lương hàng tháng mà người sử dụng lao động chỉ trả thực tế cho người lao
động và người lao động đóng góp (6%)” Với phương án này tác giả đã phân
tích, so sánh giữa mức thu cũ và mức thu mới để thấy được lợi ích khi thực
hiện phương án này Theo tôi việc xác định mức tiền lương làm căn cứ thu
BHXH căn cứ vào mức lương mà người sử dụng lao động chỉ trả thực thế cho
người lao động là hoàn toàn hợp lý, đảm bảo nhu cầu thanh toán các chế độ BHXH, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế
+ Đối với phương án: Mức tiền lương làm căn cứ giải quyết chế độ hưu
trí cho người lao động được tính theo phương pháp bình quân gia quyền cho toàn bộ quá trình tham gia BHXH Với phương án này tác giả đã giải quyết được vấn đề bất hợp lý trong việc giải quyết chế độ hưu trí cho người lao động
giữa các khu vực và thực hiện theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, đóng nhiều hưởng nhiều tránh những sơ hở để nâng lương giai đoạn cuối cùng để hưởng
BHXH bất hợp lý
* Những khuyết điểm của đề tài:
- Trong chương Ï, tác giả chưa đi sâu phân tích vào bản chất của tiền
nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu mức tiền lương thực hiện chính sách
BHXH cho người lao động theo quy định hiện hành ), nếu phân tích thêm một số chế độ khác thì sẽ đúng với mục tiêu nghiên cứu.
Trang 8- Chương III, Tác giả chưa đưa ra được những cơ sở xác định mức lương thực tế của người lao động và lý do đưa ra việc thực hiện thu BHXH (6%)
thành 2 giai đoạn (từ nay đến 2010 và từ 2011 trở đi) là không phù hợp Theo
tôi phải thực hiện đồng thời với đơn vị sử dụng lao động
Việc đưa ra căn cứ để xác định mức hưởng theo bình quân gia quyền
tính theo tỷ lệ tăng giá cả sinh hoạt bình quân thì chắc chắn quỹ BHXH sẽ
không tồn tại; nên chăng tính theo lãi suất ngân hàng bình quân giai đoạn
3 Kết luận
Đây là một công trình nghiên cứu khoa học khá công phu thể hiện tinh
thần sáng tạo của chủ nhiệm đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài được xem là một đóng góp đáng kể cả về mặt cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn cho quá
trình phát triển sự nghiệp BHXH nói chung và giúp cho cơ quan quản lý Nhà
nước, các cơ quan nghiên cứu tiền lương trong việc xác định mức tiền lương
làm căn cứ thực hiện chính sách tiền lương và chính sách BHXH nhằm đáp
ứng yêu cầu trong công tác quản lý thu BHXH cũng như trong lĩnh vực giải quyết chế độ BHXH, BHYT; phù hợp với sự vận động phát triển đi lên trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội của Đất nước
Tôi đánh giá kết quả nghiên cứu đạt loại Khá
Trang 9NHAN XET DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC
DE TAI: CO SG KHOA HỌC XÁC ĐỊNH MỨC TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG LÀM CĂN CỨ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH
Do Cử nhân Đỗ Quang Khánh làm chủ nhiệm
Người nhận xét: TS Dương Xuân Triệu Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH
Nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường
phát triển theo định hướng XHCN, theo đó chế độ chính sách tiền lương
cũng rất đa dạng Thực tế này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định tiền
lương làm căn cứ đóng BHXH Việc nghiên cứu thực trạng tiền lương nói chung và tiền lương làm căn cứ đóng BHXH sói riêng để từ đó thấy rõ những bất hợp lý, kiến nghị nhà nước xem xét sửa đổi cho phù hợp đang là vấn dé cấp bách của ngành BHXH Việt Nam Do vậy việc tập thể tác giả chọn để tài nghiên cứu: "Cơ sở khoa học xác định mức tiền lương của người lao động làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH" vừa có ý nghĩa thực tế, vừa có ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 75 trang và được
tóm tắt trong 23 trang Báo cáo tóm tắt đã thể hiện được những nội dung cô đọng của báo cáo chính và phản ánh đúng các nội dung trong báo cáo chính
Đề tài được kết cấu thành 3 chương, ngoài phần mở đầu và kết luận Dung lượng của từng chương trong kết cấu là hợp lý và lôgích
Chương I: Mối quan hệ giữa tiền lương- thu nhập với mức đóng và mức hưởng BHXH
Trong chương này đã phản ánh được bản chất của tiền lương, thu nhập
và tiền trợ cấp BHXH; nêu rõ mối quan hệ giữa tiền lương- thu nhập với mức
đóng và mức hưởng trợ cấp BHXH Đồng thời cũng thể hiện được kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới.
Trang 10Tiền lương là giá cả sức lao động, là nguồn để trích nộp BHXH Quan
điểm này ngày càng được thể hiện rõ nét trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta
Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào tiền lương-thu nhập của người lao động khi còn làm việc, đặc biệt là mức tiền lương của những người đương thời và đó là nguồn tài chính chủ yếu để trợ cấp cho thế hệ trước
Kinh nghiệm của các nước được đề cập trong chương này là việc quy
định mức tiền lương tối thiểu và tối đa làm căn cứ đóng BHXH Chúng tôi
đồng tình với các dẫn liệu đã nêu Qua đó thấy được sự công phu tìm tòi của
tập thể tác giả và những kinh nghiệm này Việt Nam có thể học tập được
trong quá trình xây dựng chính sách BHXH
Chương IĨ: Thực trạng tiền lương- thu nhập và tiền lương làm căn cứ
Minh mà còn là thực trạng tại nhiều địa phương khác trong cả nước
Chúng tôi đồng tình với các kết luận: mức đóng trích nộp BHXH dựa
trên tiền lương quy định hiện hành thấp hơn nhiều so với tiền lương thực tế
Số tiền BHXH thực nộp của khu vực doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh
nghiệp chỉ bằng 11% quỹ tiền lương thực trả; doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài là 8,78%; khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 7,37% Tổng hợp
Trang 11lại tỷ lệ chung trên địa bàn thành phố là 8,3%, trong khi tỷ lệ phải thu là
23%
Bên cạnh đó lại có những trường hợp đóng BHXH với mức tiền lương
rat cao 5.000- 10.000 USD/ thang
Cách giải quyết tiền trợ cấp (hưu trí) hiện nay cũng còn nhiều bất cập,
giá trị thực của mức tiền lương tại tời điểm đóng BHXH không được đảm bảo Điều nay tạo nên sự bất bình đẳng trong các đối tượng tham gia BHXH
và thu hưởng chế độ BHXH
Tất cả các phát hiện trên đều có thể lấy làm căn cứ tham khảo khi xây
đựng chế độ chính sách BHXH trong thời gian tới
Chương III: Một số phương án xác định mức tiền lương làm căn cứ thực hiện các chính sách BHXH cho người lao động
Dựa trên tổng quỹ tiền lương hàng tháng mà người sử dụng lao động chỉ trả cho người lao động (tiền lương thực tế) là chuẩn mực đúng đắn, mang
tính thông lệ quốc tế
Các tác giả đưa ra áp dụng tại nước ta được phân ra 2 nguồn từ người
sử dụng lao động được coi là loại thuế an sinh xã hội thực hiện ngay: "đối với người lao động chia làm 2 bước, sau năm 2011 sẽ thực hiện theo thu nhập thực tế
Phương án xác định mức tiền lương làm căn cứ giải quyết chế độ hưu
trí cho người lao động tham gia BHXH
Công thức M; = M,x (1+ Lộ) x (1+ K)*? để tính lại các mức tiền lương đóng BHXH để làm căn cứ tính lương bình quân khi giải quyết các chế độ
hưu trí cho người lao động tham gia BHXH, theo tôi là khá chuẩn chu Các ví
dụ đưa ra minh hoạ là chính xác, phù hợp cho từng loại lao động tham gia ở các khu vực Phương án điều chỉnh lương hưu từng thời kỳ cũng có thể thực hiện được Hai kiến nghị Nhà nước sửa đối tính toán xác định lại mang tính kha thi cao.
Trang 12Những điểm đẻ tài còn tồn tại:
1 Phần lý luận về tiền lương- thu nhập nêu bật được cơ sở khoa học về mức tiền lương để làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH
2 Nhiều chỗ viết chưa chuẩn xác, cần phải chỉnh sửa lại:
- Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trang 28
- Tôn tại nhiều hình thức phân phối nên có sự chênh lệch trong thu nhập cá nhân (trang 29)
- Phần đóng góp vào quỹ BHXH chính là kết quả của quá trình phân
phối lại thu nhập quốc dân (trang 37)
3 Tổng số để tài có 19 bảng biểu, 12 bảng trong báo cáo không có tiêu đề
Các bảng biểu đưa vào phần phụ lục là chưa hợp lý và khai thác các số
liệu có trong các bảng biểu ít nên hạn chế về ý nghĩa khoa học của đề tài
4 Vẻ thể thức của 1 báo cáo khoa học cần bổ sung
- Ký hiệu viết tắt
- Chú giải các tài liệu trích dẫn
Tóm lại, để tài là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc đảm bảo yêu cầu của một đề tài khoa học cấp ngành Để nghị Hội đồng nghiệm thu
Hà nội, ngày I tháng 3 năm 2005
Người nhận xét
we
TS Duong Xuan Triéu
Trang 13PHAN M6 DAU
I- SU CAN THIET PHAI NGHIEN CUU DE TAI
Chính sách BHXH ở Việt Nam, trải qua nhiều thời kỳ luôn gắn liền với chính sách tiền lương của Cán bộ, công chức Nhà nước Tiển lương,
là thước đo thu nhập người lao động, đồng thời, làm căn cứ để thực hiện
nghĩa vụ trích nộp BHXH; để giải quyết chỉ trả các chế độ BHXH cho
người lao động Tựu chung lại, mức tiền lương của người lao động nói
riêng, mức thu nhập của xã hội nói chung ở mỗi thời ký có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành quỹ BHXH, đồng thời ảnh hưởng trực
tiếp đến mức hưởng các chế độ của người tham gia BHXH Chính sách
BHXH có quan hệ hữu cơ với việc thực hiện chính sách tiền lương trong
xã hội
| Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đang chuyển động mạnh mẽ theo cơ chế thị trường nhiều thành phần, định hướng
XHCH, chế độ chính sách tiền lương ở nước ta đang diễn ra rất đa dạng
với nhiều cách xác định nội dung, tên gọi khác nhau, như: tiễn lương thực
tế, tiền lương danh nghĩa; tiên lương cấp bậc theo thang, bảng lương Nhà nước, tiễn lương do doanh nghiệp tự thiết kế, xây dựng; tiền lương dùng
để ký hợp đồng lao động và tiên lương thực trả thì tiền lương làm căn cứ
thực hiện chính sách BHXH đang ngày càng thoát ly với tiển lương hiểu
theo nghĩa đúng của nó
Thực trạng này không những tác động tiêu cực, làm chậm quá trình hình thành, phát triển quỹ BHXH, mà quan trọng hơn, còn làm giảm
nghiêm trọng mức hưởng các chế độ trợ cấp của người tham gia BHXH,
làm giảm ý nghĩa, mục tiêu của BHXH, làm cho người lao động, đối tượng thụ hưởng chính sách, ngày càng bàng quan, coi nhẹ
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng tiễn lương nói chung, tiên lương làm
căn cứ thực hiện chính sách BHXH nói riêng để phân tích đánh giá làm
rõ những điểm bất hợp lý, từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị để Nhà nước xem xét, sửa đổi phù hợp là một công việc rất có ý nghĩa, và đó cũng
chính là mục đích của việc nghiên cứu để tài: “Xéc định nền lương (tiền
công) của người lao động làm căn cứ thực hiện chính sách BHXH”.
Trang 14II- MỤC TIÊU CỦA DE TAI:
Trên cơ sở xem xét cách xác định tiền lương của người lao động làm căn cứ thực hiện nghĩa vụ đóng góp BHXH và chỉ trả trợ cấp hưu trí
theo quy định hiện hành, phân tích làm rõ những điểm bất hợp lý và kiến nghị Nhà nước phương án sửa đổi, bố sung cho phù hợp
III- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về chính sách tiền
lương trong khu vực doanh nghiệp, có mối liên hệ đến việc thực hiện
1V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra, so sánh, phân tích, thống kê tổng hợp để nghiên cứu thực hiện
V- KET CAU CUA DE TAI:
Để giải quyết các nội dung đã nêu trên, ngoài phân mở đầu và kết luận,
để tài gồm 3 chương:
CHƯƠNG I
MỐI QUAN HỆ GIỮA TIEN LUONG (TIEN CONG) VOI MUC DONG
VA MUC HUONG TIEN TRO CAP BHXH
1 Bản chất của tiễn lương (tiền công) và tiễn trợ cấp BHXH
2 Mối quan hệ giữa tiền lương với mức đóng và mức hưởng tiền trợ cấp
BHXH
Trang 15CHUONG II
THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG LAO DỘNG
VÀ TIỀN LƯƠNG LÀM CĂN CỨ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH
2 Xác định tiền lương lao động làm căn cứ chỉ trả trợ cấp hưu trí
VI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm dé tài:
+ Ong Đỗ Quang Khánh — P.Giám đốc BHXH TP Hồ Chí Minh
Thành viên tham gia:
+ Ong Nguyễn Trọng Nam — Trưởng phòng Thu
+ Ong Nguyễn Quốc Thanh — Phó phòng Thu
+ Ong Phạm Nguyên Long - Chuyên viên phòng Thu
+ Bà Nguyễn Thị Lan — Chuyên viên phòng Tiên lương, Tiền công Sở
Lao động - Thương binh &Xã hội TP Hồ Chí Minh
+ Nhóm chuyên viên, BHXH thành phố Hồ Chí Minh
Cơ quan chủ trì: Bảo Hiểm Xã Hội Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 16CHUONG I:
MOI QUAN HE GIUA TIỀN LƯƠNG (TIỀN CÔNG)VỚI MỨC ĐÓNG VÀ MÚC, HƯỚNG TIỀN TRỢ CẤP
BẢO HIỂM XÃ HỘI
1 BAN CHAT CUA TIEN LUONG (TIEN CONG) VA TIEN TRO
CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI
1 BAN CHAT CUA TIEN LUONG (TIEN CONG):
1.1 Khdi niệm chung về tiền lương (tên công)
Trong nên kinh tế thị trường, các nhà kinh tế học xác định: tiền lương
(hay tiền công lao động; sau đây gọi chung là tiền lương) là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động, với một yêu cầu khách quan là tiễn lương
phải đảm bảo: tái sản xuất sức lao động, đáp ứng những nhu cầu giáo dục, văn hóa, tỉnh thần của người lao động; nuôi dưỡng và đào tạo con cái
1.2 Tiền lượng, tiền công và vấn đề lợi ích kinh tế
Nhìn từ góc độ chỉ phí của nền sản xuất, tiền lương là khỏan chỉ cho
hao phí lao động sống, yếu tố quan trọng nhất của nền sản xuất xã hội
Nhờ đó mà xã hội có mọi của cải vật chất, có tích lũy, có tiêu dùng để
tôn tại và phát triển
Dưới góc độ tiêu dùng, tiễn lương là mục đích trực tiếp của người lao
động, nhằm bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng vật chất, tỉnh thân, đem đến cho bản thân và gia đình họ một cuộc sống có chất lượng phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, xã hội
Như vậy, tiên lương là một hình thức biểu hiện cụ thể của lợi ích kinh
tế Vấn để tiễn lương lao động nếu được giải quyết đúng đắn, hợp lý, sẽ
là động lực thúc đẩy tăng năng xuất lao động, phát triển sản xuất để tạo
ra nhiễu của cải vật chất, nâng cao đời sống người lao động trong từng
doanh nghiệp, và cho cả xã hội
1.3 Tiên lương biểu hiện một tập hợp phúc tạp các mối quan hệ kinh tế;
đó là:
Trang 17+ Các mối quan hệ giữa những người lao động riêng biệt với tòan xã
hội Để giải quyết tốt mối quan hệ này, Nhà nước cần phải có một chính sách đúng đắn trong lĩnh vực tiền lương;
+ Các mối quan hệ giữa những tập thể người lao động, vì tiền lương lao động phụ thuộc vào kết quả họat động kinh tế của các doanh nghiệp,
vào kết quả công việc của họ với tư cách là những người sản xuất hàng
hóa
+ Các mối quan hệ giữa người lao động và tập thể người lao động, vì
tiền lương của mỗi người được xác định trong khuôn khổ quỹ tiền lương
của doanh nghiệp
Một nguyên tắc quan trọng là: đại lượng tiền lương phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của lao động; đồng thời, phụ thuộc vào kết quả họat động cuối cùng của doanh nghiệp
1.4 Tiên lương là kết quả của quá trình phân phối
Phân phối là một khâu trưng gian của quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng; trong đó sản xuất là
khâu cơ bản đóng vai trò quyết định Phân phối cùng với trao đổi là các khâu trung gian, nối sản xuất và tiêu dùng, vừa phục vụ và thúc đẩy sản
xuất, vừa phục vụ tiêu dùng Nó có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy hoặc kìm
sản xuất; một bộ phận để dự trữ; một bộ phận cho tiêu đùng chung của
xã hội và cho tiêu dùng cá nhân
Tiển lương là một trong những kết quả của quá trình phân phối ấy,
nhưng như phân tích của Mark, trước khi dùng để trả lương, tổng sản phẩm xã hội cần phải được phân chia:
- Một phần để bù đắp những tư liệu sản xuất đã hao phí;
- Một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất;
- _ Một số vốn dự trữ, hoặc bảo hiểm để phòng tai nạn, biến cố ;
-_ Phần còn lại đành cho tiêu dùng, nhưng trước khi phân phối cho người lao động, còn phải khấu trừ: chỉ phí chung về qủan lý, những
Trang 18người không trực tiếp sản xuất; chỉ phí cho giáo dục, văn hóa, y tế;
quỹ nuôi dưỡng những người già cả, người tàn tật không có khả năng lao động
Tóm lại, tiền lương là kết quả của quá trình phân phốt, một trong bốn
khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Nhà nước tác động đến quá trình
ấy thông qua một hệ thống các chính sách xã hội và công cụ quản lý vĩ
mô để ổn định đời sống người lao động, thúc đẩy sản xuất xã hội phát
triển theo mục tiêu đã định
1.5 Quan điểm tiền lương ở nước ta hiện nay
Quan điểm về tiễn lương, tiển công trong khu vực sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ ở nước ta đã có nhiều thay đổi trong những năm thực biện
đường lối đổi mới vừa qua Tiền lương trong các doanh nghiệp, từ chỗ
như là hình ảnh đặc trưng của cơ chế tập trung bao cấp, với việc quy định
chặt chế, nghiêm ngặt của Nhà nước đến mức lương và tiêu chuẩn tem
phiếu cho từng cán bộ, công nhân viên chức, giờ đây đã dẫn dần được xem là giá cả sức lao động
Từ đó, tính chất bình quân chủ nghĩa trong việc trả lương, trả công lao
động tại các doanh nghiệp đang dân được khắc phục Với sự tác động qua
lại giữa các phương thức quản lý, các hình thức trả lương lao động của
các lọai hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, quan điểm tién
lương là giá cả sức lao động ngày càng được thể hiện rõ nét
2 BAN CHAT CUA TIEN TRO CAP BAO HIEM XA HOI
2.1 _Khdi niém yé BHXH:
Đứng trên những góc độ khác nhau, có thể có những khái niệm về BHXH khác nhau Nhưng với một cách hiểu khái quát nhất, theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam thì: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập
do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất
nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp
của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an tòan đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng
thời góp phần bảo đảm an tòan xã hội”
BHXH chiếm vị trí quan trọng nhất và là thành phần chính của hệ
thống bảo đảm xã hội ở các nước trên thế giới Hiện nay, nhiều nước có
Trang 19nguồn thu từ đóng góp BHXH chiếm đến 10% GDP và chỉ cho các chế độ
trợ cấp BHXH chiếm tỷ trọng đến 60 — 70% tổng chỉ tiêu cho các họat động bảo đảm xã hội của tòan quốc gia
2.2 Chức năng cơ bản của BHXH:
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã tổng kết kinh nghiệm và mục
tiêu họat động của các hệ thống BHXH cũng như các hệ thống bảo vệ xã
hội nói chung với hai chức năng cơ bản như sau:
se Chức năng hạn chế khó khăn về kinh tế của người lao động: Cho
phép tất cả các thành viên đã tham gia quá trình họat động kinh
tế trước đây của xã hội, hoặc tất cả công dân, hình thành các
quyển để duy trì một chuẩn mực sống tương đối đảm bảo ngay cả trong trường hợp có sự cố bất ngờ xảy ra
e Chức năng hình thành một hệ thống an tòan cho xã hội: Chức
năng này không chỉ cần thiết cho người lao động mà còn bảo đảm
sự ổn định xã hội cho quốc gia, bảo đảm chắc chắn với mọi thành viên của xã hội gặp phải cảnh nghèo đều được cung cấp một
khéan thu nhập bằng tiển,:cũng như các dịch vụ y tế và địch vụ xã hội ở mức tối thiểu, và điều đó cho phép họ trải qua một cuộc
sống xã hội có đầy đủ ý nghĩa
2.3 Những nguyên tắc cơ bản của BHXH:
Trên cơ sở kinh nghiệm họat động BHXH của các nước trên thế giới
và khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), có thể tổng kết
thành những nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chính sách BHXH như
sau:
e Nguyên tắc bình đẳng giữa các đối tượng áp dụng: Là việc xây
dựng chính sách BHXH bình đẳng giữa những người lao động
Quỹ BHXH hình thành các nguồn tài chính từ các khỏan đóng
góp và có một hệ thống họat động nhằm đảm bảo lợi ích cho người tham gia đóng góp vào quỳ này Quyền đươc hưởng trợ cấp
BHXH được bảo đảm bằng chính việc đóng góp vào quỹ BHXH
e Nguyên tắc tương trợ cộng đồng: BHXH là một hình thức chia sé rủi ro và bắt buộc mọi người phải tham gia đóng góp vào quỹ
theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” và nguyên tắc “tiết kiệm chỉ tiêu lúc có thu nhập” để được hưởng trợ cấp lúc tạm thời hoặc
vĩnh viễn mất khả năng lao động, lúc về già
Trang 20Nguyên tắc phân phối trên cơ sở mức độ đóng góp: Cơ sở để tính mức đóng góp là tiền lương, thu nhập của người tham gia BHXH Tiền thu từ các khỏan đóng góp được tập trung vào quỹ BHXH
mà từ đây chỉ được lấy ra để chỉ cho các chế độ trợ cấp BHXH và
các khỏan chi hành chính của họat động BHXH Tỷ lệ đóng góp
và mức hưởng trợ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với mức tiển
lương, thu nhập của người tham gia BHXH
Nguyên tắc thực hiện cân đối thu, chỉ BHXH: Khi xây dựng các
chế độ trợ cấp phải tính tóan, dự báo được số tiền phải chỉ tiêu
trong tương lai, để từ đó huy động các khỏan đóng góp bảo đảm
đủ nhu cẫu Phải tiến hành các họat động đầu tư đối với số tiền
tạm thời nhàn rỗi để bảo tòan giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH Nguyên tắc phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội: Trên thế giới
biện có 9 chế độ BHXH, nhưng ở mỗi nước khác nhau cân xuất
phát từ khả năng và điều kiện kinh tế, xã hội của mình để áp
dụng những chế độ BHXH nào cho phù hợp Đồng thời các mức
trợ cấp BHXH cũng phải có sự tương quan thích hợp với mức thu
nhập trong cộng đồng xã hội
2.4 Sự cần thiết phải có chính sách BHXH:
BHXH cần thiết với mọi quốc gia, thể hiện qua những nội dung sau: Họat động BHXH có thể bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người
lao động và giữ vững ổn định xã hội Bởi vì, khi người dân có
cuộc sống đảm bảo sẽ hạn chế việc phân biệt đối xử, giảm bớt sự
phân cách giàu nghèo và sự cùng khổ của người lao động cũng như những người cao tuổi, người tàn tật mất sức lao động Giúp cho người lao động yên tâm làm việc lúc còn sức lao động thì Nhà nước mới bảo đảm được an sinh xã hội, có động lực phát triển
kinh tế,
Trên cơ sở họat động của BHXH và sự phát triển của nền kinh tế
hiện nay, Nhà nước sẽ là người trung gian đứng ra điều chỉnh thu
nhập giữa các tâng lớp người lao động và các tầng lớp dân cư trong các độ tuổi khác nhau, đảm bảo sự công bằng xã hội đối với
mọi người dân và mọi người lao động trong các thành phần kinh
tế khác nhau bằng hệ thống chính sách BHXH
Thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế và công cuộc Công
nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước đã làm tăng nhu cầu về mở
Trang 21rộng họat động BHXH.Cùng với việc phát triển khoa học kỹ thuật, sẽ xuấ biện những lọai rủi ro mới và nghiêm trọng hơn đối
với người lao động Những nghề nghiệp mới làm tăng tình trạng
tai nạn lao động và xuất hiện bệnh nghề nghiệp mới, tình trạng thất nghiệp gia tăng do sử dụng nhiều máy móc và công cụ tự
động hóa quá trình sản xuất
Trong bất ky hòan cảnh nào, Nhà nước cũng phải đứng sau và
luôn phải là người hỗ trợ cho họat động BHXH Bởi vì họat động
BHXH hình thành nên quỹ BHXH và đó là quỹ của người lao động tiết kiệm được qua hình thức đóng góp hàng tháng, hàng kỳ
để dành cho lúc bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp hoặc lúc về già Nhà nước có trách nhiệm duy trì và bảo
tòan quỹ của người lao động để thực hiện các chế độ trợ cấp, nếu không thì xã hội sẽ bất ổn, kinh tế trì trệ
2.5 Chính sách, chế độ BHXH:
Chính sách BHXH: là một bộ phận quan trọng trong chính sách
kinh tế, xã hội của một Nhà nước, là những chủ trương, quan
điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn để xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn để
kích thích phát triển kinh tế từng thời kỳ Trong mỗi giai đọan
khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước để ra và thực hiện
phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước
Chế độ BHXH: Là sự cụ thể hóa chính sách BHXH thành các chế
độ trợ cấp như: trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tai
nạn lao động; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật; trợ cấp gia đình; trợ cấp mất người nuôi dưỡng; trợ cấp tuối gia
Tùy theo điểu kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước mà
Trang 22+ Chế độ nghỉ đưỡng sức, phục hỗi sức khỏe
2.6 Tiên trợ cấp BHXH:
Đó là khỏan tiển từ Quỹ BHXH được chỉ trả cho người tham gia
BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định Trợ cấp BHXH
có nhiễu lọai: trợ cấp một lần và trợ cấp thường xuyên hàng tháng; trợ cấp ngắn hạn và trợ cấp đài hạn; trợ cấp thay thế tiền lương và trợ cấp có tính chất hỗ trợ, bổ sung
Mức trợ cấp thường được xây dựng dựa trên 2 nhóm cơ sở sau:
«©Ồ Các nhu cầu cần thiết cho cuộc sống: Sở đĩ như vậy vì BHXH phải
đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cho người lao động và gia đình
họ khi gặp phải những rủi ro Đó là những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành Tuy nhiên, không phải các nhu cầu này đều
được đáp ứng đầy đủ ngay lập tức mà phải trên cơ sở mở rộng, đáp
ứng đần phù hợp với điều kiện, khả năng của nên kinh tế
s_ Các cơ sở kinh tế - xã hội, gồm có:
+ Mức độ giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng
lao động: Để có thể bù đấp một cách hợp lý nhất
+ Mức thu nhập theo nghề nghiệp của người lao động: Mức trợ
cấp không được quá thấp so với thu nhập khi đang làm việc, nhưng
không thể bằng hoặc lớn hơn thu nhập nghề nghiệp
+ Mức sống của dân cư: Trợ cấp BHXH phải trên cơ sở mức
sống chung của dân cư, để cho người hưởng BHXH hòa nhập được
với cộng đồng
+ Mức đóng và thời hạn đóng BHXH: Trợ cấp BHXH cao hay thấp là tùy thuộc vào khả năng của Quỹ BHXH Mà Quỹ này được
tạo ra từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao
động Để cân đối thu chỉ Quỹ thì các mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp phải phụ thuộc nhiễu vào mức và thời gian đóng BHXH của
người lao động Như vậy, ai đóng cao hơn, thời hạn đóng nhiều hơn
sẽ được hưởng trợ cấp cao hơn, dài hơn
Trong những cơ sở nói trên có 2 căn cứ quan trọng nhất để xây dựng
mức trợ cấp BHXH là: Mức độ giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động; Mức và thời gian đóng BHXH của người lao
động
Trang 23II MOI QUAN HE GIUA TIEN LƯƠNG VỚI MỨC ĐÓNG VÀ MỨC HƯỚNG TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI
Bảo hiểm xã hội là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp mà trong
đó, tính xã hội nổi trội hơn Tuy nhiên, kinh tế vẫn là nền tảng Chỉ khi
người lao động đạt đến một mức độ thu nhập nào đó thì việc tham gia
BHXH mới có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả
Trên thực tế, dù BHXH xuất hiện trong mô hình kinh tế nào thì giữa mức đóng và mức hưởng tién trợ cấp BHXH đều có chung mối Hên hệ
chặt chẽ với tiền lương, tiền công lao động
1 MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN LƯƠNG VỚI MƯC ĐÓNG BHXH
BHXH tại các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ thực hiện cơ chế
kế họach hóa tập trung trước đây, trong đó có Việt Nam, được Nhà nước
bao cấp, chỉ trả các khỏổan trợ cấp cho người lao động Theo mô hình này,
người lao động không phải đóng góp trực tiếp, mà chỉ có các doanh
nghiệp phẩi nộp một khỏan kinh phí theo tỷ lệ nhất định so với tổng quỹ
tiền lương vào ngân sách Nhà nước (hoặc cho tổ chức công đòan) Quỹ
BHXH trên thực tế không tổn tại độc lập Các khỏan trợ cấp BHXH được
Nhà nước chỉ trực tiếp từ ngân sách, hoặc thông qua tổ chức công đòan
Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn các nước thực hiện BHXH theo
nguyên tắc: người lao động có nghĩa vụ đóng góp một tỷ lệ tiền lương cá
nhân; doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp dựa trên tổng quỹ tiền lương
của những người lao động mà mình thuê mướn, sử dụng; Nhà nước cũng
có trách nhiệm tương tự Tất cả những đóng góp này được tập trung vào quỹ BHXH, độc lập với ngân sách Nhà nước
Ở một số nước, ngòai hệ thống BHXH công, Nhà nước còn cho phép
một số tổ chức, công ty được được thực hiện BHXH trong một phạm vi và
đối tượng nhất định mà cơ chế đóng góp vẫn trên cơ sở tiển lương của
nghiệp, thì vai trò tiền lương được thể hiện rõ ràng hơn
Chính vì vậy, dưới góc độ nguồn thu, quy mô của quỹ BHXH phụ
thuộc trực tiếp vào tiền lương của người lao động cũng như hiệu quả sản
Trang 24xuất kinh doanh của đoanh nghiệp Khi doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả, người lao động được trả lương cao sẽ đóng góp cho quỹ BHXH được nhiều hơn (mặc dù tỷ lệ không thay đổi) và ngược lại, khi thu nhập thấp, mức đóng góp của họ sẽ ít đi; còn khi không tạo ra thu nhập thì sẽ không
có đóng góp cho quỹ BHXH
BHXH ở Việt Nam được thực hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX
Khi đó do hòan cảnh lịch sử và điểu kiện kinh tế xã hội, đối tượng của
BHXH mới chỉ bao gồm công nhân viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các nhà máy, xý nghiệp quốc doanh Đó là
BHXH của một nên kinh tế kế họach hóa tập trung, bao cấp Tất cả
những đối tượng trên không phải đóng BHXH nhưng đều được hưởng trợ
cấp BHXH khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí Nhà nước
không lập ra quỹ BHXH riêng mà sử dụng ngân sách để chỉ trả trợ cấp BHXH Các doanh nghiệp hàng tháng phải đóng góp cho ngân sách Nhà nước và ngân sách của tổ chức công đòan một khoản kinh phí theo tỷ lệ
phần trăm trên tổng quỹ tiền lương Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách
quan, số đóng góp trên của các doanh nghiệp chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu, phần còn lại ngân sách Nhà nước chịu trách nhiệm chỉ trả
Từ ngày 22/06/1990, Nghị định 233/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng
(nay là Chính phủ) bắt đầu quy định trách nhiệm đóng góp BHXH của người lao động (cùng với người sử dụng lao động) trong các xý nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài Đến 04/1993, Chính phủ có Nghị định 43/CP ban hành “Điều lệ tạm thời về BHXH”, và tiếp theo đó, từ 01/1995 theo quy
định tại Bộ Luật Lao Động của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam, BHXH ở nước ta đã có những thay đổi quan trọng Đối tượng tham
gia BHXH đã mở rộng đến tất cả những người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngòai quốc doanh Nhà nước lập ra quỹ BHXH từ
nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và của Nhà nước, độc lập với ngân sách để bảo đảm chỉ trả các chế độ trợ cấp BHXH cho người lao động Hàng tháng người lao động phảẩi đóng góp 5% tiển
lương; doanh nghiệp đóng góp bằng 15% tổng quỹ tiễn lương vào quỹ
Nhà nước với tư cách là người sử dụng lao động đối với những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, cũng phải đóng góp 15% như các
doanh nghiệp, đồng thời phải hỗ trợ để bảo đảm an toàn cho quỹ Quỹ BHXH còn được bổ sung từ các nguồn khác như: thu từ hoạt động đầu tư,
thu tiền phạt chậm nộp nhưng chủ yếu vẫn là từ nguồn đóng góp của
người lao động và người sử đụng lao động, mà cơ sở để xác định mức
đóng góp ấy chính là tiền lương, tiền công lao động
Trang 252 MỐI QUAN HỆ GIỮA TIEN LUONG VOI MUC HUONG TRO CAP
BHXH
2.1 Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào tiền lương của người lao động khi
còn làm việc:
Với nguyên tắc phân phối trên cơ sở mức độ đóng góp (hay nguyên
tắc tính tương đương giữa đóng và hưởng), người nào đóng góp nhiều hơn
thì khi hưởng trợ cấp sẽ nhận được mức cao hơn người đóng góp thấp
Như vậy, khi còn làm việc, người nào có mức tiền lương, thu nhập cao
hơn, chắc chắn sẽ đóng góp nhiều hơn, và khi hưởng BHXH cũng sẽ phải
được hưởng mức trợ cấp cao hơn, mặc dù tỷ lệ hưởng vẫn như nhau
Trên thực tế, việc thiết kế các chế độ trợ cấp BHXH là hết sức phức tạp Bên cạnh nguyên tắc phân phối trên cơ sở mức độ đóng góp trên
đây, người ta thấy còn có nhiễu yếu tố khác chỉ phối như: nguyên tắc tương trợ cộng đồng (nguyên tắc san sẻ xã hội); vấn để điều tiết thu
nhập; điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội từng thời kỳ; yếu tố giá cả và
mức độ bảo đảm giá trị của đồng tiên Tuy nhiên, bao giờ thì mức hưởng
các chế độ trợ cấp BHXH, nhất là các lọai trợ cấp mang tính chất thay
thế tiền lương, trợ cấp hưu trí, cũng có một quan hệ tỷ lệ nhất định với mức tiền lương của người lao động khi còn làm việc
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, việc chỉ trả các
loại trợ cấp BHXH dài hạn do ngân sách đảm nhận thông qua sự quần lý trực tiếp của Bộ Lao Động ~ Thương Binh & Xã Hội; Các loại trợ cấp
BHXH ngắn hạn do Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam quần lý chỉ trả Cũng như chế độ tiền lương, các lọai trợ cấp BHXH lúc bấy giờ phần lớn được trả thông qua hình thức hiện vật như: gạo, thịt, trứng, đậu phụ, dẫu
ăn, chất đốt Tuy vậy, phân tiên tệ còn lại bao giờ cũng được tính theo
một tỷ lệ với mức tiển lương khi tại chức Ví dụ: Mức lương hưu cao nhất
có thể lên đến 95% mức lương tại chức cuối cùng; Mức trợ cấp thai sản là
100% mức lương trước khi nghỉ sinh Tóm lại, mức trợ cấp BHXH phải dựa trên cơ sở mức tiền lương của công nhân viên chức
Từ năm 1995, với sự hình thành quỹ BHXH độc lập, BHXH Việt Nam
tổ chức chi trả toàn bộ các loại trợ cấp BHXH Mức chỉ trả từ đây đã
thóat ly hẳn với chế độ cung cấp bằng hiện vật Mặc dù hiện nay còn có
sự khác biệt nhất định giữa cách tính trợ cấp của khu vực thực hiện chế
độ tiền lương theo thang bảng lương của Nhà nước và khu vực không thực
hiện theo chế độ tiền lương của Nhà nước, các lọai trợ cấp hấu hết đều phải dựa trên cơ sở mức tiền lương đóng BHXH của người lao động
Trang 262.2 Mức trợ cấp BHXH còn phụ thuộc vào mức sống của xã hội
Mức sống xã hội luôn luôn thay đổi theo chiều hương phát triển, có
nghĩa là: mức sống của ngày hôm sau, của thế hệ sau luôn cao hơn ngày hôm trước, thế hệ trước, bởi lẽ năng suất lao động xã hội không ngừng
tăng lên theo thời gian Dẫn đến một mâu thuẫn: nguên quỹ BHXH của
người lao động được hình thành từ mức tiễn lương của những năm, tháng
trước, thường là rất thấp so với nhu cầu chỉ trợ cấp hưu trí (hay những lọai trợ cấp BHXH dài hạn khác) cho họ theo chuẩn mực sống sau này Tuy nhiên, một trong những cơ sở để xây dựng các chế độ trợ cấp BHXH là
phải dựa vào mức sống chung của dân cư, để bảo đảm cho người hưởng
trợ cấp khả năng hòa nhập với cộng đồng Do đó, mức trợ cấp BHXH,
đặc biệt là trợ cấp hưu trí, có sự phụ thuộc rõ nét với mức sống chung của
xã hội đương thời Về khía cạnh tài chính, rõ ràng phải cần đến sự diéu tiết nguồn đóng góp tài chính của những người lao động thuộc thế hệ sau
cho những người của thế hệ đi trước
Chính vì vậy, khi thực hiện chế độ trợ cấp hưu trí, cũng như các chế
độ trợ cấp BHXH dài hạn, nguyên tắc san xẻ xã hội được thể hiện một cách đậm nét thông qua sự chuyển giao nguồn đóng góp tài chính BHXH
từ các thế hệ sau cho các thế hệ trước, khác với các chế độ trợ cấp ngắn hạn như ốm đau, thai sản, chăm sóc y tế là sự san sẻ xã hội giữa những người cùng thế hệ với nhau
II KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI
1 QUAN ĐIỂM CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ (ILO) :
Trong bản Khuyến cáo R135 năm 1970, “Khuyến cáo về việc hình thành tiền lương tối thiểu” (đặc biệt để thực hiện cho các nước đang phát triển), để cập đến việc hình thành và những yêu cầu cần thiết đặt ra cho việc hình thành lương tối thiểu, đã đưa ra một số yêu cầu là:
- _ Thứ nhất, là một trong những thành phần hình thành chính sách xã hội, giảm bớt sự nghèo đói và đảm bảo đáp ứng yêu cầu cho tất cả những người lao động và gia đình họ;
- Thi hai, mục đích cơ bản của việc hình thành tiền lương tối thiểu
là đảm bảo cho người lao động làm thuêđược bảo đảm xã hội
trong điều kiện cần thiết với mức tiễn lương yêu câu tối thiểu nhất
Trang 27Theo khuyến cáo trên thì khi Chính phủ hình thành mức tiên lương tối thiểu cần chú ý đáp ứng được các nhu cầu chính sau:
- _ Nhu cầu của người lao động và gia đình
- _ Mức tiền lương chung của xã hội
- _ Cơ sở để tính toán mức trợ cấp cần thiết cho sự đảm bảo của xã
hội dối với người lao động
- _ Chuẩn mực sống tương ứng giữa các nhóm dân cư trong xã hội
- _ Yêu cầu phát triển kinh tế, trình độ năng suất lao động đạt được và yêu cầu duy trì nhụ cầu lao động, việc làm ổn định trong xã hội
Như vậy, theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế, thì cơ sở
quan trọng để có thể tính các khỏan trợ cấp an sinh xã hội chính là tiền lương tối thiểu Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì tiễn lương tối thiểu còn là cơ sở để giảm bớt sự nghèo đói trong các tầng lớp dân cư
Do vậy, việc Chính phủ hình thành được mức tiền lương tối thiểu phù hợp chính là điều kiện để xây dựng một chính sách xã hội tốt và hiệu quả
Trên cơ sở các công ước về chỉ trả thù lao cho người lao động và vấn
để hình thành tiển lương tối thiểu, ở mỗi nước đã hình thành mức tiển
lương tối thiểu căn cứ vào mức sống và chỉ phí cá nhân tối thiểu từng giai
đoạn và trên cơ sở đó để chỉ trả tiền công cho người lao động Như vậy
có thể nói mức chỉ tiền lương tối thiểu là cơ sở để giải quyết chế độ an
sinh xã hội ở các nước
Hệ thống hình thành nguồn tài trợ cho quỹ bảo đảm xã hội phụ thuộc
vào việc xác định loại hình đóng góp và cơ sở để tính mức đóng góp
Nguồn tài trợ có thể thực hiện qua hệ thống thuế hoặc từ các khoản đóng góp của các bên liên quan là người lao động và chủ sử dụng lao động -_ Nếu thực hiện tài trợ cho hoạt động bảo đảm xã hội thông qua hệ
thống thuế, có thể đựa trên cơ sở thu nhập, nguồn vốn, lãi suất
hoặc tiêu dùng xã hội bằng việc Nhà nước tính thuế thu về ngân
sách để chỉ tiêu cho các khoản trợ cấp bảo đảm xã hội
- _ Nếu thực hiện tài trợ bằng việc xác định mức đóng cho các bên có
liên quan thì thường phải tổ chức thu các khoản đóng góp theo luật
định và dựa trên cơ sở mức đóng góp đó để tính trợ cấp cho người
hưởng Việc quy định mức đóng góp thực hiện theo tỷ lệ cố định với thu nhập Trong trường hợp nếu thu nhập của các cá nhân có
sự chênh lệch lớn cân đặt ra mức trần hoặc sàn để khi tính các
khoản trợ cấp đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng tham gia
Trang 282 KINH NGHIEM CÁC NƯỚC:
2.1 — Cong hoa liên bang Đức:
Năm 1992, CHLB Đức đã ban hành hệ thống thang lương gồm 4 bang lương:
- Bảng lương A dành cho các ngạch công chức chuyên môn nghiệp vụ áp dụng chung cho các ngành - có 16 thang lương,
mỗi thang lương có 8 bậc lương
- Bang lương B có 11 mức lương dành cho các chức vụ lãnh đạo,
mỗi chức vụ chỉ có một mức lương
- Bảng lương C có 4 thang lương dành cho các nhà khoa học, giáo viên, giảng viên, giáo sư đại học
- Bảng lương R là lương tòa án
Bội số tiền lương chung của CHLB Đức là 10.5, lương tối thiểu 1.436
DM, lương tối đa 15.052 DM/tháng
Trong quy định đóng góp BHXH, Đức quy dịnh mức tối đa 102.000
DM/ năm và mức tối thiểu 630 DM/năm
vào quỹ như chủ sử dụng lao động và hỗ trợ phần tiền thiếu
Khoản trợ cấp Hưu trí được tính bằng 50% thu nhập trung bình của
người đó trong thời gian 5 năm có mức thu nhập trung bình cao nhất trong
10 năm cuối cùng Mức trợ cấp tối thiểu là 50 Peso/tháng hoặc 790
Peso/năm hoặc 80% tiễn lương tuỳ thuộc vào mức thu nhập trung bình và
số năm công tác Mức trợ cấp tối đa bằng 90% thu nhập trung bình
2.4 Thái Lan:
Trang 29Mức đóng góp BHXH tính theo tỷ lệ (%) trên tiền lương, trong đó mỗi bên liên quan, bao gồm: người sử dụng lao động, người lao động và nhà
nước, đóng cùng một tỷ lệ là 9.5%
Chế độ trợ cấp Hưu trí được trả bằng một tỷ lệ so với tiền lươnệ, dựa
trên thời gian và mức đóng BHXH Tỷ lệ cụ thể đo cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định
2.5 Công hòa Dominican:
Quy định thu nhập tối đa được đóng BHXH là 2.050 Peso/tháng (người có thu nhập trên 2.050 peso/ tháng không phải là đối tượng tham
gia BHXH) Mức thanh toán trợ cấp Hưu trí tối thiểu bằng 500 peso/ tháng, tối đa bằng 70% thu nhập
2.6 Công hòa Sec:
Thu BHXH theo mức thu nhập thực tế của người lao động, trong đó người lao động đóng 6,5%, người sử dụng lao động đóng 19,5%; chính phủ bù toàn bộ thiếu hụt nếu có, để chỉ trợ cấp Hưu trí và tai nạn lao động
Việc chỉ trả dựa trên tiễn lương cơ bản là 1.310 CZK cộng tỷ lệ bằng
1,5% khoản tiền làm cơ sở tính thu các khoản đóng góp BHXH, tối thiểu bằng 770 CZK Nếu nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn
thì trợ cấp hưu trí tối thiểu bằng số tiền cơ bản cộng 385 CZK
Theo thống kê có đến 90% các nước sử dụng thu nhập hàng kỳ làm
cơ sở đóng góp BHXH Có nước quy định mức thu nhập tối đa có thể được đóng BHXH, tức là trên mức thu nhập nào đó sẽ không phải tham gia BHXH hoặc chỉ đóng đưới mức quy định Khi tính trợ cấp, các nước
đều có tính đến lương cơ bản trả trợ cấp cho người hưởng chế độ mà đặc
biệt là để tính trợ cấp hưu tuổi già, hưu cho người bị suy giảm khả năng
lao động
* Kết luận:
Từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới cho thấy: Việc
hình thành nguồn tài trợ cho bảo đảm xã hội có thể thực biện qua hệ thống thuế hoặc từ các khoản đóng góp của các bên liên quan là người lao động và chủ sử dụng lao động
- Nếu thực hiện tài trợ cho hoạt động bảo đảm xã hội thông qua hệ thống
thuế, có thể dựa trên cơ sở thu nhập, nguồn vốn, lãi suất hoặc tiêu đùng
Trang 30xã hội bằng việc Nhà nước tính thuế thu về ngân sách để chỉ tiêu cho các khoản trợ cấp bảo đảm xã hội
- Nếu tổ chức quỹ BHXH độc lập, thông qua hình thức đóng góp của các bên có liên quan thì:
+ Mức đóng góp thực hiện thông qua một tỷ lệ cố định với thu nhập,
theo luật định ¬
Trong trường hợp thu nhập của các cá nhân có sự chênh lệch lớn,
cần đặt ra mức trần hoặc sàn để khi tính các khoản trợ cấp đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng tham gia
Thu nhập ở đây được hiểu là tổng số tiền lương thực nhận từ họat
động lao động tại doanh nghiệp
+ Dựa trên cơ sở mức đóng góp để chỉ trả trợ cấp BHXH, đồng thời phải tính đến yếu tố thu nhập tối thiểu để điều chỉnh mức trợ cấp, đẩm bảo mức sống của người hưởng trợ cấp không thóat ly với mức sống
chung của xã hội
Trang 31CHƯƠNG II: THUC TRẠNG TIỀN LƯƠNG LAO ĐỘNG VA
TIÊN LƯƠNG LÀM CĂN CU THUC HIEN CHÍNH SÁCH
BAO HIEM XA HOI HIEN HANH
I THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
1 CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG HIỆN HÀNH
Chính sách, chế độ tiền lương hiện hành có liên quan đến công chức,
viên chức Nhà nước và tất cả những người lao động làm việc trong mọi
thành phân kinh tế Nguyên tắc chung được được quy định tại Điều 55 —
Bộ luật Lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002) như sau: ”Tiển lương
của người lao động do hai bên thỏa thưận trong hợp đồng lao động va được trả theo năng xuất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức
lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do
Nhà nước quy định”, được Chính phủ hướng dẫn thi hành tại các Nghị
định: 197/CP ngày 31/12/1994; 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002
Chính sách tiễn lương được thể hiện tập trung trên 4 nội dung cơ bản:
Mức tiền lương tối thiểu; Hệ thống thang, bảng lương; Các chế độ phụ cấp lương và Cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập
1.1 Mức tiền lương tối thiểu:
* Mức lương tối thiểu chung:
Là nội dung quan trọng trong chính sách tiền lương, được ấn định theo giá sinh hoạt bảo đẩm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện bình thường đủ bù đắp sức lao động giản đơn và tích lũy tái sản xuất mở rộng sức lao động, và được dùng làm căn cứ để tính mức
lương cho các loại lao động khác trong toàn bộ nên kinh tế quốc đân, kể
cả chế độ trợ cấp từ Bảo Hiểm Xã Hội
Mức lương tối thiểu chung tính theo giá tháng 10/1990 được quốc hội
khoá VIII ky hop thif 9 thông qua là 85.000 đồng/tháng với cơ cấu gồm 8
yếu tố: ăn, mặc, ở, đi lại, giáo đục, văn hóa — giao tiếp xã hội, Bảo Hiểm
Y Tế và Bảo Hiểm Xã Hội, nhưng chưa được áp dụng trong thực tế Đến
kỳ họp thứ 2 quốc hội khóa IX, là 120.000 đồng/tháng, nhưng không quy
Trang 32định cụ thể tỷ trọng các yếu tố mà chỉ quy định 2 khoản chỉ về BHXH
(5%), BHYT (1%) Đến tháng 1/1997, khi giá sinh hoạt tăng khoảng 33%
so với tháng 12/1993, mức lương tối thiểu được điều chỉnh 144.000 đồng
Từ tháng 01/2000 mức lương tối thiểu nâng lên 180.000 đồng, tháng
01/2001 là 210.000 đồng và đến tháng 01/ 2003 là 290.000 đồng
* Mức lương tối thiểu riêng theo ngành, theo vùng, theo khu vực:
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước quy
định mức lương tối thiểu theo vùng từ 30 - 45 USD, theo Quyết định số 385/LĐTBXH ngày 1/4/1996, hoặc từ 417.000 đồng — 626.000 đồng, theo Quyết định số 708/1999/QĐÐ -LĐTBXH ngày 15/6/1999 của Bộ Lao động
- Thương binh & Xã hội, để làm căn cứ xây dựng thang, bảng lương, phụ
cấp lương và thiết kế chế độ trả lương cho người lao động Mức lương này hiện nay bằng khỏang 1,44 — 2,16 lần so với mức lương tối thiểu
chung, tùy theo từng khu vực doanh nghiệp họat động
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước, trên nguyên tắc vẫn áp dụng mức
lương tối thiểu chung Tuy nhiên, kể từ năm 1997 được Nhà nước cho
phép áp dụng một hệ số tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung đối
với từng doanh nghiệp theo hiệu quả sản xuất kinh doanh, theo ngành va
theo vùng, để tính đơn giá tiễn lương và trả lương cho người lao động Hệ
số tăng thêm được áp dụng từ 1 — 2,5 lần so với mức lương tối thiểu chung, cụ thể: từ năm 1997 trong khoảng 144.000 - 360.000 đồng; Từ
năm 2000 là 180.000 - 450.000 đồng; Từ năm 2001 là 210.000 - 525.000
đồng; Từ năm 2003 là 290.000 - 725.000 đồng, thực chất là cho phép
doanh nghiệp Nhà nước có thể trả lương cho người lao động cao gấp 2,5
lần so với quy định chung
Do chưa xác định hết các yếu tố cần tiển tệ hoá trong lương và chưa
kịp thời điểu chỉnh theo biến động của giá cả tiêu dùng nên trên thực tế
tiễn lương tối thiểu chung thường rất lạc hậu so với nhu cầu cuộc sống
đòi hổi cũng như so với thu nhập của các đơn vị kinh tế cả trong và ngoài
quốc doanh, làm ảnh hưởng đến tiền lương thực tế của những người
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và những người hưởng các chính
sách xã hội khác
Dù vậy, việc quy định mức tiền lương tối thiểu chung làm cơ sở để
xác định các mức tiền lương khác, kể cả chế độ trợ cấp BHXH trong toàn
bộ nên kinh tế quốc dân là một bước ngoặt quan trọng của chính sách tiền lương ở Việt Nam
Trang 331.2 Hệ thống thang lương, bảng lương
- Nhà nước xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương để áp dụng cho
các cơ quan, đơn vị, tổ chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước, trên cơ sở đặc thù lao động từng khu vực, từng
ngành, từng nghề, và được xác lập dựa trên quan hệ bội số tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa (hiện nay là:1- 2.2 - 13) Mỗi bậc lương của các
thang lương, bảng lương được xác định bằng một hệ số so với mức tiển
lương tối thiểu Mỗi mức lương cụ thể được tính bằng hệ số của bậc lương nhân với mức tiên lương tối thiểu Khi Nhà nước điều chỉnh mức tiên
lương tối thiểu, mức lương cụ thể sẽ được thay đổi theo
Hệ thống thang lương, bảng lương ban hành kèm theo Nghị định
25/CP của Chính phủ, hiện áp dụng cho khu vực hành chính sự nghiệp,
lực lượng vũ trang, là khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Hệ thống thang lương, bảng lương ban hành kèm theo Nghị định
26/CP của Chính phủ, hiện áp dụng cho khu vực doanh nghiệp nhà nước
- Nhà nước quy định các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh
tế khác phải tự xây dựng thang lương, bảng lương để giao kết hợp đồng
và trả lương cho người lao động
Bên cạnh quy định về thang lương, bảng lương, Nhà nước yêu câu các
doanh nghiệp phải xây dựng các tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, định mức
lao động để tính đơn giá tiển lương trong giá thành sản phẩm, để xác định
tổng quỹ tiền lương trả cho người lao động Tuy nhiên, những quy định này thường chỉ bắt buộc thực hiện trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước,
các lọai hình doanh nghiệp khác hầu hết chỉ sử dụng cho việc giao kết
hợp đồng lao động, làm căn cứ để giải quyết một số chính sách, chế độ
trong đó có việc trích nộp BHXH, chứ ít có ý nghĩa đối với việc trả lương
lao động
1.3 Các chế đô phụ cấp lương:
- Các chế độ phụ cấp lương được xây dựng trên cơ sở bù đắp thêm
các yêu tố chưa thể hiện đẩy đủ trong lương, được Nhà nước quy định
thực hiện trong khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và trong các doanh nghiệp Nhà nước
Sau nhiễu lần bổ sung, đến nay đã có trên 10 loại phụ cấp lương, tuy
nhiên chỉ có 5 loại phụ cấp được áp dụng trong việc đóng và hưởng trợ
Trang 34cấp BHXH, đó là: Phụ cấp chức vụ gồm 25 mức, từ hệ số 0.1 đến 1.15;
Phụ cấp khu vực gỗm 7 mức, từ hệ số 0.1 đến 1.0; Phụ cấp đắt đỏ gồm 5
mức, từ hệ số 0.1 đến 0.3; Phụ cấp thâm niên tại ngũ bằng 1% lương/ 1
năm tại ngũ; Phụ cấp thâm niên chức vụ dân cử từ nhiệm kỳ thứ 2, mỗi
nhiệm kỳ tái cử là 5% tiễn lương chức vụ
- Các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác có thể vận
dụng thực hiện các lọai phụ cấp lương do Nhà nước xây dựng, hoặc tham
khảo để tự xây dựng hệ thống phụ cấp riêng cho mình
Trên thực tế, hệ thống các phụ cấp lương chỉ có nhiều ý nghĩa đối với
khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Trong các doanh nghiệp
Nhà nước, phụ cấp lương chủ yếu dùng để bổ sung mức đóng, mức hưởng các chế độ BHXH; Còn với các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác, phụ cấp lương hầu như không có ý nghĩa thực tế
1.4 Cơ chế quản lý tiền lượng và thu nhập:
Là một bộ phận không kém phần quan trọng trong việc thực hiện
chính sách tiễn lương Và do chính sách thu, chỉ BHXH dựa trên cơ sở
tiền lương lao động nên cơ chế quản lý tiền lương, thu nhập có ảnh
hưởng rất lớn đến việc tính toán mức đóng và mức hưởng BHXH
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, với tư cách là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước ban hành cơ chế xác định đơn giá tiền lương, xây dựng quỹ lương và cơ chế trã lương cho người lao động Cơ quan Nhà nước có
thẩm quyên thẩm định định mức lao động, đơn giá tiền lương ; quy chế
trả lương của các doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, Nhà nước
chỉ ban hành các mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu theo
vùng làm căn cứ giao kết hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và
người lao động, còn các nội dung khác trong chính sách tiền lương chỉ
mang tính nguyên tắc, định hướng và trao quyển chủ động cho doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức tự quyết định phù hợp với điều kiện sản xuất
kinh doanh của đơn vị trên địa bàn
Ngày 31/12/2002, Chính phủ ban hành Nghị dịnh 114/2002/NĐ-CP,
quy định chỉ tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về tiễn
lương, yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam có trách nhiệm xây dựng thang lương, bằng
Trang 35lương, quy chế trả lương, định mức lao động đăng ký với cơ quan quản
lý Nhà nước về lao động và áp dụng thống nhất trong doanh nghiệp
Thông qua đó, Nhà nước tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tiền
lương và thu nhập đối với các doanh nghiệp, vừa tăng cường chức năng
quản lý của Nhà nước, vừa tạo điểu kiện để các doanh nghiệp phát huy tính chủ động; sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; làm cơ sở để tăng tiền
lương và thu nhập cho người lao động
Tóm lại, cơ chế quần lý tiền lương và thu nhập hiện nay tỏ ra rất chặt chẽ đối với khu vực Nhà nước Hệ thống thang lương, bảng lương được tách biệt theo từng khu vực, với sự chỉ tiết đến bậc lương của từng lọai
công chức, viên chức, lao động; Các quy định về điều kiện, thời gian nâng bậc, chuyển ngạch rất cụ thể, kết hợp với việc thực hiện chế độ
định mức lao động kỹ thuật, xây dựng đơn giá tiễn lương trong giá thành
sắn phẩm, làm cơ sở cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyển thẩm định và
phê duyệt tổng quỹ tiền lương thực trả cho doanh nghiệp
Tuy nhiên do Nhà nước chậm điều chỉnh mức lương tối thiểu, lại giải quyết vấn để thu nhập bằng cách mở ra các cơ chế bổ sung thu nhập
ngoài lương cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, dẫn đến những chênh
lệch lớn trong quan hệ thu nhập giữa các ngành, làm đảo loạn thước đo giá trị lao động xã hội
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, việc quy định bắt buộc phải thực hiện đúng thang, bảng lương; chế độ nâng lương, chuyển ngạch; cơ
chế xây dựng quỹ tiền lương; chế độ trả lương, trả thưởng làm ảnh hưởng đến quyên tự chủ trong quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Kết hợp với thực trạng mức lương tối thiểu luôn thấp, dẫn đến
các mức lương khác cũng thấp, làm cho hệ thống thang, bảng lương thoát
ly quy luật giá trị; các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp luôn phải tìm mọi phương cách nhằm thóat ra khỏi tình trạng này để trả lương thỏa đáng cho người lao động
Trên thực tế, hệ thống thang, bảng lương đo Nhà nước ban hành chỉ
có ý nghĩa chính là thực hiện BHXH Phần lớn doanh nghiệp tự xây dựng chính sách và quy chế trả lương của mình, sử dụng các công cụ như: hệ
số tăng tiền lương tối thiểu, các phụ cấp, trợ cấp, tiền phúc lợi, tién thưởng để trả công cho người lao động theo hiệu quả sản xuất kinh doanh cuối cùng
Trang 36Do nặng về quan điểm khuyến khích đầu tư, mặt khác vai trò quản lý
Nhà nước về lao động còn nhiều hạn chế, bất cập chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa; Công
tác triển khai hướng dẫn, kiểm tra, kiểm sóat việc thực hiện chính sách lao động - tiền lương — thu nhập đối với khu vực doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngòai, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa được quan tâm
Thực tế có những đơn vị, doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, trả
lương thấp, thậm chí dưới mức lương tối thiểu cho người lao động; tuy nhiên lại có nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh phát triển, thu nhập rất cao, nhưng để đối phó với cơ quan Nhà nước, để giảm chỉ phí, giảm các khỏan
nộp nghĩa vụ, đã thoả thuận các hình thức trả lương biến tướng như trả
lương “dưới gầm bàn” (under table), đăng ký hợp đồng theo lương Net dẫn đến thu nhập cao nhưng đóng và hưởng BHXH; thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo mức lương thấp hơn nhiều so với thu nhập
Tuy nhiên, nhìn chung, cơ chế quản lý mới về tiền lương, thu nhập đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để giúp các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế chủ động trong họat động sản xuất kinh doanh của mình, đưa tiền lương, tiền công đến với người lao động đúng với bản chất của nó
2 THUC TRANG TÌNH HÌNH TIỀN LƯƠNG, THU NHẬP Ở THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH HIÊN NAY,
2.1 Khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Là khu vực hành chính sự nghiệp, đảng, đòan thể, lực lượng vũ trang Đây là khu vực bắt buộc hưởng lương theo thang, bảng lương do Nhà
nước quy định (tại Nghị định 26/CP của Chính phủ) Mức tiền lương cụ
thể được tính trên cơ sở hệ số lương và mức tiền lương tối thiểu chung,
được Nhà nước quy định từng thời kỳ
Theo số liệu thống kê của sở Lao động — Thương binh & Xã hội
thành phố (Bảng 01) thì vào thời điểm tháng 04/1993, khi bắt đầu chuyển xếp lương mới theo Nghị định 25/CP của Chính phủ, hệ số lương bình quân của công chức, viên chức khu vực hành chính sự nghiệp, đẳng, đòan thể là 2,43, tương ứng với 291.400 đồng Thu nhập thực tế bình quân trong năm 1993 là 553.120 đồng Như vậy, tại thời điểm ấy tiền lương chiếm khỏang 52,68% thu nhập thực tế
Trang 37Có thể nói, tiền lương, thu nhập của khối hưởng lương từ ngân sách là rất thấp so với khu vực đoanh nghiệp cũng như với mức sống chung của
xã hội Do vậy, tất cả các cơ quan của Nhà nước đều phải tìm cách để có
nguồn chi bổ sung cho công chức, viên chức, mà phần lớn những khỏan chi thêm này đều có nguôn gốc từ ngân sách Trong khỏang thời gian 2 năm gần đây, Nhà nước còn có chủ trương thí điểm thực hiện khóan quỹ
bộ máy để chính thức cho phép sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm được,
chi thêm vào lương cho công chức, viên chức Do vậy, mức thu nhập của
công chức, viên chức khu vực hưởng lương từ ngân sách đã được đảm bảo cao hơn Đến thời điểm hiện nay bình quân đạt 1.214.096 đồng (Bảng
02), xấp xỈ với các doanh nghiệp ngòai quốc doanh, và đạt 73,52%
(1.214.096/1.651.415đ) so với mức bình quân của cả khu vực doanh nghiệp
Hiện nay, hệ số lương bình quân ở khu vực này là 2,39 Do tiền lương
tối thiểu đã được Nhà nước điều chỉnh lên 290.000 đồng nên mức tiền lương tương ứng là 692.504 đồng, chiếm khổỏang 57,04% mức thu nhập thực tế
2.2 Khu vực sản xuất, kinh doanh
q Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện vẫn chiếm giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, với gần 300.000 người lao
động đang làm việc, năm 2003 khu vực này đã tạo ra được 45.539 tỷ
đồng giá trị sản phẩm xã hội, bằng 40,9% GDP trên địa bàn thành phố,
và đóng góp vào ngân sách Nhà nước 8.316,9 tỷ đồng, chiếm 20% tổng
số thu trên địa bàn thành phố
Đặc điểm của khu vực doanh nghiệp nhà nước là thuộc về sở hữu
tòan dân; Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu, vừa thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước nói chung đối với tòan bộ nền kinh tế quốc dân, vừa
thực hiện chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh đối với các doanh nghiệp này Chính vì thế, Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước mới ban hành,
phải vừa tuân thủ Luật Doanh Nghiệp, vừa bảo đảm được vai trò quản
lý, điều hành trực tiếp của Nhà nước Đây là sự khác biệt cơ bản của
doanh nghiệp nhà nước đối với các doanh nghiệp khác
Về chính sách tiền lương, thu nhập, cuộc cải cách tiền lương tháng
04/1993 đã đưa đến sự đọan tuyệt với cơ chế trả lương bằng hiện vật
Nhà nước ban hành mức tiền lương tối thiểu, thang lương, bảng lương,
Trang 38chế độ phụ cấp lương và cơ chế trả lương để các doanh nghiệp Nhà nước
áp dụng Doanh nghiệp nhà nước từng bước tự chủ trong việc phân phối tiễn lương, thu nhập; từng bước thực hiện trả lương theo năng suất lao
động & hiệu quả sản xuất, kinh doanh, trong sự vận động của cả nền kinh
tế theo cơ chế thị trường
Theo quy định hiện hành, hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp
lương do Nhà nước xây dựng là cơ sở để chuyển xếp lương, ký kết hợp đồng lao động, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện
các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật lao động Doanh nghiệp
nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về tiền lương tối
thiểu; thang lương, bảng lương; về việc xây dựng định mức lao động kỹ
thuật và đơn giá tiễn lương; về cơ chế trả lương, trả thuởng Quỹ tiền
lương thực hiện của doanh nghiệp phải được sự phê duyệt và chịu sự
kiểm sóat của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nhà nước đã có sự điểu chỉnh
chính sách và cơ chế quản lý nhằm giải quyết cụ thể những bất hợp lý về tiển lương, tiền công trong các doanh nghiệp, như:
+ Cho phép doanh nghiệp áp dụng một hệ số tăng thêm tiễn lương tối thiểu, mức tăng cao nhất là 1,5 lần; Có nghĩa là, có thể được phép đưa vào đơn giá sản phẩm mức chỉ phí tiển lương cao gấp 2,5 lần mức tiền
lương theo quy định, tùy theo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Đơn giá tiền lương tính theo mức tiền lương cấp bậc công việc: Thông thường cấp bậc công việc để sản xuất sản phẩm được thiết kế cao
hơn cấp bậc công nhân sản xuất thực tế bình quân từ 1-2 bậc Như vậy,
đơn giá này tạo ra khả năng trả công cho người lao động cao hơn mức
tién lương theo cấp bậc chuyên môn kỹ thuật thực tế của họ
+ Định mức lao động: Đây là một chỉ tiêu hết sức khoa học, nhằm
đảm bảo tính đúng hao phí lao động xã hội để có cơ sở tính đơn giá tiền lương sản phẩm Tuy nhiên, trên thực tế việc xây dựng và xét duyệt định
mức lao động hầu như được xuất phát từ vấn để tiễn lương, thu nhập của
doanh nghiệp Do vậy các chỉ tiêu về định mức lao động thường lạc hậu,
không tiên tiến và tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà quản lý + Ngòai ra, các doanh nghiệp còn được vận dụng đưa thêm vào chỉ
phí một số lọai phụ cấp, trợ cấp khác như là những giải pháp để tăng thêm quỹ tiền lương trả cho người lao động
Trang 39Do vậy, chính sách tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước, nếu
căn cứ vào lý thuyết thì rất chặt chế, thậm chí cứng nhắc, và mức hưởng
rất thấp Tuy nhiên, nhu cầu thực tế của người lao động và quy luật cung cầu lao động trong nên kinh tế thị trường buộc các doanh nghiệp phải tim
mọi cung cách để tạo cho được quỹ tiển lương đủ lớn, nhằm đảm bảo trả công tương đối thoả đáng cho người lao động, có khi bất chấp cả hiệu quả sản xuất kinh đoanh Và các cơ quan quản lý Nhà nước cũng phải chấp
nhận thực tế này
Theo số liệu của Sở LÐ - TB & XH thành phố Hồ Chí Minh (bảng
04), năm 1993, ngay khi Nhà nước vừa ban hành chính sách tiển lương
mới, mức tiền lương thực tế của lao động ở khối doanh nghiệp nhà nước của thành phố đã cao gấp 1,39 lần tiền lương trả theo đơn giá (712.800/988.900), và cao gấp 4,17 lần tiền lương theo cấp bậc quy định
tại thang, bảng lương của Nhà nước (237.200/988.900)
Số liệu thống kê qua các năm cho thấy, tiễn lương người lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
mặc dù còn thấp hơn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai, nhưng
cao hơn các doanh nghiệp họat động theo luật doanh nghiệp Riêng năm
2003 cao hơn 56% (1.896.980/ 1215.904đ) (phụ lục 05)
Năm 2003, hệ số lương bình quân của người lao động trong doanh
nghiệp nhà nước là 2,10; tính ra mức lương theo nên lương tối thiểu
chung là 609.056 đồng (bảng 07) Như vậy, nếu đem so sánh thì tiền
lương thực tế của người lao động sẽ cao hơn mức lương này khdéang
211,46%, tức là cao gấp hơn 3 lần
b Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở Việt Nam, các đoanh
nghiệp họat động theo Luật Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngòai
ngầy càng có vai trò quan trọng về nhiễu mặt, như: thu hút vốn đầu tư;
đóng góp vào sự gia tăng GDP cho nên kinh tế; chuyển giao khoa học kỹ
thuật, khoa học quản lý và công nghệ mới cho doanh nghiệp trong nước;
giải quyết việc làm cho người lao động Nhờ thế mạnh về nhiều mặt so
với các doanh nghiệp trong nước, nhìn chung các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai làm ăn một cách bài bản và có hiệu quả kinh tế cao Năm 2003, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai đã tạo ra được
23.940 tỷ đồng giá trị sản phẩm xã hội, bằng 21,5% GDP trên địa bàn
Trang 40thành phố, và nộp cho ngân sách Nhà nước 3.555,9 ty déng, chiếm 8,55% tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố
Trong lĩnh vực tiền lương, tiền công, do chính sách của Nhà nước Việt Nam hết sức thông thóang, các doanh nghiệp được tạo điều kiện để hòan tòan chủ động theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, của nền kinh
tế thị trường, để tạo ra động lực cho sự phát triển và không ngừng nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Quản lý Nhà nước về tiền lương đối với khu vực này, chỉ rằng buộc hai vấn để chủ yếu, là:
+ Doanh nghiệp không được trả công lao động dưới mức tiền lương
tối thiểu Mức tiền lương tối thiểu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngòai được Nhà nước quy định theo vùng, từ 417.000 — 626.000 đồng, cao
hơn mức tiền lương tối thiểu chung từ 44 — 116%
+ Phải xây dựng thang lương, bảng lương làm căn cứ thực hiện hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và người lao động; công khai cơ
chế trả lương để thực hiện thống nhất trong doanh nghiệp
Còn các nội dung khác trong chính sách tiền lương, tiền công, Nhà nước
chỉ quy định mang tính nguyên tắc, định hướng và trao quyển chủ động
cho doanh nghiệp tự quyết định phù hợp với điều kiện sẳn xuất kinh doanh của mình
Trong những năm qua, tiền lương của người lao động khu vực này tương đối ổn định; lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tay
nghề giỏi được đãi ngộ thỏa đáng Quan hệ tiền lương giữa người thấp
nhất, trung bình và cao nhất của lao động Việt Nam thông thường là 1-2-
12, và thường đạt mức khá cao so với các lọai hình doanh nghiệp khác
Cụ thể, tiền lương thực tế bình quân năm 2003 đạt 2.890.000 đồng, cao
hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước 52,8%; cao hơn khu vực doanh
nghiệp ngòai quốc doanh 137,7% ( phụ lục 05)
Tuy nhiên, xuất phát từ việc tính tóan lợi ích cục bộ, trong thực tế các
doanh nghiệp này cũng chỉ ký hợp đồng lao động với mức lương khá thấp, mặc dù họ có khả năng và trên thực tế vẫn chỉ trả cho người lao
động với mức cao hơn Theo số liệu thống kê năm 2003, mức lương bình
quân theo hợp đồng lao động ở khu vực này là 1.103.324 đồng (bảng 02)
Như vậy, tiền lương thực tế mà doanh nghiệp trả cho người lao động cao
hơn mức lương hợp đồng đến 162% (cao gấp hơn 2,62 lần)
Về phía chính sách của Nhà nước, việc quy định mức tiển lương tối
thiểu riêng cho khu vực này, cao hơn mức tiễn lương tối thiểu chung,