1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế - xã hội. Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao động

25 4,1K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế - xã hội. Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao động
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Đức Trọng
Trường học Trường Đại Học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế - xã hội. Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao động

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội đặc biệt quan trọng được cácnước chú trọng phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình và pháp luật hoá trong

hệ thống pháp luật của Nhà nước

Ở nước ta, BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, được quy định trongHiến pháp, trong các văn kiện của Đảng và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện nhằm từngbước mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động

và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, hết tuổi lao động, chết, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, BHXH ngàycàng trở nên quan trọng trong việc góp phần đảm bảo công bằng xã hội và phát triển xã hội mộtcách bền vững

Thực tế lại cho thấy, vai trò của BHXH có vai trò rất to lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội,nhưng nhiều người lại chưa nhận thức được tầm quan trọng của BHXH, chính vì vậy, sau quá

trình học tập và tìm hiểu, em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là “Phân tích vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế - xã hội Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao động” với mong muốn góp chút công sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao vai trò của

BHXH và phục vụ cho học tập tốt hơn

Do kinh nghiệm còn chưa nhiều và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế nên bài bài tiểu luậnnày không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô trong bộmôn để em có thể rút ra kinh nghiệm cho bản thân Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chânthành đến thầy Nguyễn Đức Trọng, người đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn, giúp em hoànthành bài tiểu luận này

Bài viết được chia làm 3 chương:

Chương I: Chương I: Cơ sở lý luận về BHXH

Chương II: Thực trạng ngành BHXH Việt Nam hiện nay

Chương III: Giải pháp để phát huy vai trò của BHXH đối với nền kinh tế - xã hội nói chung vàđối với người lao động nói riêng

Nguồn dữ liệu sử dụng cho bài viết đều là nguồn dữ liệu thứ cấp

Trang 2

1.1.2 Tính tất yếu của BHXH.

Con người muốn tồn tại và phát triển luôn cần phải thoả mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất

và tinh thần và để thoả mãn các nhu cầu đó con người phải lao động, sáng tạo sản xuất ra các sảnphẩm Tuy nhiên, con người không phải bao giờ cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và điều kiệnsinh sống mà rủi ro luôn đi kèm với con người Trong nhiều trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làmcho người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập như đau ốm, tai nan lao động, già yếu… Khi rơivào các trường hợp đó các nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người không vì thế mà giảm đihoặc mất đi thậm chí còn tăng lên hoặc phát sinh những nhu cầu mới như chi phí khám chữa bệnhkhi ốm đau xảy ra Bởi vậy, muốn duy trì đảm bảo cuộc sống người lao động đòi hỏi phải cónguồn thu nhập thay thề hoặc bù đắp

Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển, sản xuất mang tính chuyên môn hoá cao thì quan hệ thuêmướn lao động ra đời và ngày càng phát triển Nhưng người làm công phải hoàn toàn dựa vào tiềnlương làm nguồn sống chủ yếu khi ốm đau, tai nạn, sinh đẻ… thì phải nghỉ việc và không cólương, cuộc sống bị đe doạ Người lao động đã ý thức được sự cần thiết phải có thu nhập đềphòng khi họ gặp rủi ro tai nạn bất ngờ nên họ đấu tranh đòi giới chủ phải cam kết đảm bảo một

số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau thai sản… Lúc đầu giớichủ cảm kết đảm bảo cho người lao động những khoản thu nhập nhất định đó Song nhiều khi rủi

ro xảy ra liên tục buộc người chủ phải chi ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn Do vậy,

Trang 3

giới chủ đã chi nhiều hơn nên xuất hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn ngàycàng gay gắt Đứng trước tình cảnh đó Nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn đó

và điều hòa lợi ích giữa chủ và thợ, cụ thể: Yêu cầu cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp nhữngkhoản tiền nhất định để hình thành quỹ đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần để giúp các bên giảiquyết khó khăn

Từ đó, cả giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi các nguồn đóng góp của giớichủ, thợ và sự hỗ chợ của Nhà nước hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung - quỹ BHXH

Như vậy BHXH ra đời là một đời hỏi khách quan của thực tế ngày càng phát triển cùng với sựphát triển của nền kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiếtphải tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động

1.2 Hình thức và đối tượng áp dụng BHXH và chế độ BHXH

1.2.1 Hình thức và đối tượng áp dụng BHXH.

Theo quy định tại điều lệ BHXH ban hành theo quy định số 12/CP ngày 26/01/1995 của chính

phủ quy định BHXH ở nước ta bao gồm 2 loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Đốitượng áp dụng cụ thể cho từng loại hình BHXH như sau:

BHXH bắt buộc

- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp của Nhà nước

- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần linh tế ngoài quốcdoanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên

- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại ViệtNam trong các khu chế xuất, khu công nghiêp, trong các cơ quan tổ chức nước ngoài hoắc tổ chứcquốc tế tại Việt Nam

- Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sựnghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể

- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp tổ chức dịch vụ thuộc lực lượng vũ trang

- Người giữ chức vụ dân cử trong các cơ quan: Đảng chính quyền, các cấp từ cấp huyện trởlên

BHXH tự nguyện:

- Những người làm nghề tự do: bác sĩ, luật sư, những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công

Trang 4

- Những người lao động làm ở những nơi sử dụng dưới 10 lao động những công việc có thờihạn dưới 3 tháng,,, công việc theo mùa vụ hoặc công việc có tính chất tạm thời khác

BHXH thất nghiệp

Đối tượng tham gia: là người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Namlàm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác địnhthời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụnglao động

1.2.2 Chế độ BHXH.

Các chế độ BHXH có thể coi như việc cụ thể hóa việc thực hiện mục đích của BHXH mà bộluật lao động đã nêu rõ: nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất góp phần ổnđịnh đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động gặp các rủi

ro bất ngờ Do đó, số lượng các chế dộ bảo hiểm xã hội thể hiện mức độ đảm bảo của xã hội vớiđời sống người lao động

Hiện nay, ở nước ta có 5 chế độ BHXH áp dụng cho các đối tượng bắt buộc sau:

1.3 Vai trò của BHXH trong đời sống kinh tế xã hội:

Là một hình thức bảo hiểm với mục đích xã hội, phi lợi nhuận, BHXH vừa thực hiện vai tròchung của bảo hiểm, vừa thực hiện vai trò đặc biệt của mình trong đời sống kinh tế, xã hội Đó làcác vai trò cơ bản sau:

1.3.1 Vai trò của bảo hiểm:

Các hình thức bảo hiểm nói chung, bao gồm cả BHXH, trong qua trình tồn tại đã thực hiện cácvai trò to lớn sau:

Trang 5

- Nhanh chóng góp phần ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất và làm cho sản xuất kinhdoanh của những người tham gia bảo hiểm tiếp tục phát triển bình thường nếu như đối tượng bảohiểm của họ gặp rủi ro, sự cố gây tổn thất.

- Nếu tham gia bảo hiểm, các cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội sẽ được nhà bảo hiểm phối hợpquản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất

- Do đặc điểm của bảo hiểm là cần phải có các quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ bồi thường hoặc chitrả…Khi các loại quỹ này chưa sử dụng đến, chúng sẽ là nguồn vốn đầu tư đáng kể góp phần pháttriển và tăng trưởng kinh tế Các hoạt động bảo hiểm đề được thực hiện theo “nguyên tắc ứngtrước”, vì vậy, các tổ chức BHXH và các công ty bảo hiểm thương mại thường nắm giữ một quỹtiền tệ rất lớn Nguồn quỹ nhàn rỗi còn biến họ thành những nhà đầu tư lớn, là trung gian tài chínhquan trọng trong nền kinh tế quốc dân Mặt khác, bảo hiểm còn góp phần giảm nhẹ gánh nặng chongân sách nhà nước và tăng cường tích lũy xã hội

- Các tổ chức và các doanh nghiệp bảo hiểm còn thu hút một lực lượng lao động đáng kể vàtạo thêm công ăn việc làm cho họ Điều này làm giảm bớt tình trạng lao động bị thất nghiệp trong

1.3.2 Vai trò của BHXH trong đời sống kinh tế xã hội.

1.3.2.1 Đối với người lao động

Mục đích chủ yếu của BHXH là đảm bảo thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặpnhững khó khăn trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập Vì vậy, BHXH có vai trò to lớn đốivới người lao động Trước hết, đó là điều kiện cho người lao động được cộng đồng tương trợ khi

ốm đau, tai nạn…Đồng thời, BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợcho những khó khăn của các thành viên khác

Tham gia BHXH còn giúp người lao động nâng cao hiệu quả trong chi dung cá nhân, giúp họtiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả, mất sức

Trang 6

lao động…góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và cho gia đình Nhờ có BHXH, cuộc sốngcủa những thành viên trong gia đình người lao động, nhất là trẻ em, những người tàn tật, góabụa… cũng được đảm bảo an toàn.

1.3.2.2 Đối với tổ chức sử dụng lao động.

BHXH giúp cho các tổ chức sử dụng lao động, nói chung, hay các doanh nghiệp, nói riêng, ổnđịnh hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho người laođộng một cách hợp lý Qua việc phân phối chi phí cho người lao động hợp lý, BHXH góp phầnlàm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả,các bên của quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn

BHXH tạo điều kiện để người sử dụng lao động có trách nhiệm với người lao động, không chỉkhi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời người lao động, cho đến khi già yếu Nhưvậy, BHXH làm cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc

BHXH còn giúp cho đơn vị sử dụng lao động ổn định nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy

ra thì cũng không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản Tuy nhiên, BHXH hầu như không manglại lợi ích trực tiếp nên không phải bao giờ người sử dụng lao động cũng nhận thức đúng được vaitrò của nó

1.3.2.3 Đối với xã hội.

Đúng như tên gọi đã phản ánh, BHXH luôn mang lại những vai trò to lớn Tác dụng đầu tiêncủa hình thức bảo hiểm này đối với xã hội là việc tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộngđồng xã hội, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội

Hiện nay, khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống an sinh xã hội, BHXH là

cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội khác Trên cơ sở đó, BHXH là căn cứ để đánh giátrình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được trong mỗi nước

BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia Thông qua hệthống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của các nhà nước cũng ngày càng được nângcao thể hiện bằn việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý đượcnhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH…

Hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chínhphong phú và kinh tế xã hội phát triển

Trang 7

Ở Việt Nam, thông qua chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với khu vực chính thức, BHXH còngóp phần làm cho quá trình từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn nhanh chóng hơn Với chức năngcủa mình, BHXH là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu “dân giầu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế đấtnước

Chương II: Thực trạng ngành BHXH Việt Nam hiện nay:

2.1 Số lượng đối tượng tham gia, số thu cho quỹ có sự tăng trưởng hằng năm, song số lượng tham gia vẫn thấp, mức hưởng thấp và hiệu quả thấp.

2.1.1 Số lượng đối tượng tham gia, số thu cho quỹ có sự tăng trưởng hằng năm.

Qua 15 năm xây dựng và phát triển, BHXH Việt Nam đã tạo được dấu ấn đậm nét, xây dựngđược nền tảng vững chắc, thực sự đổi mới cả về hệ thống chính sách, tổ chức bộ máy quản lý Độingũ quản lý BHXH đã trưởng thành nhanh chóng, quỹ bảo hiểm đã phát triển lớn mạnh “Thànhtựu của ngành BHXH chính là một thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước”

Từ trước năm 1961, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, trong kháng chiến và kinh tế khókhăn nên Nhà nước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện được đầy đủ các quyền lợi về bảo hiểm

xã hội, các chế độ bảo hiểm xã hội chưa được quy định một cách toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hộichưa được hình thành mà mới chỉ là các chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tính bảo hiểm

Tháng 1 năm 1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/

CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 Điều lệ về chính sách BHXH mới đã

mở rộng đối tượng áp dụng (Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không chỉ bao gồm laođộng trong khu vực Nhà nước mà người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

có sử dụng từ 10 lao động trở lên cũng có quyền tham gia bảo hiểm xã hội.) và có nhiều chínhsách ưu đãi cho người tham gia Ngoài chế độ BHXH băt buộc, chính phủ còn ban hành chế độBHXH tự nguyện Về các chế độ bảo hiểm xã hội, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạnlao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp mất sức lao động mànhững người mất khả năng lao động được quy định chung trong chế độ hưu trí với mức hưởnglương hưu thấp Từ đó tới nay, số lượng người lao động tham gia BHXH đã phát triển rất lớn

Tình hình tham gia BHXH trong các năm gần đây được tổng hợp tại bảng sau:

Trang 8

Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3

TÌNH HÌNH THAM GIA BHXH GIAI ĐOẠN 2008- 2010

ĐƠN VỊ TÍNH: ĐƠN VỊ, NGƯỜI, %

Số đơn

vị Số người

TỶ TRỌNG

Số đơn

vị Số người

TỶ TRỌNG

4 Doanh nghiệp Nhà nước 8,180 1,315,102 15.4% 8,180 1,330,374 14.6% 8,180 1,335,000 15.6%

5 Doanh nghiệp có vốn nước ngoài 8,761 1,753,800 20.5% 9,637 1,963,550 21.6% 10,408 2,270,000 26.6%

6 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 63,102 1,951,153 22.8% 75,722 2,198,624 24.2% 89,352 2,395,000 28.0%

- Lương tối thiểu 650,000 đồng

NGUỒN: BÁO CÁO CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

Trang 9

Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3

2.1.2 Số lượng tham gia vẫn thấp, mức hưởng thấp và hiệu quả thấp.

Việt Nam là nước đông dân, trong giai đoạn hiện nay, theo kết quả điều tra toàn bộ của cuộctổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được Tổng cục Thống kê công bố sáng 21.7.2010 Theo

số liệu điều tra, từ năm 1999 - 2009, dân số Việt Nam tăng thêm 9,523 triệu người, bình quân mỗinăm tăng 952.000 người Tính đến ngày 1.4.2009, tổng số dân của Việt Nam là 85.846.997 người

Tỉ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33,1% năm 1999 xuống còn 24,5% vào năm 2009 Ngượclại, tỉ trọng dân số trong nhóm tuổi 15-64 là nhóm tuổi chủ lực của lực lượng lao động tăng từ61,1% lên 69,1% Chính vì cơ cấu dân số thay đổi như vậy, nên cả nước đã có 43,9 triệu ngườitrong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,2% dân số; trong đó thành thị có 12,0 triệu laođộng, nông thôn có 31,9 triệu lao động, tỉ trọng như vậy thì Việt Nam đang ở trong giai đoạn “cơcấu dân số vàng”, vì đang có ưu thế rất lớn về lực lượng lao động, là lợi thế rất lớn đối với sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Theo dự tính của Tổng cục Thống kê thì cơ cấunày sẽ còn kéo dài từ 30 đến 50 năm nữa

Tuy nhiên, phần lớn công việc dành cho người lao động chất lượng còn thấp Theo số liệu điềutra của ILO, năm 2007 có 23,8 triệu người có việc làm trong ngành này, chiếm khoảng 52% tổng

số người có việc làm So với những năm trước, lao động nông nghiệp đã có xu hướng giảm, tuynhiên tính chất nông thôn và sự phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp phản ánh thị trường lao độngViệt Nam vẫn đứng trước nguy cơ thiếu việc làm bền vững Báo cáo của ILO còn phản ánh mộtthực trạng dẫn đến việc thiếu việc làm hiệu quả do nhóm lao động giản đơn hiện vẫn chiếm tỷ lệlớn nhất Năm 2007, nhóm lao động giản đơn là 28,1 triệu người, chiếm 62% tổng số người cóviệc làm

Ngoài ra trong xã hội còn có nhóm lao động “không được trả lương”, gồm những người làmviệc cho nông trại hoặc công việc sản xuất kinh doanh của gia đình nhưng không nhận tiền công.Những người này thường là vợ, chồng hoặc con cái của người chủ/người điều hành công việckinh doanh, nhưng cũng có thể là thành viên của một gia đình lớn như ông, bà, cháu, cô, dì, chú,bác Năm 2007, nhóm này chiếm 42% tổng số người có việc làm

Nhìn nhận một cách khách quan thì hầu hết các những đối tượng lao động này không tham giavào BHXH, nhất là đối với những lao động giản đơn, thời gian lao động ngắn và không cố định,không có ký kết hợp đồng lao động với chủ lao động, nên không thuộc vào đối tượng áp dụngBHXH bắt buộc Những người làm công tác xã hội lại chưa tận tình với công việc, không tích cực

Trang 10

Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3

tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho người lao động ở những nơi thông tin xã hội còn hạnchế, khiến cho nhiều người lao động có nguyện vọng được tham gia BHXH nhưng lại không biếtphải làm như thế nào để có thể tham gia đóng và hưởng quỹ

Về mặt chủ quan thì do nhiều người lao động còn thiếu hiểu biết về vai trò của BHXH nênkhông tham gia đóng BHXH, tiêu cực hơn nữa đó là do thiếu hiểu biết về luật lao động mà đã vôtình làm mất quyền lợi của mình, để cho chủ lao động lợi dụng điều này để trốn tránh nhiệm vụđối với người lao động Vậy là một số lượng lớn lao động vô tình không được tham gia BHXH.Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Các vấn đề xã hội cho thấy, năm 2008 số tiền nợ, chậm đóng BHXHcủa các tổ chức, doanh nghiệp là trên 2.286 tỷ đồng, năm 2009 là 2.093 tỷ đồng Nếu so sánh với

số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập, đang hoạt động hiện nay là khoảng 260.000 doanh nghiệp(số liệu của Tổng cục Thống kê) với tổng số người hưởng lương khoảng 14 triệu người, thì số đốitượng chưa tham gia BHXH bắt buộc theo luật định còn rất lớn, khoảng 30%, đặc biệt là khu vựcngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức và cá nhân kinh doanh có thuê mướn laođộng

Một điều đáng nói là hiện nay quy định mới được ban hành của BHXH Việt Nam là người lao động tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp lần đầu phải nộp bản sao giấy khai sinh Trong khi

đó thì có rất nhiều lao động sinh trước năm 1975 không có hoặc đã thất lạc giấy khai sinh Ngoài

ra, một bộ phận không nhỏ người lao động sinh ra ở những vùng sâu không có điều kiện làm giấykhai sinh Tất cả bộ phận này đều không có điều kiện được làm những công việc “chất lượng” vàcũng không ít trong số đó không có được công việc đảm bảo lâu dài Việc phải có giấy khai sinhkhi tham gia BHXH dẫn đến không ít trở ngại cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động, đây là mộtquy định quá khắt khe, làm cho những đối tượng này không có cơ hội tham gia vào làm việc trongcác doanh nghiệp có chế độ đóng BHXH, và cũng không có cơ hội tham gia đóng và hưởng chế

độ BHXH mặc dù không ít ngườ có nguyện vọng Về phía các doanh nghiệp có nhu cầu thuê lao

động giá rẻ thì đây chính là một rào cản lớn Theo nguồn tin thực tế thu thập được từ báo Tuổi Trẻ Online thì trưởng Ban quản lý các khu công nghiệp Tiền Giang, cho biết hiện các doanh

nghiệp trong khu công nghiệp Mỹ Tho và cụm công nghiệp Trung An cần gấp 2.000 lao động

nhưng tuyển rất khó khăn Nay lại vướng quy định giấy khai sinh nên nhiều doanh nghiệp “kêu trời” vì không dưới 30% người lao động xin việc không có hoặc bị thất lạc giấy khai sinh Còn

chủ tịch công đoàn Công ty ChingLhu (Long An), cho biết từ nay đến cuối năm công ty sẽ tuyển

Trang 11

Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3 thêm 4.000 công nhân Nếu buộc người lao động phải có giấy khai sinh mới tuyển có lẽ công ty chỉ tuyển được 50% Đó là chưa kể phải cho thôi việc khoảng 700 LĐ đã tuyển trước đó.

Chế độ bảo hiểm thất nghiệp còn khá mới mẻ với người lao động Việt Nam, do vậy, người laođộng còn gặp khó khăn trong việc đăng ký đóng Bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người có nhu cầutham gia song do chưa nắm được luật nên khi đến đăng ký thất nghiệp với trung tâm thì khôngđược vì nhiều trường hợp đã quá thời hạn Không ít trường hợp bị ngưng trợ cấp thất nghiệp dokhông đến cơ quan đăng ký thất nghiệp để trình báo tình trạng tìm việc làm nên tự đánh mất điquyền lợi Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có thống kê đầu tiên về việctriển khai chế độ bảo hiểm thất nghiệp Theo đó, hiện đã có 3515 người lao động đến đăng ký thấtnghiệp, trong đó có 592 người đã làm xong hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên,chỉ có 298 người (chiếm hơn 8% số người đăng ký) được xác định đủ điều kiện hưởng chế độ bảohiểm này

BHXH tự nguyện tuy có hiệu lực thi hành từ năm 2008 nhưng lượng người tham gia cũngkhông nhiều, chỉ là hơn năm vạn người trong khoảng 30 triệu người thuộc diện tham gia

Song nguyên nhân chính khiến cho người lao động không mặn mà với việc tham gia BHXH

đó là thời gian đóng BHXH dài mà mức hưởng thấp, thêm vào đó là hiệu quả mang lại không cao

Ví dụ về BHXH tự nguyện: mức đóng hằng tháng với BHXH tự nguyện bằng 16% mức thu

nhập người lao động lựa chọn đóng BHXH, từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm2% cho đến khi đạt mức đóng là 22% Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổituỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểuchung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung Với mức đóng như vậy, đối với nhữngngười sống ở vùng nông thôn, đa phần là nông dân, người lao động có thu nhập thấp và không ổnđịnh nên việc tham gia BHXH tự nguyện bằng cách chắt bóp thu nhập vốn ít ỏi hàng tháng củamình là rất khó khăn Nếu mỗi tháng họ thu nhập được 1-2 triệu đồng thì số tiền đó dành cho chitiêu hằng ngày đã là quá khó Đó là chưa kể công việc bấp bênh, thu nhập không ổn định Hơnnữa, mức đóng BHXH tự nguyện sẽ tăng dần thì nhiều người không chắc chắn mình có thể theođuổi được mức đóng lũy tiến đó đến khi đạt đến mức 22% lương tối thiểu chung

2.2 Tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm xã hội tiếp tục xảy ra xảy với số nợ ngày càng lớn

và thời gian kéo dài.

Trang 12

Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3

Theo Luật Lao động thì người lao động được hưởng lương và chế độ BHXH theo quy định

“BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảmhoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổilao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” (Điều 3, Luật BHXH)

Thế nhưng quyền lợi cơ bản này của người lao động đang bị vi phạm nghiêm trọng do tìnhtrạng nhiều doanh nghiệp chậm đóng BHXH cho người lao động và thậm chí nhiều doanh nghiệpcòn tìm cách trốn đóng BHXH Điều này gây thiệt hại trước hết là cho người lao động, và sau làcho toàn nền kinh tế - xã hội, không những vậy mà doanh nghiệp còn tự mình làm cho mối quan

hệ giữa người lao động và mình ngày càng trở nên mâu thuẫn

Qua các năm, con số các doanh nghiệp nợ đọng quỹ BHXH ngày càng lớn và số tiền mà doanhnghiệp nợ quỹ BHXH cũng tăng tỉ lệ thuận với số doanh nghiệp, hơn nữa là thời gian nợ ngàycàng kéo dài

Nguyên nhân của tình trạng này trước hết trước hết xuất phát từ ý thức pháp luật và đạo đứcyếu kém của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ muốn thu lợi nhuận tối đa, không quan tâm đếnquyền lợi của người lao động, tìm cách trốn tránh, đối phó với cơ quan chức năng Nhiều doanhnghiệp làm ăn phát đạt nhưng vẫn cố tình chây ỳ không đóng tiền BHXH Nếu thực hiện chế độBHXH, hàng tháng người lao động phải trích lại 8,5% lương để nộp BHXH, chủ sử dụng lao độngnộp 20% Khi trốn nộp BHXH, doanh nghiệp vừa không phải chi 20%, vừa chiếm luôn 8,5%lương của người lao động Một số doanh nghiệp lại ra lí do kinh doanh, làm ăn khó khăn để trốnnộp BHXH cho người lao động

Có doanh nghiệp lương cán bộ quản lý lên tới vài chục triệu đồng/tháng, nhưng người laođộng chỉ nhận được chừng 1,5-2 triệu đồng/tháng và cũng không hề được nộp BHXH, BHYT.Nhiều cơ quan, doanh nghiệp lại phân biệt cán bộ trong biên chế và ngoài biên chế Chỉ có cán bộtrong biên chế mới được hưởng các chế độ BHXH, BHYT Trong khi đó theo Luật Lao động,Luật BHXH không hề có sự phân biệt này

Công tác thanh, kiểm tra chưa thường xuyên, chế tài xử lí chưa đủ mạnh để buộc các doanhnghiệp phải tuân thủ luật Lao động và luật BHXH Lực lượng Thanh tra lao động của các địaphương rất mỏng, mỗi năm chỉ tiến hành thanh tra được vài chục doanh nghiệp

Theo quy định, nếu người sử dụng lao động vi phạm luật BHXH sẽ bị xử phạt hành chính, vàbuộc phải nộp đủ, đúng số tiền còn thiếu theo quy định, cộng với tiền lãi ngân hàng số tiền nộp

Ngày đăng: 26/03/2013, 20:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w