Thực thi quyền tác giả ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, các sản phẩm trí tuệ ngày càngchiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế Nước ta trong xu thế hội nhập cũngkhông thể không quan tâm tới vấn đề này, nhất là khi đã là thành viên củaWTO thì việc thực thi cam kết về lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và quyềntác giả nói riêng là bắt buộc Về mặt luật pháp chúng ta về cơ bản đã đáp ứngyêu cầu của WTO nhưng việc bảo hộ trên thục tế vẫn còn nhiều bất cập Sự viphạm diễn ra phổ biến, xếp chúng ta vào nước có tình trạng vi phạm quyềntác giả cao nhất thế giới Khắp các nơi đều bán và sử dụng các sản phẩm viphạm quyền tác giả đến nỗi không ai nghĩ đó là một hành vi phạm pháp vàcần phải ngăn chặn Thực trạng này thật đáng báo động bởi theo hiến phápnhà nước ta khuyến khích mọi người nghiên cứu sáng tạo nhưng trên thực tếquyền lợi của họ lại không được đảm bảo Và càng ngày các tranh chấp tronglĩnh vực này càng nhiều nhưng chúng ta lại chưa có kinh nghiệm để giải
quyết Chính vì lý do này em đã chọn đề tài: Thực thi quyền tác giả ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Bài làm của em gồm có 5 phần, gồm:
Mục I: Lịch sử về quyền tác giả
Mục II: Pháp luật về quyền tác giả trước khi gia nhập WTO
Mục III: Pháp luật về quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay
Mục IV: Tình hình thực thi quyền tác giả ở Việt Nam
MụcV: Yêu cầu về bảo hộ quyền tác giả trong thời gian tới
Trang 2
MỤC I: LỊCH SỬ VỀ QUYỀN TÁC GIẢ
I.KHÁI NIỆM QUYỀN TÁC GIẢ
1.Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Đ163 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền,giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác” Như vậy ngoài các vật thôngthường, tài sản còn bao gồm cả các quyền tài sản Quyền sở hữu trí tuệ cũng
là một dạng của quyền tài sản nên cần được pháp luật bảo vệ Đó là quyền củatác giả đối với những sản phẩm tri tuệ, nó mang những đặc điểm chủ yếu sau:Trước hết nó là một sản phẩm vô hình, không thể nhìn thấy hay sờ đượcnhưng trị giá được thành tiền và có thế trao đổi được Một quyển sách bìnhthường vẫn được bày bán không phải là tài sản trí tuệ mà chính bản nguyêngốc là kết quả quá trình lao động sáng tạo của tac giả mới là đối tượng đượcbảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai nó phải mang tính sáng tạo chứ không phải sao chép đơn thuần.Một hình học đơn giản như hình vuông, hình tròn sẽ không được bảo hộ dướidạng nhãn hiệu trừ khi nó đã được sử dụng thông dụng và được nhiều ngườibiết đến
Theo luật sở hữu trí tuệ 2005 có định nghĩa: quyền sở hữu trí tuệ làquyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả vàquyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đốivới giống cây trồng
2.Khái niệm, đặc điểm quyền tác giả.
Như đã nói ở trên không có một định nghĩa trực tiếp về quyền sở hữu trítuệ mà chỉ có thế được liệt kê qua các quyền: quyền tác giả,quyền liên quanđến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống câytrồng Trong bài nghiên cứu này chúng ta chỉ tìm hiểu về một dạng quyền sởhữu trí tuệ, đó là quyền tác giả Các nước có định nghĩa rất khác nhau về vấn
Trang 3đề này nhưng nhìn chung đều có cách hiểu khá giống nhau, đó là quyền củatác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và
khoa học Theo Đ4.2 Luật sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu “ Bên cạnh
đó còn có quyền liên quan đến quyền tác giả , đó là:“ quyền của tổ chức, cá
nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá” Họ là người sử dụng tác
phẩm một cách đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải tácphẩm đến công chúng Hay có thể nói rằng đây là những người trung gian làcầu nối giữa tác giả và công chúng Chính vì vậy việc bảo hộ quyền liên quankhông được làm ảnh hưởng tới việc quyền tác giả đối với tác phẩm
Đối tượng của quyền tác giả gồm cả các tác phẩm và tác phẩm phái sinh
của nó theo Đ4.7 Luật sở hữu trí tuệ : “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới bất cứ phương tiện hay hình thức nào” Đ4.7:” tác phẩm phái sinh là các tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn “ Đ14 Luật sở hữu trí tuệ quy định cụ thể hơn về
các loại hình này
Chủ thể của quyền tác giả là tác giả hoặc chủ sở hữu Tác giả có thể là
người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm Đ36 Lshtt :” chủ
sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giữ một hoặc, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy đinh tại Đ20 của luật này” Chủ sở hữu có thể là tác giả
hoặc không Việc phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng bởi chỉ có chủ sởhữu mới có quyền công bố, cho phép sử dụng … tức mới có quyền tài sản vớitác phẩm
Quyền tác giả có đặc điểm là, thứ nhất chỉ bảo hộ về mặt hình thứcchứ không bảo hộ về mặt nội dung Có nghĩa là cùng một ý tưởng nhưngđược thể hiện dưới những cách thức khác nhau thì đều được bảo hộ Nhưcùng viết về nông thôn Việt Nam trước cách mạng có: Lão Hạc của Nam Cao
Trang 4hay tắt đèn của Ngô Tất Tố Cả hai tác giả đó đều được bảo hộ đối với tácphẩm của mình Đ6.1 Lshtt quy định:” quyền tác giả phát sinh kể từ khi tácphẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định,không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đãcông bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.
Thứ hai tác phẩm được bảo hộ phải là tác phẩm nguyên gốc tức đó phải
là tác phẩm do chính tác giả sáng tạo ra, không được sao chép của ngườikhác Việc bảo hộ tác phẩm được thực hiện ngay từ lúc mới hình thành màkhông cần qua bất cứ thủ tục đăng ký nào Việc đăng ký chỉ có giá trị chứng
cứ chứ không có giá trị pháp lý tức nó chỉ giúp cho người đăng ký không phảichứng minh khi có tranh chấp xảy ra
II.LỊCH SỬ QUYỀN TÁC GIẢ.
1 Lịch sử quyền tác giả trên thế giới.
Thời kỳ cổ đại và trung cổ người ta chưa biết đến quyền cho một tácphẩm trí tuệ Các quy định của luật pháp chỉ có cho những vật mang sảnphẩm trí tuệ, đặc biệt về sở hữu Ví dụ như không được ăn cắp một quyểnsách nhưng lại được phép sao chép quyển sách đó Việc nhiều nghệ sĩ và tácgiả cùng làm việc trong một dề tài là một chuyện bình thường, cũng như việccác nhạc sĩ khác lấy hay thay đổi các bài hát hay tác phẩm âm nhạc
Cùng với phát minh in, các bản sao chép lại của một tác phẩm đều cóthể được sản xuất ở một số lượng lớn một cách dễ dàng hơn Nhưng tác giảvẫn chưa có được quyền tác giả mà còn phải vui mừng là những tác phẩmkhông những được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền Thếrồi dẫn đến những bản in đó lại bị các nhà in khác in lại Việc này làm choviệc kinh doanh của nhà in đầu tiên gặp khó khăn vì người này đã đầu tư cholao động nhiều hơn và cũng đã trả tiền cho tác giả, những nhà in khác khôngmất những chi phí này nên đương nhiên có thể bán sản phẩm mình với giá
Trang 5thấp hơn Tác giả cũng có thể không bằng lòng với những bản in lại vì nhữngbản in này thường có lỗi hoặc thậm chí bài viết còn bị cố ý sửa đổi
Vì thế, để chống lại tệ nạn in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt
từ biệt từ phía chính quyền, cấm in lại các tác phẩm ít nhất trong một thờigian nhất định Lợi ích của các nhà in trùng với lợi ích của các nhà cầm quyền
vì những người này muốn ảnh hưởng đến những tác phẩm được phát hànhtrong lãnh địa của họ Đặc biệt là nước Pháp do có chế độ chuyên chế sớmnên đã thực hiện được điều này Ít thành công hơn là ở Đức Tại Đức một sốhầu tước còn cố tình không quan tâm đến việc các nhà xuất bản vi phạm cácđặc quyền từ hoang đế nhằm giúp đỡ các nhà xuất bản này về mặt kinh tế đểmang vào lãnh thổ văn học đang được ưu chuộng một cách rẻ tiền
Khi thời kỳ phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọnghơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những tác phẩmcủa họ Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho những người sáng tạo như là một
cá nhân và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào Giữa thế kỷ 16, cácđặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cẩm in lại các tác phẩm trong một vùng nhấtđịnh và trong một thời gian nhất định Khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiềnnhuận bút cho tác giả thì họ tin rằng cùng với việc này họ có được một độcquyền kinh doanh, ngay cả khi họ không có đặc quyền cho tác phẩm này Vìthế việc in lại bị cấm khi các quyền từ tác giả được mua lại
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giốngnhư sở hữu cho lao động trí óc( và của cả hiện tượng sở hữu phi vật chất).Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, lần đầu tiên một độc quyền saochép của tác giả được công nhận Tác giả sau đó lại nhượng lại quyền này chonhà xuất bản Sau một thời gian được thoả thuận trước tất cả các quyền nàylại thuộc về tác giả Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của hiệphội các nhà xuất bản và phải và phải có thêm ghi chú Copỷight để được bảo
vệ Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Mỹ vào 17195 Tại Pháp sởhữu văn học và nghệ thuật được đưa ra trong 2 bộ luật vào 1791 và 1793 Vào
Trang 61837 Hội đồng liên bang của liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khitác phẩm ra đời là 10 năm , thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khitác giả qua đời vào 1845.
2.Sự phát triển pháp luật quyền tác giả ở Việt Nam.
Đất nứơc ta do phải đối mặt với sự xâm lựơc của kẻ thù nên còn nghèonàn, lạc hậu, vấn đề quyền tác giả chưa được chú trọng Nói chung các quytắc được ban hành để điều chỉnh trong giai đoạn này đều nằm trong các vănbản dưới luật Năm 1976, Việt Nam đã tham gia tổ chức sở hữu trí tuệ thếgiới Nhưng bước ngoặt phải được tính từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
đề ra phương hướng được cụ thể ở Đ60 Hiến pháp 1992: "Công dân có quyềnnghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹthuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác phê bình văn học, nghệ thuật và tham giacác hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữucông nghiệp" Thực ra trước năm 1992 cũng có văn bản dưới luật điều chỉnh
về quyền tác giả như: Nghị định 214/HĐBT về quyền tác giả năm 1988, Pháplệnh bảo hộ quyền tác giả ngày 10/02/1994 Tuy nhiên do được ban hànhtrước năm 1992 nên vẫn còn những bất cập giữa cơ chế bảo hộ trong thời kỳbao cấp và cơ chế bảo hộ trong thời kỳ kinh tế thị trường
Ngày 28/19/1995, tại kỳ họp thứ 8, quốc hội khoá IX đã thông qua Bộluật dân sự , chính thức thiết lập cơ chế pháp lý cao nhất cho việc xác lập,thực thi và bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam
Luật về quyền tác giả Việt Nam được xây dựng từ những năm 1970 vàkết quả đầu tiên là Nghị định 84/cp về quyền tác giả ra đời 1989 Sau đó với
sự giúp đỡ của WIPO, chúng ta đã soạn thảo và ban hành Pháp lệnh bảo hộquyền tác giả 1994, trong đó có các điều luật được điều chỉnh sao cho phùhợp với công ước Berne, mặc dù đến 10/2004 Việt Nam mới tham gia Ngày23/11/1995, quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự trong đó phần quyền tác giảđược lấy từ Pháp lệnh trên
Trang 7Tháng 5/2005 Bộ luật dân sự 1995 được sửa đổi , bổ sung Ở đây cácquy định về quyền tác giả đã được thu hẹp hơn nhiều cho thấy quyền tác giả
là một quyền dân sự , có những phương pháp điều chỉnh như phương phápđiều chỉnh của luật dân sự , dong cũng có những tính chất riêng
Ngày 29/11/2005 Luật sở hữu trí tuệ đã được quốc hội ban hành đánhdấu một thời kỳ mới về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tácgiả nói riêng
Trang 8Mục II : Pháp luật Việt Nam về bản quyển trước
gia nhập WTO
1.Các văn bản điều chỉnh:
Trong giai đoạn này, lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả còn khá mới mẻ ở
Việt Nam và hầu như chưa được chú trọng Chỉ có rất ít văn bản pháp luật banhành trong giai đoạn này và việc thực thi nó không hiệu quả Bước ngoặtđánh dấu việc bảo hộ quyền tác giả được quy định trong Bộ luật dân sự 1995
Cụ thể các văn bản điều chỉnh trong giai đoạn này chỉ có:
Bộ luật dân sự 1995
Nghị định 76/CP ngày 29/11/1996 về quyền tác giả
Nghị định 31/2001/NĐ-CP ngày 20/06/2006 về xử phạt hành chínhtrong lĩnh vực văn hoá thông tin
Thông tư 27/2001/TT-BVHTT hướng dẫn thi hành một số điều của nghịđịnh 76/CP ngày 29/11/1996/TTLT-TAND TC BVHTT/VKSNDTC về xử lýtranh chấp vi phạm bản quyền tác giả
Với việc ban hành một số ít các văn bản dưới luạt như trên có thể thấyquyền tác giả trong giai đoạn này được coi như quyền dân sự và được điểuchỉnh chung trong Bộ luật dân sự, chỉ có một số tính chất riêng được hướngdẫn thi hành ở các nghị định
2 Nội dung cơ bản về quyền tác giả trong bộ luật dân sự 1995.
Pháp luật trong giai đoạn này cũng có quy định về chủ thể quyền tác giảgồm: tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả Tác giả có thể sáng tạo ra một phầnhoặc toàn bộ tác phẩm có thể độc lập sáng tạo ra tác phẩm hoặc dựa trên tácphẩm của người khác qua các hình thức: dịch, cải biên, chuyển thể, tuyểnchọn…(tuy không đưa ra khái niệm tác phẩm phái sinh như hiện nay) Ngoài
ra cũng có những quy định về đối tượng được bảo hộ, đối tượng được bảo hộ
Trang 9riêng Đặc biệt có quy định về những trường hợp mà nhà nước không bảo họnhư: chống phá lại nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân,tuyên truyền bạo lực, tiết lộ bí mật của Đảng, xuyên tạc lịch sử…Luật sở hữutrí tuệ hiện nay không đưa ra những trường hợp trên nhưng có thể hiểu nhữngtác phẩm như vậy sẽ không được bảo hộ dựa vào quy định chung của Bộ luậtdân sự.
Quyền tác giả cũng bao gồm quyền nhân thân và quyến tài sản; có phânchia thành quyền tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm và tác giả khôngphải là chủ sở hữu tác phẩm Trong đó Điều 759 có nêu quyền yêu cầu đượcbảo hộ : “ Tác giả , chủ sở hữu tác phẩm khi bị người khác xâm phạm quyềntác giả , quyền của chủ sở hữu tác phẩm có quyền yêu cầu người có hành vixâm phạm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó phải chấmdứt, xin lỗi, cải chính công khai bồi thường thiệt hại” Tuy nhiên có trường hợ
sử dụng không bị coi là vi phạm, có thể đó là hành vi sử dụng hạn chế (Điều
đã không đưa ra được các hành vi nào bị coi là đã không đưa ra được cáchành vi vi phạm làm căn cứ cho việc xử lý Vì thế rất khó cho chủ sở hữu vàthuộc cơ quan có thẩm quyên xem xét vụ việc Không những thế, Bộ luật dân
sự 1995 chỉ có một điều khoản chung quy định cho chủ sở hữu có quyền buộcngười vi phạm chấm dứt hoặc nhờ đến sự can thiệp của nhàn nước Không
Trang 10đưa ra các biện pháp cụ thể để có thể tiến hành bảo vệ quyền lợi của mình khi
bi vi phạm
Khi đã có hành vi vi phạm, cũng không có một quy định riêng biệt nào
về biện pháp xử phạt và cơ quan tiến hành dẫn đến sự chồng chéo về thẩmquyền giữa các cơ quan Việc xử phạt đó sẽ không biết do cơ quan nào tiếnhành và áp dụng biện pháp hành chính, hình sự hay dân sự Do đó sẽ rất khókhăn cho các chủ sở hữu , tác giả khi muốn yêu cầu bảo vệ quyền lợi củamình Cơ quan nhà nước cũng không đủ căn cứ, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm.Một vụ vi phạm có thể có nhiều cơ quan cùng giải quyết, chẳng hạn như:quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế, thanh tra khoa học công nghệ hoặc làUBND các cấp cả toà án
Một vấn đề nữa cần phải đặt ra là pháp luật trong giai đoạn này còn cónhững quy định chưa phù hợp với luật pháp quốc tế Do Bộ luật dân sự 1995
ra đời cho đến thời điểm này đã có rất nhiều thay đổi, việc ký kết các điềuước quốc tế về vấn đề quyền tác giả là một điều đương nhiên và là xu thế tấtyếu Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi đã là thành viên thì sẽphải tuân thủ các quy định mà điều ước đã đặt ra, để đạt được điều đó thì việcsửa đổi luật pháp cho phù hợp là không thể tránh khỏi Bên cạnh đó việc sửađổi luật là còn để đáp ứng nhu cầu bảo hộ các đối tượng quyền tác giả ngàycàng bị xâm phạm dưới những hình thức tinh vi hơn trước sự phát triển củakhoa học kỹ thuật
Quyền tác giả mang những đặc thù riêng biệt vừa mang tính chât hànhchính lẫn dân sự mà chỉ được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự và các văn bảndưới luật Mặt khác các quy đinh về lĩnh vực này tương đối phức tạp tậpchung vào tài sản vô hình , đối tượng bảo hộ ngày càng gia tăng cùng với sựphát triển của khoa học kỹ thuật nên việc quy định trong một bộ luật có tínhchất tĩnh như Bộ luật dân sự là không phù hợp Từ đó đặt ra yêu cầu là phải
có một luật riêng vê sở hữu trí tuệ
Trang 11Mục III: PHÁP LUẬT VỀ BẢN QUYỀN TRONG
I Các điều ước quốc tế về quyền tác giả Việt Nam đã tham gia
1 Tên các điều ước quốc tế Việt Nam đã tham gia
Để bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài và phù hợp hơn với phápluật quốc tế, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi bảo hộ tác phẩm, đảmbào quyền lợi của các chủ thể khi bảo hộ tác phẩm củamình ở nước khác, ViệtNam đã ký kết những điều ước sau:
-Công ước Berne bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
-Công ước Rome bảo họ người biểu diễn nhà sản xuất bản ghi âmchống, tổ chức phát sóng
-Công ước Geneva bảo họ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chépkhai thác trái phép bản ghi âm của họ
-Công ước Brussel liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chươngtrình vệ tinh
-Thoả thuận Tkips về những khía cạnh liên quan tới thương mại củaquyền sở hữu trí tuệ
-Hiệp định Wipo về biểu diễn và bản ghi âm ( WPPT)
-Công ước toàn cầu về bản quyền
* Hiệp định song phương
- Hiệp định giữa chính phủ cộng hoà XHCN Việt Nam và chính phủ hợpchủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả
- Hiệp định giữa chính phủ cộng hoà XHCN Việt nam và chính phủThuỵ Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
- Hiệp định giữa cộng hoà XHCN Việt Nam và hiệp chủng quốc Hoa Kỳ
về quan hệ thương mại thương mại
Trang 122 Nội dung cơ bản của TRIPS, công ước BERNE
a Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của Quyền
sở hữu trí tuệ ( TRIPS).
Hiệp định được áp dụng với các nước thành viên của WTO nên đươngnhiên Việt Nam cũng phải tuân theo những quy định này Hiệp định TRIPSkhông quy định mức bảo hộ cụ thể mà đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu.Các nước vi phạm sẽ bị đưa ra hội đồng giải quyết tranh chấp và sẽ bị ápdụng biện pháp trừng phạt Năm 1996, thoả thuận về hợp tác giám sát thực thiquyền sở hữu trí tuệ giữa WIPO và WTO có hiệu lực, bao gồm việc hợp táctrong việc trợ giúp các thành viên xây dựng luật về sở hữu trí tuệ…sao chocác thành viên có thể thoản mãn các yêu cầu của TRIPS vào 1/1/2000
TRIPS được hoạt động trên cac nguyên tắc như:
Nguyêntắc Đãi ngộ quốc gia: Mỗi thành viên chấp nhận cho công dâncủa các thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử
mà thành viên đó dành cho công dân của mình trong việc bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có những ngoạilệ, theo đó cácthành viên có thể dựa vào để miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ hiệp định TRIPS.Trường hợ ngoại lệ quy định cụ thể trong công ước BERNE
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc: Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất
kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền, hoặc sự miễn trừ nào được một thànhviên dành cho công dân của bất kỳ một thành viên nào khác cũng phải đượclập tức và vô điều kiện dành cho công dân tất cả các nước thành viên khác.Hiệp định TRIPS cho phép thành viên có một khoảng thời gian chuyểnđổi thích hợp để đảm bảo việc thực thi đầy đủ các nghĩa vụ Các nước pháttriển được phép trì hoãn thực hiện hiệp định trong vòng 1 năm kể từ ngày hiệpđịnh có hiệu lực Thời hạn này đối vớicác nước đang phát triển là 5 năm vàcác nước kém phát triển là 11 năm
Như vậy hiệp định TRIPS đã mở ra một chương mới về bảo hộ và thựcthi quyền sở hữu trí tuệ trên bình diện quốc tế cũng như tăng cường vai trò
Trang 13của WIPO trong việc giám sát thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đếnthương mại.
b Công ước BERNE
Đây là công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật lần đầutiên được thiết lập giữa các quốc gia trên được ký tại Thuỵ Sỹ năm 1886.Theo đó các quốc gia thành viên của công ước công nhận quyền tác giả củacác tác phẩm xuất bản tại các quốc gia khác cũng tuân thủ công ước này.Công ước BERNE đã được sửa chữa vài lần: Berlin(1908), Roma(1928), Brussels(1948), Stockholm(1967) và Paris(1971).Từ 1967 công ướcBERNE được quản lý bở tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Ngày 26/7/2007, chính phủ Việt Nam đã nộp văn kiện gia nhập côngước BERNE và tuyên bố bảo lưu các quy định tại điều 33.1 26/10/2004, côngước chính thức có hiệu lực ở Việt Nam
Công ước BERNE chấm dứt tình trạng vi phạm quyền tác giả của tácphẩm được xuất bản ở một quốc gia thành viên khác trước đây điều này rấtphổ biến Quyền tác giả được bảo hộ ngày từ khi tác phẩm được hình thành,không cần phải đăng ký tác quyền Ngoài ra, công ước còn quy định khôngđược đặt ra các thủ tục hành chính sách nhiễu các tác giả trong việc hưởng thụquyền, điều này không đựơc áp dụng với các tác giả trong nước hoặc nhữngnước không đăng ký công ước
Công ước BERNE cho pháp tác giả đựoc hưởng tác quyền suốt đời cộngthêm tối thiểu 50 năm sau đó Tuy nhiên các quốc gia được phép nâng thờihạn lên dài hơn Việc bảo hộ được xây dựng dựa trên các nguyên tắc: Đối xử quốc gia: Nghĩa là cam kết dành cho các công dân của nhau sự đối
xử không kém thuận lợi hơn so với công dân nước mình
Bảo hộ đương nhiên: Việc bảo hộ không lệ thuộc vào các thủ tục hìnhthức như đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc thủ tục tương tự
Bảo hộ độc lập: Việc hưởng và thực thi quyền theo công tác là hoàntoàn độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm
Trang 14Bảo hộ tối thiểu: luật quốc gia thành viên quy định bảo hộ không thấphơn mức tối thiểu do công ước quy định.
3 Tổ chức quốc tế quản lý về quyền tác giả.
a Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
WIPO là một tổ chức quốc tế có mục đích giúp đỡ nhằm bảo đảm rằngquyền của người phát minh và chủ sở hữu tài sản trí tuệ được bảo hộ trên toànthế giới và rằng các nhà phát minh và tác giả công nhận và hưởng thành quả
từ tài năng của họ
Nguồn gốc hình thành của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới bắt đầu từ năm
1886, năm ra đời của công ước Paris về bảo hộ sở hữu trí tuệ, hiệp định quốc
tế quan trọng đầu tiên nhằm giúp công dân của một nước có được sự bảo hộ
ở nước ngoài đối với các sáng tạo trí tuệ của họ dưới hình thức các quyền sởhữu trí tuệ
Năm 1883, hai văn phòng nhỏ hợp thành một tổ chức quốc tế gọi là vănphòng quốc tế thống nhất về bảo hộ sở hữu trí tuệ ( BIRPL) Có trụ sở tạiBERNE , Thuỵ Sỹ , với 7 thành viên tổ chức này là tiền thân của tổ chức sởhữu trí tuệ thế giới ngày nay Một tổ chức năng động với hơn 170 nước thànhviên và hơn 650 thành viên trên toàn thế giới
Công ước Paris có hiệu lực từ 1884 với 14 nước thành viên thành lậpmột văn phòng quốc tế nhằm quản lý việc thực hiện nhiệm vụ
Năm 1886, bản quyền bắt đầu được quốc tế biết đến với công ướcBERNE về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật giông như công ướcParis, công ước BERNE thành lập 1 văn phòng quốc tế để thực hiện nhiệmvụ
Khi tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ tăng lên, cơ cấu và hình thức đếnGenevơ để gần hơn với liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế tại thành phốnày Một thập kỷ sau, tiếp theo việc công ước thành lập tổ chứ sở hữu trí tuệ
có hiệu lực BIRPL trở thành WIPO , tiếp tục cá cải tổ về cơ cấu và quản lý,
có ban thư ký được trách nhiệm đối với các nước thành viên
Trang 15Năm 1974, WIPO trở thành tổ chức chuyên môn trong hệ thống tổ chứccủa liên hợp quốc, với nhiệm vụ quản lý các vấn đề về sở hữu trí tuệ được cácnước thành viên liên hợp quốc công nhận WIPO mở rộng vai trò và cho thấy
rõ hơn tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong việc quản lý thương mạitoàn cầu vào năm 1996 bằng việc tham gia một hiệp định hợp tac với tổ chứcthương mại thế giới
Năm 1898, BIRPL chỉ quản lý thực hiện 4 hiệp định quốc tê Một thế
kỷ sau, WIPO quản lý thực hiện 21 hiệp định và thực hiện một chương trìnhhoạt động phong phú và đa dạng
Thông qua các thành viên và ban thư ký, WIPO tìm cách:
-Làm hài hoà luật pháp và thủ tục quốc gia về sở hữu trí tuệ
-Cung cấp dịch vụ đăng ký quốc tế đối với các quyền sở hữu côngnghiệp
-Trao đổi thông tin về sở hữu trí tuệ
-Hỗ trợ pháp lý cho các nước đang phát triển và các nước khác
-Hỗ trợ giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ của cá nhân
-Sử dụng công nghệ thông tin như một công cu lưu giữ tiếp cận và sửdụng thông tin sở hữu trí tuệ quý giá
-WIPO là một trong số 16 cơ quan chuyên môn của liên hợp quốc cótrách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới Nó hoànthành trách nhiệm này bằng việc thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia tronglĩnh vực sở hữu trí tuệ, quản lý nhiều “liên hiệ” và các tổ chức khác đượcthành lập trên cơ sở các hiệp định đa phương và tạo ra các luật mẫu để cácnước đang phát triển thông qua
b Tổ chức quản lý tập thể quốc tế về quyền tác giả
- Hiệp hội công nghiệp ghi âm quốc tế IFPI
IFPI là một tổ chức đại diện cho nền công nghiệp ghi âm quốc tế, baogồm 1500 hội viên là các nhà sản xuất và phân phối bản ghi ở 76 quốc gia
Tổ chức này cũng có các tập đoàn quốc gia tại 46 nước Văn phòng quốc IFPI
Trang 16đặt tại London và được liên kết với các nước chi nhánh khu vực đặt tạiBrussels, Hongkong, Miami và Matxcova.
IFPI thực hiện các chức năng chính sau: chống việc vi phạm bản quyền
âm nhạc thúc đẩy tiếp cận thị trường một cách bình đẳng trong môi trườngluật quyền tác giả đầy đủ, giúp phát triển các điều kiện pháp lý và công nghệ
để nền công nghiệp ghi âm phồn vinh trong môi trường kỹ thuật số vàkhuyến khích các giá trị âm nhạc trong sự phát triển của kinh tế cũng nhưtrong đời sống văn hoá,xã hội
IFPI đại diện cho ac hội viên của mình theo 3 cấp: quốc tế, khu vực, vàquốc gia Ở cấp độ quốc tế, văn phòng đặt tại London điều hành trực tiếp các
uỷ ban công nghiệp theo các lĩnh vực chẳng hạn như chính sách pháplý,quyền biểu diễn và công nghệ
- Hiệp hội các nhà soạn nhạc và soạn lời quốc tế ( CISAC)
Là một tổ chức phi chính phủ , phi lợi nhuận được thành lập năm 1926,trụ sở chính đặt tại Paris nhằm nâng cao việc thừa nhận và bảo hộ cac quyềncủa nhà soạn nhạc và soạn lời, đảm bảo thực thi một cách có hiệu quả cácquyền về tinh thần và vật chất cho tác giả Đến 1/2004, CISAC đạidiện cho
290 hiệp hội tác giả của 109 quốc gia
- Hiệp hội quản lý các tác phẩm nghe nhìn quốc tế
Được thành lập 12/1981 gồm các hiệ hội, tổ chức quốc gia các nhà sảnxuất tác phẩm nghe nhìn nhàm quản lý các quyền liên quan tới truyền thôngbằng cáp những tác phẩm phát thanh, truyền hinh Hiệp hội có hai nhiệm vụquan trọng là: Thực hiện đàm phán trong việc tác phẩm truyền qua cáp nhữngtác phẩm nghe nhìn mà hiệp hội quản lý ; phân chia tiền thù lao cho các chủ
sở hữu thông qua các tổ chức thu tiền có thẩm quyền
- Liên hiệp quốc tế các tổ chức quyền sao chép (IFRRO)
Ra đời vào 1980 từ nhóm làm việc của uỷ ban quyền tác giả của hiệphội xuất bản khoa học, kỹ thuật và y học Thành viên gồm các tổ chức quyền
Trang 17sao chép cũng như các hiệp hội của các chủ sở hữu quyền tác giả quốc gia vàquốc tế.
II Pháp luật Việt Nam về quyền tác giả.
1.Các văn bản điều chỉnh.
Bảo hộ quyền tác giả tuy là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam nhưng nóđang dần được hoàn thiện và có những biến chuyển đáng kể, đặc biệt kể từkhi luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời Hiện nay, cơ sở pháp lý để điều chỉnh lĩnhvực này gồm các văn bản dưới đây:
-Hiến pháp 1992, Điều 60 quy định: “công dân có quyền nghiên cứukhoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hoásản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt độngvăn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả , quyền sở hữu công nghiệp”.Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó là cơ sở để dựa vào đó banhành các văn bản khác bảo hộ quyền tác giả
Bộ luận dân sự 2005 gồm 14 điều, từ điều 736 đến điều 749, chươngXXXIV trong đó:
Mục 1: Quyền tác gỉa từ điều 736 đến 743
Mục 2: Quyên liên quan từ 744 đến 749
Bộ luật dân sự 2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 quy định chung nhât
về quyền tác giả
-Luật sở hữu trí tuệ 2005 gồm 6 phần với 222 điều:
Phần 1: những quy định chung
Phần 2: Quyền tác giả và quyền liên quan
Phần 5: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Phần 6: Điều khoản thi hành
-Ngoài ra thì còn có các luật liên quan khác như:
Luật cạnh tranh 2004
Bộ luật hình sự 1999
Trang 18Luật báo chí 1989 sửa đổi bổ sung 1999
Luật di sản văn hoá 2002
Luật hải quan 2002
và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
+ Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2007quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành các điều khoản của bộ luật dân sự,luật sở hữu trí tuệ vềquyền tác giả và quyền liên quan
+Chỉ thị số 04/2007/CT-TTg ngày 22/02/2007 về việc tăng cường bảo
hộ quyền tác giả của chương trình máy tính
+Nghị định số 101/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2001 quy định một số điềucủa luật hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan
+ Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 21/6/2002 về chế độ nhuận bút.+ Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 quy định chi tiết thihành luật xuất bản
+Quy chế duyệt phim 9/8/1997 kèm theo quyết định số 2455 10 Đ-DA+Quy chế hoạt động triển lãm mỹ thuật và galerly… ngày2/2/1999 kèmtheo quyết định số 03/1999/QĐ-BVHTT
+Quy chế quản lý xâydựng tượng đài, tranh hoạ, mỹ thuật ngày29/3/2002 kèm theo quyết định số 65/2000/QĐ-NVHTT
+ Quy chế sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu trữ, kinh doanh hãng âmthanh, đĩa âm thanh, hãng hình âm nhạc, sân khấu khi kèm theo quyết định số55/1999/QĐ-BVHTT
Trang 19+ Quy chế cấp giấy phép, thanh tra, kiểm tra,xử lý…thu chương trìnhtruyền hình nước ngoài kèm theo quyết định số 18/2002/QĐ-BVHTT
+ Thông tư số 64/1997/TT-ĐA ngày 19/8/1997 hướng dẫn bổ sung đểthực hiện nghị định 48 ngày 17/7/1995 ,nghị dịnh 87/CP ngày 12/12/1995về…hàng, đại lý băng hình và quảnlý bản quyền…
+Thông tư số 166/1998/TT-BTC ngày 19/12/1998 hướng dẫn chế độ thu
lệ phí đăng ký quyền tác giả
2.Nội dung cơ bản về quyền tác giả
Quyền tác giả là những quyền mà pháp luật cho phép tác giả được thựchiện đối với tác phẩm của mình Đây cũng là một dạng độc quyền dành chotác giả nhằm khuyến khích sự sáng tạo của mọi người, thúc đẩy xã hội pháttriển |Quyền tác giả mang lại quyền và lợi ích cho tác giả đồng thời chống lại
sự xâm phạm của người khác, chính vì thế nó hạn chế việc tiếp cận của mọingười đối với tác phẩm Vấn đề đặt ra là làm sao để hài hoà giữa lợi ích củatác giả và lợi ích của cộng đồng Các nước khi ban hành luật đều chú ý đếnđiều này
Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhânthân là quyền gắn liền với tác giả không thể chuyển giao Nó bao gồm cácquyền quy định trong Đ19 LSHTT, bao gồm: Đặt tên cho tác phẩm, đứng tênthật hoặc bút danh trện tác phẩm, công bố tác phẩm hoặc cho phép ngườikhác công bố tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm Những quyền nàygắn liền với danh dự, uy tín của tác giả mà không mang lại lợi ích vật chấtnào, đây cũng là đặc điểm chung của quyền nhân thân
Ngược lại quyền tài sản thường mang lại cho tác giả những lợi ích vậtchất nhất định, quyền này có thể được tác giả chuyển giao toàn bộ hoặc từngphần Vì vậy quyền tài sản có thể thuộc về tác giả hoặc không Nó bao gồmcác quyền được quy định trong Đ20.1 LSHTT: Làm tác phẩm phái sinh; biểudiễn tác phẩm trước công chúng; sao chép, phân phối, nhập khẩu bản gốchoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng Tổ chức, cá
Trang 20nhân khi khai thác, sử dụng một trong các quyền này phải xin phép và trả tiềnnhuận bút thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tácgiả Do tính chất đặc thù của một số lĩnh vực mà pháp luật quy định cụ thểthêm về các quyền như đối với các tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu,chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu, tác phẩm văn học, nghệ thuật dângian.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Đ27 Trong đó quyềnnhân thân được bảo hộ vô thời hạn, quyền tài sàn thì thời gian là 50 năm kể từngày tác phẩm được công bố đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu,
mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh; còn đối với tác phẩm khác là 50năm kể từ khi tác giả chết
Thông thường việc sử dụng phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho tácgiả Bên cạnh đó pháp luật quy định một số trường hợp được phép sử dụng
mà không cần làm các việc trên vẫn không bị coi là vi phạm Đó chính lànhững hành vi sử dụng hạn chế, chỉ áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt
mà nếu bảo hộ sẽ không hài hoà được lợi ích xã hội Đ25 và Đ26 quy định cụthể những trường hợp này Đ25 đưa ra các trường hợp sử dụng tác phẩm đãcông bố mà không phải xin phép , không phải trả tiền nhuận bút thù lao Ví dụnhư việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích nghiên cứu , giảng dạy, trích dẫn
để viết báo , dùng trong chương trình phát thanh, truyền hình vì nếu ápdụng những quy tắc trên thì sẽ hạn chế việc nghiên cứu, kế thừa kiến thức củangười khác làm giảm sự phát triển của xã hội Hay việc chuyển tác phẩm sangchữ nổi hoặc ngôn ngữ khác dành cho người khiếm thị cũng áp dụng Đ25nhằm khuyến khích tạo ra các tác phẩm mà người khiếm thị có thể đọc được.Với điều kiện việc sử dụng các tác phẩm trên không làm ảnh hưởng đến việckhai thác bình thường tác phẩm , không gây hại đến các quyền của tác giả ,chủ sở hữu quyền tác giả, phải thông tin về tên tác giả , nguồn gốc xuất xứcủa tác phẩm Đ25 không áp dụng với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình,