1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

41 2,8K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các loại hình công ty bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Trung Thịnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Định
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế bảo hiểm
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BỘ MÔN KINH TẾ BẢO HIỂM

  

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

Đề tài:

CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN VĂN ĐỊNH

Sinh viên thực hiện : TRẦN TRUNG THỊNH

Lớp : KINH TẾ BẢO HIỂM 40A

Hà Nội, 12/2001

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Đến nay trên thế giới bảo hiểm đã phát triển một cách hoàn thiện về sốnghiệp vụ Bảo hiểm ra đời nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của xã hội,của con người Đã có những nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc và có những đơnbảo hiểm đặc biệt Trước sự phát triển ngày một lớn mạnh như vậy, bảo hiểmViệt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện mình để hòa nhập với sự phát triểnchung của bảo hiểm thế giới Từ chỉ có một công ty bảo hiểm duy nhất, Công

ty bảo hiểm Việt Nam hoạt động từ 15/01/1965 theo quyết định số 179CPngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay đã có một loạt các công

ty bảo hiểm được thành lập do yêu cầu khách quan phù hợp với đòi hỏi củanền kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay

Để nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn các hoạt động của các Công ty bảo hiểm

Việt Nam hiện nay em xin nghiên cứu đề tài: "Các loại hình Công ty Bảo

hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay" Do khả năng và kinh nghiệm còn

hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiếu sót em mong được bộmôn Kinh tế Bảo hiểm cùng thầy giáo hướng dẫn góp ý để cho bài viết đượchoàn thiện hơn

Đồng thời em cũng gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn TS - NguyễnVăn Định đã tận tình giúp đỡ em để em hoàn thành trong quá trình viết đề tàinày

Trang 3

PHẦN 1: SƠ LƯỢC VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI VÀ CÁC LOẠIHÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI.

I LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA NGÀNH BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa, trong lịch sử nền văn minh nhânloại mà thậm chí cho tới hiện nay, người ta vẫn chưa xác định được bảo hiểmxuất hiện từ khi nào Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy được phế tích củanhững ngôi nhà, tác phẩm nghệ thuật, hoặc những dấu tích còn sót lại của cácnền văn minh xưa kia, tuy nhiên, việc tái lập một cách chính xác cách thức mànhững thị dân đầu tiên đã sử dụng để tổ chức các hoạt động dịch vụ trong nềnkinh tế lại là một điều khó khăn Tuy nhiên, trong số những dấu tích vật chấtgây ấn tượng của văn minh thời tiền sử, thời cổ đại, thời trung cổ và thời cậnđại, các kho lúa nơi mọi người dự trữ lương thực để mọi người sử dụng trongtrường hợp khẩn cấp

Như vậy bảo hiểm xuất hiện như là một phương cách xử lý rủi ro, tổnthất mà con người phải đối phó hàng ngày trong đời sống sinh hoạt sản xuấtcủa mình Cách xử lý đó dự trên ý niệm "Cộng đồng hóa rủi ro, hiểm họa"

Lịch sử bảo hiểm thế giới cho thấy ý niệm cộng đồng hóa nói trên đãhình thành từ xa xưa, mặc dù, còn ở hình thức rất thô sơ

- Trung Quốc - 4500 năm trước công nguyên Người ta cho rằng ở thời

kỳ này các nhà lái buôn Trung Quốc đã biết hợp tác tổ chức chuyên chở tàisản của mỗi người phân tán trên nhiều thuyền khác nhau Cách làm như vậy,giúp cho mỗi người tránh việc phải gánh chịu tổn thất toàn bộ số hàng củamình Đây chính là cách làm "phân tán rủi ro", "cộng đồng hóa trước nhữngrủi ro"

- Baby love - 1700 năm trước công nguyên và Athenes - 500 năm trướccông nguyên Xuất hiện một hệ thống cho vay với lãi suất rất cao để mua vàvận chuyển hàng hóa Nếu hàng hóa bị mất mát, hư hại (do bất khả kháng)người vay không phải hoàn trả khoản tiền đã vay Hệ thống này sau này cònđược gọi là "cho vay mạo hiểm lớn"

Trang 4

- Xứ Rhodes - 916 năm TCN Hoàng đế xứ Rhodes đã ban hành luật

để bảo vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hànhtrình Các chủ hàng và chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phảicùng nhau gánh chịu Thể chế này ngày nay vẫn còn và được gọi là "quytắc tổn thất chung"

- Rome Tồn tại một hệ thống cho vay nặng lãi được gọi là "cho vaymạo hiểm lớn" Sự cho vay trong các trường hợp mạo hiểm lớn đã sinh ra sựlạm dụng, do đó bị nhà nước bằng một sắc lệnh vào năm 1237 Chính sự cấmđoán này làm cho các chủ ngành hàng cho vay (không nặng lãi) mà có thểchắc chắn thu lại được số tiền đã cho vay Từ đó dần dần hình thành và đưavào sử dụng một hệ thống mới và đó là cơ sở sinh ra bảo hiểm hàng hải Cácnhóm nhà buôn chấp nhận được bảo hiểm giá trị con tàu và hàng hóa chuyênchở nhờ vào việc trả một khoản tiền qui định Cuối cùng vào thể kỷ 14, thỏathuận bảo hiểm hàng hải đầu tiên ra đời

- Italia - 1347 Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ đến ngàynay được phát hành tại Gênes Ở Pháp, còn giữ được một bản hợp đồng pháthành từ năm 1437 cũng bởi các nhà bảo hiểm Genois

- Hội bảo hiểm đầu tiên ra đời vào năm 1424 ở Gênes - Italia cho vậnchuyển đường biển và đường bộ

- Anh Quốc 1960 Nữ hoàng Anh Quốc cho phép các hoạt động kinhdoanh bảo hiểm được thực hiện trong thời gian 90 năm Năm 1720, các nhàbảo hiểm LLoyd's ra đời và sau đó, 60 năm họ nắm giữ 60% rủi ro hàng hảitrên thế giới

- Cũng ở Anh Quốc 1966 Xảy ra một vụ cháy lớn thiêu huỷ gần 13.000tòa nhà ở Luân Đôn làm nảy sinh nhu cầu bảo hiểm hỏa hoạn: 6 công ty bảohiểm hỏa hoạn ra đời sau đó (1667) Bảo hiểm hỏa hoạn dần dần lan sang cácnước Châu Âu khác như Pháp (1686)

- Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải nhưng dothiếu cơ sở khoa học nên bị cấm đoán bởi nhà thờ Đến thế kỷ 17, Ferma,

Trang 5

Pascal và sau đó là Bernqnlli khai sinh và phát triển xác suất thống kê toán.

Cơ sở khoa học của bảo hiểm đã hình thành Công ty bảo hiểm Nhân thọ rađời đầu tiên ở Anh vào năm 1762

- Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bảo hiểm phát triển để đảm bảo chohàng loạt các rủi ro mới: bệnh, ô tô, hàng không

Cũng như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm thương mại ra đờikhá sớm Đây là loại hình bảo hiểm có tính chất kinh doanh Trước côngnguyên ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “ quỹ tương trợ”

để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn Từ đó, hoạt động mang tính chấtbảo hiểm phát triển dần theo sự phát triển của xã hội loài người Nhữngnghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện liên tục Năm 1182, ở miền Bắc nước Italiaxuất hiện bản hợp đồng bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển; năm

1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn ở Anh xuất hiện; năm 1759 công ty bảohiểm Nhân thọ đầu tiên ra đời ở Mỹ; năm 1846 công ty tái bảo hiểm chuyênnghiệp đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Đức vv Có thể nói, cácnghiệp vụ bảo hiểm kế tiếp nhau ra đời ở tất cả các nước trên thế giới Bảohiểm nói chung và bảo hiểm thương mại nói riêng ngày càng quan trọng đốivới nền kinh tế, nó trở thành nhu cầu của mọi người, mọi đơn vị kinh tế; làđộng lực phát triển kinh tế - và có đóng góp xứng đáng vào GDP của mỗiquốc gia

Trang 7

Thị trường BHTM thế giới năm 1997

phí( triệu USD)

Thị phần so thịtrường thếgiới(%)

Phí bình quânđầu người(USD/người)

Cơ cấu trongGDP(%)

116 (86)

32.357.426.426.061.4323.052.660.630.230.200.150.120.01

2.570,6(03)2451,5(04)1666,1(11)2.203,6(05)4.289,7(01)3.896,0(02)1.232,3(18)10,9( 77)1.327,3(17)198,8( 34)52,2( 54)13,1( 75)1,5 ( 86)

8,94( 09)11,22(05 )6,53( 14)9,25( 07)11,94(03 )11,87(04 )15,42(02 )1,46( 62)5,14( 22)4,37( 26)2,44( 44)1,23 ( 68)0,46 (84)

( Nguồn: Thông tin thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm số 4-11/99) Ghi chú: trong ngoặc ( - - ) vị trí so thị trường thế giới.

II BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

1 Định nghĩa

Bảo hiểm thương mại(BHTM)- còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảohiểm kinh doanh - được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc

Trang 8

quản lý các rủi ro Manh nha của hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử vănminh nhân loại, từ thuở con người biết săn bắn tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, rồitích trữ phòng khi không kiếm được hay khi có chiến tranh vv Xã hội ngàycàng phát triển với các cuộc cách mạng công nghiệp, đến cách mạng thông tinthì bảo hiểm cũng ngày càng khẳng định sự có mặt không thể thiếu đượctrong mọi hoạt động của con người bởi rủi ro nhiều hơn và các nhu cầu về antoàn cũng lớn hơn.

Tuy nhiên, cho đến bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất vềBHTM mà người ta chỉ đưa ra các quan điểm về BHTM theo các góc độ tiếpcận khác nhau Với người Pháp thì “ Bảo hiểm là một hoạt động thông qua đómột cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trảnếu rủi ro xảy ra nhờ vào khoản đóng góp cho mình hay cho người khác.Khoản bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này cótrách nhiệm trước các rủi ro và bù trừ chúng theo đúng qui luật thống kê”

Trong khi đó, bằng cách nhìn nhận bảo hiểm như một cơ chế chuyểngiao rủi ro, một tập đoàn bảo hiểm lớn của Mỹ cho rằng: “ Bảo hiểm là một

cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyểnnhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người đượcbảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hạigiữa tất cả những người được bảo hiểm”(AIG)

2 Bản chất của BHTM

Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một "sự đóng góp của số đôngvào rủi ro của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộngđồng nhằm phân tích hậu quả tài chính của những vụ tổn thất Như vậy thựcchất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữangười bảo hiểm và người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểmxoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm - một hình thức đặc biệtcủa các khoản dự trữ bằng tiền

Trang 9

Các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn với việc tạo lập và phân phối quỹbảo hiểm được thể hiện ở hai mặt:

Một là, chúng nảy sinh trong quá trình huy động phí bảo hiểm để

lập quỹ bảo hiểm, nguồn thu hình thành quỹ bảo hiểm càng lớn khi số lượngngười tham gia bảo hiểm càng đông

Hai là, chúng nảy sinh trong quá trình sử dụng quỹ bảo hiểm Quỹ bảo hiểmtrước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho người đượcbảo hiểm khi xảy ra các rủi ro được bảo hiểm làm ảnh hưởng đến sự liên tụccủa đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nền kinh tế -

xã hội Quỹ bảo hiểm cần được sử dụng trang trải các chi phí hoạt động củachính người bảo hiểm, tham gia vào các mối quan hệ phân phối mang tínhpháp định (thuế, phí ) và mang lại lãi kinh doanh cho người bảo hiểm kinhdoanh

Như vậy, về bản chất, BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của mộthay một số ít người có khả năng cùng gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹchung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người cũng có khả nănggặp tổn thất đó thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm

Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc tuyệt đối hóa vaitrò kinh tế của nhà nước và kinh tế tập thể nói chung và sự độc quyền của nhànước trong lĩnh vực bảo hiểm đã làm cho các mối quan hệ của bảo hiểm trởnên đơn giản và việc sử dụng quỹ bảo hiểm trở nên kém hiệu quả Sự chuyểnhướng sang nền kinh tế thị trường hiện nay, như đã đề cập, đã tạo ra tiền đềkhách quan và cơ sở vững chắc cho các hoạt động bảo hiểm

Tuy nhiên bên cạnh đó, việc hình thành một nền kinh tế thị trườngnhiều thành phần sẽ làm cho các mối quan hệ kinh tế (trong đó có các mốiquan hệ thuộc bảo hiểm) sẽ trở nên đa dạng, phức tạp Bảo hiểm ở mọi góc độ(doanh nghiệp, sản phẩm, quản lý nhà nước, hiệp hội ) bức thiết phải xâydựng và hoàn thiện nhanh chóng nhằm phát huy chức năng vốn có của mình:bảo vệ con người, bảo vệ tài sản, của cải vật chất của xã hội

Trang 10

3 Vai trò tác dụng của bảo hiểm.

Hoạt động bảo hiểm thậm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển với nhiều thànhphần kinh tế, sự đa dạng của loại hình doanh nghiệp và các ngành nghề Sựphát triển các nhu cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội và của cải vậtchất, bảo hiểm và bảo đảm xã hội đòi hỏi hoạt động bảo hiểm phải thích ứngvới cơ chế thị trường và phát huy vai trò, tác dụng ở mọi lĩnh vực khác

Nhìn chung, vai trò tác dụng của bảo hiểm có thể được xét ở hai khíacạnh: kinh tế -xã hội và tài chính

3.1 Khía cạnh kinh tế - xã hội.

Rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại các đối tượng: của cải vật chất docon người tạo ra và chính bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinhhoạt của dân cư, ngừng trệ hoạt động sản xuất của nền kinh tế Nói chung nólàm gián đoạn và giảm hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội

Quỹ dự trữ bảo hiểm được tạo lập trước một cách có ý thức, khắc phụchậu quả nói trên, bằng cách bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập và đảmbảo tính thường xuyên liên tục của các quá trình xã hội Như vậy, trên phạm

vi rộng toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ antoàn và dự phòng, đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi chủ thể dân

cư và kinh tế Với vai trò đó, bảo hiểm khi thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnhvực của đời sống đã phát huy tác dụng vốn có của mình Thúc đẩy ý thức đềphòng - hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội

3.2 Khía cạnh tài chính:

Sản phẩm bảo hiểm là một loại dịch vụ đặt biệt: một lời cam kết đảmbảo cho sự an toàn (an toàn động), hơn nữa, nó là một loại hàng hóa trên thịtrường bảo hiểm thương mại Tổ chức hoạt động bảo hiểm với tư cách là mộtđơn vị cung cấp một loại sản phẩm dịch vụ cho xã hội, tham gia vào quá trìnhphân phối như là một đơn vị ở khâu cơ sở trong hệ thống tài chính của quốc

Trang 11

Bảng 3: Phí bảo hiểm toàn cầu theo khu vực.

Trang 12

Bảng 4: Cơ cấu đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm ở các nước phát triển năm

Nguồn: FFSA (L'Assurance Francaise 1996)

Với các vai trò trên, bảo hiểm phát huy tác dụng hết sức quan trọng đốivới nền kinh tế, đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế chuyển sang hoạt độngtheo cơ chế thị trường Tác dụng đó chính là: tập trung, tích tụ vốn đảm bảocho quá trình tái sản xuất (giản đơn và mở rộng) được thường xuyện và liêntục Tác dụng này càng quan trọng đối với nước ta hiện nay khi mà nó có thể

Trang 13

góp phần tích cực vào việc tăng số vốn đầu tư chính từ nội bộ của nền kinh tế,huy động và tận dụng một cách triệt để nhất các quỹ tiền tệ nằm rải rác trongdân cư.

Chính vì những tác dụng tích cực nói trên, của bảo hiểm, mà ở bất kỳquốc gia nào, dù đã phát triển hay đang phát triển, chính phủ luôn tìm nhiềucách khác để thúc đẩy, khuyến khích hoạt động bảo hiểm phát triển, tăng sốlượng các loại hình bảo hiểm bắt buộc, miễn giảm thuế thu nhập doanhnghiệp đối với người kinh doanh bảo hiểm hoặc miễn giảm thuế doanh thuđánh trên phí bảo hiểm, thuế thu nhập cá nhân đánh trên các khoản tiền bảohiểm được nhận lương đối với người được bảo hiểm, tạo điều kiện thuận lợicho nhà bảo hiểm đầu tư

III Đặc điểm của bảo hiểm thương mại.

Bảo hiểm thương mại là một bộ phận trong hệ thống bảo hiểm nóichung, là hoạt động bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảohiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại chỉ nhữnghoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sởngười được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm đều doanhnghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đãthỏa thuận trước trên hợp đồng

Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữadoanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng của mình (gọi là người được bảohiểm) còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa người bảo hiểm gốc và ngườinhận tái bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm và bao hàm các hoạt động củatrung gian bảo hiểm như: môi giới, đại lý

Hoạt động bảo hiểm nói chung, bảo hiểm bảo hiểm thương mại nóiriêng tạo ra được một "sự đóng góp của số đông vào rủi ro của số ít" trên cơ

sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quảtài chính của những vụ tổn thất Số người tham gia càng đông, tổn thất càngphân tán rộng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí

Trang 14

bảo hiểm mà người tham gia phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó khôngảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình Hoạtđộng theo qui luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm.

Bên cạnh đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhucầu bảo hiểm càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhữngngười được bảo hiểm không thể và cũng không cần biết nhau họ chỉ biểungười quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người nhận phí bảohiểm và cam kết sẽ bình thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra Hoạtđộng bảo hiểm thương mại tạo ra một sự hoán chuyển rủi ro từ những ngườiđược bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồngbảo hiểm Điều này đã tạo ra một rủi ro mới đe dọa mối quan hệ giữa hai bêntrên hợp đồng Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy

ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiệncam kết của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo "nguyêntắc ứng trước" Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm được minh thị rõràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phía người được bảo hiểm nàykhông để nhận lượng tiền bảo hiểm Như vậy, mối quan hệ mối quan hệ giữahai bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều nàyđoì hỏi phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản thứ hai là nguyên tắc "trung thựctuyệt đối"

Nhìn chung, bảo hiểm thương mại có một số đặc điểu sau:

- Trước tiên, hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động thỏathuận (còn gọi là bảo hiểm tự nguyện)

- Hai là, sự tương hỗ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong

"cộng đồng có giới hạn" một "nhóm đóng"

- Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho

các rủi ro bản thân mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm

IV Phân loại bảo hiểm thương mại.

1 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm.

Trang 15

Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụđược chia thành 3 nhóm.

+ Bảo hiểm tài sản

+ Bảo hiểm con người

+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

(1) Bảo hiểm tải sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảohiểm Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất,người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứvào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ bảo đảm thuận tiện hợp đồng

(2) Bảo hiểm con người: đối tượng của các loại hình này chính là tínhmạng, thân thể, sức khỏe của con người Người ký hợp đồng bảo hiểm nộpphí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởngđến tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụhưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả

(3) BHTNDS: (Bảo hiểm trách nhiệm dân sự)

BHTNDS có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộccủa các qui định phát sinh trong luật dân sự

Theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ

3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sảnthuộc sở hữu của chính mình

2 Phân loại bảo hiểm theo kỹ thuật bảo hiểm.

Đây là cách phân loại của các chuyên gia Pháp và châu Âu

+ Phân loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật "phân bổ"

+ Phân loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật "tồn tích vốn"

(1) Các loại bảo hiểm dự trên kỹ thuật phân bổ: là các bảo hiểm đảmbảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thườngđộc lập với tuổi thọ con người (nên gị là bảo hiểm phi nhân thọ Hợp đồngbảo hiểm loại này thường ngắn hạn (1 năm)

(2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn: là các loại bảo

Trang 16

hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đốitượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ)các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn.

3 Phân loại theo tính chất của khoản bồi thường.

+ Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường.+ Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi khoán.(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán:theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểmkhông bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế Các loại bảo hiểm này gồmcó: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểmthiệt hại), tuy nhiên ngày nay người ta có xu hướng đưa cả bảo hiểm tai nạn

và bệnh tật vào loại này - bảo hiểm IARN

(2) Các loại bảo hiểm có số tiền trả theo nguyên tắc khoán: người đượcbảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuậntrước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp vớinhu cầu cũng như khả năng đóng phí Đây chính là các loại bảo hiểm Nhânthọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn bệnh tật

4.Phân loại theo phương thức quản lý.

+ Bảo hiểm tự nguyện

+ Bảo hiểm bắt buộc

(1) Bảo hiểm tự nguyện: là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kếtlập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm.Đây là tính chất vốn có của Bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là mộthoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người

(2) Bảo hiểm bắt buộc: được hình thành trên cơ sử luật định nhằm bảo

vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nềnkinh tế xã hội Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người vàtài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường làđối tượng của bảo hiểm bắt buộc này

Trang 17

V Quá trình phát triển bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.

Lịch sử ra đời và phát triển bảo hiểm ở Việt Nam có thể khái quát thành

3 giai đoạn chính

+ Giai đoạn trước 1975

+ Giai đoạn từ sau 1975 đến trước 18/12/1993

+ Giai đoạn từ 18/12/1993 đến nay

1 Trước 1975.

Trước 1975 hoạt động kinh doanh bảo hiểm khá phát triển ở miền Nam,

đã có trên 52 công ty (trong nước, ngoài nước)

Các công ty trong nước được thành lập với hình thức hội vô danh và hộitương hỗ, các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công

ty chi nhánh, hầu hết các công ty đều đặt trụ sở ở Sài Gòn, là trung tâm kinh

tế lúc ở miền Nam lúc bấy giờ

Ở miền Bắc giai đoạn này Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) rađời theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/12/1964 duy nhất đạidiện cho ngành Bảo hiểm Việt Nam Trong thời gian này do đất nước có chiếntranh nên hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển, với 2 chi nhánh ở

Hà Nội và Hải Phòng, thực hiện chủ yếu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vậnchuyển

2 Giai đoạn từ 30/4/75 - 18/12/93.

Sau giải phóng miền Nam, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm cũcủa miền Nam đã dẫn đến thành lập công ty Bảo hiểm và tái bảo hiểm ViệtNam (BAVINA) Năm 1976 sau khi thống nhất đất nước BAVINA đượcchuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí

Như vậy thời gian này Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất của Nhànước hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kinh

tế thống nhất toàn ngành, điều này đã gây nên tình trạng độc quyên của BảoViệt Bảo Việt đã nghiên cứu triển khai các nghiệp vụ mới, đối nội lẫn đối

Trang 18

ngoại, nâng cấp lên thành Tổng công ty có chi nhánh ở khắp các địa phươngtrên cả nước.

3 Giai đoạn sau 18/12/93.

Ngày 18/12/93 trước nhu cầu cần thiết phải đổi mới nhằm đáp ứng yêucầu của một nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ đãban hành Nghị định 100/CP qui định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Với qui định này, thế độc quyền của Bảo Việt đã được phá vỡ, các tổchức bảo hiểm theo nhiều hình thức pháp lý khác thuộc nhiều thành phần kinh

tế có thể tham gia thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm ở Việt Nam, và do đómột số doanh nghiệp bảo hiểm đã ra đời: VINARE, BAOMINH, PJICO Các văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm ngoại quốc được mở cửanhằm tiến đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (INCHIBROK, VIA, PRUDENTIAL )

Như vậy sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tạo ra động lựccạnh tranh, tạo điều kiện để mạng lưới phân phối sản phẩm bảo hiểm ra đờimột cách rộng khắp (đại lý, chi nhánh) Người được bảo hiểm đã có thể lựachọn cho mình doanh nghiệp bảo hiểm phục vụ tốt nhất thay vì chỉ có mộtdoanh nghiệp bảo hiểm như trước đây

Trang 20

PHẦN II CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI.

I Công ty bảo hiểm nhà nước.

Là loại công ty thuộc sở hữu Nhà nước về vốn cũng như phương thứcquản lý, vì vậy trách nhiệm bảo tồn và phát triển về vốn của các công ty nàyrất nặng nề nhưng có ưu thế cạnh tranh

II Công ty bảo hiểm cổ phần.

Là loại hình doanh nghiệp thành lập do các cổ đông tham gia đónggóp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu và có tráchnhiệm hữu hạn

III Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam.

Là loại hình doanh nghiệp được thành lập dựa trên sự hợp tác đầu tưgóp vốn của một bên là Việt Nam và một bên là các công ty bảo hiểm nướcngoài, hoạt động trên nguyên tắc cùng có lợi, tuy nhiên phải tuân thủ luậtpháp Việt Nam

IV Công ty bảo hiểm chuyên ngành.

Là loại hình doanh nghiệp được thành lập do yêu cầu đặc thù của ngànhkinh tế để đảm bảo khả năng ổn định xã hội, nhằm tăng cường chất lượngphục vụ và đa dạng hóa các dịch vụ bảo hiểm v.v

Ngày đăng: 26/03/2013, 19:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số lượng công ty bảo hiểm một số nước trong khu vực và trên thế giới - CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI   Ở  VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 2 Số lượng công ty bảo hiểm một số nước trong khu vực và trên thế giới (Trang 11)
Bảng 4:  Cơ cấu đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm ở các nước phát triển năm - CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI   Ở  VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 4 Cơ cấu đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm ở các nước phát triển năm (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w