Trường Đại học Kinh tế Đà NẵngKhoa Quản trị kinh doanh Bộ môn: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNHPHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ (IFS) QUA 5 NĂM 2007 – 2011GVHD: Trương Hồng TrìnhPHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ INTERFOOD (IFS)PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THỰC PHẨM QUỐC TẾ INTERFOOD (IFS) QUA 5 NĂM I.Lịch sử hình thành:Công ty Cổ phần Thực phẩm Quốc tế (trước đây gọi là Công ty Công nghiệp Chế biến Thực phẩm Quốc tế) tên tiếng Anh là Interfood Shareholding Company (“Công ty”) được thành lập tại nước CHXHCN Việt Nam với thời gian hoạt động là 40 năm theo Giấy phép Đầu tư số 270GP ngày 16 tháng 11 năm 1991. Công ty hoàn toàn sở hữu bởi Trade Ocean Holdings Sdn. Bhd., một công ty được thành lập ở Malaysia. Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 270 CPHGP ngày 9 tháng 8 năm 2005 cho phép Công ty được chuyển đổi sang hình thức Công ty cổ phần với vốn sở hữu nước ngoài dưới tên gọi Công ty Cổ phần Thực phẩm Quốc tế. Tổng vốn đầu tư của Công ty là 30,000,000 đô la Mỹ và vốn điều lệ là 13,000,000 đô la Mỹ. Tổng cộng cổ phiếu của Công ty là 13,000,000 cổ phiếu với mệnh giá là 1 đô la Mỹ trên một cổ phiếu được nắm giữ bởi bốn cổ đông sáng lập. Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 270 CPHGPĐC2 ngày 15 tháng 6 năm 2006 cho phép công ty thay đổi mệnh giá cổ phiếu từ 1 đô la Mỹ thành 10.000 đồng Việt Nam một cổ phiếu và vốn điều lệ của Công ty chuyển từ 13,000,000 đô la Mỹ thành 206,336,000 ngàn đồng Việt Nam. Theo đó, tổng cộng cổ phiếu của Công ty chuyển từ 13,000,000 cổ phiếu với mệnh giá 1 đô la Mỹ trên một cổ phiếu thành 20,633,600 cổ phiếu với mệnh giá 10,000 đồng Việt Nam một cổ phiếu. Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 270 CPHGCNDDC3 ngày 23 tháng 8 năm 2006 cho phép Công ty tăng vốn điều lệ thành 242,841,600 ngàn đồng Việt Nam. Tổng cộng cổ phiếu của Công ty tăng thành 24,284,160 cổ phiếu thông qua việc đăng ký thêm 3,620,560 cổ phiếu mới. Ngày 17 tháng 10 năm 2006, Công ty niêm yết 3,620,560 cổ phần mới đã được đề cập ở trên tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nhận được Giấy phép Niêm yết số 61UBCKGPNY cấp bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ngày 29 tháng 9 năm 2006 cho việc niêm yết. Theo Giấy phép Niêm yết, các cổ đông sáng lập cũng được cho phép bán 2.108.912 cổ phiếu ra công chúng, tổng số cố phiếu niêm yết là 5,729,472 cổ phiếu. Theo giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh số 472033000328 ngày 28 tháng 11 năm 2007 do Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Đồng Nai cấp, tổng vốn đầu tư của Công ty là 144.450 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 90 triệu đô la Mỹ. Vốn điều lệ của Công ty là 291.409.920 ngàn đồng Việt Nam tương đương 18.314 ngàn đô la Mỹ. Tổng cộng cổ phiếu của Công ty tăng thành 29.140.992 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng Việt Nam một cổ phiếu. Ngày 16 tháng 10 năm 2007, Công ty phát hành cổ phiếu thưởng theo tỉ lệ 5:1 với tổng số cổ phiếu phát hành thêm là 6.875.359. Trong đó số lượng cổ phiếu niêm yết bổ sung thêm tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là 1.145.887 cổ phiếu theo sự chấp thuận số 936UBCKQLPH của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp ngày 27 tháng 06 năm 2007; theo đó, tổng số cổ phiếu của Công ty hiện đang được niêm yết là 6.875.359 cổ phiếu. Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2007, tổng số nhân viên của Công ty là 875 nguời, tăng 390 nguời so với cuối năm 2006.II.Ngành nghề kinh doanh:Sản phẩm của công ty bao gồm hơn 200 loại nước trái cây đóng hộp, bánh bích quy, bánh xốp, các loại thực phẩm đóng hộp. Sản phẩm của công ty được tiêu thụ nhiều nhất là các tỉnh, thành phố phía Nam và Trung như: Tp Hồ Chí Minh, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Nẵng... Doanh thu bán hàng nội địa năm 2005 giảm xuống khoảng 65% tổng doanh thu. Các sản phẩm của công ty đã xuất sang khoảng 30 nước trên thế giới, trong đó, thị trường xuất khẩu truyền thống của Công ty là thị trường Bắc Mỹ và Đông Nam Á, chiếm khoảng 35% tổng doanh thu năm 2005III. Vị thế công ty:Các sản phẩm bánh quy, thực phẩm đóng hộp, nước uống của Công ty mang nhãn hiệu “WONDERFARM”, “OKAYO” và “TOP”. Trong những năm 2001 – 2004, thị trường nội địa chiếm khoảng 80% doanh thu của Công ty. Tuy nhiên, doanh thu bán hàng nội địa năm 2005 giảm xuống khoảng 65% tổng doanh thu, tương ứng với mức tăng của tỷ trọng doanh thu xuất khẩu. Trong những năm qua, Interfood đã xây dựng mạng lưới khách hàng rộng khắp và kết quả thể hiện bằng mức tăng trưởng doanh thu. Công ty là nhà sản xuất tiên phong giới thiệu một số sản phẩm ra thị trường như: Trà Bí Đao, Nhân Sâm Cao Ly, Nước Yến, Nước Dừa Non. Dựa trên thông tin của các nhà cung cấp vật liệu đóng gói và thông tin nội bộ, Interfood ước tính sản phẩm của Công ty chiếm khoảng 50% 60% thị trường nước trái cây không gaz.IV. Chiến lược đầu tư và phát triển:Trong năm 2007, việc đạt được mục tiêu doanh thu cao hơn kế hoạch (10%) và cắt giảm đáng kể chi phí sản xuất là do công ty đã thực hiện một số biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của các chi phí trực tiếp và gián tiếp cũng như kích thích doanh thu trong năm 2007 như: Tiếp tục áp dụng hệ thống ISO 9001 (2000) cho tất cả các bộ phận và phòng ban tại trụ sở chính và hai nhà máy trực thuộc để giảm thiểu rủi ro, thiệt hại và tối đa thu nhập. Bảo đảm và duy trì chất lượng các sản phẩm truyền thống của công ty thông qua việc nghiên cứu và phát triển, thu được kỹ thuật tiên tiến. Củng cố lợi thế cạnh tranh đối với các dòng sản phẩm truyền thống bằng việc cố gắng không tăng giá bán sản phẩm. Tăng cường các chương trình quảng cáo, khuyến mãi trong và ngoài nước nhằm tăng doanh số bán các sản phẩm mới như nước trái cây đóng chai PET. Ký kết các hợp đồng gia công với các khách hàng và nhà phân phối truyền thống để đạt chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận. Không ngừng giới thiệu các sản phẩm có ga mới ra thị trường.
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng Khoa Quản trị kinh doanh
********
Bộ môn: QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ (IFS) QUA
5 NĂM 2007 – 2011
GVHD: Trương Hồng Trình
Trang 2PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM QUỐC TẾ - INTERFOOD (IFS)
I Lịch sử hình thành:
Công ty Cổ phần Thực phẩm Quốc tế (trước đây gọi là Công ty Công nghiệp Chế biến Thực phẩm Quốc tế) - tên tiếng Anh là Interfood Shareholding Company - (“Công ty”) được thành lập tại nước CHXHCN Việt Nam với thời gian hoạt động là 40 năm theo Giấy phép Đầu tư số 270/GP ngày 16 tháng 11 năm 1991 Công ty hoàn toàn sở hữu bởi Trade Ocean Holdings Sdn Bhd., một công ty được thành lập ở Malaysia Giấy phép đầu
tư điều chỉnh số 270 CPH/GP ngày 9 tháng 8 năm 2005 cho phép Công ty được chuyển đổi sang hình thức Công ty cổ phần với vốn sở hữu nước ngoài dưới tên gọi Công ty Cổ phần Thực phẩm Quốc tế Tổng vốn đầu tư của Công ty là 30,000,000 đô la Mỹ và vốn điều lệ là 13,000,000 đô la Mỹ Tổng cộng cổ phiếu của Công ty là 13,000,000 cổ phiếu với mệnh giá là 1 đô la Mỹ trên một cổ phiếu được nắm giữ bởi bốn cổ đông sáng lập Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 270 CPH/GPĐC2 ngày 15 tháng 6 năm 2006 cho phép công ty thay đổi mệnh giá cổ phiếu từ 1 đô la Mỹ thành 10.000 đồng Việt Nam một cổ phiếu và vốn điều lệ của Công ty chuyển từ 13,000,000 đô la Mỹ thành 206,336,000 ngàn đồng Việt Nam Theo đó, tổng cộng cổ phiếu của Công ty chuyển từ 13,000,000 cổ phiếu với mệnh giá 1 đô la Mỹ trên một cổ phiếu thành 20,633,600 cổ phiếu với mệnh giá 10,000 đồng Việt Nam một cổ phiếu Giấy phép đầu tư điều chỉnh số 270 CPH/GCNDDC3 ngày 23 tháng 8 năm 2006 cho phép Công ty tăng vốn điều lệ thành 242,841,600 ngàn đồng Việt Nam Tổng cộng cổ phiếu của Công ty tăng thành 24,284,160 cổ phiếu thông qua việc đăng ký thêm 3,620,560 cổ phiếu mới
Ngày 17 tháng 10 năm 2006, Công ty niêm yết 3,620,560 cổ phần mới đã được đề cập ở trên tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nhận được Giấy phép Niêm yết số 61/UBCK-GPNY cấp bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Trang 3ngày 29 tháng 9 năm 2006 cho việc niêm yết Theo Giấy phép Niêm yết, các cổ đông sáng lập cũng được cho phép bán 2.108.912 cổ phiếu ra công chúng, tổng số cố phiếu niêm yết là 5,729,472 cổ phiếu Theo giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh số
472033000328 ngày 28 tháng 11 năm 2007 do Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Đồng Nai cấp, tổng vốn đầu tư của Công ty là 144.450 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 90 triệu
đô la Mỹ Vốn điều lệ của Công ty là 291.409.920 ngàn đồng Việt Nam tương đương 18.314 ngàn đô la Mỹ Tổng cộng cổ phiếu của Công ty tăng thành 29.140.992 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng Việt Nam một cổ phiếu Ngày 16 tháng 10 năm 2007, Công ty phát hành cổ phiếu thưởng theo tỉ lệ 5:1 với tổng số cổ phiếu phát hành thêm là 6.875.359 Trong đó số lượng cổ phiếu niêm yết bổ sung thêm tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là 1.145.887 cổ phiếu theo sự chấp thuận số 936/UBCK-QLPH của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp ngày 27 tháng 06 năm 2007; theo đó, tổng số cổ phiếu của Công ty hiện đang được niêm yết là 6.875.359 cổ phiếu Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2007, tổng số nhân viên của Công ty là 875 nguời, tăng
390 nguời so với cuối năm 2006
II Ngành nghề kinh doanh:
Sản phẩm của công ty bao gồm hơn 200 loại nước trái cây đóng hộp, bánh bích quy, bánh xốp, các loại thực phẩm đóng hộp
Sản phẩm của công ty được tiêu thụ nhiều nhất là các tỉnh, thành phố phía Nam và Trung như: Tp Hồ Chí Minh, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Nẵng Doanh thu bán hàng nội địa năm 2005 giảm xuống khoảng 65% tổng doanh thu Các sản phẩm của công ty đã xuất sang khoảng 30 nước trên thế giới, trong đó, thị trường xuất khẩu truyền thống của Công
ty là thị trường Bắc Mỹ và Đông Nam Á, chiếm khoảng 35% tổng doanh thu năm 2005
III Vị thế công ty:
Các sản phẩm bánh quy, thực phẩm đóng hộp, nước uống của Công ty mang nhãn hiệu “WONDERFARM”, “OKAYO” và “TOP” Trong những năm 2001 – 2004, thị trường nội địa chiếm khoảng 80% doanh thu của Công ty Tuy nhiên, doanh thu bán hàng nội địa năm 2005 giảm xuống khoảng 65% tổng doanh thu, tương ứng với mức tăng của
tỷ trọng doanh thu xuất khẩu
Trang 4Trong những năm qua, Interfood đã xây dựng mạng lưới khách hàng rộng khắp và kết quả thể hiện bằng mức tăng trưởng doanh thu Công ty là nhà sản xuất tiên phong giới thiệu một số sản phẩm ra thị trường như: Trà Bí Đao, Nhân Sâm Cao Ly, Nước Yến, Nước Dừa Non Dựa trên thông tin của các nhà cung cấp vật liệu đóng gói và thông tin nội bộ, Interfood ước tính sản phẩm của Công ty chiếm khoảng 50% - 60% thị trường nước trái cây không gaz.
IV Chiến lược đầu tư và phát triển:
Trong năm 2007, việc đạt được mục tiêu doanh thu cao hơn kế hoạch (10%) và cắt giảm đáng kể chi phí sản xuất là do công ty đã thực hiện một số biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của các chi phí trực tiếp và gián tiếp cũng như kích thích doanh thu trong năm 2007 như:
- Tiếp tục áp dụng hệ thống ISO 9001 (2000) cho tất cả các bộ phận và phòng ban tại trụ sở chính và hai nhà máy trực thuộc để giảm thiểu rủi ro, thiệt hại và tối đa thu nhập
- Bảo đảm và duy trì chất lượng các sản phẩm truyền thống của công ty thông qua việc nghiên cứu và phát triển, thu được kỹ thuật tiên tiến
- Củng cố lợi thế cạnh tranh đối với các dòng sản phẩm truyền thống bằng việc
cố gắng không tăng giá bán sản phẩm
- Tăng cường các chương trình quảng cáo, khuyến mãi trong và ngoài nước nhằm tăng doanh số bán các sản phẩm mới như nước trái cây đóng chai PET
- Ký kết các hợp đồng gia công với các khách hàng và nhà phân phối truyền thống để đạt chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận
- Không ngừng giới thiệu các sản phẩm có ga mới ra thị trường
PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THỰC PHẨM QUỐC TẾ INTERFOOD (IFS) QUA 5 NĂM
Trang 5I Các báo cáo tài chính trong 5 năm của IFS
1 Bảng cân đối kế toán
Đây là một báo cáo kế toán tài chính chủ yếu phản ánh tình hình tài sản của công
ty theo giá trị tài sản và nguồn hình thành của nó ở một thời điểm nhất định Bảng cân đối
kế toán sau sẽ chỉ ra mối quan hệ cấn đối tổng thể giữa tài sản và nguồn vốn của IFS
IV Chứng khoán kinh doanh 174,679 158,778 155,670 139,789 137,424
Dự phòng giảm giá chứng khoán
-Dự phòng rủi ro cho vay khách
hàng
VII Chứng khoán đầu tư _ _ 53,821 _ _
Chứng khoán đầu tư sẵn sàn để bán 297,418 51,879 68,253 67,688 72,034
Trang 6Dự phòng giảm giá chứng khoán 964,615 1,239,14
2
758,183 648,470 702,668
VIII Đầu từ góp vốn dài hạn.
Đầu tư vào các công ty liên kết
Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
II Tiền gửi của khách hàng 25,261 30,116 189,361 99,056 109,671
III Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho
vay TCTD chịu rủi ro
Trang 7Tổng nợ phải trả
VI VỐN VÀ CÁC QUỸ
Vốn cổ phầnThặng dư vốn cổ phầnCác nguồn vốn khácLợi nhuận chưa phân phốiCác quỹ dự trữ
TỔNG VỐN CHỦ SỞ HỮU TỔNG NỢ PHẢI TRẢ VÀ VỐN
CHỦ SỞ HỮU VII
1
2
CÁC NGHĨA VỤ NỢ TIỀM ĂN
Thư tín dụngBảo lãnh khác
VIII CÁC CAM KẾT ĐƯA RA
Hợp đồng mua ngoại lệ
2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Hoạt động kinh doanh Năm 2007 2008 2009 2010 2011
Trang 8IV Thu nhập ròng từ hoạt
Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh
Lãi cơ bản trên cổ
Trang 91 Thông số khả năng thanh toán
1.1 Khả năng thanh toán hiện thời (Rc)
Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào “ tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao
Trong giai đoạn 2007-2011 thì tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của mỗi năm có
sự chênh lệch không đáng kể và được công ty đảm bảo ở mức < 1 Trong giai đoạn
2007-2008, thông số này có xu hướng giảm mạnh và sau đó là một sự tăng trở lại đột ngột và đạt đỉnh vào năm 2009 ở mức 0,503 bởi công ty đã trả bớt một số khoản nợ còn tồn đọng
Trang 10từ trước Tuy nhiên, từ 2009, thông số này tiếp tục giảm dần đều (chỉ còn 0,402 vào năm 2011) Điều này cho thấy khả năng thanh toán của công ty giảm.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành trung bình trong giai đoạn 2007 – 2011 là 0,401 nhỏ hơn mức trung bình ngành là 1,851 Tức trung bình 1 đồng nợ ngắn hạn phải trả của công ty thì có 0,401 đồng tài sản ngắn hạn có thể thanh toán cho khoản phải trả đó Công ty có tài sản ngắn hạn chủ yếu là hàng tồn kho nên tính khả nhượng sẽ thấp hơn Điều này làm cho nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn thể hiện khả năng thanh toán cho các khoản nợ không được công ty đảm bảo
1.2 Khả năng thanh toán nhanh (Rq)
Thông số này là công cụ hỗ trợ, bổ sung cho thông số khả năng thanh toán hiện thời khi đánh giá về khả năng thanh toán Thông số này không xét đến lượng tồn kho, nó tập trung đến các tài sản có tính chuyển hóa thành tiền cao như tiền mặt, phải thu khách hàng
Trang 11Trong giai đoạn 2007-2011 thì khả năng thanh toán nhanh của công ty luôn duy trì trung bình ở mức khoảng 11.3%, nghĩa là lượng hàng tồn kho chiếm khoảng 72% Điều này thể hiện công ty hiện đang duy trì tương đối nhiều hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khả nhượng thấp Đó là nguyên nhân làm cho khả năng thanh toán nhanh của công ty thấp Công ty đã không dự trữ nhiều tiền mặt mà thay vào đó là để đầu tư.
Trong các bản báo cáo tài chính của công ty bao gồm hàng tồn kho vì IFS là một công ty chế biến nông sản thủy sản thành sản phẩm đóng hộp, sấy khô, ướp đông, muối, ngâm dấm, sản xuất các loại bánh kẹo thức ăn nhẹ, nước uống có ga, nước ép trai cây và chai nhựa PET Chính vì hàng tồn kho nhiều nên IFS mất một khoản chi phí đáng kể
1.3 Vòng quay khoản phải thu
Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp
áp dụng đối với các bạn hàng.Thông số này cung cấp nguồn thông tin nội bộ về chất lượng khoản phải thu khách hàng và mức độ hiệu quả của công ty trong hoạt động thu nợ Đây là thông số cho chúng ta biết số lần phải thu khách hàng được chuyển hóa thành tiền trong năm Số vòng quay càng lớn thì thời gian chuyển hóa từ doanh số thành tiền mặt càng ngắn Cũng tương tự như vòng quay các khoản phải thu, có điều chỉ số này cho chúng ta biết về số ngày trung bình mà doanh nghiệp thu được tiền của khách hàng
Trang 12Thật khó để có thể đưa ra một kết luận chính xác cho tình hình chuyển hóa thành tiền của các khoản phải thu của IFS khi không có số liệu về bình quân ngành Tuy nhiên,
nhìn chung thì vòng quay khoản phải thu của công ty khá cao trong 5 năm gần đây Từ
năm 2007-2008 vòng quay khoảng phải thu tăng nhẹ nhưng vẫn ở mức cao 11.9 vòng lên 12.5 vòng (từ 30.7 ngày xuống 29.2 ngày) Nhưng từ năm 2008 đến năm
2010 có sự chuyển biến tăng rõ rệt (từ 12.5 vòng lên 26.4 vòng tương đương từ 29.7 ngày xuống còn 13.8 ngày) và đạt đỉnh ở giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2011 (từ 13.8 ngày xuống còn 10.6 ngày) Điều này thể hiện khả năng thu hồi nợ của IFS tăng dần qua các năm giúp cho công ty thu hồi vốn nhanh hơn và có vốn để đầu tư vào nhiều hạn mục khác
1.4 Vòng quay hàng tồn kho
Thông số này cho biết HTK quay bao nhiêu vòng để chuyển thành phải thu khách hàng thông qua hoạt động bán hàng trong năm Thông thường, vòng quay HTK càng cao, hoạt động quản trị HTK của công ty càng hiệu quả và HTK càng mới và khả nhượng Vòng quay HTK thấp thường là dấu hiệu của việc duy trì nhiều hàng hóa lỗi thời, quá hạn, chậm chuyển hóa
Trang 13Vòng quay HTK của IFS tăng dần qua các năm (từ 3.23 vòng lên 5.35 vòng tương đương 113 ngày xuống còn 68.2 ngày) Vòng quay tăng mạnh nhất từ năm 2007 đến năm
2008 từ 3.23 vòng lên 4.61 vòng) Với xu hướng tăng đều như vậy cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Có nghĩa là doanh nghiệp ít rủi ro hơn khi trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm
2 Thông số nợ
2.1 Thông số nợ trên vốn chủ:
Thông số này được dùng để đánh giá mức độ sử dụng vốn vay của công ty Thông thường chủ nợ muốn thông số này thấp vì tỷ lệ càng thấp thì mức tài trợ của cổ đông càng cao và như vậy, lớp đệm an toàn bảo vệ các chủ nợ trong trường hợp giá trị tài sản bị giảm hay bị thua lỗ càng cao
Nợ/Vốn chủ 1.57 6.24 4.29 4.05 7.38
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy được trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm
2008 và 2010 đến 2011 thông số nợ trên vốn chủ tăng mạnh lần lượt từ 1.59 lên 6.24(Tổng nợ của IFS tăng gần gấp đôi trong khi tổng vốn chủ sở hữu giảm gấp ba) và
Trang 144.05 lên 7.38 Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2010 tỷ lệ nợ/vốn chủ có sự giảm nhẹ từ 6.24 xuống còn 4.05 Tổng nợ giảm đáng kể nhưng công ty vẫn còn phụ thuộc nhiều vào vốn vay Tỷ số nợ trên vốn lớn ám chỉ rằng các cổ đông đang thực hiện chính sách thâm dụng nợ và và do đó làm cho IFS trở nên rủi ro hơn
2.2 Thông số nợ trên tài sản (D/A):
Thông số này được sử dụng với cùng mục đích của thông số nợ trên vốn chủ Tỷ lệ này nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn vay bằng cách biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm tài sản được tài trợ bằng vốn vay Tỷ lệ tài trợ bằng vốn chủ càng lớn, lớp đệm an toàn cho các chủ nợ càng lớn Hay nói cách khác, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản càng cao, rủi ro tài chính càng cao và ngược lại
Trang 15so với nợ vay nên chi phí ít hơn Lớp đệm an toàn của các chủ nợ ngày thấp nhưng ngược lại các cổ đông đang yên tâm vì tấm đệm của mình khá dày
3 Thông số khả năng sinh lợi
3.1 Lợi nhuận gộp biên:
Đây là thông số giúp đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất và Marketing Một công ty có thông số này cao chứng tỏ họ có nhiều nỗ lực trong việc cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và lao động so với các công ty khác Đặc biệt thông
số này còn phản ánh tính hợp lý trong chính sách định giá của công ty
Trang 16Doanh số 663487 853083 987880 1025804 890545
Lợi nhuận gộp biên 0.149 0.098 0.227 0.237 0.167
Lợi nhuận gộp biến thiên mạnh qua các năm Thông số giảm mạnh trong các khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2008 và từ 2010 đến 2011(lần lượt giảm khoảng 0.051
và 0.07) Trong tất cả các năm từ năm 2007 đến năm 2011, tốc độ tăng của chi phí hoạt động đều lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ 2007 đến
2007, tốc độ tăng của chi phí tăng mạnh hơn so với doanh thu (2,07>1,29), do đó hệ số lợi nhuận biên của IFS giảm mạnh Thông số này tăng mạnh từ năm 2008 đến năm 2009 và tăng khoảng 0.01 vào năm tiếp theo Điều này cho thấy trong năm 2008 đến năm 2010 doanh nghiệp hoạt động có lãi và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn
3.2 Lợi nhuận ròng biên
Lợi nhuận ròng biên là công cụ đo lường khả năng sinh lợi trên doanh số sau khi tính đến tất cả các chi phí và thuế TNDN Việc so sánh thông số này cho thấy hiệu suất và
độ hấp dẫn của công ty so với công ty khác cùng ngành
Trang 17Tương tự thông số lợi nhuân gộp biên, lợi nhuận ròng biến cũng có những biến động không đều Năm 2007, lợi nhuận ròng biên đạt được là 0.016 những đến năm 2008 chỉ còn -0.259 Sau đó, thông số này tăng mạnh và đạt đỉnh tại 0.007 vào năm 2010 Sau
đó, lợi nhuận ròng biên của IFS giảm chỉ còn vào năm 2011 Nhìn chung lợi nhuận ròng biên của IFS thấp hơn so với bình quân ngành cho thấy khả năng sản xuất và Marketing của công ty bị hạn chế khá nhiều so với các công ty khác trong cùng ngành