1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng bảo hiểm con người những vấn đề lý luận và thực tiễn

61 1,4K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp đồng bảo hiểm con người những vấn đề lý luận và thực tiễn
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Thể loại Khóa luận
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 325,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp đồng bảo hiểm con người những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người với những công cụ bằng đồng, đácho đến những thành tựu khoa học kỹ thuật ngày nay là cả một quá trình phấnđấu, tìm tòi phát triển không ngừng của mỗi con người trong xã hội Các Mác đãnói “Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó còn con người thì tái sản xuất ra toàn

bộ giới tự nhiên”.1, tr.358 Quả thực như vậy, vì hoạt động con vật chỉ phục vụnhu cầu trực tiếp của nó, còn hoạt động con người gắn liền với xã hội, phục vụcho xã hội Nhưng cũng phải nhận thấy rằng để sản xuất ra toàn bộ giới tựnhiên, con người phải lao động để duy trì cuộc sống, phát triển xã hội và vì vậycon người chính là lực lượng sản xuất chủ yếu, không có con người thì không có xã hộiloài người

Thực tế, chúng ta đều có thể nhận thấy là khi lao động sản xuất con ngườiluôn luôn phải đối mặt với tai nạn, rủi ro, bệnh tật,… đe doạ đến cuộc sống, tínhmạng của con người Để khắc phục được tình trạng đó, có rất nhiều biện pháp đềphòng, hạn chế tai nạn rủi ro xảy ra, nhưng đó là chưa đủ bởi vị trí và tầm quantrọng của con người nói riêng và xã hội loài người nói chung thì cần có nhữngbiện pháp khác nữa để khắc phục hậu quả đó Vì vậy, bảo hiểm con người đã rađời Bảo hiểm con người giúp mỗi người khi tham gia ổn định cuộc sống, khắcphục khó khăn, tạo ra chỗ dựa tinh thần để họ an tâm học tập, lao động sản xuất.Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2000-2010, Đảng và nhà nước ta đãxác định “ tổ chức và vận hành an toàn, hiệu quả thị trường bảo hiểm trong nước

mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, kể cả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài”.2 Bảo hiểm nói chung, bảo hiểm con người nói riêng đang được sự

quan tâm của Đảng, nhà nước và của toàn xã hội

Đối với nước ta hiện nay là một nước đang phát triển, vừa là thành viêncủa Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cùng với việc các nước tăng cườnghợp tác thì việc phát triển kinh tế để hội nhập là tất yếu và vì vậy, vấn đề bảohiểm con người càng được quan tâm hơn bao giờ hết

Trang 2

Chính vì những nguyên nhân trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Hợp đồng bảo

hiểm con người những vấn đề lý luận và thực tiễn”, mục tiêu của đề tài nhằm

khai thác được những vấn đề mọi người quan tâm, để thấy được vai trò, tầmquan trọng của bảo hiểm con người và đặc biệt là tăng thêm sự hiểu biết của bảnthân trong lĩnh vực này

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu hợp đồng bảo hiểm con người, trên cơ sở xemxét các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự, và các văn bản

có liên quan Trên cơ sở đó thấy được ưu điểm, nhược điểm của các quy định đểđưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm nóichung và bảo hiểm con người nói riêng

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để hoàn thành tốt đề tài, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận củachủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài

ra tác giả còn sử dụng phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp,…

4 Tình hình thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài

Về vấn đề bảo hiểm con người đã có nhiều công trình đề cập đến như giáotrình “Bảo hiểm” của trường Đại học Kinh Té Quốc Dân, cuốn “Bảo hiểm nhânthọ những vấn đề lý luận và thực tiễn” của thạc sỹ Trần Vũ Hải Bên cạnh đócòn có rất nhiều các bài viết về bảo hiểm con người trên các sách, báo, tạp chí…Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đó chỉ đề cập đến những vấn đề lý luậncủa bảo hiểm con người hoặc đi sâu nghiên cứu bảo hiểm nhân thọ (lĩnh vực chủyếu của bảo hiểm con người) Qua đề tài này tác giả muốn trình bày và đi sâunghiên cứu bảo hiểm con người trên cả hai phương điện đó là lý luận và thựctiễn

5 Cơ cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khoá luậncòn có phần nội dung được cơ cấu thành ba chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng bảo hiểm con người

Trang 3

Chương II: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người

Chương III: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người.

Với ý nghĩa là một đề tài khoa học khoá luận đòi hỏi nhiều kiến thức vàkinh nghiệm thực tế Là sinh viên lần đầu tiếp xúc với đề tài khoa học nênkhông thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự thông cảm vànhững ý kiến đóng góp, chỉ bảo của thầy cô giáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG

BẢO HIỂM CON NGƯỜI

1 Một vài nét khái quát cơ bản về lĩnh vực bảo hiểm con người

1.1 Các nước trên thế giới

Trước hết, chúng ta phải khẳng định rằng, bảo hiểm con người ra đời donhu cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội đòi hỏi Đó là nhu cầu được bảo

vệ, được giúp đỡ, được chia sẻ hoạn nạn rủi ro khi tổn thất xảy ra Trở lại vớithời lịch sử xa xưa khi loài người sống bằng nghề săn bắt, hái lượm; ngay lúc

đó, họ đã biết cách dự trữ những con vật săn bắt được Đến một giai đoạn pháttriển khá hơn, con người biết chăn nuôi trồng trọt, nhưng sản xuất nông nghiệprất bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lúc đó nhà nông họ đã biết dự trữlương thực khi mất mùa

Quả thật, những hành động dự trữ những con vật rồi cả lương thực khimất mùa nó không mang tính đảm bảo chắc chắn cho cuộc sống nhưng nó phầnnào đã thể hiện được ý thức được bảo vệ của con người Và đây cũng là hìnhthức sơ khai của bảo hiểm

Thuật ngữ “Bảo hiểm con người” trong hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) conngười được ghi nhận trong Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (KDBH) của ViệtNam (với hình thức bảo hiểm nhân thọ là chủ yếu) Trên thế giới, mỗi nước cóthể có các cách gọi khác nhau cho lĩnh vực này và các nước thường đề cập đến

là bảo hiểm nhân thọ Vì vậy, đối với việc nghiên cứu hình thành và phát triểncủa bảo hiểm con người trên thế giới, tác giả xin trình bày sự hình thành và pháttriển của bảo hiểm nhân thọ

Nếu như trong thời kỳ sơ khai, vấn đề con người quan tâm là nhu cầu ăn,

ở, mặc thì ngày nay khi nhu cầu đó đã được đáp ứng đầy đủ thì những nhu cầukhác xa hơn, cao hơn trong đó có nhu cầu chăm lo cho tương lai cũng đòi hỏiphải đáp ứng Bảo hiểm nhân thọ ra đời là đáp ứng nhu cầu đó Chúng ta nghiên

Trang 5

cứu lịch sử hình thành và phát triển vảo hiểm nhân thọ ở Anh, Mỹ là hai nước cóngành bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển nhất thế giới.

Ở Anh:

Sau cách mạng Ánh sáng 1688 Châu Âu chỉ có vương quốc Anh côngnhận tính pháp lý của bảo hiểm nhân thọ Vì vậy mà trong suốt ba thập kỷ saucách mạng Ánh sáng ở Anh dịch vụ này phát triển mạnh mẽ Công ty bảo hiểmnhân thọ ra đời đầu tiên ở Anh (1762) Trong suốt quá trình công nghiệp hoá,dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có rất nhiều bước phát triển Năm 1879 chính phủAnh thông qua “đạo luật bồi thường cho người lao động” Đạo luật này buộc cáccông ty phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên Trong thế kỷ 19người ta đã lập ra rất nhiều hội đoàn có trách nhiệm bảo hiểm nhân mạng và sứckhoẻ cho hội viên Bên cạnh đó cũng có một số hội kín chỉ cung cấp dịch vụ bảohiểm lệ phí thấp cho những ai là hội viên của họ Ngày nay các hội kín này vẫntiếp tục bảo hiểm cho hội viên, điều này cũng diễn ra tương tự ở hầu hết các tổchức của người lao động Có nhiều chủ sử dụng lao động còn lo luôn một lúcnhiều HĐBH nhân thọ và sức khoẻ cho nhân viên Các hợp đồng này không chỉđơn thuần bảo hiểm nhân thọ mà còn đảm bảo cho nhân viên có cuộc sống ổnđịnh khi họ bị bệnh, tai nạn hay về hưu Chính các hình thức này là tiền thân củaloại hình bảo hiểm con người ngày nay Do có một chiều dài lịch sử phát triểnnên ngày nay Anh vẫn là một trong những thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn nhấtthế giới với các công ty bảo hiểm nhân thọ xuyên quốc gia điển hình nhưPrudential…

Ở Mỹ:

Bảo hiểm ở Hoa Kỳ được xây dựng trên mô hình bảo hiểm Anh Vào năm

1735 công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Chaleston Năm 1759hội nghị giáo hội trưởng lão PhiladenPhia đã quyết định bảo trợ cho tập đoànbảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hoa Kì Ngày 22-5-1761, tập đoàn này đã kí kếtđược HĐBH nhân thọ đầu tiên với công chúng Mỹ Mãi đến 80 năm sau dịch vụbảo hiểm nhân thọ Mỹ mới thực sự phát triển Chìa khoá dẫn đến thành công

Trang 6

chính là nhờ các công ty bảo hiểm đã hạn chế được những sự chống đối từ cácnhóm tôn giáo.

Năm 1835 ở New York đã xảy ra một vụ hoả hoạn đầy tai tiếng Vụ hoảhoạn này khiến người dân ở đây lưu tâm nhiều hơn đến nhu cầu phải có nguồn

dự trữ để bù đắp cho những thiệt hại nghiêm trọng không thể lường trước được.Hai năm sau Massachusetts trở thành bang đầu tiên ở Mỹ sử dụng luật phápbuộc các công ty phải tích luỹ nguồn dự trữ này

Từ đó đến nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế ngành bảohiểm của nước này cũng phát triển mạnh theo hướng từ một vài công ty ban đầutrở thành ngành công nghiệp có quy mô lớn Mặc dù bảo hiểm Hoa Kỳ chịu ảnhhưởng sâu sắc bởi vương quốc Anh nhưng thị trường bảo hiểm nước này lại pháttriển theo hướng có phần khác với Anh Và ngày nay lĩnh vực bảo hiểm ở Mỹphát triển nhất thế giới

Sự phát triển của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng gắnvới lịch sử đất nước Nếu lấy năm 1993 với Nghị định 100 CP (18-12-1993) vềKDBH ra đời, thì trước năm 1993 bảo hiểm Việt Nam nói chung không pháttriển Nguyên nhân là do đất nước trải qua chiến tranh kéo dài và bị chia cắtthành hai miền khác nhau, mãi cho đến năm 1975 đất nước mới hoàn toàn giảiphóng Và từ năm 1975 đến năm 1993 là thời kì bảo hiểm độc quyền: chỉ cócông ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) Đây cũng là thời kì thử nghiệm nên sốnghiệp vụ chưa nhiều, phí bảo hiểm chưa phản ánh đầy đủ xác suất rủi ro

Có thể nói Nghị định 100 CP ngày 18-12-1993 là mốc đánh dấu sự thayđổi và phát triển của bảo hiểm Việt Nam Nghị định quy định về địa vị pháp lí

Trang 7

của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), cho phép sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế vào hoạt động KDBH, trong đó chú trọng đến các nhà đầu tư nướcngoài để thúc đẩy sự phát triển của bảo hiểm trong nước Trong Nghị định đã đềcập đến khái niệm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn con người theo khoản 1

và khoản 2 Điều 7 và đây cũng là những đối tượng của bảo hiểm con người saunày

Sau khi Nghị định 100 CP ra đời, để cụ thể hoá sự điều chỉnh của phápluật đối với hoạt động bảo hiểm Bộ tài chính đã ra thông tư hướng dẫn:

Thông tư 46 của Bộ tài chính ngày 30-5-1994 về hướng dẫn thi hành Nghịđịnh 100 CP của chính phủ về hoạt động bảo hiểm

Sau Nghị định 100 CP phải kể đến Bộ luật dân sự 1995 có những điềukhoản cụ thể quy định về HĐBH (Nghị định 100 CP chưa đề cập đến) Các quyđịnh này tương đối có hệ thống, có sự liên kết với các quy định về giao dịch dân

sự Mặc dù chưa mang tính cụ thể, chi tiết nhưng những quy định của Bộ luậtdân sự là tiền đề quan trọng cho việc áp dụng, thực hiện các quy định củaHĐBH con người sau này

Nếu chỉ có các quy định của Bộ luật dân sự về HĐBH thì quá chungchung, không thể đáp ứng các nhu cầu của con người và các vụ tranh chấp sẽxảy ra do những quy định không rõ ràng của pháp luật Từ thực tế đó, để đápứng nhu cầu đảm bảo cho tương lai của con người, Luật KDBH 2000 ra đời vớimục đích “để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân thamgia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần thúc đẩy vàduy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân,tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảohiểm”.7 Nội dung chủ yếu và quan trọng của luật là quy định về HĐBH (từĐiều 12 đến Điều 57), và cũng từ luật này đã ghi nhận HĐBH con người (từĐiều 32 đến Điều 39) Với chưa đầy 10 điều nhưng luật đã có qui định về đốitượng, số tiền, quyền và nghĩa vụ của các bên, các trường hợp không trả tiền bảohiểm trong HĐBH con người Những điều khoản này là căn cứ để ký kết và thựchiện HĐBH con người

Trang 8

Khi có những cơ sở pháp lý để cho việc thực hiện HĐBH con người thìcũng cần phải có đường lối chiến lược đúng đắn, để đáp ứng được yêu cầu đóThủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định Quyết định 175 / 2003 về phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằmđáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư, bảo đảm cho các tổchức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế,thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế xãhội, nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động

kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế”.9 Giải

pháp được đề cập đến đó là: “Nhà nước có chính sách khuyến khích người dântham gia bảo hiểm nhân thọ, ưu tiên phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

có tính chất đầu tư dài hạn” Bảo hiểm con người với sản phẩm bảo hiểm nhânthọ là chủ yếu đã, đang và sẽ được được chú trọng, quan tâm của Đảng và Nhànước

Sau khi luật KDBH ra đời chính phủ ban hành Nghị định 42/2001 NĐCPngày 1/8/2001nhằm quy định chi tiết thi hành Luật KDBH để các quy định này

đi vào cuộc sống

Bộ luật dân sự 2005 ghi nhận quy định HĐBH, trong đó có hai hình thứcbảo hiểm là bắt buộc và tự nguyện Tính mạng và sức khoẻ con người là đốitượng của bảo hiểm tự nguyện Bộ luật cũng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụcủa các bên và quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng của bên bảo hiểm nếu bênmua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin không đúng về đối tượng bảo hiểm nhằmgiao kết hợp đồng để hưởng tiền bảo hiểm (Điều 577 Bộ luật dân sự)

Tóm lại từ năm 1993 đến nay pháp luật về hợp đồng nói chung và HĐBHcon người nói riêng luôn có sự phát triển để phù hợp hơn với nhu cầu thực tếcủa con người, đó cũng là quy luật tất yếu của sự phát triển Pháp luật hoàn thiện

là cơ sở để hạn chế tranh chấp xảy ra và hợp đồng thực hiện trong thực tế đượcthuận lợi

Từ các quy định của luật thấy rằng HĐBH con người nói chung và HĐBHnhân thọ nói riêng không phải là một hợp đồng bồi thường Mục đích của nó là

Trang 9

cung cấp một khoản tiền cụ thể khi xảy ra những sự kiện được nêu trong HĐBH.Xét về khía cạnh vật chất cuộc sống con người là vô giá và rõ ràng là khôngphải bất kỳ một tổ chức nào cũng có thể cung cấp cho một người một “giá trị”tương đương với việc mất đi một sinh mạng.

2 Những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người

2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm con người

* Khái niệm

Trước tiên để đi đến tìm hiểu khái niệm HĐBH con người chúng ta phảitìm hiểu thế nào là HĐBH Theo Điều 567 Bộ luật dân sự 2005: “HĐBH là sựthoả thuận giữa các bên theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, cònbên bảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảohiểm” Từ khái niệm trên cho thấy HĐBH là sự thoả thuận giữa hai bên chủ thể

đó là bên mua bảo hiểm (người tham gia bảo hiểm) và bên bảo hiểm (DNBH)với điều kiện là bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm để khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm

Khác với Bộ luật dân sự 2005 Luật KDBH 2000 có mở rộng phạm vi chủthể trong HĐBH con người Theo Điều 12 Luật KDBH thì “HĐBH là sự thoảthuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảohiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm chongười thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm”

Rõ ràng Luật KDBH không chỉ quy định chung chung là DNBH phải trảmột khoản tiền cho bên mua bảo hiểm như Bộ luật dân sự mà chỉ rõ DNBH phảitrả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi nghiên cứucác quy định của HĐBH con người trong các phân tích tiếp theo

Khác với Việt Nam, Thái Lan là một nước có nền kinh tế phát triển khátrong khu vực nên lĩnh vực bảo hiểm cũng được chú trọng từ sớm Các quy địnhcủa pháp luật về bảo hiểm được quy định chủ yếu trong Bộ luật dân sự vàthương mại Thái Lan Ngay từ năm 1992 Thái Lan có đạo luật bảo hiểm nhân

Trang 10

thọ nhằm điều chỉnh hoạt động của công ty bảo hiểm nhân thọ Do vậy nếu sosánh chúng ta sẽ thấy được điểm khác biệt trong các quy định về luật bảo hiểmgiữa hai nước.

Điều 861 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan có khái niệm: “ HĐBH

là hợp đồng trong đó một người đồng ý bồi thường hoặc trả một số tiền trongtrường hợp mất hàng hoặc xảy ra bất cứ sự cố nào trong tương lai quy định trongHĐBH và người kia đồng ý trả cho việc đó một số tiền gọi là phí bảo hiểm”.Theo khái niệm trên thì ở Thái Lan việc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra bất cứ sự cốnào trong tương lai quy định trong HĐBH (Việt Nam là khi có sự kiện bảo hiểm

do các bên thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật), nên phạm vi trả tiềnbảo hiểm của Thái Lan mở rộng hơn

Đó là HĐBH còn HĐBH con người cũng là HĐBH nhưng đối tượng của

nó chỉ liên quan đến tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn con người; vì thế theotác giả:

“HĐBH con người là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH đểbảo hiểm cho tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn của người tham gia bảohiểm hoặc người được chỉ định trong hợp đồng; theo đó bên mua bảo hiểm phảiđóng phí bảo hiểm và DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặcbồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”

2.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con người

2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm con người là hợp đồng thanh toán có định mức

Đối tượng của bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tainạn con người Đó là những thứ vô giá không thể tính toán được, không thể xácđịnh được chính xác và trên thực tế không bù đắp nổi Không ai có thể xác địnhđược tính mạng con người trị giá là bao nhiêu Vì thế trong HĐBH con ngườikhông tồn tại điều khoản giá trị bảo hiểm Nghĩa vụ của DNBH ở đây là trả tiềnbảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng và không phải là trách nhiệm bồithường tổn thất mà là giúp đỡ về mặt vật chất cho người được bảo hiểm Vàcũng chính từ đối tượng HĐBH con người không thể tính toán được thành tiềnnên số tiền DNBH trả cho khách hàng chỉ có thể là một số tiền được ấn định sẵn

Trang 11

ngay từ khi ký kết hợp đồng Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên bảo hiểm sẽ thanhtoán cho bên tham gia bảo hiểm và thường không bị giới hạn bởi nguyên tắc giátrị thiệt hại giống như HĐBH tài sản và HĐBH trách nhiệm dân sự.

Chính từ đặc điểm này mà người tham gia HĐBH con người khi ký hợpđồng cần cân nhắc dựa trên mức thu nhập, khả năng tài chính để quyết định sốtiền tham gia phù hợp

2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm con nguời không áp dụng nguyên tắc bảo hiểm trùng và nguyên tắc thế quyền

Điều 44 Luật KDBH có nêu “bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảohiểm giao kết HĐBH với hai DNBH trở lên để bảo hiểm cho cùng một đốitượng với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm”

Khoản 2 Điều 44 có quy định: tổng số tiền bồi thường của các DNBHkhông vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản Vì thế mà HĐBH con ngườikhông áp dụng nguyên tắc này Và một thực tế là đối tượng HĐBH con ngườikhông thể tính toán được thành tiền nên nếu một người tham gia đồng thời nhiềuHĐBH với nhiều DNBH khác nhau thì họ có quyền nhận đầy đủ các khoản tiền

từ các DNBH đó theo thoả thuận trong hợp đồng, chứ không bị giới hạn về giátrị thiệt hại giống như bảo hiểm tài sản

Trong HĐBH con người cũng không áp dụng nguyên tắc thế quyền Điều

đó có nghĩa là người bảo hiểm sau khi đã thanh toán, chi trả số tiền bảo hiểm,không được phép thế quyền người tham gia bảo hiểm hay người thụ hưởngquyền lợi bảo hiểm để khiếu nại người thứ ba truy đòi số tiền bảo hiểm tươngứng Hay nói cách khác, một người có thể đồng thời nhận nhận được khoản chitrả thanh toán của công ty bảo hiểm và khoản bồi thường của người thứ ba gâythiệt hại Đặc điểm này mang lại lợi ích cho khách hàng khi tham gia HĐBH conngười

2.2.3 Hợp đồng bảo hiểm con người đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm

Trước hết đặc điểm này thể hiện ngay trong các loại HĐBH, bởi mỗi đốitượng của bảo hiểm con người: tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn đều có thể

Trang 12

làm nên một hợp đồng riêng và trong mỗi loại hợp đồng có nhiều sản phẩm khácnhau ví dụ trong HĐBH nhân thọ thì có bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ,

Không giống như bảo hiểm tài sản chỉ góp phần khắc phục hậu quả khiđối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, bảo hiểm con người đáp ứng được rấtnhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm như HĐBH hưu trí sẽđáp ứng yêu cầu tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng Bảo Việt -tập đoàn tài chính bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Việt Nam đã ghi nhận mục đíchcủa các sản phẩm bảo hiểm hưu trí là “mang đến sức khoẻ và an nhàn cho tuổigià, đảm bảo khoản lương hưu ổn định cho tất cả mọi người, cả nguời đã có vàchưa có bảo hiểm xã hội Thể hiện lòng hiếu thảo đối với những người thân yêuhoặc quan tâm đến chính bản thân”.23 Còn bảo hiểm tử kỳ sẽ giúp người thamgia bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền khi họ bị tử vong HĐBH tai nạncon người giúp người tham gia khắc phục khó khăn khi gặp tai nạn Chính vìđặc điểm này của HĐBH con người làm cho hợp đồng này chiếm khối lượnglớn trên thị trường bảo hiểm, thu hút nhiều người tham gia

2.2.4 Các loại hợp đồng trong bảo hiểm con người rất đa dạng, phức tạp

Thứ nhất: Trong HĐBH con người có các sản phẩm bảo hiểm khác nhaurồi mỗi một hợp đồng có sự khác nhau của thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểmrồi độ tuổi của người tham gia

Thứ hai: Chủ thể trong HĐBH con người có thể có bốn bên tham gia:Người bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụhưởng quyền lợi bảo hiểm Đặc điểm này chỉ có duy nhất trong HĐBH conngười và vì thế làm cho hợp đồng này phức tạp hơn

2.2.5 Hợp đồng bảo hiểm con người chịu ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định

Thật vậy khi điều kiện kinh tế phát triển, áp lực cuộc sống giảm đi, họkhông phải lo cho cuộc sống hàng ngày thì lúc đó họ mới có thể nghĩ đến bảohiểm Ở các nước kinh tế phát triển (bảo hiểm nhân thọ loại hình chủ yếu củabảo hiểm con người đã ra đời và phát triển rất lâu) còn những nước kém pháttriển hoặc đang phát triển thì hình thức bảo hiểm này hoặc là chưa có hoặc là

Trang 13

mới bước đầu triển khai Ngoài ra bảo hiểm con người còn phụ thuộc vào rấtnhiều các yếu tố khác như đường lối chính sách, trình độ học vấn của ngườidân…

2.3 Phân loại hợp đồng bảo hiểm con người

* Theo thời hạn bảo hiểm

HĐBH con người được chia ra làm hai loại:

+ HĐBH con người ngắn hạn: Là loại hợp đồng mà trong đó người thamgia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm trong một thời hạn ngắn thường là mộtnăm trở xuống Người bảo hiểm cam kết thanh toán trợ cấp khi có các rủi ro bảohiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm

+ HĐBH con người dài hạn: Là loại hợp đồng mà trong đó người thamgia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm trong một thời hạn dài thường là trên mộtnăm cho đến hết đời

* Theo hình thức bảo hiểm

HĐBH con người cũng được chia ra làm hai loại:

+ HĐBH con người bắt buộc: Là hợp đồng mà theo pháp luật bắt buộccác đối tượng phải tham gia ví dụ như bảo hiểm tai nạn hành khách

+ HĐBH con người tự nguyện: Là hợp đồng mà theo đó người được bảohiểm hoặc người tham gia bảo hiểm có thể đưa ra rất nhiều nhu cầu bảo hiểm,còn người bảo hiểm có thể chấp nhận hay không chấp nhận là tuỳ theo sự thoảthuận và cam kết Tính tự nguyện khiến người bảo hiểm phải phục vụ tốt hơn,cung cấp các dịch vụ tốt hơn đến khách hàng

* Theo rủi ro bảo hiểm

HĐBH con người có các loại sau:

+ HĐBH nhân thọ: Là hợp đồng bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro liênquan đến tuổi thọ của con người và được chia ra làm các loại sau:

HĐBH tử kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểmchết trong thời hạn thoả thuận thì doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng

Trang 14

HĐBH sinh kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểmsống đến hết thời hạn thoả thuận, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng.

HĐBH hỗn hợp: Là loại HĐBH kết hợp cả hai loại nghiệp vụ bảo hiểm

đó là: bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ

+ HĐBH phi nhân thọ: Là loại hợp đồng chỉ liên quan đến các rủi ro nhưbệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong Đặc điểm này không liênquan đến tuổi thọ của con người

2.4 Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con người

Để tồn tại và phát triển thì HĐBH con người phải đáp ứng được các mụcđích của người tham gia trong hiện tại cũng như nhu cầu đảm bảo cho tương laisau này Thực tế khi ký kết HĐBH con người có vai trò không chỉ đối với ngườitham gia bảo hiểm, DNBH mà còn đối với cả sự phát triển kinh tế của đất nước

2.4.1 Đối với người tham gia bảo hiểm

HĐBH con người góp phần ổn định đời sống, là chỗ dựa tinh thần chongười tham gia cũng như người được hưởng bảo hiểm Như trên chúng ta đã biếtcon người phải lao động để duy trì cuộc sống và chính trong quá trình lao độngcon người luôn phải đối mặt với rủi ro Nếu không may xảy ra rủi ro thì gia đìnhkhông những mất thu nhập mà còn phải bỏ ra rất nhiều chi phí để trang trải khókhăn Việc tham gia HĐBH con người sẽ phần nào giải quyết những khó khăntrước mắt đó

Trên báo Tiền Phong với nhan đề “Bảo hiểm nhân thọ, sự an tâm là vôgiá” khách hàng đã cho biết “nếu có điều kiện chúng ta nên tham gia bảo hiểmnhân thọ bởi lẽ nhu cầu bảo vệ tài chính cho gia đình là rất cần thiết Tất nhiênchẳng ai mong đợi những điều không may xảy ra, nhưng bảo hiểm sẽ mang đến

sự an tâm cho gia đình trước những bất chắc và giảm gánh lo về tài chính những

lúc ngặt nghèo Đối với tôi, sự an tâm là vô giá".15 Sự an tâm giúp con người

vượt qua khó khăn, tiếp tục cuộc sống đảm bảo tương lai sau này

Tất nhiên trong hiện tại có rất nhiều hình thức khác nhau có thể đảm bảocho cuộc sống hiện tại cũng như tương lai nhưng bảo hiểm con người luôn góp

Trang 15

phần không nhỏ vào sự đảm bảo ấy (tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểmchuyển những rủi ro của mình mình cho DNBH).

2.4.2 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Mỗi doanh nghiệp có những ngành nghề kinh doanh nhất định, có nhữngngành gây nguy hiểm cao cho cuộc sống con người, có những ngành gây nguyhiểm chỉ ở một chừng mực nào đó Cho dù ở mức độ nào đi nữa thì rủi ro, tainạn lao động luôn luôn là nguy cơ tiềm ẩn và nó ảnh hưởng không những đếnsản xuất kinh doanh do thiếu lao động mà quan trọng hơn là ảnh hưởng đến khảnăng tài chính của doanh nghiệp Vì vậy tham gia HĐBH con người góp phần

ổn định tài chính và sản xuất cho doanh nghiệp

Hơn thế nữa các chủ sử dụng lao động thường mua bảo hiểm sinh mạngcho người làm công, việc này không những đảm bảo cuộc sống ổn định chongười lao động mà còn tạo nên sự gắn bó giữa chủ sử dụng và người làm công

ăn lương (đây là điều kiện thúc đẩy sản xuất)

Đó là đối với doanh nghiệp nói chung còn đối với DNBH nói riêng việctham gia HĐBH con người của khách hàng sẽ góp phần tăng doanh thu, mởrộng quy mô hoạt động để cung cấp thêm nhiều sản phẩm cho con người Đây làyếu tố quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thịtrường cạnh tranh như ngày nay

2.4.3 Đối với sự phát triển kinh tế

Thông qua HĐBH con người (có đối tượng tham gia đông đảo) các nhàbảo hiểm thu phí bảo hiểm để hình thành nên quỹ bảo hiểm Quỹ này chủ yếuđược sử dụng vào mục đích bồi thường, khi nhàn rỗi nó sẽ là nguồn vốn đầu tưhữu ích góp phần phát triển kinh tế

Một đặc điểm nữa của hợp đồng bảo hiểm con người thường là hợp đồngdài hạn nên số vốn của các công ty bảo hiểm thường rất lớn “Tính đến năm

2002 toàn ngành bảo hiểm Việt Nam đã đầu tư 8000 tỷ đồng vào sự phát triểncủa nền kinh tế quốc dân”.12, tr.10 Bên cạnh đó nếu chúng ta nhìn nhận từkhía cạnh con người thì chúng ta không thể phủ nhận rằng con người là nhân tố

Trang 16

phát triển kinh tế Việc tham gia hợp đồng bảo hiểm con người giúp cho mỗingười an tâm sản xuất phục vụ cho sự phát triển kinh tế.

Cuối cùng HĐBH con người là công cụ hữu hiệu để huy động nhữngnguồn tièn mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp nhân dân để thực hiện tiết kiệm góp phầnchống lạm phát

2.4.4 Hợp đồng bảo hiểm con người tạo cơ hội việc làm cho người lao động

Các DNBH ra đời cung cấp các sản phẩm đến người dân đồng thời tuyểndụng người lao động vào làm việc Thực tế hiện nay các DNBH trong nền kinh

tế thị trường đang sử dụng số lượng lớn các đại lý tiếp thị bán sản phẩm Theo

số liệu thống kê thì ở Mỹ có gần 2 triệu người lao động làm việc trong ngànhbảo hiểm Hồng Kông 20.000 người làm việc ở các công ty bảo hiểm (dân số là

6 triệu người) Còn ở Việt Nam năm 2002 bảo hiểm thu hút 90.000 lao động làmviệc trong đó bảo hiểm nhân thọ là 74.494 người

Khi người dân có công ăn việc làm sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hộiđồng thời giải quyết được các vấn đề mà cả xã hội quan tâm

2.5 Các yếu tố của hợp đồng bảo hiểm con người

2.5.1 Chủ thể

Từ khái niệm hợp đồng dân sự nói chung và HĐBH nói riêng thì hợpđồng là sự thoả thuận giữa các bên chủ thể Một hợp đồng nói chung thường cóhai bên chủ thể nhưng do đặc điểm của đối tượng mà HĐBH con người bao gồmcác chủ thể sau:

Doanh nghiệp bảo hiểm

Khoản 5 Điều 3 Luật KDBH có khái niệm: “ DNBH là doanh nghiệpđược thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật này và các quy địnhcủa pháp luật có liên quan để KDBH và tái bảo hiểm”

Còn theo “Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ” của Hiệp hộibảo hiểm Việt Nam có định nghĩa: “Người bảo hiểm là các doanh nghiệp bảohiểm nhận bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và có trách nhiệm thực hiện đúng cáccam kết, lời hứa với người tham gia bảo hiểm”

Trang 17

Cả hai khái niệm trên đều nhấn mạnh đến khía cạnh thành lập và hoạtđộng của DNBH Khác với Việt Nam, Bộ luật dân sự và thương mại Thái LanĐiều 862 có định nghĩa “người bảo hiểm nghĩa là bên mà đồng ý bảo hiểm hoặc

trả một số tiền” Định nghĩa này chú trọng đến hoạt động mà DNBH thực hiện.

Nếu so sánh giữa hai nước thì quy định của Thái Lan đơn giản hơn và ít đề cậpđến khía cạnh pháp lý cho việc thành lập của DNBH

Bên mua bảo hiểm

Theo khoản 6 Điều 3 Luật KDBH thì “bên mua bảo hiểm là các tổ chức,

cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo

hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người đượcbảo hiểm hoặc người

thụ hưởng”

Theo “Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ” của Hiệp hội bảohiểm Việt Nam có định nghĩa: “doanh nghiệp người tham gia bảo hiểm là các tổ

chức cá nhân chuyển giao rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, đóng phí bảo

hiểm” Vì vậy bên mua bảo hiểm có thể là tổ chức, cá nhân yêu cầu bảo hiểm vàđóng phí bảo hiểm để đảm bảo cho cuộc sống hiện tại cũng như tương lai saunày (đó là sự đảm bảo cả về vật chất lẫn tinh thần)

Người được bảo hiểm

Theo khoản 7 Điều 3 Luật KDBH “người được bảo hiểm là các tổ chức,

cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồngbảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng”

Với khái niệm trên thì người được bảo hiểm trong HĐBH con người làchủ thể có tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng Khái niệm này chưa thểhiện hết được các đối tượng của HĐBH con người vì ngoài tính mạng còn cósức khoẻ, tuổi thọ, tai nạn con người cũng là đối tượng của HĐBH con người

Người được bảo hiểm có thể là những người đã trưởng thành có đủ nănglực chủ thể để tự ký hợp đồng cho mình và cũng có thể là những người chưa đủtuổi thành niên phải do người khác (có thể là cha mẹ hoặc người giám hộ) đứng

ra ký HĐBH

Trang 18

Người thụ hưởng

Theo khoản 8 Điều 3: “Người thụ hưởng là các tổ chức, cá nhân được bên

mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con

người” Khái niệm này đã khẳng định rõ chủ thể là người thụ hưởng chỉ có trongHĐBH con người, còn HĐBH tài sản hay HĐBH trách nhiệm dân sự không cóchủ thể này Để có thể là người thụ hưởng thì điều kiện bắt buộc là phải đượcbên mua bảo hiểm chỉ định (thể hiện ý chí chủ quan của bên mua bảo hiểm)

2.5.2 Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người

Theo khoản 1 Điều 31 Luật KDBH có nêu “đối tượng của HĐBH con

người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ, tai nạn con người”

Tuổi thọ

Trong HĐBH con người có đối tượng là tuổi thọ tức là người bảo hiểm sẽtrả cho người được bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một sốtiền nhất định khi có những sự kiện bảo hiểm xảy ra (nếu người được bảo hiểmsống hoặc chết tại một thời điểm nhất định) và nó liên quan đến tuổi thọ của conngười

Tai nạn

Đó là việc bảo hiểm cho các trường hợp tai nạn xảy ra gây thiêt hại vềthân thể con người Nhưng không phải mọi trường hợp tai nạn xảy ra gây thiệthại về thân thể đều được coi là đối tượng của HĐBH con người mà điều kiện lànhững thiệt hại đó bắt nguồn duy nhất và trực tiếp từ một tai nạn do vật thể hữuhình tác động từ bên ngoài gây ra và là nguyên nhân trực tiếp, độc lập với cácnguyên nhân khác dẫn đến tử vong hoặc thương tật

Với đối tượng này hiện nay có các loại hình HĐBH con người phổ biếnnhư là bảo hiểm tai nạn con người 24/24h và bảo hiểm tai nạn hành khách

Sức khoẻ

HĐBH con người trong trường hợp này sẽ bảo hiểm khi người tham gia(hay người được bảo hiểm) phải nghỉ việc do ốm đau, tai nạn mất khả năng laođộng (vì lý do ốm đau hoặc tai nạn hoàn toàn không thể theo đuổi nghề nghiệpghi trong đơn bảo hiểm và không thể theo đuổi bất kỳ một nghề nào khác) Hiện

Trang 19

nay các công ty bảo hiểm thường triển khai các sản phẩm bảo hiểm hỗ trợ “bảohiểm chi phí phẫu thuật” bên cạnh sản phẩm chính ( ví dụ như Bảo Việt quyđịnh khách hàng khi tham gia bảo hiểm An Khang Thịnh Vượng thì được muathêm sản phẩm bảo hiểm hỗ trợ trên) Mục đích là nhằm bảo vệ sức khoẻ chocon người.

Tính mạng

Việc bảo hiểm liên quan đến sự sống của con người Nếu không thuộc cáctrường hợp sau thì mọi trường hợp khi tử vong đều được nhận tiền bảo hiểm.Theo khoản 1 Điều 39 Luật KDBH: DNBH không phải trả tiền bảo hiểm trongcác trường hợp sau đây:

a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn hai năm, kể từngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc từ ngày hợp đồng có hiệu lực;

b) Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn dolỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;

c) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình

Trong các hợp đồng có đối tượng là tuổi thọ, sức khoẻ con người đều đềcập đến trường hợp nếu xảy ra trường hợp tử vong thì giải quyết quyền lợi nhưthế nào Có quy định như vậy là do tính mạng con người là vô giá không gì cóthể bù đắp thay thế được

2.5.3 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm con người

Bao gồm các điều khoản mà thông qua đó các bên chủ thể thực hiệnquyền và nghĩa vụ của mình Do HĐBH con người cũng là HĐBH nên theoĐiều 13 Luật KDBH nội dung của nó bao gồm các điều khoản chủ yếu sau:

Tên, địa chỉ của DNBH, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng

Việc quy định này là rất cần thiết và đối với mỗi chủ thể nó có ý nghĩakhác nhau Đối với doanh nghiệp (tên, địa chỉ) thể hiện tư cách pháp lý củadoanh nghiệp đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ cho hoạt động KDBH Đốivới các chủ thể khác là điều kiện tiền đề để hợp đồng được thực hiện, đảm bảoquyền lợi của hai bên

Trang 20

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người

Đây là yếu tố không thể thiếu của HĐBH nói chung và HĐBH con ngườinói riêng Như trên chúng ta đã biết đối tượng của HĐBH con người là tuổi thọ,tính mạng, sức khoẻ, tai nạn con người; người tham gia bảo hiểm có thể lựachọn các đối tượng cho phù hợp với điều kiện và khả năng của mình để đạt đượcmục đích đảm bảo cho cuộc sống, là chỗ dựa tinh thần nếu không may rủi ro xảyra

Số tiền bảo hiểm

Theo khái niệm mà Prudential (tập đoàn bảo hiểm nhân thọ của Anh ) đưa

ra thì: “số tiền bảo hiểm là mệnh giá HĐBH được bên mua bảo hiểm và DNBHthoả thuận trong hợp đồng và khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì DNBH phải trảtiền bảo hiểm”.24

Như trên chúng ta đã nghiên cứu đối tượng của HĐBH con người khôngthể tính toán được thành tiền nên số tiền bảo hiểm trong hợp đồng này do cácbên tự thoả thuận, không phụ thuộc vào đối tượng bảo hiểm Hơn thế nữa tậpđiều khoản của HĐBH con người là các tập điều khoản mẫu do một bên(DNBH) đưa ra nên số tiền sẽ do bên tham gia bảo hiểm lựa chọn theo các mức

có sẵn Theo đó dù thiệt hại xảy ra trong thực tế có lớn hơn nhiều lần so với sốtiền bảo hiểm thì bên bảo hiểm vẫn chỉ phải bảo hiểm tối đa bằng số tiền bảohiểm được xác định theo thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định củapháp luật

Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm xác định nghĩa vụ mà DNBH phải trả tiền bảo hiểmđồng thời quy định quyền được hưởng quyền lợi bảo hiểm của người tham giabảo hiểm Ví dụ việc quy định phạm vi rủi ro

Điều kiện bảo hiểm: là điều kiện được xác định rõ trong HĐBH hoặcđược pháp luật quy định trước, theo đó bên mua bảo hiểm chỉ được mua bảohiểm cho các đối tượng bảo hiểm khi đã đáp ứng được các điều kiện đó TrongHĐBH con người có quy định:

Trang 21

Người tham gia bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm theo đốitượng bảo hiểm Khoản 2 Điều 31 Luật KDBH 2000 bên mua bảo hiểm chỉ cóthể mua bảo hiểm cho những người sau đây:

a) Bản thân bên mua bảo hiểm;

b) Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

c) Anh, chị, em, ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng và cấpdưỡng;

d) Người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể đượcbảo hiểm

Điều khoản bảo hiểm: Là điều khoản quy định các quyền và nghĩa vụ cơbản của các bên Ngoài các điều khoản chính còn có các điều khoản bổ sung

Theo Điều 17 và Điều 18 Luật KDBH quy định quyền và nghĩa vụ củaDNBH, bên mua bảo hiểm

Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

+ Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

a) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng

Mục đích chính của KDBH là thu phí bảo hiểm để đảm bảo cho hoạtđông sản xuất kinh doanh vì thế đây sẽ là quyền cơ bản của DNBH Việc thu phínày là cơ sở trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

b) Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liênquan đến việc giao kết và thực hiện HĐBH

Các thông tin của bên mua bảo hiểm là cơ sở để DNBH xem xét để đi đến

ký kết hợp đồng Do những sự kiện bảo hiểm xảy ra trong tương lai không ai cóthể biết được nên các thông tin mà bên mua bảo hiểm đưa ra phải đầy đủ trungthực để đảm bảo quyền lợi hai bên Nếu có hành vi cố ý cung cấp thông tin sai

sự thật nhằm giao kết sẽ thuộc trường hợp làm cho hợp đồng vô hiệu mà chúng

ta nghiên cứu ở phần sau

c) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm con người theo cáctrường hợp:

Trang 22

Khi bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc khôngthực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin (khoản 2 Điều 19).

Khi bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm vì có sự thayđổi những yếu làm cơ sở để tính phí, dẫn đến tăng các rủi ro (khoản 2 Điều 20)

Khi phí bảo hiểm được đóng nhiều lần mà bên mua bảo hiểm đã đóngmột lần hoặc một số lần mà người mua không thể đóng được các khoản phí bảohiểm tiếp theo sau thời hạn 60 ngày (khoản 2 Điều 35)

Luật liệt kê các trường hợp này để đảm bảo quyền lợi cho bên mua bảohiểm trước các hành vi cung cấp thông tin sai sự thật nhằm trục lợi bảo hiểmhoặc khi có biến động làm tăng các rủi ro

d) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thườngcho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệmbảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trongHĐBH

Khi ký kết HĐBH con người có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểmnhư: người được bảo hiểm chết do thi hành án tử hình hoặc trong trường hợpkhông thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì DNBH có quyền từ chối trả tiềnbảo hiểm

đ) Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chếtổn thất theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan

Khi tham gia HĐBH con người nếu rủi ro, tổn thất xảy ra khách hàng sẽđược nhận tiền bảo hiểm, bên cạnh đó nghĩa vụ của người được bảo hiểm phải

đề phòng hạn chế tổn thất (ví dụ: tham gia bảo hiểm tai nạn con người, ngườilao động phải áp dụng bảo hộ an toàn lao động)

e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật

+ Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

a) Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảohiểm; quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

Trang 23

Sự khó hiểu trong các tập điều khoản của HĐBH con người đòi hỏi bênbảo hiểm phải giải thích về các điều khoản, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảohiểm Thực tế có rất nhiều tranh chấp xảy ra do khách hàng không hiểu được cácđiều khoản này nên việc làm tốt các nghĩa vụ trên của DNBH sẽ hạn chế tốithiểu các tranh chấp xảy ra.

b) Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểmngay sau khi giao kết HĐBH

Quy định này là căn cứ xác định việc kí kết hợp đồng đã được thực hiệntrên thực tế hay chưa và là cơ sở pháp lí để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụcủa mình: Bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiển theo thoả thuận, cònDNBH trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thời hạn và quy địnhtrong hợp đồng

c)Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường chongười được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Bên bảo hiểm phải trả tiền hoặc bồi thường trong thời hạn đã được xácđịnh trong hợp đồng Trong trường hợp chưa có thoả thuận về thời hạn trả tiềnthì bên bảo hiểm trả tiền đó trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bên bảo hiểm đãnhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm Quy định trongvòng 15 ngày để đảm bảo mục đích khắc phục khó khăn và là chỗ dựa tinh thầncho người tham gia bảo hiểm

d) Giải thích bằng văn bản lí do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồithường

Khi nhận được thông báo này của DNBH, người tham gia bảo hiểm sẽkhông nhận được một lợi ích gì, mục đích tham gia của hợp đồng không còn.Thực tế diễn ra có nhiều trường hợp khách hàng bị từ chối trả tiền bảo hiểmtrong khi nguyên nhân không phải do họ Vậy trường hợp này giải quyết thếnào? Cho nên văn bản giải thích của DNBH là cơ sở để xem xét các nguyênnhân thực tế xảy ra có đúng không, tránh tình trạng bên bảo hiểm cố ý không trảtiền bảo hiểm

e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 24

Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

+ Bên mua bảo hiểm có quyền

a) Lựa chọn DNBH đang hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm

Đảm bảo cho người mua bảo hiểm được quyền lựa chọn các DNBH cómức phí thấp nhất đối với cùng một loại sản phẩm bảo hiểm, lựa chọn cácDNBH có uy tín không cần phân biệt doanh nghiệp trong nước hay nước ngoàimiễn là hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Ví dụ ở VN hiện nay có các DNBHnhân thọ lớn như: Bảo Việt, Prudential, AIA …là các doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài mà người dân có quyền lựa chọn sao cho có lợi nhất cho mình

b)Yêu cầu DNBH giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấychứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm Quyền này của bên mua bảo hiểm lànghĩa vụ của bên bảo hiểm Tất cả đều nhằm mục đích là hợp đồng thực hiệnđược thuận lợi

c) Đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH

“Khi DNBH cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết” (khoản 3Điều 19)

“Khi DNBH không chấp nhận giảm phí bảo hiểm khi có sự thay đổinhững yếu tố làm cơ sở tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảohiểm” (khoản 1 Điều 20) Song song với quy định DNBH có quyền đơn phươngđình chỉ thực hiện hợp đồng, luật cũng quy định bên mua bảo hiểm cũng cóquyền này để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và quyền lợi giữa hai bên chủ thể

d) Yêu cầu DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồithường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong HĐBH khi xảy ra sựkiện bảo hiểm Đây là mục đích chính của bên mua bảo hiểm để khắc phục rủi

ro xảy ra

đ) Chuyển nhượng HĐBH theo thoả thuận trong HĐBH hoặc theo quyđịnh của pháp luật Bên mua bảo hiểm được chuyển nhượng HĐBH cho ngườikhác trong trường hợp HĐBH đó có sự thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.Tuy nhiên thực tế việc chuyển nhượng HĐBH chỉ có thể thực hiện khi việcchuyển nhượng phải được thông báo cho bên bảo hiểm và chỉ coi là HĐBH đã

Trang 25

được chuyển nhượng khi bên bảo hiểm có văn bản chấp nhận hoặc xác nhận vềviệc chuyển nhượng hợp đồng.

e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật

+ Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:

a) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thoả thuậntrong HĐBH Đây là điều kiện dể duy trì hợp đồng, luật cũng đã quy định nếubên mua bảo hiểm không đóng phí đầy đủ theo thời hạn và phương thức thoảthuận thì bên bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng

b) Kê khai đầy đủ trung thực mọi chi tiết có liên quan đến HĐBH theoyêu cầu của DNBH Yêu cầu này thông thường đó là các chi tiết về đặc điểm,tính chất của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng là trungthực tuyệt đối nên nếu có hành vi gian dối trong việc kê khai sẽ là yếu tố làmcho hợp đồng không được thực hiện

c) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinhthêm các trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện HĐBH theo yêu cầucủa DNBH Vì việc tăng rủi ro là cơ sở để DNBH tính lại phí bảo hiểm cho thờigian còn lại của hợp đồng và việc thông báo này thể hiện tính trung thực củakhách hàng

d) Thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuậntrong HĐBH Bên mua bảo hiểm phải thông báo kịp thời cho bên bảo hiểm biếtkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm và phải thông báo một cách trung thực Nếu quathời hạn đã được xác định trong hợp đồng kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm

mà bên mua bảo hiểm không thông báo về việc đó thì DNBH có quyền từ chốithực hiện hợp đồng

đ) Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định củaluật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan Quy định này thể hiệntrách nhiệm của bên mua bảo hiểm, tránh tình trạng bên mua bảo hiểm cố ýkhông thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất để được nhận tiền bảohiểm trong khi có thể hạn chế được các tổn thất này Mục đích của quy định này

Trang 26

vừa đảm bảo quyền lợi cho DNBH vừa hạn chế các hành vi trục lợi bảo hiểmcủa khách hàng.

e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Trong HĐBH con người điều khoản này được coi là phần loại trừ trong

đó liệt kê các trường hợp bên bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm Phần loại trừ này thông thường được luật quy định trước vớimục đích tránh trường hợp người tham gia bảo hiểm lợi dụng HĐBH con người

để trục lợi cá nhân và qua đó bảo vệ cho các DNBH

Khoản 1 Điều 16 Luật KDBH: “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểmquy định trường hợp DNBH không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Điều khoản này giúp cho DNBH không phảitrả tiền do các sự kiện bảo hiểm xảy ra từ nguyên nhân chủ quan, từ lỗi cố ý củacác bên liên quan và đòi hỏi bên tham gia bảo hiểm phải hiểu rõ để bảo vệ choquyền lợi của chính mình

Thời hạn bảo hiểm

Là khoảng thời gian DNBH thực hiện trách nhiệm bảo hiểm, thời hạn bảohiểm do các bên thoả thuận HĐBH con người với HĐBH nhân thọ là chủ yếu

có thời hạn tương đối dài (HĐBH nhân thọ có thời hạn bảo hiểm ít nhất là 5năm)

Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm

Khoản 11 Điều 3 Luật KDBH: “phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên muabảo hiểm phải đóng cho DNBH theo thời hạn và phương thức do các bên thoảthuận trong hợp đồng”

Việc xác định phí khá phức tạp bởi nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau Quá trình định phí phải dựa trên nguyên tắc, cơ sở khoa học rồi cảcác giả định đưa ra như giả định tỷ lệ tử vong, lãi suất, chi phí và tỷ lệ hợp đồng

bị huỷ bỏ Các doanh nghiệp khi định phí phải đảm bảo trang trải đựơc các chiphí mà vẫn phải đảm bảo yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Trang 27

Phương thức đóng phí bảo hiểm: Do khả năng tài chính của mỗi người làkhác nhau, để thuận lợi cho khách hàng, để duy trì hiệu lực hợp đồng DNBHthường đưa ra các mốc thời gian khác nhau làm phương thức đóng phí bảohiểm: Có thể nộp phí hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, hàng năm, và 1 lần Theo

đó khách hàng khi ký kết có thể lựa chọn sao cho phù hợp với nhu cầu củamình

Thời hạn và phương thức trả tiền bảo hiểm

DNBH khi nhận phí bảo hiểm của khách hàng đồng nghĩa với việc trả tiềnbảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm.Việc trả tiền trong HĐBH phải thực hiện trong một thời hạn nhất định để đảmbảo được yêu cầu khắc phục khó khăn khi gặp rủi ro

Cách thức trả tiền bảo hiểm của DNBH tuỳ thuộc vào quy định trong hợpđồng, có thể trả 1 lần khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc sau khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm hoặc có thể trả khi hết thời hạn bảo hiểm

Các quy định giải quyết tranh chấp

Để hiểu hết nội dung của HĐBH nói chung và HĐBH con người nói riêngđòi hỏi mỗi người phải có trình độ chuyên môn nhất định Khi ký kết không phảimọi người đều hiểu hết được nội dung của hợp đồng này mặc dù có sự giúp đỡcủa các tư vấn viên bảo hiểm Vì vậy tranh chấp xảy ra là điều khó tránh khỏi.Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mà khách hàng không được nhận tiền từ các doanhnghiệp lúc đó có rất nhiều câu hỏi, thắc mắc đặt ra như “tôi nghĩ…”; “tôi khônghiểu …” nhưng khó có thể giải quyết thoả đáng quyền lợi của hai bên trongnhững trường hợp đó Dưới đây là một ví dụ:

Ông Ngô Viết Quế ký 03 HĐBH nhân thọ với công ty bảo hiểm quốc tế

Mỹ (AIA) Sau hai năm thực hiện, khách hàng đòi thanh lý hợp đồng yêu cầu trả lại tổng số tiền bảo hiểm đã đóng 16,5 triệu đồng Nhưng AIA chỉ thanh toán 2,8 triệu đồng Ông Quế kiện ra toà án.

Năm 2000 và 2001, ông Quế mua ba HĐBH nhân thọ loại hình An Sinh Thịnh Vượng và An Sinh Tích Luỹ 15 năm của AIA Các hợp đồng có trị giá 20,

Trang 28

30 và 50 triệu đồng Năm 2003 ông Quế xin ngưng hợp đồng sau khi đã đóng 16,5 triệu đồng Căn cứ vào điều khoản đã ký AIA chỉ hoàn 1/6 yêu cầu trên.

Ông Quế lúc này mới đọc lại hợp đồng, phát hiện ra những điều khoản khó hiểu, không sử dụng ngôn ngữ pháp lý Việt Nam Khách hàng của AIA kiện

ra toà, yêu cầu xử hợp đồng vô hiệu và AIA phải hoàn trả toàn bộ số tiền ông

đã đóng.

Ngày 7/5 toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ kiện trên Qua thẩm vấn các bên hội đồng xét xử nhận định: Sau khi ông Quế kí hợp đồng với AIA, tổng giám đốc có gửi thư với nội dung thông báo đã nhận hợp đồng và xác nhận khách hàng đã đọc, hiểu các điều khoản ghi trong đó Sau 21 ngày kể

từ khi ký hợp đồng ông Quế vẫn có quyền từ chối mua bảo hiểm nhân thọ của AIA

Toà án bác lập luận của nguyên đơn cho rằng vì cả tin lúc mua bảo hiểm không đọc bản hợp đồng nên mất cảnh giác bị lừa dối Theo hội đồng xét xử, nội dung và hình thức của các hợp đồng phù hợp với Luật KDBH, Bộ luật dân

sự và đều qua thẩm định của bộ tài chính Các sản phẩm của công ty được nhà nước cho phép Đặc biệt trong hợp đồng có ghi rõ nếu ngưng hợp đồng khi chưa đến hai năm thì sẽ không được hoàn tiền Ông Quế chỉ có 1 trong 3 hợp đồng được thực hiện được 2 năm nên đựơc nhận tiền theo giá trị giải ước 2,8 triệu đồng là đúng Từ những nhận định trên toà bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.16

Ngày tháng năm giao kết hợp đồng

Đây là yếu tố cần thiết để xác định hiệu lực của hợp đồng cũng như hợpđồng chấm dứt hiệu lực khi nào Đồng thời nó cũng là căn cứ để các bên thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình tránh tranh chấp xảy ra

Trên đây là những nội dung cơ bản của HĐBH con người Tuy nhiên theokhoản 2 Điều 13 quy định ngoài nội dung quy định tại khoản 1 điều này HĐBHcòn có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận Điều đó có nghĩa sự thoảthuận nhất trí của hai bên cũng được ghi nhận làm thành các nội dung của hợpđồng và hợp đồng vẫn có hiệu lực theo quy định Sự lừa dối ép buộc không dựa

Trang 29

trên ý chí chủ quan của con người khi ký kết hợp đồng sẽ là điều kiện loại trừlàm mất hiệu lực của hợp đồng Chúng ta sẽ xem xét điều kiện có hiệu lực củaHĐBH con người.

2.6 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm con người

2.6.1 Do HĐBH con người cũng là hợp đồng dân sự nên nó phải thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Điều kiện về năng lực hành vi của chủ thể tham gia

Chủ thể tham gia HĐBH con người phải có năng lực hành vi dân sự Đốivới bên nhận bảo hiểm phải là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập theoquy định của pháp luật để KDBH Bên tham gia bảo hiểm có thể là cá nhân(điều hiện là lớn hơn hoặc bằng 18 tuổi), hoặc có thể là tổ chức Nếu cá nhânnhỏ hơn 18 tuổi và không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì hợpđồng bảo hiểm không có hiệu lực tại thời điểm giao kết

Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng

Việc tham gia ký kết HĐBH con người thoả mãn mục đích của các bêntham gia là không đủ Nó đòi hỏi không vi phạm điều cấm của pháp luật vàkhông trái đạo đức xã hội Và mục đích của các bên thể hiện trong các điềukhoản của hợp đồng vì mục đích nào thì phải có nội dung phù hợp

Điều kiện về tính tự nguyện của chủ thể tham gia bảo hiểm

Tự nguyện là sự thống nhất ý chí bên trong của một chủ thể với hình thứcbiểu hiện ra bên ngoài Điều kiện này là sự cụ thể hoá nguyên tắc tự do, tựngưyện cam kết, thoả thuận của các chủ thể tham gia hợp đồng

Điều kiện về hình thức

Điều 14 Luật KDBH: HĐBH con người phải được lập thành văn bản Cácbên khi kí kết HĐBH con người phải lập thành văn bản nếu không hợp đồng sẽkhông có giá trị pháp lí

2.6.2 Ngoài ra để HĐBH con người có hiệu lực thì cần phải thoả mãn những điều kiện sau

Theo Điều 22 Luật KDBH quy định 4 trường hợp HĐBH vô hiệu Vậy để

có hiệu lực thì HĐBH con người có điều kiện là:

Trang 30

Bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm

Theo khái niệm Prudential đưa ra: “quyền lợi có thể dược bảo hiểm là mốiquan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm trong đó sự rủi ro củangười được bảo hiểm sẽ gây tổn thất về tài chính hoặc tinh thần cho bên muabảo hiểm”.24

Còn theo khoản 9 Điều 3 Luật KDBH thì quyền lợi có thể được bảo hiểmtrong HĐBH con người đó là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối vớiđối tượng được bảo hiểm Tức là trong HĐBH con người thì người tham gia bảohiểm ngoài họ ra, họ phải là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối vớingười được bảo hiểm Vì vậy dù trong thời hạn HĐBH có hiệu lực mà ngườitham gia bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm khi xảy ra sự kiệnnhất định thì HĐBH con người được coi là chấm dứt tại thời điểm xảy ra sự kiện

đó Những quyền lợi chưa phát sinh hoặc đã chấm dứt thì không phải là quyềnlợi có thể được bảo hiểm

Ví dụ 1: Chồng mua bảo hiểm cho vợ trong thời hạn là 5 năm Khi chưahết thời hạn 5 năm xảy ra sự kiện li hôn (chấm dứt quan hệ hôn nhân) không cònquyền lợi có thể dược bảo hiểm

Ví dụ 2: Khi chưa kết hôn thì một người chưa có thể nói là mua bảo hiểmcho một người khác sẽ là vợ mình trong tương lai (chưa có quan hệ hôn nhân)không có quyền lợi có thể được bảo hiểm

Đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng

Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên hiệu lực của HĐBHnói chung và HĐBH con người nói riêng Chúng ta không thể giao kết HĐBHcon người mà không xác định được đối tượng được bảo hiểm hoặc xác địnhđược đối tượng mà đối tượng đó không tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng.Yêu cầu được đặt ra là đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại và được xác định rõtrong giấy yêu cầu bảo hiểm và tại thời điểm giao kết hợp đồng phải tồn tại trênthực tế đúng như hiện trạng quy định trong đơn bảo hiểm Điều kiện này hạn chếnguy cơ trục lợi bảo hiểm, đảm bảo quyền lợi không những cho DNBH mà cảđối với bên tham gia bảo hiểm

Ngày đăng: 26/03/2013, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w