thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế gặp rất nhiều rủi ro, kể cả doanh nghiệp bảo hiểm, song đây lại là một cơ hội dành cho các công ty bảo hiểm Bởi vì, các chủ thể kinh
tế có nhu cầu được đảm bảo an toàn hơn bao giờ hết, và lợi ích của bảo hiểm cũng được khẳng định rõ tàng hơn
Ở Việt Nam, đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấy nước thì nền tảng cơ sở hạ tầng đang được tích cực xây dựng Rất nhiều con đường, cây cầu, rất nhiều nhà ở , xí nghiệp … được xây dựng Mặt khác, khi nhà nước có gói kích cầu hơn một ngàn tỷ USD tập trung vào xây dựng cơ cở hạ tầng, đặc biệt, theođánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn là một “điểm đầu tư hấp dẫn”, do đó nhu cầu xây dựng trong nước đang trở nên mạnh mẽ, vì thế nhu cầu vềbảo hiểm xây dựng cũng trở nên thiết yếu đối với các nhà đầu tư
Mấy năm lại đây, một số công trình xây dựng gặp rủi ro, sập đổ như cầu CầnThơ, cầu Trung Lương… gây ra thiệt hại to lớn về người và của Và vì thế, chúng
ta thấy rõ hơn về vai trò của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI, em đã có
cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng, và nhận thấy đây là một loại hình bảo hiểm rất tiềm năng trong khi tỷ lệ doanh thu phí của nghiệp vụ này tại Công ty những năm qua chỉ dao động trong khoảng 3% tổng doanh thu phí
bảo hiểm chung Do đó, em đã quyết định chọn đề tài “thực trạng công tác giám
định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay” Nội dung bài báo cáo thực tập tốt nghiệp được chia thành 2 phần:
Phần 1:Giới thiệu chung về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
Bảo Hiểm Bưu Điện PTI
Chương I: Tổng quan về công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI
Chương II:Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI
Chương III:Một số khuyến nghị và giải pháp
Phần 2: Chuyên đề “thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp
vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay”
Chương I : Lý luận chung về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và công tác giámđịnh – bồi thường
Chương II Thực trạng công tác giám định bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
Chương III Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giám định- bồi thường của nghịêp vụ bao hiểm mọi rủi ro xây dựng
Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu, chuyên đề thực tập không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến chỉ bảo, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên
cứu của mình.Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Th.S Lục Mạnh Hiển cùng
Trang 2tập thể cán bộ nhân viên công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện đã nhiệt tình
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này!
Hà nội, ngày 20/02/2010
Sinh viên thực hiện Trịnh Thị Bích Hồng
Trang 3PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN PTI.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
Post & Telecommunication Joint Stock Insurance CompanyPTI
Tầng 8, tòa nhà, Số 4A Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội04.37724466
04.37724460Website: WWW Pti.com.vn – Email: ptioffice@pti.com.vn
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP bảo hiểm Bưu Điện 1.1.1 Lịch sử hình thành.
Thực hiện chủ trương đa dạng hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngay sau khi Nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành, các công ty bảo hiểm khác (ngoài hệ thống bảo hiểm cũ) đã nhanh chóng được thành lập và đóng góp tích cựcvào việc phá bỏ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm đã tồn tại hàng chục năm trướcđây Một trong số các công ty bảo hiểm mới được thành lập đã chiếm được vị trí tin cậy trên thị trường bảo hiểm Việt Nam: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện (PTI)
Được thành lập ngày 12/08/1998, Công ty Bảo hiểm Bưu điện là tập hợp của các doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên sự đa dạng về ngành nghề cũng như vững chắc về tài chính Cổ đông sáng lập và chi phối là Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT), nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các cổ đông sáng lập khác là Tổng Công ty Cổphần Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty xuất nhập khẩu Xâydựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế (VIB) Công ty Tài chính Bưu điện
Trụ sở chính của PTI tại tầng 8, toà nhà số 4A Láng Hạ, Quận Ba Đình, Hà Nội Đến thời điểm hiện nay PTI chính thức Hội sở Giao dịch và 21 chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố và các trung tâm kinh tế trọng điểm cùng với mạng lưới hơn1.000 đại lý bảo hiểm tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước Với hệ thống tổ chức mạng lưới phục vụ khách hàng nêu trên, về cơ bản đến nay PTI đã đáp ứng tốt yêu cầu phục vụ khách hàng trên toàn quốc với phương châm giải quyết nhanh, kịp thời các vụ tổn thất và được khách hàng đánh giá cao
* Sự ra đời của Hội Sở Giao Dịch.
Hiện nay, để phù hợp với sự phát triển và phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, bên cạnh 21 Chi nhánh đã đi vào hoạt động, được phép của Bộ Tài chính (theo thông báo số 4522/TC/BH ngày 18/04/2005 của Bộ Tài chính) PTI đã thành lập Hội sở giao dịch Hà Nội (PTI Hà Nội) có trụ sở tại số 100 Thái Thịnh, Đống
Đa, Hà Nội Ngày 01 tháng 07 năm 2005, Hội sở Giao dịch đã chính thức đi vào hoạt động Hội sở Giao dịch Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được thành lập
Trang 4trên cơ sở kế thừa toàn bộ hoạt động kinh doanh và các phòng kinh doanh bảo hiểm của Văn phòng PTI trước đây Như vậy, với sự ra đời của Hội sở giao dịch
Hà Nội, PTI đã hoàn thành việc tách toàn bộ khối trực tiếp khai thác kinh doanh bảo hiểm và khối quản lý vĩ mô, trợ giúp cho các Đơn vị trực thuộc trong kinh doanh, nhận và nhượng tái bảo hiểm, giải quyết các vụ việc trên phân cấp của các Đơn vị
1.1.2 Quá trình phát triển.
Thực tế đã chứng minh, trong 10 năm qua cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam , PTI đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường bảohiểm Việt Nam và có uy tín với các nhà tái bảo hiểm thế giới Ngay từ những ngàyđầu thành lập, PTI đã quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao và thực tế cho đến nay, Công ty đã xây dựng được một đội ngũ CBCNV kinh nghiệm, trình độ chuyên môn hoá sâu trong các lĩnh vực bảo hiểm hiện đang triển khai tại PTI, gồm 540 người làm việc tại Hà Nội, Hội sở Giao dịch và 21 chi
nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn quốc Công ty đã triển khai rộngrãi hàng chục loại hình bảo hiểm trong các lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử/ tài sản, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, con người,
xe cơ giới, trách nhiệm dân sự tới hàng vạn khách hàng trong cả nước Công ty đã giữ vị trí hàng đầu trong các công ty bảo hiểm về loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử/ tài sản, bảo hiểm xây lắp các công trình viễn thông, dân dụng Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trong thời gian qua PTI đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm bưu phẩm-bưu kiện khai giá
Nhằm đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, Bảo hiểm Bưu điện đã có quan hệ hợp đồng với nhiều Công ty bảo hiểm và Tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như các Công ty tái bảo hiểm SwissRe, Công ty tái bảo hiểm MunichRe (Đức), Sumitomo (Nhật), Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt nam Công ty PTI có quan hệ mật thiết với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như Cunningham Lindsey, Crawford, McLarens và đã nhận được sự cộng tác hiệu quả của các Công ty này trong việc đánh giá rủi ro, giám định và giải quyết khiếu nại
Với những thành tích đã đạt được, công ty đang ngày càng phát triển với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 30% Năm 2007 công ty đã đạt doanh thu phí bảo hiểm gốc là 305 tỷ đồng Trong kế hoạch kinh doanh 5 năm lần thứ 1, PTI bắt đầu hoạch định một chiến lược kinh doanh phát triển đến năm 2008 là tập trungphục vụ tốt các khách hàng trong cổ đông và dựa vào đó làm nền tảng vững chắc
để phát triển ra thị trường bên ngoài nhằm tích cực hoà nhập và đón nhận cơ hội cũng nhưng chấp nhận thách thức khi Việt Nam chính thức mở cửa hoàn toàn với thị trường bảo hiểm thế giới
Trang 51.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty PTI
Bảng 1: cơ cấu tổ chức của PTI
(nguồn: công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện)
Trang 6Khối Nghiệp vụ
Khối Nghiệp vụ có chức năng Tham mưu và giúp Tổng Giám đốc chỉ đạo:
- Phòng Bảo hiểm Tài Sản Kỹ thuật: Phòng Bảo hiểm Tài sản Kỹ thuật có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản Kỹ thuật thống nhất toàn Công ty
- Phòng Bảo hiểm Hàng hải: Phòng Bảo hiểm Hàng hải có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm Hàng hải thống nhất toàn Công ty
- Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới: Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới thống nhất toàn Công ty
- Phòng Bảo hiểm con người: Phòng Bảo hiểm Con người có chức năng thammưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm con người thống nhất toàn Công ty
- Phòng Quản lý Đại lý: Phòng Quản lý Đại lý có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc ban hành các chính sách nhằm xây dựng, phát triển, quản lý thống nhất và giám sát chặt chẽ hoạt động của hệ thống Đại lý của Công ty trên toàn quốc
- Phòng Tái bảo hiểm: Phòng Tái bảo hiểm có chức năng tham mư cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác nhận và nhượng tái bảo hiểm
Khối Kinh tế
Khối Kinh tế có chức năng kinh doanh, tham mưu và giúp Ban Tổng Giám đốc Công ty quản lý, chỉ đạo các công tác liên quan đến Kế toán Tài chính, Kế hoạch
và Đầu tư tài chính theo đúng pháp luật:
- Phòng Tài chính – Kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát lĩnh vực Tài chính – Kế toán theo quy định của Nhà nước và Công ty Thực hiện công tác Tài chính – Kế toán tại Văn phòng Công ty
- Phòng Kế hoạch – Đầu tư: Phòng Kế hoạch Đầu tư có chức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra các vấn đề liên quan đến công tác kế hoạch, công tác đầu tư tài chính, công tác xây dựng cơ bản và công tác quản lý cổ đông
- Phòng Tổ chức Cán bộ: Phòng Tổ chức Cán bộ có chức năng tư vấn, tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc thống nhất quản lý công tác tổ chức, cán bộ, tuyển dụng, đào tạo, lao động tiền lương và thi đua khen thưởng theo đúng chính sách, chế độ quy định của Nhà nước và Công ty
Trang 7- Phòng Công nghệ Thông tin: Phòng Công nghệ Thông tin có chức năng thammưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo các lĩnh vực như: Nghiên cứu việc ứng dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý và hoạt động kinh doanh của Công ty, tổ chức thực hiện công tác thống kế, thu thập, quản lý và cung cấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và quản lý của Công ty
Các đơn vị trực thuộc :
Công ty có 01 Hội sở và 22 Chi nhánh trên toàn quốc, trải đều từ Bắc, Trung,Nam Bộ
1.2 Một vài nét về phòng bảo hiểm Dự án.
Được thành lập kể từ tháng 7 năm 20008, phòng bảo hiểm dự án đã có
những đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của Hội Sở Giao Dịch cũng như của toàn công ty cả về nghiệp vụ và doanh thu
- Công tác khai thác
- Công tác giám định tai nạn tổn thất
- Công tác giải quyết bồi thường
Tham mưu cho Ban Giám đốc Hội sở phát triển và quản lý mạng lưới đại
lý của Hội sở
Kết quả hoạt động kinh doanh:
Tính từ 01/08/2009 đến 31/12/2009, doanh thu của phòng đạt
4.551.615.500 VNĐ so với tổng doanh thu phí của cả Hội Sở là 84.206.517.500 VNĐ Đây là một thành tích rất ấn tượng của phòng bảo hiểm Dự án và đã được nêu gương thành tích trong hội nghị tổng kết cuối năm toàn công ty
Phương hướng hoạt động trong năm 2010:
Bước sang năm 2010, doanh thu kế hoạch của phòng bảo hiểm dự án là 15
tỷ và có mức bồi thường dưới 20% Đây là một mục tiêu cao so với một phòng nghiệp vụ mới được thành lập Nhưng dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo công tycũng như quyết tâm của toàn thể nhân viên phòng Dự án, tin rằng phòng Dự án sẽ hoàn thành xuất sắc kế hoạch
Trang 8CHƯƠNG II : TRỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY PTI 2.1 Hoạt động kinh doanh của công ty
Hiện nay, Công ty Bảo hiểm Bưu điện đang kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ theo sự cho phép của Nhà nước, cụ thể như sau:
Danh mục sản phẩm bảo hiểm PTI đã đăng ký với Bộ tài chính
A Nhóm nghiệp vụ tài sản - kỹ thuật.
I Bảo hiểm kỹ thuật
Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt
Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng
Bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu
II Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm mọi rủi ro cho tài sản
Bảo hiểm nhà tư nhân
Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp
Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt
III Bảo hiểm hỗn hợp
Bảo hiểm trộm cắp
Bảo hiểm tiền
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm lòng trung thực
Bảo hiểm khác về tài sản
IV Bảo hiểm trách nhiệm
Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
Bảo hiểm trách nhiệm hỗn hợp
B Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá.
Bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu
Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu
Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa
Bảo hiểm bưu phẩm, bưu kiện khai giá
C Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải.
I Bảo hiểm con người
Bảo hiểm tai nạn thuyền viên
Bảo hiểm tai nạn học sinh
Bảo hiểm tai nạn cá nhân 24/24
Bảo hiểm bồi thường cho người lao động
Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật
Bảo hiểm toàn diện học sinh
Bảo hiểm khách du lịch
Bảo hiểm sinh mạng con người
Trang 9Bảo hiểm kết hợp con người
II Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngời thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyển trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Bảo hiểm tai nạn ngời ngồi trên xe
Bảo hiểm tai nạn hành khách
Trang 102.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 2: kết quả doanh thuvà bồi thường
TT Nghiệp vụ
Doanh thu phát
Doanh thu thực thu
Bồi thường đã giải quyết
năm 2009
%DTBH năm 2009
( Nguồn: Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện)
2.1.2 Dự phòng bồi thường : 38.026 triệu đồng
- Nghiệp vụ TSKT : 30.337 triệu đồng
- Nghiệp vụ Hàng hóa : 1.263 triệu đồng
- Nghiệp vụ Phi hàng hải : 6.426 triệu đồng
2.1.3 Cơ cấu doanh thu bán hàng:
Bảng 3: Cơ cấu doanh thu bán hàng
Tỷ trọng
%
Doanh thu
Tỷ trọng
%
Doanh thu
Tỷ trọng % Trong
Ngoài
Trang 11(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 và kế hoạch 2010)
2.1.4 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch 2009:
Về tình hình doanh thu phát sinh: Năm 2009, Doanh thu phát sinh theo
hợp đồng bảo hiểm ký kết của Hội Sở đạt 85,065 tỷ đồng, tăng 21% so với doanh thu phát sinh năm 2008 Trong đó các nghiệp vụ có doanh thu phát sinh tăng
trưởng mạnh gồm có: Nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn tăng 17%, nghiệp vụ bảo hiểmtàu tăng 86% và nghiệp vụ xây dựng lặp đặt tăng 52%, nghiệp vụ xe cơ giới tăng 22% Với mức tăng trưởng doanh thu phát sinh 21% trên nền doanh thu năm 2008
là 69,8 tỷ đã phản ánh tình hình kinh doanh của Hội sở nói chung và sự phát triển của từng nghiệp vụ nói riêng là khá cao Đây là năm Hội sở ký được nhiều hợp đồng ngoài ngành, các hợp đồng vừa đa dạng về nghiệp vụ vừa có tầm cỡ về quy
mô và giá trị
Về tình hình kinh doanh bán hàng: Đạt 84,206 tỷ đồng, bằng 105% kế
hoạch Công ty giao Tăng cường 32% so với năm 2008 Trong tình hình khủng hoảng kinh tế, sụt giảm chi tiêu và đầu tư, môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, kết quả doanh hu như trên đã phản ánh sự cố gắng của tập thể cán bộ công nhân viên Hội sở.Để thấy được mặt mạnh yếu trong cơ cấu doanh thu,tôi xin phân tích sơ lược một vài nét như sau:
Trong tổng số doanh thu thực hiện được:
Doanh thu nghiệp vụ xe cơ giới đạt 21 tỷ đồng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 25% tổng doanh thu tăng 23% so với năm 2008, mặc dù Hội sở đã loại bỏ những dịch vụ xấu
Doanh thu nghiệp vụ xây dựng lắp đặt đạt 17,8 tỷ đồng chiếm 20,1 % tổng doanh thu, tăng 31% so năm 2008
Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử đạt 16,6 tỷ đồng chiếm 19% tổng doanh thu, tăng 12% so với năm 2008
Trong năm 2009 số đầu dự án Hội sở khai thác được tăng mạnh so với năm 2008 và đã đạt được mối quan hệ với hầu hết tất cả các dự án lớn trọng điểm tạo tiền đề tăng trưởng doanh thu cho năm 2010
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa doanh thu đạt 9,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 11% tổng doanh thu, tăng 41% so với năm 2008
Nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn doanh thu đạt 2,9 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 3% tổng doanh thu, tăng 52% so với năm 2008 Tuy nghiệp vujhoar hoạn có tiềm năng và đã tăng trưởng mạnh nhưng doanh thu vẫn tương đối thấp
Riêng nghiệp vụ bảo hiểm tàu,đây là nghiệp vụ công ty mới triển khai trong năm 2008 nhưng doanh thu đã đạt được 7,2 tỷ đồng chiếm 8% tổng doanh thu, tăng 360% so với năm 2008( như Hợp đồng Bh tàu Biển Đông star, Morning Vship, Lucky Vship, Vinashin, FSO Queensway, Phú đạt , Thanh Xuân, Bình Dương, Green Viship…)
Qua phân tích cơ cấu doanh thu heo nghiệp vụ, Hội sở thấy rằng, trong thời gian tới, ngoài việc tập trung khai thác nghiệp vụ có khả năng cho doanh thu cao như xây dựng lắp đặt thì cần đẩy mạnh hơn nữa để tăng cường khai thác tăng doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, hỏa hoạn, hàng hóa và đặc biệt là các dịch vụ có tính tái tụng hàng năm
Trang 12Tình hình khai thác trong ngành và ngoài ngành:
Trong các năm 2008,2009 do việc tham gia bảo hiểm các dự án và các tàisản lớn trong VNPT phải thực hiện đấu thầu nên thị phần bị chia sẻ và khó khăn trong cạnh tranh
Về doanh thu trong ngành năm 2009 đạt 31.1 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 37,2% tổng số doanh thu, tăng 10% doanh thu so với năm 2008 Với cơ cấu doanh thu trong ngành như trên đã thể hiện được sự cố gắng của Hội sở cũng như sự giúp
đỡ của Ban Tổng Giám Đốc Công Ty
Về doanh thu ngoài ngành: Doanh thu ngoài ngành trong năm 2009 đạt 52,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 62,78% tổng doanh thu, tăng 50,8% so với năm 2008.Trong đó chủ yếu tập trung vào 3 nghiệp vụ là: Nghiệp vụ xe cơ giới17,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32% Nghiệp vụ xây dựng lắp đặt 14,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 27%.Nghiệp vụ bảo hiểm tàu 7,2 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 13% tổng doanh thu, hàng hóa
là hơn 6 tỷ đồng chiếm 11%/tổng doanh thu.sự khác biệt so với một vài năm trước
là trong nhiều hợp đồng lớn ngoài ngành tuy nhiên phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm lớn trên thị trường nhưng với sự tin tưởng, ủng hộ của khách hàng, hội sở
đã có ưu thế, chủ động đàm phán và giành nhiều dịch vụ lớn
Về tình hình tổn thất, bồi thường năm 2009: Tỷ lệ tổn thất bồi thường của Hội sở tương đối tốt
Bảng 4: Tỉ lệ bồi thường từng nghiệp vụ
( Nguồn: Báo cáo Tổng kết năm 2009
và kế hoạch năm 2010)
2.2 Hoạt động đầu
tư
Để duy trì tính thanh khoản cao
và phát triển các dịch vụ bảo hiểm qua hệ thống mạng lưới của các Ngân hàng, hoạt động đầu tư củaCông ty tập trung vào việc gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Tính đến 30/09/2009, tổng số tiền Công ty dùng cho hoạt động đầu tư khoảng 441,7 tỷ đồng, trong đó tiền gửi tại ngân hàng là 372,6 tỷ, đầu tư bất động sản 59,2 tỷ đồng và góp vốn vào các doanh nghiệp khác 9,9 tỷ đồng
2.2.1 Về hoạt động đầu tư bất động sản
Công ty đã mua hai khu đất tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh Những khu đất này đều ở trung tâm thành phố với vị trí đẹp, phù hợp
Nghiệp vụ Tồn 2009 Tồn 2008 Doanh thu BH Đã bồi thường Tỉ lệ BT Mức
Trang 13− Khu đất tại 26 Phố Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội với diện 792,1 m2, trong
đó PTI sở hữu 50%, 50% còn lại thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Du lịch Bưu điện
− Khu đất tại 216 Võ Thị Sáu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 695,6 m2 Khu đất có vị trí thuận lợi với ba mặt tiền là đường Võ Thị Sáu, đường Trần Quốc Toản và đường Trần Quốc Thảo
2.2.2 Về hoạt động đầu tư góp vốn
Hiện nay, PTI đã triển khai đầu tư vào một số Công ty trong ngành có tiềm năng phát triển như: Công ty Cổ phần Viễn thông - Tin học - Điện tử (KASATI), Công ty Cổ phần Đầu tư Bưu chính Viễn thông (SAICOM) và Tổng Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam
2.3 Hoạt động đề phòng và hạn chế tổn thất.
Rủi ro là tiền đề của bảo hiểm, không có rủi ro thì không có bảo hiểm Song không phải vì thế mà công ty không quan tâm đến việc đề phòng hạn chế tổn thất Ngược lại, qua công tác giám định,xử lý tai nạn và giải quyết bồi thường, công ty
có thể biết được đâu là nguyên nhân chính dẫn đến việc tai nạn, từ đó đề ra các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất Các biện pháp này làm giảm nguy cơ xuất hiện rủi ro, tổn thất, nhờ đó mà giảm được số tiền bồi thường mà công ty phải chi trả, tiết kiệm của cải của xã hội, làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty và từ đó
có điều kiện giảm phí bảo hiểm
Để hạn chế và đề phòng tổn thất công ty đã chi nhiều khoản không nhỏ như lắp gương cầu lồi tại các đoạn đường gấp khúc nguy hiểm, làm đường lánh
nạn,trang bị bình cứu hỏa…
Ngoài ra, điêu kiện bảo hiểm cũng buộc người được bảo hiểm phải quan tâmđến việc bảo vệ an toàn cho người và tài sản được bảo hiểm
2.4 Giám định và giải quyết bồi thường.
Công tác giám định của PTI luôn luôn được quan tâm hàng đầu trong các hoạt động kinh doanh của Công ty Chúng tôi xác định công tác giám định - giải quyết bồi thường thiệt hại cho khách hàng không chỉ thuần tuý là một mắt xích trong quy trình nghiệp vụ bảo hiểm mà còn là biện pháp tốt nhất để nâng cao uy tín và năng lực kinh doanh của Công ty trên thị trường bảo hiểm Chính vì vậy, công tác giám định - giải quyết bồi thường của PTI đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển, nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu phục vụ khách hàng Hiện nay, ngoài khả năng giám định độc lập trong tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm cơ bản, PTI
đã thiết lập quan hệ với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp quốc tế như:Crawfort, McLarens, Cunningham Lindsey … và thực tế các Công ty này đã giám định rất tốt các vụ tổn thất có tính chất phức tạp Do vậy công tác giám định bồi thường đảm bảo được tính chính xác, khách quan và trung thực và đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng
Tỷ lệ bồi thường trung bình hàng năm của PTI 35% trên doanh thu Bảo hiểm Đây là chỉ số tốt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam và Quốc tế thể hiện tính chuyên nghiệp trong khai thác bảo hiểm, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh cho Công ty
2.5 Các nhân tố làm ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh năm 2009
Trang 14Nguyên nhân khách quan:
Từ những tháng cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã bùng phát mạnh mẽ và kéo dài sang cả năm 2009đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước trên thế giới bị chững lại, suy thoái.Đây là vấn đề mấu chốt nhất có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính nói chung và thị trưởng bảohiểm nói riêng
Một số công ty bảo hiểm mới ra đời như: Bảo hiểm hàng không, Bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp, Bảo hiểm Quân Đội…đã thu hẹp thị phần của Hội sở Năm 2009 vừa qua với chính sách thắt chặt tín dụng của các ngân hàng, sụt giảm chi tiêu, đầu tư cũng là một trong những nguyên nhân khó khăn cho hoạt động khai thác bảo hiểm Hàng loạt các Dự án phải giãn tiến độ vì không thu xếp được vốn, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng sụt giảm mạnh nên ảnh hưởng rất lớn dến hoạt động kinh doanh của Hội sở
Đối với các đơn vị trong ngành VNPT và khách hàng truyền thống trong tình hình hiện nay, việc bán bảo hiểm phải thông qua hình thức đấu thầu hoặc chào giá cạnh tranh rộng rãi đã ảnh hưởng rất lớn tới tỉ lệ phí của PTI
Nguyên nhân chủ quan:
Chương trình quảng cáo, quảng bá hình ảnh chưa tương xúng với vị thế và tham vọng của PTI Công tác chăm sóc khách hàng còn chưa được chuẩn hóa từ đólàm giảm khả năng cạnh tranh dẫn tới thu hẹp thị trường
Chưa có biện pháp kích thích, hỗ trợ mang tính tổng thể chiến lược phát triển với quy mô rộng để đẩy mạnh khai thác giúp các đơn vị có động lực cũng như cơ chế chăm sóc khách hàng mang tính cạnh tranh hơn
Việc triển khai hệ thống phần mềm quản lý còn một số chưa đáp ứng được nhu cầuquản lý như chưa có chương trình quản lý bán hàng qua VNPOST
2.6 Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty
2.6.1 Kết quả đạt được :
Công tác giám định bồi thường:
Kịp thời soạn thảo, ban hành các hướng dẫn về công tác khai thác và các
vướng mắc phát sinh trong giải quyết bồi thường
Nỗ lực tập trung giải quyết hồ sơ tồn trước 01/01/2009 là 962 vụ tồn, ước số tiền khoảng 28 tỷ đồng
Đã giải quyết số hồ sơ tồn đọng của nghiệp vụ xe cơ giới: tồn năm
2008chuyển sang năm 2009 là 558 vụ đã ước dự phòng là 4,2 tỷ,tuy nhiên trong năm 2009 Hội sở đã giải quyết được 488/558 vụ tồn đọng trên với tổng số tiền bồi thường là 3,8 tỷ
Nghiệp vụ hàng hóa, nghiệp vụ tài sản kĩ thuật đã rà soát hết hồ sơ và đã có
kế hoạch giải quyết dứt điểm
Số lượng hồ sơ đã giải quyết trong năm 2009: 3.589 vụ Trong đó:
Bồi thường trong ngành: Giải quyết 1.367 vụ tổn thất với tổng số tiền bồi thường 4.939 triệu đồng bằng 15,6% DTBH trong ngành, trong đó bồi thường của các hợp đồng phát sinh trước năm 2009 là 1.062 vụ với tổng số tiền là 3.991 triệu đồng Giải quyết bồi thường số khách hàng lớn như: Công ty Viễn thông Ninh Bình,BĐ thành phố Hà Nội, Trung tâm Viễn thông KV1, VMS khu vực 2…
Trang 15Bồi thường ngoài ngành: Giải quyết 2.222 vụ tổn thất với tổng số tiền là 11.438 triệu đồng bằng 21.6 % DTBH ngoài ngành, trong đó bồi thường cho các hợp đồng phát sinh trước năm 2009 là 1.366 vụ với ổng số tiền là 7.637 triệu đồng Giải quyết bồi thường một số khách hàng lớn như : công ty CP FPT, Công
ty Vimeco, Công ty Xây lắp thương mại 36, Công ty CP cao su Điện Biên…
Việc tách riêng công việc giám định xe cơ giới khỏi các phòng kinh doanh
đã góp phần giảm thiểu tỉ lệ bồi thường xe cơ giới và có tính chuyên nghiệp hơn Thể hiện ở tỉ lệ bồi thường xe cơ giới đã giải quyết năm 2008 là 78% thì năm 2009chỉ còn 50.29%
Công tác quản lý và công tác nghiệp vụ:
Thực hiện rà soát và ký phụ lục bổ sung của hợp đồng đại lý theo quy định của Nhà nước và công ty
Thống nhất các loại mẫu biểu báo cáo trong toàn Hội sở
Tiến hành tổ chức đào tạo và ký hợp đồng đại lý
Đào tạo nội bộ giữa các phòng trong Hội sở
Các phòng Nghiệp vụ tại Hội sở đã có sự tiến bộ rõ rệt, hỗ trợ tích cực cho các phòng kinh doanh trong khai thác cũng như là đầu mối làm việc với các phòng nghiệp vụ trên công ty rong công tác hướng dẫn nghiệp vụ và bồi thường trên phâncấp góp phần giảm thiểu thời gian tác nghiệp giữa đơn vị đề ra được những quyết định kịp thời trong kinh doanh
Chưa xây dựng được chương trình tổng thể đào tạo khai thác viên, giám địnhviên, giải quyết hồ sơ phát sinh còn chậm, chưa đảm bảo đúng yêu cầu về thời hạn giải quyết bồi thường
Ý thức trách nhiệm và chuyên môn của một số cán bộ còn kém, chưa tuân thủ đúng các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ Sự phối hợp công việc giưa các
phòng ban còn lúng túng Lãnh đạo một số phòng còn chưa phát huy được vai trò đầu tầu và thậm trí chưa quán xuyến được hết việc ở phòng
Hồ sơ thầu bảo hiểm chưa đồng bộ giữa các phòng và chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp khi tham gia đấu thầu
Các phòng Nghiệp vụ chưa sắp xếp khoa học việc lưu trữ và cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho các phòng khi cần thiết
Trang 16CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới.
- Mục tiêu của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện: Phát triển ổn định, bềnvững, hiệu quả
- Đảm bảo tốc độ tăng trưởng doanh thu bảo hiểm hàng năm của Công ty bằng tốc độ tăng trưởng của thị trường; tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phíbảo hiểm cả giai đoạn là 12%
- Xây dựng PTI thành doanh nghiệp bảo hiểm chuyên nghiệp, uy tín, hiệu quả với phương châm hoạt động “Trao niềm tin tận tay khách hàng”
- Đẩy mạnh và đa dạng hóa hoạt động đầu tư, đưa hoạt động này trở thành hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu của doanh nghiệp trong giai đoạn tới
- Đến năm 2010, chuyển đổi mô hình Công ty thành Tổng Công ty
Bảng 5: Dự kiến kế hoạch lợi nhuận và cổ tức PTI 2007-2010
Tỷ lệ lợi nhuận sau
thuế/Doanh thu thuần (%)
Trang 173.1.2 Chiến lược thị trường.
- Khai thác triệt để thế mạnh đối với các sản phẩm PTI hiện đang cung cấp đặc biệt là sản phẩm bảo hiểm thiết bị điện tử nhằm duy trì và nâng cao vị trí và thịphần của PTI trên thị trường bảo hiểm
- Xây dựng và phát triển hệ thống phân phối sản phẩm bảo hiểm qua kênh phân phối của mạng lưới Bưu cục Bưu chính Việt Nam
3.1.3 Phát triển nguồn nhân lực.
- Xây dựng đội ngũ nhân viên trình độ cao, kỹ năng tốt nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu ngày càng cao của khách hàng và các thay đổi của thị trường
- Nâng cao trình độ và kinh nghiệm của bộ máy lãnh đạo
- Với nỗ lực không ngừng, PTI đã phát triển đội ngũ trên 500 cán bộ nhân viên làm việc tại Hà Nội, 22 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn
quốc
3.2 Các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra.
1 Nâng cao khả năng tài chính và năng lực cạnh tranh, mở rộng đầu tư đẩy nhanh tiến trình hội nhập
2 Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh
3 Đào tào đội ngũ nhân viên và lãnh đạo nhằm phát huy tối đa nội lực
4 Cân đối dòng tiền, đảm bảo khả năng thanh toán và đa dạng hóa nguồn đầu tư sinh lời
5 Đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất
6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
7 Hợp tác chặt chẽ với các đối tác trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm và tiếp thu công nghệ mới
8 Tăng cường khai thác qua hệ thống bán lẻ và triển khai thêm một số phòngBảo hiểm khu vực
3.3 Kiến nghị với công ty.
Trang 181 Sớm hoàn thiện hệ thống phần mềm phục vụ công tác kế toán, thống kê và báo cáo Làm việc với VNPOST thống nhất về phần mềm quản lý triển khai qua
hệ thống bưu cục phục vụ kênh bán lẻ trên cơ sở đơn giản, đầy đủ dữ liệu đảm bảo kiểm soát của PTI
2 Thường xuyên cập nhật năng lực Công ty vào bộ hồ sơ thầu quy chuẩn (có
mở rộng) để phục vụ công tác thầu các dự án
3 Thực hiện quảng cáo , khuyếch trương hình ảnh của PTI trong hiện tại và lâu dài như quảng cáo tấm lớn, quảng cáo tài trợ, phối hợp với các tổ chức tài chính ngân hàng trong hoạt động bán hàng và khuyến mại sản phẩm, tham gia các chương trình giao lưu văn hoá, hoạt động thể thao…
4 Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng dài hạn tạo định hướng tích cực cho hoạt động kinh doanh tại các đơn vị
5 Xử lý các kỹ thuật nghiệp vụ và khai thác, thực tế hoá các tình huống xử
lý trong hoạt động kinh doanh tại các đơn vị
6 Hỗ trợ các đơn vị trong quan hệ khách hàng, mở rộng và quan hệ sâu hơn với các Bộ, Ban, Ngành và các địa phương khác nhau để có thêm cơ hội tiếp cận khai thác, tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị phần của công ty
Trang 19PHẦN 2:
CHUYÊN ĐỀ “ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH- GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG Ở PTI
HIỆN NAY” CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG
VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH – BỒI THƯỜNG 1.1 Tổng quan về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:
1.1.1.1 Vai trò của ngành xây dựng:
Hiện nay, các kiến trúc hiện đại được xây dựng trên cơ sở khoa học và công nghệ Phạm vi của ngành xây dựng ngày càng được mở rộng hơn: từ những ngôi nhà cấp bốn, đến những “ tháp” cao hàng trăm tầng, từ những công trình thủy lợi mương máng đến những con đập khổng lồ ngăn hàng ngàn mét khối nước, từ các con đường, cây cầu, đường hầm đến các sân bay, cầu cảng, nhà máy… Các phát minh về kỹ thuật, công nghệ gần đây làm gia tăng tầm cỡ, và mức độ phức tạp cho các dự án xây dựng Ngành xây dựng đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng mà thiếu nó, chúng ta hầu như không thể khẳng định được sự tiến bộ của loàingười Sự văn minh, phát triển của một quốc gia được đánh giá qua cơ sở vật chất
hạ tầng- được đảm bảo thông qua ngành xây dựng Và con người hàng ngày đang thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các công trình về quy mô nhằm nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả sản xuât, tiến hành mở rộng quy mô sản xuất, đảm bảo mối quan hệ tỷ lệ, cấn đối, hợp lý cho sự phát triển kinh tế giữa các ngành, các khuvực, các vùng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước Tạo điềukiện xóa bỏ dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền
ngược, năng cao trình độ dân trí cho người dân Ngành xây dựng tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, cơ sở hạ tầng Góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Bên cạnh đó, hàng năm, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng Giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn công nhân
1.1.1.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
- Trong kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào, kinh doanh trong ngành nghề nào đều cần có sự đảm bảo về mặt tài chính để bù đắp cho những thiệt hại do
những rủi ro không lường trước được gây ra Ngành xây dựng ngày càng có vai tròquan trọng trong quá trình phát triển đất nước, mặt khác, nếu gặp rủi ro, thiệt hại thường là rất lớn Vì thế Bảo hiểm xây dựng là một nhu cầu khách quan, và hầu hếtcác gói thầu xây dựng, Bảo hiểm thường là bắt buộc
- Thực tế gần đã cho thấy tầm quan trọng của bảo hiểm xây dựng như thế nào khi một số vụ tai nạn đáng tiếc xẩy ra như sập hai nhịp dẫn cầu Cần Thơ, sập cầu Trung Lương… Nhờ có sự san sẻ của các công ty bảo hiểm mà hậu quả của những vụ tai nạn đó được khắc phục nhanh chóng hơn
1.1.2 Một số định nghĩa:
Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng là loại hình bảo hiểm ra đời tương đối muộn
so với các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm
Trang 20cháy,… Ở Việt Nam, loại hình bảo hiểm này bắt đầu được áp dụng từ đầu nhữngnăm 80 và được áp dụng phổ biến trong những năm gần đây Trong nhóm cácnghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật bao gồm bảo hiểm xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm máymóc, bảo hiểm thiết bị điện tử,… thì doanh thu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặtchiếm tỷ trọng lớn nhất.
Hiện nay, hầu hết các dự án xây dựng, lắp đặt có giá trị lớn đều được bảohiểm xây dựng, lắp đặt để đảm bảo bù đắp về mặt tài chính cho chủ đầu tư trongtrường hợp tổn thất xảy ra trong quá trình thi công xây lắp Đây là loại hình bảohiểm liên quan đến rất nhiều khía cạnh kỹ thuật trong các ngành nghề khác nhau từxây dựng cao ốc văn phòng, khách sạn đến các nhà máy, xí nghiệp, kể cả nhữngcông trình hết sức đặc thù như nhiệt điện, thuỷ điện, xi măng,…
Để có thể nắm vững được nội dung nghiệp vụ, cần đề cập đến một số địnhnghĩa và diễn giãi sau :
- Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp,vv…vv., hay nói cách khác là bao gồm tất cả các công trình xây dựng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông cốt thép Cụthể các nhóm công trình sau:
- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim, các công trình văn hóa khác…
- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất…
- Đường sá ( bao gồm cả đường bộ và đường sắt) đường băng sân bay…
- Cầu cống, đê đập công trình thoát nước, kênh đào, cảng…
Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục riêng biệt được xác định và dự tìnhthông qua sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng cũng như công việc có liên quan trong quá trình xây dựng Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũng như giải quyết khiếu nại trong trường hợp tổn thất xẩy ra, một công trình được chia thành nhiều hạng mục khác nhau Bao gồm:
a Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Hạng mục này chiếm phần lớn giá trị công trình Nó bao gồm tất cả các công việc của chủ thầu chính ( bên B ) và tất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo hợp đồng xây dựng ký kết giữa bên
A và bên B : Từ công tác chuẩn bị, dọn dẹp mặt bằng, xây dựng các công trình tạmthời phục vụ cho công tác thi công cho đến công việc đóng cọc, làm móng và xây dựng cấu trúc chính của công trình
b Trang thiết bị xây dựng: Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công như các công trình phụ trợ ( lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng ), giàn giáo, hệthống băng tải, thiết bị cung cấp điện, nước, rào chắn…Khi yêu cầu bảo hiểm cho các thiết bị này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm
c Máy móc xây dựng: Bao gồm các mày móc có động cơ tự hành hoặc tự
Trang 21quyền sở hữu của người được bảo hiểm hoặc họ đi thuê Các loại máy móc này chỉ được bảo hiểm trong thời gian sử dụng trên khu vực công trường Khi yêu cầu bảo hiểm cho các máy móc này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm.
d Các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền
sở hữu, quản lý, trông nom, coi sóc của người được bảo hiểm Trường hợp này thường có ở các công trình mở rộng hoặc cải tạo lại, các tài sản trên có thể bị thiệt hại trong quá trình xây dựng mới Giá trị của tài sản này không nằm trong giá trị của công trình mới nên chúng thường không thuộc phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng Nhưng nếu người được bảo hiểm có nhu cầu thì người bảo hiểm cóthể xem xét và mở rộng phạm vi bảo hiểm theo điều khoản bổ sung
e Chi phí dọn dẹp hiện trường Bao gồm các chi phí phát sinh do việc thu dọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro được bảo hiểm xẩy ra trên phạm
vi công trường
f Trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba : Bao gồm các trách nhiệm pháp lý do thiệt hại về tài sản và/ hoặc thương tật thân thể củabên thứ ba phát sinh trong quá trình thi công công trình tại hoặc xung quanh khu vực công trường Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tổn thất đối với người làm công, người thân hoặc người đại diện của người được bảo hiểm không thuộc phạm vi bảohiểm này
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, trong một hợp đồng bảo hiểm bao gồm hai phần: phần một bảo hiểm cho các thiệt hại vật chất (từ a đến e) và phần hai bảo hiểm cho trách nhiệm đối với người thứ ba ( phần f )
- Người được bảo hiểm:
Mỗi công trình xây dựng là một quy hoạch tổng thể có liên quan đến rất nhiều khíacạnh của các vấn đề pháp luật, hợp đồng và kỹ thuật cho nên việc hợp tác chặt chẽ giữa các bên là vấn đề cấp thiết không thể thiếu được
Chính vì vậy, việc xác định rõ người được bảo hiểm trong một công trình xây dựng là vấn đề cấp thiết Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả các bên liên quan đến công việc xây dựng và quyền lợi trong công trình xây dựng và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm:
- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình ( bên A trong hợp đồng xây dựng )
- Nhà thầu chính ( bên B trong hợp đồng xây dựng )
Hình 1: Các bên liên quan đến công trình
Trang 23
Hình 2: Sơ đồ quan hệ giữa các bên để thực hiện bảo hiểm cho dự án
Quan hệ trực tiếp
Quan hệ gián tiếp
- Người bảo hiểm:
Là các công ty bảo hiểm, có cam kết bảo hiểm cho các đơn vị bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí cho người bảo hiểm, ngược lại, người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường chi trả cho đối tượng thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra
- Bên mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm là chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án) Trường hợp phí bảo
hiểm đã được tính vào giá trúng thầu thì nhà thầu thực hiện việc mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm
- Người thứ ba:
Là bên khác, ngoài bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm phải chịu tổn thất hay
được quyền nhận tiển bồi thường, chi trả do hậu quả của hành động hay khiếm
khuyết của bên được bảo hiểm gây ra
- Trách nhiệm đối với người thứ ba:
Là trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba phát sinh trực tiếp từ các công việc xây dựng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm
- Giá trị bảo hiểm:
Trong hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng bao gồm hai phần, phần bảo hiểm cho những tổn thất vật chất và phần bảo hiểm trách nhiệm người thứ ba Vì thế
trong hợp đồng, giá trị bảo hiểm cũng được chia làm hai phần:
- Số tiền bảo hiểm:
Là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện hạn mức trách
nhiệm của công ty bảo hiểm Đó là số tiền tối đa mà công ty bảo hiểm phải chi trả, bồi thường cho bên được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xẩy ra Số tiền bảo
hiểm tương ứng với mức phí mà người tham gia đóng cho nhà bảo hiểm
- Tỷ lệ phí bảo hiểm và Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm hay giá trị hợp đồng là số tiền bên được bảo hiểm phải thanh
toán cho bên bảo hiểm để được bảo hiểm thao quy định của hợp đồng Do hợp
đồng bảo hiểm được ký kết trước khi khởi công công trình, vì thế phí bảo hiểm
được tính trong hợp đồng chỉ là phí tạm tính, phí bảo hiểm chính thức sẽ được tính toán theo quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Các công ty tái bảo
Nhà thầu xây lắp
Người được bảo hiểm bồi thường
Trang 24Một công trình xây dựng, có thể bao gồm nhiều hạng mục
Ví dụ: Như xây dựng khu đô thị thông thường bao gồm phần đường nội bộ, các nhà cao tầng, biệt thự, công viên,…Công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm riêng cho từng hạng mục công trình sau đó tính tổng phí bảo hiểm
Trong quá trình tính phí bảo hiểm, nếu đối tượng bảo hiểm không có trong biểu phí, thì sẽ được tham chiếu tới những đối tượng bảo hiểm khác có mức độ rủi
ro tương tự
Mặc dù Bộ Tài chính có đề nghị không nên sử dụng tiếp Quyết định số
33/2004/QĐ-BTC ngày 12/04/2004, song hiện tại Bộ tài chính cũng chưa có văn bản nào thay thế cho nghị định 33, nên hiện nay các công ty bảo hiểm vẫn đang áp dụng Biểu phí bảo hiểm xây dựng, ban hành kèm theo Quyết định này
Biểu phí bảo hiểm áp dụng cho các công trình và các hạng mục có tổng số tiền bảo hiểm không vượt quá 50.000.000 USD Đối với các công trình có giá trị từ50.000.000 USD trở lên, phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thoả thuận và được xác định trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm của một công
ty đứng đầu nhận tái bảo hiểm được các tổ chức định giá quốc tế xếp hạng có khả năng tài chính tốt (Standard & Poor's xếp hạng từ B trở lên, Moody's xếp hạng từ
A trở lên…) cung cấp
Tỉ lệ phí bảo hiểm rủi ro lũ lụt chỉ được áp dụng cho các đối tượng bảo hiểm không nằm trong các khu vực có độ cao thấp hơn mực nước biển hoặc khả năng xảy ra lũ lụt cao và các thông tin về rủi ro lũ lụt phải được cung cấp đầy đủ dựa trên cơ sở thống kê 25 năm Nếu đối tượng bảo hiểm được đặt trong khu vực có khả năng xảy ra rủi ro cao thì có thể tăng tỉ lệ phí bảo hiểm rủi ro lũ lụt một cách phù hợp
Điều chỉnh phí bảo hiểm
a) Giảm phí bảo hiểm
Theo Quy định của Bộ Tài chính, có thể tăng hoặc giảm mức phí bảo hiểm trong phạm vi 25% so với tỉ lệ phí qui định trong biểu phí cơ bản của Bộ Tài chính.Tuỳ từng trường hợp cụ thể, nhà bảo hiểm tính toán mức phí bảo hiểm theo biểu phí rồi cân nhắc tình hình thị trường để áp dụng một mức giảm phí thích hợp (nếu cần) ;
b) Tăng phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí cơ bản chỉ được áp dụng trong trường hợp không có các nguy cơ đặc biệt làm tăng khả năng xảy ra rủi ro Tuy nhiên, trong thực tế rất nhiều công trình gặp phải những nguy cơ hay yếu tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro như:
- Sự thiếu kinh nghiệm của chủ thầu;
- Phương pháp xây dựng công trình mới lạ;
- Kết cấu tầng đất phức tạp, đòi hỏi phải có các loại móng đặc biệt;
- Nước ngầm làm suy yếu nền đất;
- Nguy cơ xẩy ra lún đất, sụt lở đất đá;
- Sự không đảm bảo an toàn cháy nổ, an toàn lao động trên công trường
Do đó, khai thác viên cần đánh giá rủi ro một cách kỹ lưỡng, đồng thời thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến dự án xây dựng, để có thể đưa ra mức phí bảo hiểm hợp lý nhất
Trang 25- Mức miễn thường và mức miễn thường có khấu trừ:
Mức miễn thường là số tiền mà công ty bảo hiểm bắt đầu chấp nhận bồi
thường khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra Nếu trong một hay một loạt vụ tổn thất, giá trịthiệt hại bé hơn hoặc bằng mức miễn thường, công ty bảo hiểm sẽ không bồi
thường; chỉ khi nào giá trị thiệt hại lớn hơn mức miễn thường, công ty bảo hiểm
mới có trách nhiệm bồi thường Vì giá trị bảo hiểm của mỗi hợp đồng bảo hiểm
mọi rủi ro thường rất lớn, và nếu gặp rủi ro thì tổn thất cũng rất lớn, mặt khác để đềcao hơn trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường đưa ra mức miễn thường có khấu trừ
Mức khấu trừ hay mức miễn thường có khấu trừ là số tiền bên được bảo hiểm
phải tự chịu trong mỗi vụ tổn thất hay một loạt các vụ tổn thất bắt nguồn từ một sự kiện khi số tiền đó bằng hoặc nhỏ hơn giá trị mức khấu trừ được quy định trong hợp đồng.Nếu tổn thất trong các trường hợp trên lớn hơn mức khấu trừ thì bên bảo hiểm phải thanh toán cho bên được bảo hiểm số tiển bảo hiểm chênh lệch Mức khấu trừ áp dụng cho cả hai phần trong hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản, tức
là cả bảo hiểm tổn thất vật chất và bảo hiểm trách nhiệm người thứ ba Mỗi phần
sẽ có một mức miễn thường riêng Nhưng đối với bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, mức miến thường chỉ áp dụng đối với tổn thất tài sản của người thứ
ba, không áp dụng cho những thiệt hại về người
- Thời hạn bảo hiểm:
Thời hạn bảo hiểm được ghi rõ trong hợp đồng bảo hiểm Thời hạn bảo hiểm thường là thời gian thi công công trình được tính từ khi bắt đầu khởi công công trình đến khi hoàn thiện hay chuyển giao hoặc đưa vào hoạt động Trên thực tế thờigian thi công không nhất thiết phải trùng với thời hạn ghi trong hợp đồng
Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm xây dựng chỉ thực sự có hiệu lực sau khi người được bảo hiểm đã trả phí bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm trừ khi có thoả thuận khác bằng văn bản
Thông thường, thời hạn bảo hiểm bao gồm thời gian:
- Lưu kho ( vật liệu ) trước khi xây dựng ( tối đa là ba tháng)
- Giai đoạn xây dựng
- Kiểm nghiệm, chạy thử ( nếu có máy móc )
- Thời gian bảo hành
1.1.3 Phạm vi bảo hiểm và công việc bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:
1.1.3.1 Bảo hiểm thiệt hại vật chất:
- Bảo hiểm thiệt hại vật chất:
Nếu trong thời hạn bảo hiểm, bất kỳ một hạng mục tài sản nào có tên tronghợp đồng bảo hiểm hay bất kỳ bộ phận nào của hạng mục đó bị tổn thất bất ngờ
và không lường trước được do bất kỳ nguyên nhân nào khác với những nguyênnhân bị loại trừ dưới đây gây ra tới mức cần phải sửa chữa hoặc thay thế thìdoanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểmtổn thất đó theo quy định tại quy tắc bảo hiểm này bằng cách trả tiền, sửa chữahoặc thay thế (theo sự lựa chọn của doanh nghiệp bảo hiểm) Mức bồi thườngđối với từng hạng mục tài sản ghi trong hợp đồng bảo hiểm không vượt quá số
Trang 26tiền bảo hiểm của hạng mục tài sản đó và trong phạm vi hạn mức trách nhiệmbồi thường đối với mỗi sự kiện bảo hiểm (nếu có) Tổng số tiền bồi thường bảohiểm không vượt quá tổng số tiền được bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảohiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảohiểm chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi xảy ra tai nạn dẫn đến yêu cầu bồithường với điều kiện số tiền bảo hiểm cho chi phí này đã được quy định tronghợp đồng bảo hiểm
- Các điểm loại trừ áp dụng đối với bảo hiểm thiệt hại vật chất:
Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không có trách nhiệm bồi thường đối với:
a) Mức khấu trừ quy định trong hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm phải
tự chịu mức khấu trừ này trong mỗi sự kiện bảo hiểm
b) Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả, bao gồm tiền phạt, tổn thất dochậm trễ, do không thực hiện được công việc, thiệt hại mất hợp đồng;
c) Những tổn thất trực tiếp do thiết kế sai;
d) Những chi phí thay thế, sửa chữa, khắc phục khuyết tật của nguyên vật liệuhoặc của lỗi do tay nghề kém, tuy nhiên loại trừ này chỉ hạn chế trong chínhnhững hạng mục bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất của các hạng mục khác xảy ra
do hậu quả của nguyên vật liệu bị khuyết tật hoặc tay nghề kém không bị loạitrừ;
e) Các hiện tượng ăn mòn, mài mòn, ô xy hoá, mục rữa do ít sử dụng hay diễn
ra trong điều kiện áp suất, nhiệt độ bình thường;
g) Tổn thất hoặc thiệt hại đối với máy móc, trang thiết bị xây dựng do hỏng hóchoặc trục trặc về điện hoặc về cơ, do nứt vỡ, do chất lỏng làm nguội hoặc dungdịch khác bị đông đặc; do hệ thống bôi trơn có khiếm khuyết hoặc do thiếu dầuhay chất lỏng Tuy nhiên, nếu do hậu quả của những sự cố hỏng hóc hoặc trụctrặc này làm xảy ra tai nạn gây thiệt hại đối với những hạng mục được bảo hiểmthì những thiệt hại đó sẽ được bồi thường;
h) Mất mát hay thiệt hại đối với xe cơ giới được phép sử dụng trên đường côngcộng hay phương tiện vận tải thuỷ và máy bay;
i) Mất mát hay thiệt hại đối với hồ sơ, bản vẽ, chứng từ kế toán, hoá đơn, tiền,tem phiếu, văn bản, chứng thư nợ, cổ phiếu, thư bảo lãnh, séc;
k) Mất mát hay thiệt hại chỉ phát hiện được vào thời điểm kiểm kê
- Các điều khoản áp dụng đối với bảo hiểm thiệt hại vật chất
Số tiền bảo hiểm:
a) Đối với các công trình xây dựng: công trình công cộng, nhà ở, giao thông :
Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm bao gồm toàn bộ vật liệu, tiềnlương, cước phí vận chuyển, thuế hải quan, các loại thuế khác, nguyên vật liệuhay các hạng mục do chủ công trình cung cấp và không được thấp hơn tổng giátrị hợp đồng xây dựng
Trang 27b) Đối với trang thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng phục vụ quá trình xâydựng : Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm không được thấp hơn giátrị thay thế (giá thị trường) của trang thiết bị xây dựng và máy móc xây dựng,tức là chi phí thay thế các hạng mục được bảo hiểm bằng các hạng mục mớicùng loại và cùng tính năng.
Trong trường hợp có sự biến động đáng kể về tiền lương hay giá cả, ngườiđược bảo hiểm cần phải điều chỉnh lại số tiền bảo hiểm Việc điều chỉnh này chỉ
có hiệu lực sau khi đã được ghi vào hợp đồng bảo hiểm hoặc có văn bản chấpthuận của doanh nghiệp bảo hiểm
Trong trường hợp có tổn thất, nếu phát hiện thấy số tiền bảo hiểm thấp hơngiá trị của tài sản được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệmbồi thường cho người được bảo hiểm theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trịcủa tài sản được bảo hiểm Mọi đối tượng và khoản mục chi phí đều phải tuân
theo điều kiện này một cách riêng rẽ.
- Cơ sở giải quyết bồi thường:
Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường saukhi đã chấp nhận các tài liệu, chứng từ cần thiết để chứng minh rằng việc sửachữa đã được tiến hành hay việc thay thế đã được thực hiện Chi phí sửa chữatạm thời sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm chịu nếu như chi phí đó là một bộ phậncấu thành của việc sửa chữa chính thức và không làm tăng chi phí sửa chữa Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường mọi chi phí nhằm cải hoán, bổ sung và/ hoặc nâng cấp các hạng mục được bảo hiểm
1.1.3.2 Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:
- Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:
Trong phạm vi các số tiền bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những số tiền màngười được bảo hiểm có trách nhiệm pháp lý phải bồi thường những thiệt hạiphát sinh do việc gây ra:
a) Thương vong hay ốm đau bất ngờ cho người thứ ba (chết hay không chếtngười),
b) Tổn thất bất ngờ đối với tài sản của người thứ ba,
Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh với điều kiện những thiệthại nêu trên có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng các hạng mục được bảohiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tại khu vực công trường hay khuvực phụ cận trong thời hạn bảo hiểm
Đối với những yêu cầu bồi thường được chấp nhận thanh toán, ngoài các khoảnchi phí phải trả thuộc phạm vi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệmbồi thường thêm cho người được bảo hiểm:
- Tất cả chi phí pháp lý mà bên nguyên đơn đòi được từ người được bảo hiểm;
- Tất cả các chi phí đã phát sinh với sự đồng ý bằng văn bản của doanh nghiệpbảo hiểm,
Trang 28Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm thuộc phần này không vượt quá hạnmức bồi thường ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
- Các điều khoản áp dụng đối với bảo hiểm trách nhiệm với người thứ ba:
a) Người được bảo hiểm hay người thay mặt người được bảo hiểm không được
tự ý thừa nhận, đề xuất, hứa hẹn thanh toán hay bồi thường các khoản tiền liênquan đến hợp đồng bảo hiểm nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của doanhnghiệp bảo hiểm Khi cần thiết doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tiến hành bàochữa hoặc giải quyết bất kỳ khiếu nại nào dưới danh nghĩa người được bảohiểm hay có quyền đứng tên người được bảo hiểm để tiến hành khởi kiện haythực hiện các biện pháp khác đòi bồi thường thiệt hại và có toàn quyền hànhđộng trong việc tiến hành tranh tụng hay giải quyết khiếu nại Người được bảohiểm có nghĩa vụ cung cấp mọi thông tin có liên quan và hỗ trợ khi doanhnghiệp bảo hiểm yêu cầu
b) Đối với tai nạn thuộc trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có thể trả cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bồi thường (sau khi trừ đi bất kỳ khoản tiền đền bù nào đã trả cho vụ tai nạn đó) hoặc trả một khoản tiền ít hơn đúng với sốtiền có thể chấp nhận bồi thường cho vụ tai nạn đó, sau đó doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ không chịu thêm bất kỳ trách nhiệm nào liên quan đến tai nạn đó theo quy định tại Điều này
1.1.3.3 Phạm vi bảo hiểm áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:
Các rủi ro chính thuộc trách nhiệm bồi thường của Đơn bảo hiểm xây dựng có thể chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Tác động của thiên nhiên hay rủi ro thiên tai
- Gió mạnh (bão, gió xoáy, cuồng phong);
- Hoạt động của núi lửa;
Nhóm 2: Các tổn thất gây ra do hoạt động của con người
- Thiếu kinh nghiệm, kỹ năng;
- Các lỗi của con người như: Bất cẩn, sơ sót, phối hợp công việc thiếu hợp
lý, lỗi vận hành;
- Trộm cắp;
- Hành động ác ý, phá hoại của người làm công;
- Tập trung cao độ/cường độ làm việc quá cao do thời gian xây dựng quá ngắn;
- Trông nom bảo vệ công trường không tốt;
- Thiếu các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất;
Trang 29- Vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu trên phạm vi công trường;
Nhóm 3: Rủi ro kỹ thuật, vận hành các máy móc thiết bị xây dựng thi công trên
- Lỗi của hệ thống, thiết bị điều hành, điều khiển;
- Áp suất ép quá lớn gây nổ (nổ vật lý);…
Các nhóm rủi ro được liệt kê rõ ràng để giúp Khai thác viên có được những đánh giá sơ bộ về khả năng xảy ra và mức độ rủi ro
- Các điểm loại trừ áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba :
Doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường về thiệt hại vật chất hoặc trách nhiệm đối với người thứ ba gây nên bởi, phát sinh từ hoặc có thể quy cho:
1 Chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch của nước ngoài (có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nội chiến, bạo loạn, bạo động có thể dẫn đến nổi dậy vũ trang hoặc dành chính quyền;
2 Hành động khủng bố có nghĩa là hành động do một người hay một nhóm người thực hiện đơn độc hoặc nhân danh hoặc có liên quan đến bất kỳ tổ chức hoặc chínhphủ nào vì mục đích chính trị, tôn giáo, tư tưởng hoặc các mục đích tương tự bao gồm cả ý đồ gây ảnh hưởng đến bất kỳ chính phủ nào, làm cho dân chúng hoặc bất
kỳ bộ phận dân chúng nào lo sợ
Những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này không bao gồm những tổn thất, thiệt hại, chi phí, phí tổn do bất kỳ nguyên nhân nào trực tiếp hay gián tiếpgây ra bởi, bắt nguồn từ hoặc có liên quan đến bất kỳ hành động nào được thực hiện để kiểm soát, ngăn chặn, dập tắt hoặc có liên quan đến những sự kiện được nêu tại khoản 1 và 2 của Điều này
Nếu căn cứ theo những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này mà
doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường cho tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn theo hợp đồng bảo hiểm, thì Người được bảo hiểm có trách nhiệm chứng minh rằng các tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn đó thuộc trách nhiệm bảo hiểm và không thuộc các trường hợp loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này
3 Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ
4 Hành động cố ý hay sơ suất lặp đi lặp lại của người được bảo hiểm;
5 Ngừng công việc dù là toàn bộ hay một phần;
6 Tổn thất đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính, bao gồm:
- Tổn thất hay thiệt hại đối với dữ liệu hoặc phần mềm, đặc biệt là bất kỳ sự thay đổi bất lợi nào về dữ liệu, phần mềm hoặc các chương trình máy tính do việc xoá, làm hỏng hoặc làm biến dạng các cấu trúc ban đầu của dữ liệu, phần mềm, chương trình máy tính đó gây ra và mọi tổn thất gián đoạn kinh doanh do có
nguyên nhân từ các tổn thất trên trừ các tổn thất hoặc thiệt hại đối với dữ liệu hoặc