Trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, học sinh tích cực, chủ động, tìm tòi, khám phá, khai thác kiến thức mới và rèn luyện các kỹ năng địa lí ” Trích bản tổng kết
Trang 1
A- MỞ Đ ẦU
I- LÍ DO CHON Đ Ề TÀI:
Trong mấy thập niên lại đây việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được nhiều ban ngành quan tâm và không ngừng được cải thiện Hiện nay, để thực thi cuộc vận động lớn của Bộ GD&ĐT, vào tháng 3- 2008 Viện khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với
Vụ giáo viên tổ chức hội thảo khoa học về cải tiến dạy học địa lí ở trường phổ thông Hội nghị đã nhất trí: “ Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm để nâng cao chất lượng dạy – học Trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, học sinh tích cực, chủ động, tìm tòi, khám phá, khai thác kiến thức mới và rèn luyện các kỹ năng địa lí ” ( Trích bản tổng kết hội nghị )
Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn địa lí nói riêng là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng dạy – học hiện nay
Địa lí KT – XH là môn học có những đặc trưng riêng là luôn luôn có sự biến động, thay đổi Bởi khác với các bộ môn khác địa lí KT – XH luôn có mối quan hệ mật thiết với thực tế xã hội, ngược lại, những đổi mới trong xã hội đều được địa lí KT – XH quan tâm
và phản ánh, bổ sung kịp thời
Địa lí KT – XH Việt Nam không giống như địa lí KT – XH đại cương và địa lí KT –
XH nước ngoài vì nó tập trung vào việc phân tích những khái niệm chung mang tính trừu tượng Mặt khác nó còn phải xây dựng cho học sinh có được thái độ và xu hướng hành vi đúng đắn đối với nhiệm vụ của bản thân đối với thế giới và đất nước
Chính vì điều đó việc giảng dạy môn địa lí KT – XH Việt Nam đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp có hiểu quả trong việc phát triển tư duy, kích thích học sinh suy nghĩ, tìm tòi, liên hệ với thực tế để đi đến nhận định khách quan, khoa học làm cơ sở cho việc hình thành thái độ, hành vi phù hợp với những yêu cầu về xác định chuẩn kiến thức,
kỹ năng của người giáo viên Địa lí hiện nay
Xuất phát từ thực tế như trên thì bài tập nhận thức như là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để học sinh có thể tiếp cận tốt nhất những vấn đề địa lí KT- XH Việt Nam lớp 12 Đặc biệt là bài 20: “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ” Một trong những bài phản ánh
rõ nhất quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay
Đây cũng là nội dung tôi mạnh dạn áp dụng một vài kinh nghiệm khi xây dựng bài tập nhận thức cho một bài học cụ thể
II- NHẬN THỨC CŨ - TÌNH TRẠNG CŨ.
1 Tình hình sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học địa lí hiện nay:
- Qua tìm hiểu và thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy việc sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học địa lí hiện nay được rất ít giáo viên áp dụng Mặc dù giáo viên đã được bồi dưỡng về các phương pháp dạy học mới cũng như cách xác định kiến thức, kỹ năng trong đó có sử dụng bài tập nhận thức
- Trong chương trình phân ban như hiện nay, thỉnh thoảng cũng có giáo viên sử dụng bài tập nhận thức cho học sinh giải nhưng ở mức độ còn chung chung Phần lớn giáo viên và học sinh vẫn quen với các phương pháp dạy học cũ, đôi khi có lồng ghép một vài phương pháp mới nhưng rất hạn hữu
Trang 2- Đối với phần địa lí KT – XH Việt Nam lớp 12 là chương trình cụ thể, kiến thức rộng mà nội dung trong sách giáo khoa chưa thể làm rõ một cách tổng quát được Nên khi giảng dạy giáo viên thường rơi vào tình trạng hoặc là quá sơ lược, hoặc là quá ôm đồm, nhiều khi còn nặng về nội dung bài học nên chưa thực sự mạnh dạn đầu tư về phương pháp
- Bài 20: “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ” là một trong những bài khó, nội dung nhiều, trừu tượng hệ thống thông tin, số liệu, bản đồ, bảng biểu, tranh ảnh lớn Khi dạy bài này hầu hết các giáo viên đều lần lượt đi theo từng mục, tận dụng các thông tin có sẵn trong sách giáo khoa, giáo viên từng bước nêu câu hỏi cho học sinh đối chiếu Đó chỉ là dạy theo kiểu minh hoạ chưa khai thác triệt để nội dung kết hợp với phương tiện dạy học khác
để lấy kiến thức Nên tiết học thường nặng nề, không hứng thú, từ đó khó khắc sâu kiến thức cho học sinh
Tóm lại, vấn đề sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học địa lí ở THPT mới chỉ ở dạng khơi mầm, hay tiềm ẩn dưới các dạng sơ lược chưa rõ ràng Hoặc đã sử dụng nhưng còn rất ít nên hiệu quả sư phạm chưa cao Tuy nhiên thực tế như vậy là vì còn một số hạn chế nhất định mà các chuyên gia và giáo viên đang cố gắng khắc phục
2- Nguyên nhân của thực trạng:
- Điều đầu tiên cần nói đến là sự thống nhất quan điểm về phương pháp dạy học, có ý kiến cho rằng dạy học lấy học sinh làm trung tâm mới chỉ là một quan điểm, xu hướng ý kiến khác khẳng định dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một nhóm phương pháp Quan điểm nào cũng có lí lẽ chứng minh mình là đúng Đó cũng chính là một trở ngại cho việc ứng dụng một phương pháp dạy học mới như sử dụng bài tập nhận thức
- Nguyên nhân thứ hai là phần địa lí KT – XH Việt Nam lớp 12 có nội dung, khối lượng kiến thức lớn được trình bày theo từng mảng ngành kinh tế cụ thể, mỗi vấn đề thường được bố trí trong một mục dạy nên người giáo viên chưa mạnh dạn đưa ra những phương pháp để học sinh tự tìm tòi, khám phá do tâm lí e ngại thiếu thời gian
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một quá trình phát triển lâu dài và phức tạp, kiến thức
về vấn đề này liên quan đến nhiều cấp học, lớp học nên không phải giáo viên nào cũng nắm vững
- Một thực tế quan trọng nữa là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm ở phổ thông chưa được thực hiện hoàn toàn mà chỉ dạy lồng ghép hoặc thực hiện ở một số tiết có thể
- Ngoài ra, ở một số trường đang thiếu một số phương tiện dạy học truyền thống, chưa có các trang thiết bị dạy học hiện đại Mặt khác bài tập nhận thức là một dạng bài tập không
có sẵn nên nếu sử dụng cho giảng dạy giáo viên phải mất rất nhiều thời gian và công sức cho việc thiết kế, xây dưng, điều này phụ thuộc nhiều vào điều kiện đời sống giáo viên Các kỹ năng chuyên môn về xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức ở một số giáo viên chưa cao, học sinh cũng chưa được làm quen với các dạng bài tập nhận thức
- Thông thường trong các môn xã hội học sinh ít hoạt động tư duy do cách giảng cũ của giáo viên Để làm quen cách sử dụng bài tập nhận thức này giáo viên trước hết phải tập cho học sinh cách tư duy, cách xác định kiến thức - kỹ năng, cách phát triển tư duy bằng các phương pháp giảng dạy khác, dần dần đến hình thức cao nhất là sử dụng bài tập nhận thức
Trang 3B- NỘI DUNG
I- C Ơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN Đ Ề:
1 Bài tập nhận thức( BTNT) là gì?
a Định nghĩa:
BTNT là đối tượng nhận thức của học sinh, bất kì bài tập nhận thức nào cũng chứa đựng bên trong nó một tình huống xung đột, mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần tìm
Mà việc nhận thức nó là nguồn gốc tư duy
Hiểu cách khác BTNT là một dạng bài học lĩnh hội kiến thức mới, nhưng thay vì cấu trúc giờ dạy cũ ( Thầy giảng, trò nghe) thì học sinh phát hiện những kiến thức mới qua việc nghiên cứu, giải bài tập mà không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên
Khi bàn về BTNT B.P Ex Pov ( Nhà Sư phạm Nga ) nói: “ Công tác độc lập của học
sinh được đưa vào quá trình dạy học là công tác được thực hiện không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên nhưng theo bài tập giáo viên giao cho trong khoảng thời gian dành riêng cho nhiệm vụ này ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã được vạch trong bài làm, làm biểu lộ mọi lĩnh vực của mình và thể hiện hoạt động trí tuệ hoặc thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc hoạt động thể lực của mình dưới một mặt nào đó ”.
Như vậy, khác với các loại bài tập khác, vận dụng những kiến thức đã học, giải bài tập
để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Còn đối với BTNT giải bài tập là dựa trên cơ sở những kiến thức cũ đã học để nghiên cứu, tư duy và phát hiện kiến thức mới
b Đặc điểm chung của BTNT:
BTNT là đối tượng nhận thức của học sinh do vậy sẽ có nhiều dạng, bởi đặc điểm về nội dung từng loại bài giảng khác nhau nên cách biểu hiện và nhận thức cũng khác nhau Tuy nhiên, dù là kiểu gì BTNT cũng có các kiểu cơ bản sau:
1- BTNT là hạt nhân trong bất kì công tác độc lập nào trong quá trình dạy học
2- BTNT luôn chứa đựng bên trong nó những tình huống, những mâu thuẫn cần giải quyết Khi học sinh giaỉ quyết được mâu thuẫn đó sẽ phát hiện ra những tri thức mới
3- Cấu trúc của một giáo án, một tiết học sử dụng BTNT không tiến hành trình tự 5 bước mà tuỳ thuộc vào nội dung để giáo viên cho bài tập
4- BTNT kích thích tính tích cực nhận thức, tự nghiên cứu của học sinh, ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập của học sinh
5- Giải BTNT học sinh dễ hình thành và khắc sâu được các khái niệm và kiến thức mới
6- Các BTNT không có sẵn mà dựa trên nội dung biên soạn của SGK cùng với sự lao động, gia công của giáo viên để thiết kế
c Các loại BTNT:
Như trên đã nói, BTNT có nhiều dạng đặc điểm bài học và phù hợp với nhận thức của mỗi đối tượng học sinh Các BTNT ở các dạng khác nhau kích thích giúp học sinh tự nghiên cứu tài liệu và nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi phải tìm cách giải mới Vì vậy, để tổ chức tốt công tác độc lập của học sinh trong quá trình dạy học địa lí, người giáo viên phải
Trang 4soạn thảo được hệ thống các BTNT phù hợp với trình độ học sinh Có nghĩa là các BTNT sẽ có các mức độ khó, dễ phù hợp với các đối tượng học sinh đặc điểm bài học cũng như quy định kiểu BTNT của bài đó Do vậy, tuỳ đặc điểm bài giảng, tuỳ trình độ học sinh giáo viên có thể biên soạn các dạng BTNT sau đây: ( * )
Trong đó: ĐK là điều kiện bài cho; A/g là chương trình giải; YC là yêu cầu cần tìm
- Bài tập kiểu chấp hành: Là dạng bài tập cho trước điều kiện và chương trình giải,
học sinh tự tìm ra yêu cầu của BTNT
- Bài tập kiểu xác lập: Là bài tập cho trước yêu cầu và chương trình giải, học sinh tự
tìm ra điều kiện của BTNT
- BTNT kiểu biến đổi: Là loại bài tập cho trước điều kiện và yêu cầu học sinh phải
tìm ra phương pháp giải
- BTNT kiểu xây dựng: Là kiểu bài cho trước yêu cầu, học sinh tự tìm ra điều kiện và
chương trình giải
Các loại đó về mặt hình thức biểu hiện các thể loại như sau:
2- Vị trí của BTNT:
- Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà bản thân dành được bằng laon động của
mình, đó cũng chính là quá trình tư duy tích cực, độc lập là cơ sở cho sự thônghiểu, là điều kiện cơ bản cho việc nắm vững kiến thức
( * ) Theo Phương pháp dạy học địa lí – Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn NXB GD 1996.
Kiểu
BTNT
truyền
thống
Kiểu BTNT xây dựng
Kiểu BTNT dạng Test
Test tìm hiểu
sự hoà hợp
Test tình thế
Test có nhiều
sự lựa chọn
Trang 5- Xây dựng nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng là một khâu rất quan trọng , muốn biến nội dung đó thành tri thức của bản thân học sinh lại là một khoa học và một nghệ thuật, điều này phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy của thầy
- Người thầy cần chọn hình thức và phương pháp dạy thích hợp để làm cho học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc Không có một phương pháp nào là vạn năng và được sử dụng trong toàn bộ quá trình dạy học mà thực tế là sự kết hợp của nhiều phương pháp.Theo V.Okon và M.A.Đam Lov ( Nga) BTNT nó bao hàm một cái gì chưa biết đòi hỏi phải cố tìm tòi, sáng tạo và hoạt động tư duy loại bài này sẽ đưa học sinh ra ngoài giới hạn của những khái niệm vốn có
- Qua bài tập học sinh không những nắm vững kĩ năng, kĩ xảo, lí thuyết, thực hành mà còn nắm được một số phương pháp hoạt động trí tuệ và nó sẽ thay cho việc diễn tả, thuyết trình của giáo viên trong việc thực hành khái niệm thông qua khai thác, tài liệu, phân tích, so sánh, đánh giá sự vật hiện tượng
- Trong BTNT có chứa đựng mâu thuẫn giữa sự hiểu biết và không hiểu biết, nên chỉ giải quyết được khi học sinh có ham muốn tìm hiểu vấn đề một cách độc lập và tích cực giải quyết nó
Mặc dù để chuẩn bị cho học sinh giải quyết tốt BTNT giáo viên phải mất nhiều thời gian, công sức nhưng sẽ xây dựng được cho học sinh cách nắm vững kiến thức hiệu quả Đây là một ý nghĩa sư phạm lớn lao, là cơ sở cho việc hình thành thế giới quan, cho sự phát triển tư duy, kỹ năng và kỹ xảo Đặc biệt là rèn luyện phẩm chất, trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập nhận thức Hai phẩm chất cơ bản đặc trưng của người học sinh trong nhà trường hiện đại
II- PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP NHẬN THỨC ( BTNT)
1 Phương pháp xây dựng BTNT.
* Nghiên cứu các cơ sở lí luận về xây dựng BTNT, tìm ra các đặc điểm, đặc trưng cơ bản của loại BTNT có thể phân loại như sau:
* Nghiên cứu kỹ SGK từng nội dung của từng bài cụ thể để xác định được kiến thức trọng tâm, cơ bản của bài, từ đó có thể hình thành loại BTNT phù hợp với kiểu bài đó theo sự phân loại chung trên
* Biến hoá nội dung BTNT tuân theo quy luật dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, đơn giản hơn cho học sinh trung bình, khó hơn cho học sinh khá và giỏi
Các loại BTNT
Bài tập
chấp hành
Bài tập xác lập
Bài tập biến đổi
Bài tập xây dựng
Trang 6* Đơn giản hoá dữ kiện hoặc phức tạp hoá dữ kiện:
+ Đơn giản hoá dữ kiện là tăng thêm các thông tin và điều kiện về chương trình giải để học sinh có đủ khả năng độc lập giải quyết BTNT
+ Phức tạp hoá dữ kiện là rút bớt thông tin và yêu cầu để học sinh phải tìm kiếm chúng trong quá trình giải BTNT
* Phức tạp hoá và đơn giản hoá kết quả: Kết quả là cái tìm, mức độ đơn giản hoặc phức tạp cái tìm là cách làm cho bài có nhiều dạng biến hoá phù hợp với đối tượng học sinh
* Đơn giản hoá đồng thời cả dữ kiện và cái cần tìm đòi hỏi giáo viên phải nắm vững hai cách biến hoà trên
Như vậy, xây dựng nhiều dạng BTNT nhằm phù hợp với từng đối tượng học sinh giúp khêu gợi, thúc đẩy năng lực sáng tạo của học sinh trung bình, yếu Mở ra khả năng rộng lớn, phát triển năng lực nhận thức của học sinh, nó không kìm hãm mà ngược lại khuyến khích óc sáng tạo, sự sắc sảo và trình độ hiểu biết rộng rãi, phát huy năng lực tư duy và khả năng nhận thức của học sinh
2 Phương pháp xây dựng và sử dụng BTNT đối với Tiết 23 - bài 20:
“ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” ( Địa lí 12 ban cơ bản )
Sử dụng BTNT trong chương trình Địa lí KT – XH Việt Nam không phải bài nào cũng có thể áp dụng được mà nó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Nhưng cho dù là bài nào khi xác định BTNT giáo viên cần tổ chức cho học sinh tự lực, chủ động hoạt động phát triển
tư duy mà không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên Đối với bài Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tôi mạnh dạn đưa ra một và kinh nghiệm trong sử dụng phương pháp giải BTNT cho học sinh
a Cấu trúc giờ dạy:
- Cấu trúc giờ dạy theo phương pháp cũ gồm 5 bước, giáo viên phải triển khai từng bước
cụ thể trong khoảng thời gian nhất định Theo cấu trúc đó thời gian truyền thụ, tiếp thu kiến thức mới chỉ hạn chế trong khoảng 20 – 25 phút, thời gian còn lại dành cho các bước khác
- Đối với tiết học có sở dụng BTNT cấu trúc giờ học dành thời gian cho một BTNT tối đa
là 10 phút ( thông thường 5 – 7 phút ) Tuy nhiên còn phụ thuộc vào tính chất câu hỏi, mặt bằng trình độ học sinh, ngụ ý của giáo viên đối với bài tập mà lượng thời gian có thể thay đổi, bù trừ nhau
- Cấu trúc giờ dạy gồm các bước như sau:
1 Ổn định tổ chức.
2 Giao BTNT cho học sinh ( Bài cũ, bài tập 1, 2, 3 )
3 Tổng kết giờ học, nhận xét đánh giá kết quả.
Ở cấu trúc này không có bước kiểm tra bài cũ, tuy nhiên bước này đã được lồng ghép vào trong bước 2 vì dựa trên những kiến thức cũ học sinh mới giải quyết được bài tập Như vậy giáo viên đồng thời kiểm tra được bài cũ, vừa dành được nhiều thời gian cho học sinh, độc lập, tích cực giải các bài tập Như vậy, thực hiện giờ học
theo cấu trúc tiết học mới đã phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinh, làm nổi bật vai trò hướng dẫn, lãnh đạo của người thầy
b Cụ thể hoá các bước tiến hành:
Trang 7* Bước 1: Đặt nhiệm vụ nhận thức.
+ Đặt vấn đề và nhiệm vụ nhận thức khi mở đầu bài học có thể bằng nhiều cách khác nhau nhưng làm sao nổi bật được vấn đề học sinh cần nhận thức là gì
Đưa ra cái mâu thuẫn, nghịch lý buộc học sinh phải suy nghĩ và có nhu cầu ham
muốn để giải quyết
* Bước 2: Tổ chức cho học sinh giải quyết BTNT.
+ Giao BTNT cho học sinh và yêu cầu học sinh hoàn thành bài tập Giáo viên có nhiệm
vụ hướng dẫn cách giải cho cả lớp và có thể từng đối tượng học sinh Có nghĩa là giáo viên giúp học sinh xác định được cách giải, xác định được nguồn thông tin cần thu thập
để giải, luôn giám sát hướng dẫn học sinh đúng giải trình
* Bước 3: Kiểm tra - đánh giá:
Để giúp các em tự đánh giá được khả năng của mình, cách tốt nhất là đưa ra đáp án, chỉ những chỗ sai, chỗ khó Từ đó các em rút ra được nội dung bài học và kinh nghiệm trong những bài tập sau
III- ÁP DỤNG VÀO BÀI GIẢNG CỤ THỂ
Bài 20 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1 Về kiến thức:
- Phân tích được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo lãnh thổ ở nước ta, nguyên nhân của sự chuyển dịch đó
- Trình bày được ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta
2 Về kĩ năng:
- Đọc, vẽ, phân tích bảng số liệu, biểu đồ và sơ đồ hoá các hiện tượng liên quan đến các ngành kinh tế
- Xác định trên bản đồ về cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ
- Kĩ năng làm việc theo nhóm và trong tập thể
3 Thái độ hành vi:
- Có ý thức thái độ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế đất nước
II- THIẾT BỊ DẠY HỌC
- Biểu đồ cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước ta, giai đoạn 1990 - 2005
- Bảng số liệu cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp
- Các sơ đồ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
- Các phiếu học tập, bản đồ câm, bản đồ kinh tế chung Việt Nam
1 Ổn định lớp học: ( 2 phút )
2 Giao BTNT:
Tiết: 23
Trang 8HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH NỘI DUNG CHÍNH
Hoạt động 1:
Tìm hiểu về cơ cấu kinh tế - các bộ phận hợp thành
cơ cấu kinh tế
Hình thức: Cả lớp ( phút )
* Bước 1: - GV cho cả lớp xem qua phần giới thiệu
và các mục trong bài 20, yêu cầu HS trả lời các câu
hỏi sau đây:
Bài tập 1:
Dựa vào nội dung trong SGK mà các em vừa
nghiên cứu, kết hợp với vốn hiểu biết của bản thân
hãy cho biết:
+ Cơ cấu kinh tế là gì?
+ Cơ cấu kinh tế bao gồm những thành phần nào?
+ Hãy điền các thành phần kinh tế đó vào sơ đồ
sau:
* Bước 2: - Sau khi gọi lần lượt một số HS trả lời,
GV chuẩn kiến thức và đưa ra sơ đồ nhằm khắc sâu
kiến thức ( GV chuẩn bị trước ở nhà hoặc sử dụng
máy chiếu )
* Bước 3: Chuyển ý:
Cơ cấu kinh tế không phải là bất biến, nó mang
I- C Ơ CẤU KINH TẾ:
1 Khái niệm:
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ
thống kinh tế, bao gồm nhiều yếu
tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định
2 Các bộ phận hợp thành cơ cấu
kinh tế:
Cơ cấu kinh tế bao gồm 3 bộ phận: Cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu
ngành
Cơ cấu
L thổ
Cơ cấu TPKT
Trang 9tính lịch sử và chỉ được coi là hợp lí ở mỗi thời kỳ
cụ thể, vì vậy mỗi thời kỳ có một hình thái kinh tế
nhất định người ta gọi sự thay đổi đó là sự chuyển
dịch cơ cấu
Hoạt động 2:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Hình thức: Theo nhóm ( 15 phút )
Bài tập 2:
* Bước 1: GV đưa ra sơ đồ cơ cấu kinh tế và biểu
đồ cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước
ta giai đoạn 1990 - 2005 ( Có thế sử dụng máy
chiếu )
* Bước 2: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ và
giao nhiệm vụ cho các nhóm:
- Các nhóm chẵn:
+ Nêu khái niệm cơ cấu ngành kinh tế
+ Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong GDP
0%
20%
40%
60%
80%
100%
19 90 19 19 95 19 19 98 20 20 05
Dịch vụ
CN - Xây dựng Nông - Lâm - Ngư
- Các nhóm lẽ:
+ Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội
bộ từng ngành
+ Nhận xét bảng số liệu cơ cấu giá trị sản xuất
nông nghiệp ( Bảng 27.1, SGK Tr 102- GV phóng
to trên bảng )
+ Hoàn thành nội dung vào sơ đồ sau:
( GV chuẩn bị trước ở nhà hoặc sử dụng máy
chiếu )
KINH TẾ
1 Chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế:
a- Khái niệm:
Cơ cấu ngành kinh tế là tập hợp các ngành được sắp xếp theo một tương quan tỷ lệ nhất định
b Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP:
- Đang có sự chuyển dịch theo hướng:
+ Tăng tỷ trọng KVII, giảm tỷ trọng KVI, KVIII có tỷ trọng khá cao nhưng chưa ổn định
- Xu hướng chuyển dịch như trên
là thuận lợi, đúng hướng, phù hợp với yêu cầu CNH-HĐH
c Cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành:
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng thể hiện khá rõ:
+ Trong khu vực I:
- Giảm tỷ trọng ngành nông
Trang 10* Bước 3:
- GV gọi đại diện từng nhóm lên bảng trình bày các
nội dung của nhóm mình, lần lượt các thành viên
góp ý bổ sung
- GV đưa ra thông tin phản hồi bằng các sơ đồ, sau
đó chuẩn kiến thức (Chuẩn KT gắn với sơ đồ)
* Bước 4: Chuyển ý
Trong quá trình phát triển kinh tế nếu như phân
công lao động xã hội là cơ sở cho việc hình thành
cơ cấu ngành thì chế độ sở hữu lại là nền tảng để
hình thành cơ cấu thành phần kinh tế ( ghi mục 2 )
Hoạt động 3:
Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Hình thức: Nhóm
* Bước 1:
- GV chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh dựa
nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thuỷ sản
* Trong nông nghiệp: Giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
* Trong thuỷ sản: Giảm tỷ trọng ngành đánh bắt, tăng tỷ trọng ngành nuôi trồng
+ Trong khu vực II:
* CN đang chuyển dịch theo hướng
đa dạng hoá sản phẩm, CN chế biến có tỷ trọng tăng, CN khai thác giảm tương đối tỷ trọng
+ Trong khu vực III:
* Tăng trưởng các lĩnh vực liên quan đến kết cấu hạ tầng KT và phát triển đô thị
* Phát triển nhiều loại hình dịch vụ mới
2 Chuyển dịch cơ cấu thành
phần kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch