Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân trong nước hội nhập quốc tế
Trang 1Mục lục:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về PSSMEs và hội nhập quốc tế 9
I Doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân 9
1 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 10
3 Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ 12
4 Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
5 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
6 Pháp luật chi phối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 19 II Hội nhập quốc tế 21
1 Sơ lược về hội nhập quốc tế 21
2 Hội nhập quốc tế đối với doanh nghiệp 22
III Năng lực cạnh tranh 24
1 Cạnh tranh, cạnh tranh hữu hiệu: các định nghĩa
24
2 Các đường lối tiếp cận khái niệm
25
3 Các chỉ số đo lường và các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh 26
Chương II: Thực tiễn hội nhập quốc tế của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân Việt Nam 33
I Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 33
1 Tình hình thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ 33
2 Các loại hình doanh nghiệp 34
a Các hộ kinh doanh cá thể 34
b Các doanh nghiệp tư nhân chính thức thuộc diện vừa và nhỏ 36
II Những đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế 38
1 Đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực tư nhân trong GDP 38
2 Đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân về mặt lao động 40
a Về mặt lao động nói chung
40 b Về lao động trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp 42
Trang 2III Các đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực
tư nhân 43
IV Thực trạng hội nhập quốc tế của các PSSME 45
1 Thực trạng hội nhập quốc tế 45
2 Những mặt mạnh mặt yếu của các PSSME trong quá trình hội nhập quốc tế 51
a Trình độ nguồn nhân lực và chất lượng quản lí 51
b Thuế đánh vào các doanh nghiệp 53
c Thanh tra, kiểm tra của nhà nước 53
d Trình độ kỹ thuật, công nghệ, chất lượng sản phẩm và dịch vụ 54
e Khả năng tiếp cận nguồn vốn 56
Chương III: Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân của Việt Nam hội nhập quốc tế 59
I Lịch trình hội nhập quốc tế và tác động của nó tới việc hội nhập quốc tế của các PSSME của Việt Nam 59
1 Lịch trình hội nhập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN 60
2 Lịch trình tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 62
3 Hiệp định song phương Việt-Mỹ 64
II. Các giải pháp thúc đẩy PSSMEs hội nhập quốc tế 67
1 Các giải pháp thuế quan . 67
2 Giảm thiểu sự quản lý quá mức của nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 68
3 Phát triển các làng nghề và làng nghề truyền thống 70
4 Tăng cường nghiên cứu , phát triển chiến lược khai thác thị trường “ngách” 71
5 Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 74
6 Nâng cao năng lực của đội ngũ nhân lực và quản trị trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 76
7 Thương mại điện tử 78
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 3Bảng Chữ Viết Tắt
PSSMEs: Private Sector Small and Medium Enterprises
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân
SMEs: Small and Medium Enterprises
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NAFTA: North America Free Trade Agreement
Khu vực Thương mại Tự do Bắc Mỹ
WTO: World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
ASEAN: Association of South East Asia Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AFTA: ASEAN Free Trade Area
Khu vực Thương mại Tự do ASEAN
Ngân hàng Thế giới
IMF: International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
SOE: State-owned Enterprise
Doanh nghiệp Nhà nước
GATT: General Agreement on Tariffs and Trade
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
Trang 4Lời nói đầu
Nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoágiữa bối cảnh quốc tế hoá và khu vực hoá diễn ra cao độ Trong hoàncảnh như vậy, Đảng và Nhà nước đã chọn con đường hội nhập vào nềnkinh tế toàn cầu, hội nhập mà không hoà tan Để hội nhập có hiệu quả,khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng đượcchú ý hơn
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân - PSSMEs - đang làđối tượng nghiên cứu của các tổ chức chính phủ cũng như các nhà khoahọc Tuy nhiên đây là một đề tài mới chưa được đi sâu khai thác màkhông kém phần quan trọng Nhằm đóng góp vào quá trình nghiên cứutìm hiểu PSSMEs em thực hiện bài nghiên cứu này trong phạm vi một bàiluận văn tốt nghiệp
Qua thời gian thực tập tại Trung tâm Thông tin Doanh nghiệpthuộc Vụ Doanh nghiệp Bộ Kế hoạch Đầu tư, được sự chỉ bảo tận tìnhcủa thầy giáo PGS.TS Nguyễn Như Bình, cùng với sự giúp đỡ tận tìnhcủa TS Nguyễn Lê Trung và các cán bộ nhân viên của Trung tâm, em đã
hoàn thành đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy các
doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân trong nước hội nhập quốc tế” Đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận, được chia làm 3 chương chính:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về PSSMEs và hội nhập quốc tế Chương II: Thực tiễn về sự hội nhập quốc tế quốc tế của khu vực
tư nhân Việt Nam
Chương III: Giải pháp thúc đẩy các PSSME hội nhập quốc tế
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm tổng hợp tài liệunghiên cứu có sẵn và các báo cáo của các cơ quan nhà nước về tình hìnhphát triển kinh tế Việt Nam, phân tích các bảng biểu, sơ đồ, tài liệu điềutra đã được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong vàngoài nước
Trang 5Các tài liệu nghiên cứu được sử dụng được ghi rõ nguồn gốc ngaysau khi trình bày và tại mục Tài liệu Tham khảo Ở cuối luận văn có phầnPhụ lục là phần em để một số bảng biểu hoặc có kích cỡ không phù hợpvới khung của luận văn, hoặc có nội dung mang tính tham khảo.
Đây là công trình nghiên cứu của một sinh viên nên các kiến thức
và hiểu biết không khỏi còn nhiều giới hạn Em rất mong nhận đượcnhiều hơn nữa những chỉ bảo của mọi người
Trang 6Chương I: Những vấn đề cơ bản về PSSMEs
và hội nhập quốc tế
I Doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân
1 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng kháiniệm doanh nghiệp vừa và nhỏ và sau đó khái niệm doanh nghiệp nhỏ vàcực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam Vấn đề tiêu chí doanhnghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sựphát triển của khu vực này trong nhiều năm qua Định nghĩa về doanhnghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trướctiên vào quy mô doanh nghiệp Thông thường đó là tiêu chí về số nhâncông, vốn đăng kí, doanh thu , các tiêu chí này thay đổi theo từng quốcgia, từng chương trình phát triển khác nhau
Ở Việt Nam đã giải quyết vấn đề định nghĩa này một phần nào Côngvăn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó doanh nghiệp nhỏ
và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinhdoanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND
và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xâydựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Namphục vụ cho việc hoạch định chính sách Trên thực tế tiêu chí này khôngcho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ Vì vậy, tiếptheo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa doanh
nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản
xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Các doanh nghiệp cực nhỏ được
quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhâncông được coi là doanh nghiệp nhỏ
Trang 72 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu vàquy định khác nhau tuỳ theo từng nơi Các tiêu chí để phân loại doanh
nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng Nhóm tiêu
chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như
chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lýthấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đềnhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó chúng thường được dùnglàm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân
loại trong thực tế Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí
như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:
Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, laođộng thường xuyên, lao động thực tế;
Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tàisản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại;
Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị giatăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này)
Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số laođộng Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước.Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉmang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
o Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ
phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Ví dụ như mộtdoanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là doanhnghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là SME ở CHLB Đức Ở một sốnước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn đểphân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nước pháttriển
o Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng
ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng
ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tínhchất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các SME giữa các
Trang 8ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chiathành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau Ngoài
ra có thể dùng khái niệm hệ số ngành (Ib) để so sánh đối chứng giữa cácngành khác nhau
o Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau
nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau Do đó cần tínhđến cả hệ số vùng (Ia) để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy
mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau
Bảng 1.1: Tham khảo về tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước
TÊN NƯỚC TIÊU CHÍ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
ÚC - Sản xuất : dưới 100 LĐ
- Phi sản xuất: dưới 20 LĐ
MỸ - Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ
- Doanh nghiệp vừa: 101-499 LĐ
NHẬT - Sản xuất:dưới 300 LĐ hoặc dưới 100 triệu Yên
- Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên CHLB ĐỨC - Dưới 500 LĐ
ĐÀI LOAN
- Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 LĐ
- Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 LĐ
- Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NT$ doanh thu, dưới 50 LĐ
(Nguồn : tổng hợp từ dữ liệu sưu tầm được qua các trang web trên mạng)
o Tính lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi
là lớn, nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi
là vừa hoặc nhỏ Như vậy trong việc xác định quy mô doanh nghiệp cầntính thêm hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp trung bình (Id) trongtừng giai đoạn Hệ số này chỉ được sử dụng khi xác định quy mô doanhnghiệp cho các thời kì khác nhau
o Mục đích phân loại: khái niệm doanh nghiệp vừa
và nhỏ khác nhau tuỳ theo mục đích công việc phân loại
Trang 9Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộcmột ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau:
Sa : quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh tếmột quốc gia, khu vực và toàn cầu Các ưu thế và nhược điểm của loạihình doanh nghiệp này sẽ được trình bày dưới đây nhằm đem lại một cáinhìn sâu vào bản chất của loại hình này, cho phép ta định ra hướng đi rõràng trong việc xác định hướng phát triển cho loại hình này
3 Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năngthoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá,khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuậttrung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thíchnghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường Doanh nghiệp vừa vànhỏ có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của cácdoanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ởnhững nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường màcác doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thịtrường có khối lượng lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất
có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó cónhiều điểm mạnh:
- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động,
nhạy bén với thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng khônglớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động Vòng
Trang 10quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè,người thân dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễquyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ cảu
nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thịtrường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năngđộng sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đódoanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế
- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ
rủi ro cao.
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tưnhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm.Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như cácdoanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các doanhnghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tínhchất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớntrong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được
từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm
- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt
động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vàocác tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khiđiều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồidào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụnghợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạtđược hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hànghoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khiđiều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với
người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớnlắm Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phâncông lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa
Trang 11người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột,mâu thuẫn thì dễ dàn xếp.
4 Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Cáchạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chínhcác lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của SMEs nằm trong chínhđặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp nàythường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thịtrường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vàodoanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệmới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanhnghiệp, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trongthiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cáchkhác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chấtlượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trườngcácdoanh nghiệp vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thịtrường
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, SMEs gặp khó khăntrong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bênngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động
- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, SMEs gặp khókhăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường
5 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
a Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Trang 12Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với cácphương pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phươngtiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất
Thứ nhất, do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanhnghiệp loại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việclàm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là vớicác vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng laođộng có trình độ tay nghề thấp Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệpvừa góp phần giảm dòng người chuyển về thành phố tìm việc làm
Thứ hai, do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với cácthay đổi của thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trườnghợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp,không phải vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoaytrở nhanh Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải
sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và pháttriển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả nănglinh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các doanhnghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đếnbiện pháp cắt giảm lao động
Bảng 1.2: Tỷ trọng thu hút lao động và tạo ra giá trị gia tăng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước Châu Á
(Albert Bery: Các hoạt động kinh doanh vừa và nhỏ dưới tác động của tự do hoá
thương mại và tỷ giá: kinh nghiệm của Canada và Mỹ Latinh, 1996)
b Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng, số lượng và chủng loại
Trang 13Các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một lượng lớnlao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêmsức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họnói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho ngườitiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vàonhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quánhỏ.
c Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh
Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh khôngmuốn làm việc trong các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để tiệnđường vùng vẫy Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ rất thích hợpđối với họ trong việc thử sức của mình Bên cạnh đó các công ty tư nhânlớn nói chung đều xuất phát từ các công ty nhỏ đi lên Tập đoànMicrosoft của tỷ phú Bill Gates cũng do ông ta xây dựng dần lên Ông tavào lúc 20 tuổi vẫn còn là một người chưa có nhiều tài sản, bỏ học đạihọc để mở doanh nghiệp riêng của mình Chưa đầy 30 năm sau đã trởthành người giàu nhất thế giới, là một điển hình của người làm giàu dựavào năng lực của mình
Các công ty nhỏ là còn là nơi huấn luyện nguồn nhân lựccho các công ty lớn Các nhân viên sẽ học được những kỹ năng ban đầu
về quản lý rất cần thiết, được công ty lớn đánh giá cao như là:
Kiểm soát và quản lý nhân viên Quy định xuất nhập khẩu
Xúc tiến sản phẩm và dịch vụ Bán hàng
Định giá và lợi nhuận Quan hệ với quan chức chính phủ
Trang 14Đây là các kỹ năng cần thiết cho công việc ở các công ty lớn và việc đàotạo chúng cho người lao động cần thời gian Các doanh nghiệp nhỏ sẽthực hiện “hộ” khâu này Nhân viên công ty nhỏ sau một thời gian cóđược kinh nghiệm rồi sẽ được các công ty lớn thu nhận.
d Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ được mở ra ở địaphương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địaphương đó Khi các doanh nghiệp loại đó được mở ra thì người dân laođộng ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập Kết cục làquỹ tiền tiết kiệm-đầu tư của địa phương đó được bổ sung
e Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năngđộng của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản
là quy mô của chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng một vậtcàng lớn thì quán tính của nó càng lớn Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng
to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nóicách khác là sức ì càng lớn.Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồnlao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nênchậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thịtrường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các doanhnghiệp vừa và nhỏ sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn.Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao
f Cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau
g Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế
Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùngsâu”, “vùng xa” Đó là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mônhỏ, kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Cáccông ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó vì cho rằng nguồn lợi thu được
từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chiphí bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao Nếu một nềnkinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sự phát
Trang 15triển không đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên và giảmhiệu quả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềmtàng cho nền kinh tế Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thìchi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồnlợi thu lại Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưuđãi thích hợp của chính quyền địa phương.
h Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc
Trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá các ngànhnghề truyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa chế tạosản phẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt Một ví dụ như: thợđóng giày có thể đóng những đôi giày rất bền dùng được hàng năm khônghỏng Nhưng trong thời hiện đại phải đối mặt với các xí nghiệp sản xuấtgiày có sản phẩm không bền lắm, đổi mới theo mùa và giá rẻ hơn so vớigiày thủ công Một thợ thủ công hay vài người thì không thể đương đầuđược với các doanh nghiệp lớn đó Muốn tồn tại được các thợ thủ côngphải hợp nhau lại thành lập doanh nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng đểtìm đến các khách hàng tiềm năng của các sản phẩm thủ công Trong xãhội luôn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền thống, vấn đề là phảilàm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mình
Loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể nói là rất thíchhợp cho sản xuất thủ công Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào
đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo Bên cạnh đó công nghệ tiên tiếncũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này Và đó cũng là một điều cầnphải xẩy ra trong thời đại công nghiệp
Cụ thể hơn ta hãy hình dung một cảnh như sau: một số thợđóng giày hợp nhau lại thành một doanh nghiệp Trong thành phố địaphương của họ chỉ có một số nhỏ khách hàng ưa thích loại giày đóng thủcông và sẵn sàng trả giá (dù là cao) để đi loại giầy này cầu nhỏ Doanhnghiệp đó đáp ứng được nhu cầu đó Sau đó doanh nghiệp tiến hành mộtchiến dịch quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và trênInternet Sau một thời gian các khách hàng có nhu cầu tương tự ở tại cácthành phố khác trong cả nước liên lạc đặt mua Tiếp sau nữa là các khách
Trang 16hàng nước ngoài ưa thích kiểu dáng giày quảng cáo trên Internet cũngliên lạc đặt mua Bên cạnh đó các nghệ nhân cũng sử dụng thêm một sốcông nghệ mới để hỗ trợ thêm cho việc chế tạo giày như là dùng máy tính
để tạo hình sản phẩm trước, Trong quá trình phát triển đó họ tiếp cận vàlàm quen với các kỹ thuật và công nghệ mới Tuy khách hàng địa phươngcủa họ không nhiều nhưng khách hàng trên toàn cầu chiếm một lượng đủ
để họ tồn tại được trước thách thức của những đôi giày hiện đại giá rẻ rấtmốt được sản xuất hàng loạt kia
6 Pháp luật chi phối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Bảng 1.3: Hệ thống các nhóm văn bản luật pháp trực tiếp liên quan doanh nghiệp vừa
và vừa, là chính sách hỗ trợ bổsung cho phát triển doanh nghiệpnhỏ và vừa tại Việt Nam
Luật Doanh nghiệp
(1999)
Luật Công ty
và Luật Doanhnghiệp tư nhân(21-12-1990),Nghị định số66/HĐBTngày 2-3-1992cho các hộkinh doanh cáthể
Luật Doanh nghiệp 1999 và Nghịđịnh số 02/2000 hướng dẫn việcthực thi Luật Doanh nghiệp, đưa rakhuôn khổ pháp lý hiện đại đầutiên cho tất cả các doanh nghiệpđăng ký kinh doanh trong nước:Luật quy định việc thành lập cáccông ty qua việc đăng ký kinhdoanh tự giác, hơn là thông quaphê chuẩn và cấp phép của chínhphủ
Trang 17sản doanh nghiệp Luật Thuế giá trị
gia tăng
Luật Thuếdoanh thu
Luật này xác định mức thuế giá trịgia tăng, là mức thuế tính trên giátrị hàng hoá và dịch vụ trong quátrình sản xuất, lưu thông và tiêudùng
Luật Thuế thu
210 000 VNĐLuật khuyến khích
đầu tư trong nước
(1994)
Xác định những ưu đãi đầu tưtrong nước vào các vùng có khókhăn về kinh tế-xã hội và các hoạtđộng kinh tế chiến lược, bao gồm
về đầu tư tạo nhiều việc làm mới Luật Thương mại
(1997)
Văn bản luật pháp quy định hoạtđộng thương mại tại Việt Nam Sắc lệnh về hợp
II. Hội nhập quốc tế:
Trong phần này em cố gắng trình bày các khái niệm về các hình thứchội nhập trong đó có hội nhập kinh tế Trên thực tế các khái niệm này
Trang 18còn gây rất nhiều tranh cãi và bất đồng, chưa có được một ý kiến thốngnhất Vì vậy các ý kiến của em đưa ra có thể hơi thiếu một sự nhất trí.
1 Sơ lược về hội nhập quốc tế:
Hội nhập là một phạm trù quan hệ lịch sử quốc tế Nó vừa là trạng tháivừa là quá trình Mặc dù có nhiều bất đồng về khái niệm này nhưngngười ta nhất trí rằng Hội nhập Quốc tế có 3 mặt chính:
Hội nhập kinh tế
Hội nhập văn hoá
Hội nhập chính trị
Hội nhập kinh tế được hiểu một cách chung nhất là xoá bỏ sự khác biệt
về kinh tế giữa các nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau
“Hội nhập chính trị là sự hội nhập của các chủ thể chính trị hay các đơn
vị chính trị ” theo Karl W.Deutsch Kết quả của quá trình này là một đơn
vị chính trị thống nhất thay cho nhiều đơn vị chính trị riêng lẻ trước kia.Liên minh Châu Âu là một có thể nói là một ví dụ
Hội nhập văn hoá có thể được hiểu là một quá trình xoá bỏ dần các điểm
dị biệt của các nền văn hoá để đi đến hình thành một nền văn hoá chung,văn hoá toàn cầu, mà không tiêu diệt hoàn toàn các nền văn hoá bản địađặc sắc
2 Hội nhập quốc tế đối với doanh nghiệp:
Hội nhập là một quá trình cũng như một trạng thái Đối vớidoanh nghiệp, quá trình này gồm nhiều bước tiến hành, nhiều trạng tháicần đạt tới
Trong hội nhập kinh tế có nhiều mặt có liên quan tới hoạt động, tồntại và phát triển của doanh nghiệp như là:
Trang 19Cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp địa phương, doanhnghiệp nước ngoài, các đối thủ nước sở tại và các đối thủ nước thứ ba.
động kinh doanh với mức độ chuyên biệt cao, tận dụng sự khác biệt về lợithế tương đối và lợi thế tuyệt đối giữa các nền kinh tế để sản xuất cácthành phần của sản phẩm sao cho có lợi nhất Kết quả của quá trình làmột doanh nghiệp đa quốc gia sản xuất các thành phần của sản phẩm củamình ở nhiều nước để có được chi phí thấp nhất
của doanh nghiệp sẽ tiến đến mức coi cả thế giới là một thị trường khổng
lồ thống nhất Các sản phẩm sản xuất ra sẽ tính đến phản ứng của kháchhàng nhiều nước nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là các sản phẩmbán qua mạng Internet như là sản phẩm phần mềm và phần cứng máy tính(software và hardware) Biến động của một số các nhà sản xuất của mộtquốc gia có thể ảnh hưởng đến tổng cung của toàn thế giới (Ví dụ minhhoạ: người tiêu dùng hàng máy tính nói chung nếu để ý đều thấy có mốiliên hệ này trong lĩnh vực phần cứng máy tính Nếu các nhà sản xuất máytính Đài Loan gặp phải tai nạn như là thiên tai, bão lớn thì giá máy tínhtrên thế giới đều tăng rõ rệt trường hợp năm 2000-2001)
Hội nhập văn hoá:
Vấn đề có liên quan đến hội nhập văn hoá trong doanh nghiệp làvấn đề Văn hoá công ty-văn hoá đa quốc gia
Trong điều kiện hình thành các doanh nghiệp đa quốc gia, diễn racác hoạt động thương mại đầu tư quốc tế, một kết quả tất yếu là sẽ hìnhthành các đội ngũ nhân viên đa quốc tịch trong một công ty Đây là nơi
Nước chủ nhà C Doanh nghiệp sở tại: c
a >< c b >< c a><b
Nước chủ nhà A Doanh nghiệp sở tại: a
Nước chủ nhà B Doanh nghiệp sở tại: b
a >< b
Hình 1.4
Trang 20thử nghiệm đầu tiên cho khái niệm văn hoá toàn cầu và văn hoá đa quốcgia mà sự tồn tại của nó nhằm để thoả mãn yêu cầu hoạt động kinh doanhmột cách trôi chẩy của một doanh nghiệp Một doanh nghiệp, một độingũ nhân viên có cách thức thu xếp sao cho các thành viên thuộc các nềnvăn hoá khác nhau có thể hoạt hoạt động, sống cạnh nhau, tồn tại và pháttriển, thì doanh nghiệp đó, đội ngũ nhân viên đó có thể hoạt động tốt hơncác doanh nghiệp khác có cùng điều kiện Các doanh nghiệp không thoảmãn được việc hình thành môi trường văn hoá đa quốc gia bên trong công
ty của mình sẽ hoạt động kém hiệu quả, nhiều trường hợp phải đưa nhânviên từ nước mình ra nước ngoài để thành lập các công ty chỉ có người
một nước kém hiệu quả, tăng chi phí Hơn nữa, thông qua môi trường
văn hoá đa quốc gia, các bài học kinh nghiệm về hình thành văn hoá toàncầu có thể được đúc rút và tích luỹ
Đối với chính phủ, hội nhập chính trị nghĩa là các cuộc thươnglượng để hình thành một cơ cấu chính trị mới có tầm lớn hơn Đó còn là
sự hình thành các khu vực kinh tế/chính trị/văn hoá mới với các biên giớiđịa lý lớn hơn biên giới một quốc gia Chính phủ các nước có thể họp bàntìm cách giải quyết các vấn đề quốc tế có tầm quan trọng vượt quá mứcmột nước có thể xử lý: xung đột vũ trang trong một nước giữa hai haynhiều nhóm sắc tộc có dính dáng đến nước ngoài; xung đột giữa các nước
về các vấn đề kinh tế, chính trị; chủ nghĩa khủng bố quốc tế; mất cânbằng sinh thái: ô nhiễm hệ thống sông, nạn phá rừng Bên cạnh đó cácđơn vị chính trị đa quốc gia mới thay thế cho chính phủ nhiều nước cũngđang hình thành với đơn vị đầu tiên là EU
Đối với doanh nghiệp ảnh hưởng của hội nhập chính trị thể hiệnqua ảnh hưởng của các chính sách phát sinh từ quá trình hội nhập này.Các chính sách này bao gồm: sự giảm thiểu các rào cản thương mại, đầu
Trang 21tư giữa các nước; sự nới lỏng các quy chế liên quan tới sự đi lại, vậnchuyển qua các biên giới; sự hình thành và mở rộng các thị trường tiêuthụ hàng hoá như là thị trường khu vực, thị trường châu lục, với ví dụđáng chú ý nhất là sự hình thành một thị trường châu Âu thống nhất
Doanh nghiệp chịu ảnh hưởng khá nhiều và trực tiếp từ các hoạtđộng hội nhập chính trị nhưng các ảnh hưởng của doanh nghiệp lên quátrình này là không nhiều lắm, trong trường hợp các PSSMEs là khôngđáng kể Quá trình hội nhập chính trị, trái ngược với hội nhập văn hoá vàkhác với hội nhập kinh tế, diễn ra chủ yếu ở mức chính phủ Sản phẩmcủa quá trình là các hiệp định được ký kết và thực thi, là các tổ chứcchính trị mới được hình thành với quy mô và ảnh hưởng ngày càng lớnlên chính sách một quốc gia Tuy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tácđộng một mức nào đó đến hội nhập chính trị nhưng chỉ ở mức độ giántiếp như là tạo ra trào lưu, áp lực xã hội lên quá trình ra quyết định củachính phủ, không thể có tác động trực tiếp được Bởi vậy bài nghiên cứunày sẽ không tính đến khía cạnh hội nhập chính trị của các PSSMEs màchỉ xem xét đến các khía cạnh hội nhập kinh tế và văn hoá mà thôi
III Năng lực cạnh tranh:
1 Cạnh tranh và Cạnh tranh hữu hiệu:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tiến ra các thị trường nướcngoài hay cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại quốc ở thị trường trongnước cần phải có một chiến lược kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả.Các chiến lược như vậy đặt trên một nền tảng là sự hiểu thấu hai kháiniệm là Cạnh tranh và Cạnh tranh Hữu hiệu Từ việc hiểu thấu hai kháiniệm này mới có thể phát triển lên thành các sách lược phát triển kinhdoanh đầy đủ, các biện pháp ứng phó với tình hình mới, v.v
Cạnh tranh có nhiều cách hiểu Ở đây em tìm hiểu nó theo hai cáchlà: cách hiểu thông dụng đại chúng (thông qua từ điển ngôn ngữ đạichúng) và cách hiểu chuyên ngành (thông qua từ điển chuyên ngành) Sauđây là các trích dẫn:
Cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năngnhư nhau để giành phần hơn, phần thắng về mình (Đại Từ Điển TiếngViệt, Nxb Văn hoá Thông tin)
Trang 22Cạnh tranh là là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hayquốc gia Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giànhlấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được (Từ điển Thuật ngữKinh tế học, Nxb Từ điển Bách khoa Hà nội
Còn định nghĩa Cạnh tranh hữu hiệu được nêu ra như sau:
Cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức thích ứng với thị trườngcủa xí nghiệp, mà mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trườnglàm cho người ta tương đối thoả mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quânvừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho nhữngrủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạtđược hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sảnxuất trong thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý (Đại TừĐiển Kinh Tế Thị Trường, Viện Nghiên cứu và Phổ biến Tri thức Báchkhoa, 1998)
Ở trên là các định nghĩa về Cạnh tranh và Cạnh tranh Hữu hiệu Đểhiểu rõ hơn về hai niệm này em xin đi vào làm rõ từng khái niệm theo cáccách tiếp cận khác nhau ở phần tiếp theo
niệm cạnh tranh
Lối tiếp cận theo hướng thương mại mang tính phổ biến nhất: Cạnhtranh và khả năng cạnh tranh chỉ xuất hiện ở tầm công ty, tập đoàn trongcác hoạt động buôn bán; cạnh tranh là sự va chạm không thể tránh khỏigiữa các đơn vị hoạt động trong nền kinh tế có tính tự do Các công ty cốgắn hết sức để đạt được lợi nhuận thông qua việc mua và bán hàng hoá.Lối tiếp cận khác lại cho rằng cạnh tranh còn có thể hiểu ở tầm vĩ mô, ởmức khu vực hay đất nước, gắn liền với các khái niệm như là sức mạnhcạnh tranh tổng hợp của một nền kinh tế, một địa phương hay một quốcgia Cụ thể hơn, nếu một quốc gia có nguồn lao động chất lượng cao vớimức giá rẻ hơn tương đối so với nước láng giềng thì các công ty củanước đó sẽ lợi thế hơn so với các công ty nước khác và hàng hoá của họ
sẽ rẻ hơn tương đối trong loại hàng hoá cùng một mức giá trên thị trườngquốc tế Kết quả là hàng của họ có thể được tiêu thụ tốt hơn Nếu mộtquốc gia A có lợi thế hơn các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực như giáo
Trang 23dục, dân số, trình độ công nghệ, các quy định tài chính v.v thì các công
ty của nước A có khả năng cạnh tranh cao hơn các công ty khác trên thịtrường toàn cầu Nói cách khác là nước A có sức mạnh cạnh tranh tổnghợp cao hơn
Lối tiếp cận theo hướng ngành (Cạnh tranh giữa các ngành của mộtquốc gia với các ngành của quốc gia khác): Sự cạnh tranh có thể xuấthiện ở lĩnh vực như tài chính-tiền tệ, hành chính (minh hoạ: với hai quốcgia giống nhau trong hầu hết các lĩnh vực, quốc gia nào có các quy địnhhành chính cởi mở thuận tiện cho kinh doanh hơn sẽ thu hút được nhiềunhà đầu tư nước ngoài hơn cạnh tranh trong thu hút FDI) hay bất kỳlĩnh vực nào ta để ý đến Thông qua lợi thế trong các ngành mà một đấtnước trở nên hùng mạnh, thịnh vượng hơn
nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cạnh tranh
Các công ty, tổ chức, chính phủ và cá nhân đã nghiên cứu để tìm
ra các thành tố tạo nên khả năng cạnh tranh Theo Diễn đàn Kinh tế
Thế giới (WEF) có tám nhân tố cấu thành tính cạnh tranh của các quốcgia với các mức độ khác nhau:
Bảng 1.5: Các nhân tố cấu thành tính cạnh tranh của một quốc gia
Tuy nhiên, từ năm 2000 do tính quan trọng ngày càng tăng của tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các chỉ số đo lường sức mạnh cạnhtranh quốc gia đã được sắp xếp lại, nhân tố khoa học công nghệ đã chiếmtrọng số 1/3 trong tỷ trọng cân bằng nhau của ba tiêu chí: tính quốc tếhoá, tài chính và sáng tạo khoa học công nghệ Để đánh giá mức sáng tạokhoa học công nghệ người ta nghiên cứu các khía cạnh theo bảng bªn
Cụ thể hơn, ta có các nhóm chỉ số : Chỉ số tăng trưởng cạnh
tranh (Growth Competitive Index-GCI) và Chỉ số cạnh tranh hiện tại
Trang 24(Current Competitive Index-CCI) đã tiếp cận các nguyên nhân và động cơtăng trưởng cạnh tranh trên cả hai giác độ vi mô và vĩ mô.
Chỉ số tăng trưởng cạnh tranh được sử dụng nhằm đo lường cácnhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng tương lai của một nền kinh tế, vàđược đo bằng tỷ lệ thay đổi GDP trên đầu người, những nhân tố này giảithích tại sao một vài nền kinh tế có khả năng hưng thịnh hơn một số quốcgia khác GCI năm 2001-2002 bao gồm ba chỉ số nhỏ: mức độ công nghệcủa nền kinh tế, chất lượng của các thể chế công và các điều kiện vĩ môliên quan đến việc tăng trưởng
Bảng 1.6: Thứ hạng các chỉ số thành tố tăng trưởng cạnh tranh - GCI
2001-2002
Quốc gia/Nền kinh tế Thứ hạngGCI Thứ hạng chỉsố công nghệ
Thứ hạng chỉ số thể chế công
Thứ hạng chỉ
số môi trường vĩ mô
(Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2001-2002, Diễn đàn Kinh tế Thế giới.)
Chỉ số cạnh tranh hiện tại (CCI) nhằm xác định các nhân tố nền móngtạo ra năng suất hiện tại cao và củng cố kết quả kinh tế hiện tại, được đolường bằng mức GDP/đầu người Những nhân tố này cũng có thể gópphần giải thích tại sao một vài quốc gia lại có thể đảm bảo mức hưngthịnh hơn các quốc gia khác CCI là phương pháp tổng hợp năng lựccạnh tranh vi mô với hai nhóm chỉ số nhỏ: chỉ số về chiến lược và hoạtđộng của công ty và chỉ số chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia,đánh giá những điều kiện cơ bản xác định mức năng suất hiện tại của cácquốc gia
Bảng 1.7: Thứ hạng các chỉ số thành tố cạnh tranh hiện tại-CCI năm 20001-2002
Trang 25Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2001-2002 Diễn đàn Kinh tế Thế giới, 2002.
Đối với cấp ngành và cấp công ty, cạnh tranh được xem xét trên
một số nhóm yếu tố chủ yếu sau:
- Số lượng các công ty mới tham gia vào ngành
- Mức độ có sẵn của các các sản phẩm thay thế
- Vị thế đàm phán của bên cầu
- Vị thế đàm phán của bên cung
- Mức độ hiện diện của các bên của các công ty cạnh tranh trongngành
Để đáp ứng và theo đuổi được cạnh tranh, từng công ty tuỳ thuộc vàoloại hình sản phẩm với nhóm thị trường trọng điểm của mình sẽ khai thác
lợi thế so sánh về chi phí sản xuất, năng suất và công nghệ vì chi phí sản
Trang 26xuất thấp hiện vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh.,thêm vào đó các chỉ số về chi phí còn cho phép xác định mức độ phúc lợi
xã hội mà ngành, công ty đóng góp cho nền kinh tế
Khả năng cạnh tranh của một ngành và công ty trên giác độ hiệu ứng
của các chính sách và biện pháp lại được xem xét trên cơ sở tạo ra và duy
trì khả năng sinh lời và bảo tồn, tăng trưởng thị phần tại các thị trường hiện hữu và mở các thị trường mới Để minh hoạ ý tưởng này, một loạt
các chỉ số đã được đưa lên bàn cân:
Chỉ số về năng suất: năng suất lao động tổng hợp và năngsuất của từng yếu tố tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm
Chỉ số về công nghệ: chỉ số về chi phí cho nghiên cứu vàphát triển (R&D), mức độ hiện đại hoá trang thiết bị và công nghệ
Chỉ số đánh giá kết quả sản xuất-kinh doanh và các chínhsách marketing của công ty:
Sản phẩm: chỉ số về chất lượng, sự khác biệt hoá sảnphẩm, giá trị vô hình của sản phẩm, mức độ cải tiến, phát triển và cungứng sản phẩm mới
Giá: chiều dài, chiều rộng của các mức giá hoạch địnhtrên các tuyến sản phẩm, độ linh hoạt về giá và sự mềm dẻo trong quyếtđịnh điều chỉnh giá
Hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm: khả năngthiết kế và kiểm soát kênh phân phối, hiệu quả hoạt động của các nhàphân phối- các trung gian phân phối, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn
có hỗ trợ quá trình vận chuyển phân phối hàng hoá
Các dịch vụ hỗ trợ, xúc tiến và khuyếch trươngthương mại khác
Các chỉ số đánh giá sự ổn định nguồn cung ứngđầu vào và ảnh hưởng bên ngoài khác
Ứng dụng cách đánh giá trên, Tổ chức Phát triển Công nghiệpLiên hiệp quốc (UNIDO) và Viện Chiến lược Phát triển (DSI) thuộc Bộ
Kế hoạch Đầu tư, tháng 4/1998 đã thực hiện và công bố kết quả điều tra
về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam Điều tra được thực hiện trên tổngmẫu 254 doanh nghiệp ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam, trong các ngành
Trang 27sản xuất: cà phê, gạo, rau quả, hải sản, dệt, may, xe đạp, cơ khí nôngnghiệp, phụ tùng ô tô, điện tử, với ba loại hình doanh nghiệp: doanhnghiệp Nhà nước trung ương, doanh nghiệp Nhà nước đóng tại địaphương, Liên doanh, các hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân Kết quảđiều tra cho thấy ảnh hưởng của các nhân tố tới vị thế cạnh tranh của cácdoanh nghiệp (đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 3: 1- Không quan trọng,2- Trung bình, 3- Mạnh mẽ) như sau:
Bảng 1.8: Ảnh hưởng của các nhân tố tới vị thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp
Tiêu thức ảnh
hưởng
Cà phê Gạo
Hải sản
Rau quả Dệt May Ô tô
Xe đạp
Cơ khí NN
Điện tử
(Báo cáo Điều tra Cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam, 1998).
Kết quả điều tra cũng đưa ra một cách chi tiết những lĩnh vực chủ yếu
có ảnh hưởng mạnh đến năng lực cạnh tranh, bao gồm:
o Sự tin tưởng của khách hàng o Giao hàng đúng hạn
o Sự tin cậy của các nhà cung cấp o Mạng lưới phân phối
o Chuyên môn hoá sản phẩm o Năng lực tài chính
o Năng lực nghiên cứu và phát triển o Liên kết với các đối tác nước ngoài
Trang 28o Kĩ năng của nhân viên o Cấu trúc sở hữu
o Các nhân tố khác
Trang 29thấy rõ nét hơn vị trí của công ty, các điểm mạnh/yếu trong quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh để hoạch định các chương trình chiến lược và sách lược hữu hiệu gắn với thể trạng thực của công ty.
Theo quan điểm hội tụ vấn đề từ cấp vĩ mô đến vi mô, có thể khẳngđịnh rằng năng lực cạnh tranh là một hàm số của nhiều biến trong đó baogồm những biến chủ yếu:
Cơ sở kinh tế vĩ mô của khả năng cạnh tranh
Các hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp
Các điều kiện thị trường về thương mại (khuyến khích vàhạn chế xuất/nhập khẩu), đầu tư nước ngoài, tài chính, vai trò và hệ thốngcác doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, hệ thống đào tạonguồn nhân lực và các vấn đề về công nghệ
Với những kiến thức lý luận trình bày trên đây, ta có thể tạm thờicoi như đã chuẩn bị được một phần cần thiết cho công việc nghiên cứucác doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân tại Việt Nam và công cuộchội nhập quốc tế Ta đã nắm được các kiến thức về hội nhập quốc tế vớidoanh nghiệp, các kiến thức về cạnh tranh hữu hiệu và cách tính toán cácchỉ số đo lường cạnh tranh dưới góc độ vĩ mô, các yếu tố ảnh hưởng đếncạnh tranh Ở phần đầu của chương chúng ta đã hiểu được định nghĩa củaViệt Nam về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như cách phân loại chúng,các ưu thế và hạn chế của loại hình doanh nghiệp này và các điều khoảnpháp luật chi phối Sau đây ta sẽ đi vào chương II, phần tìm hiểu thực tếquá trình hội nhập quốc tế cũng như tình hình hoạt động của các doanhnghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Trang 30nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân Việt Nam
I Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam:
1 Tình hình thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các năm:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm dưới sự sở hữu mọi thành phầnkinh tế và trải rộng ra toàn bộ các ngành kinh tế Có cả doanh nghiệp vừa
và nhỏ do nhà nước sở hữu, có những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cácngành như năng lượng và công nghệ thông tin Đối tượng của bài nàytập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân, nghĩa là sẽloại bỏ các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc tập thể
Theo số liệu ở bảng dưới đây ta thấy các PSSMEs thuộc về khuvực phi nông nghiệp bao gồm ba nhóm doanh nghiệp: hộ kinh doanh tậpthể, các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có đăng ký kinhdoanh chính thức (sau đây sẽ gọi là doanh nghiệp tư nhân chính thức) vàcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các nghiên cứu về khu vựckinh tế tư nhân cũng như về khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ cho phép
ta đánh giá một cách khái quát rằng ở Việt Nam doanh nghiệp nhỏ và
vừa bao gồm hầu như toàn bộ khu vực hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp vừa và
nhỏ thuộc diện có đầu tư nước ngoài rất ít, có thể bỏ qua không nghiêncứu Như vậy để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng ta sẽ chỉ tậptrung xem xét các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp và các
hộ kinh doanh cá thể
Trang 31Hộ kinhdoanh cáthể
Doanh nghiệp
có vốn đầu tưnước ngoài
Doanh nghiệpđăng ký hàngnăm
2 Các loại hình doanh nghiệp được xem xét đến trong nhóm doanh
nghiệp vừa và nhỏ:
a Các hộ kinh doanh cá thể
Ở nước ta các hộ kinh doanh cá thể là đơn vị kinh doanh được điềuchỉnh theo Nghị định 66/HĐBT ban hành ngày 02-03-1992 Gần đâyNghị định nay được thay thế bằng Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 18-02-2000 Không giống với những người bán hàng rong và những ngườicung cấp dịch vụ với thu nhập thấp – khu vực phi chính thức, hộ kinhdoanh cá thể vẫn phải đăng ký kinh doanh và nộp thuế kinh doanh Trướckhi thực thi Nghị định số 02/2000/NĐ-CP, nếu hộ kinh doanh cá thểmuốn thành lập doanh nghiệp họ phải có mức vốn pháp định không thấp
Trang 32vực kinh tế tư nhân Do tính pháp nhân không đầy đủ nên có thể xem các
hộ kinh doanh cá thể như khu vực “bán chính thức”
Các cuộc khảo sát đã cho ta thấy các con số khác nhau về hộ kinhdoanh cá thể trong giai đoạn 1995-1997 như: gần 1.9 triệu hộ (tháng 7-1995) và 1.4 triệu (tháng 12-1996) Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê,tổng số hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp tăng từ 1 triệu năm 1992lên tới 1.7 triệu năm 1999 Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới từ1990-1995, do nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn, lao động việc làm củakhu vực nay đã được phân bổ về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt làcác hộ kinh doanh cá thể Nhìn chung khu vực này phát triển rất nhanh và
có xu hướng ngày càng tăng, trừ giai đoạn 1995-1996 Số lượng hộ kinhdoanh cá thể ở nước ta giảm một cách đáng kể trong vòng 1 năm (1995-1996) là do có một số hộ đăng ký thành doanh nghiệp chính thức Ngoài
ra còn có 2 nguyên nhân khác, đó là việc thi hành Nghị định 36/CP ngày29-5-1995 của Chính phủ yêu cầu đảm bảo an toàn và trật tự giao thông
đô thị không cho phép một loạt các kinh doanh cá thể tiến hành công việckinh doanh ven đường hoặc ở những nơi đặc biệt Lý do thứ hai làphương pháp thống kê ở hai cuộc điều tra có những điểm khác nhau Sốliệu điều tra năm 1995 được thực hiện bằng phương pháp tổng điều tra vàcán bộ điều tra đến từng hộ kinh doanh cá thể để phỏng vấn Số liệu năm
1996 dựa vào điều tra bằng phiếu phỏng vấn do chính các hộ kinh doanh
cá thể điền và một số hộ đã không gửi lại phiếu Theo thống kê của TổngCục Thống Kê, tổng số hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã lên tới1.8 triệu hộ vào năm 2000 và đạt 2.1 triệu năm 2001
Việc tốc độ gia tăng số lượng các hộ kinh doanh cá thể ngày cànggiảm đã chỉ ra một số khuynh hướng phát triển, trong đó có việc các hộkinh doanh cá thể chuyển dần thành những doanh nghiệp chính thức mới
do nhu cầu phát triển, nâng cao năng suất lao động Tuy nhiên xu hướngnày không hoàn toàn phổ biến Trong thời gian này môi trường kinhdoanh và khung pháp luật được cải thiện đã khuyến khích việc thành lậpdoanh nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp chính thức hơn là hộ kinhdoanh cá thể Từ khi thực khi Luật Doanh nghiệp 1999 (từ 1-1-2000) chỉ
có 9% trong số các doanh nghiệp mới đăng ký chính thức được chuyển
Trang 33mới hoàn toàn.
Trung bình hộ kinh doanh cá thể tuyển dụng (kể cả chủ) khoảng3.3 người cho một doanh nghiệp ở nông thôn, và 6.3 công nhân trong mộtdoanh nghiệp ở khu vực thành thị Tóm lại hầu hết các hộ kinh doanh cáthể là các doanh nghiệp cực nhỏ Đa số hộ kinh doanh cá thể hoạt độngtrong khu vực dịch vụ, đặc biệt là bán lẻ (xin xem bảng 2.2) Vì vậy phầnđóng góp của hộ kinh doanh cá thể trong tổng sản phẩm công nghiệp chỉ
có 12.3%, theo kết quả của Tổng cục Thống kê: Kết quả điều tra toàn bộ
công nghiệp năm 1998, NXB Thống kê, Hà Nội, 1999.
Bảng 2.2: Phân bố các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
và hộ kinh doanh cá thể theo hoạt động, 1997-1998
(Đơn vị %)
Hộ kinh doanh cá thể phinông nghiệp 1997-1998 Doanh nghiệptư nhân chính
thức (năm1998)
Cảnước
Nôngthôn
Thànhthị
b Các doanh nghiệp tư nhân chính thức thuộc diện vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam được thànhlập theo Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 199o Các bộluật này đã được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1
Trang 34của doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần và công ty hợp danh Phần lớn các doanh nghiệp đăng kýdưới hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên.
Cho đến nay việc phân loại các doanh nghiệp theo quy mô vẫnchưa được thực hiện trên phạm vi toàn quốc Những tiêu chí phân loạitheo quy mô đôi khi cũng rất khác nhau khiến cho việc tổng hợp số liệucũng không thẻ thực hiện được một cách có hệ thống Ta có thể xem xét
cơ cấu của khu vực kinh tế tư nhân thông qua ba bảng dưới đây:
Bảng 2.3: Phân loại doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chính
thức theo quy mô, 1998
1-100 lao động Trên 100 lao
động
Tổng cộng
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê năm 1999
Bảng 2.4: Phân loại cơ sở kinh doanh phi nông nghiệp tại các vùng nông thôn theo
quy mô (bao gồm các hộ kinh doanh cá thể)
1-10lao động
11-50lao động
51-100lao động
Trên
100 laođộng
Tổngcộng
Hộ kinh doanh phi
Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn: Các ngành nghề nông thôn Việt
Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 1998.
Bảng 2.5: Phân loại doanh nghiệp công nghiệp theo quy mô (không
bao gồm các hộ kinh doanh cá thể)
Trang 35Tổng cộng 34.41 32.89 18.90 13.80 100.0Khu vực ngoài
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Kết quả điều tra toàn bộ công nghiệp năm 1998,
NXB Thống kê, Hà Nội, 1999.
Từ 3 bảng trên ta thấy chúng minh chứng cho một kết luận là: doanh
nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong khu vực kinh tế tư nhân.
Nghiên cứu sự phân bố của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
khu vực kinh tế tư nhân cho ta thấy một đặc điểm: sự không đồng đều và
mất cân bằng Phân bố theo địa lý: Miền Nam chiếm ¾ tổng số doanh
nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam và chiếm hơn 80% số doanhnghiệp sản xuất; Riêng thành phố Hồ Chí Minh chiếm ¼ tổng số doanhnghiệp (12% doanh nghiệp sản xuất) và gần 1/3 số lao động trong các khuvực kinh tế tư nhân; Khoảng 18% các khu vực kinh tế tư nhân đặt tạiMiền Bắc Phân bố theo ngành: doanh nghiệp tư nhân phần lớn tập trungvào một số ngành; năm 1999 các doanh nghiệp làm thương mại chiếmgần một nửa trong tổng số doanh nghiệp tư nhân, sau đó là các doanhnghiệp sản xuất và doanh nghiệp xây dựng chiếm khoảng 27.6%
II Những đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền
kinh tế:
1 Đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực tư nhân
trong GDP:
Đánh giá mức đóng góp của các doanh nghiệp nói trên trong GDP
cả nước là rất khó tính toán vì cho đến nay số liệu về các khoản đóng gópvào GDP do Tổng cục Thống kê tính toán không được phân loại theo quy
mô doanh nghiệp
Tuy nhiên như đã kết luận ở trên, tính về số lượng cơ sở kinhdoanh thì hầu hết các hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp tư nhânđều là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Thông qua đánh giá phần đóng gópvào GDP của các doanh nghiệp tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể ta cóthể đánh giá tương đối chính xác đóng góp của các PSSMEs (tỷ lệ phân
Trang 36đã được trình bày trong bảng 2.2)
Bảng 2.6 cho thấy phần đóng góp vào GDP của doanh nghiệp tưnhân chính thức thường xuyên giữ mức 7.5% Phần đóng góp của hộ kinhdoanh cá thể và trang trại vào GDP có giảm một ít từ 36% năm 1995xuống còn 33.18% năm 1999 Phần đóng góp của khu vực kinh tế nhànước tăng lên 41.4% năm 1997 và giảm xuống 41% năm 1999 Đóng gópcủa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7% lên hơn 10% GDPtrong 5 năm cuối Thực tế phần đóng góp 40.5% vào GDP của hộ kinhdoanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân chính thức (năm 1999) bao gồmphần đóng góp của các trang trại nông nghiệp và hộ kinh doanh nôngnghiệp Ước tính phần đóng góp của hộ kinh doanh cá thể phi nôngnghiệp là 19% GDP (số liệu không chính thức của Tổng cục Thống kê)
Do vậy toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 26.31% GDP
Bảng 2.6: Đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế trong giai
đoạn 1995-1999 (giá so sánh 1994)
Hộ kinh doanh cá thể và trang trại 35.9 35.0 34.2 33.4 33.1
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2000, NXB Thống kê, Hà Nội,
2001.
2 Đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân về mặt lao động
Trang 37Hiện nay số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đăng ký đã lêntới hơn 70 000 đơn vị và tăng nhanh Trong số đó có các loại hình nhưdoanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần vàcông ty hợp danh Số lượng hộ kinh doanh cá thể đã vượt trên con số 2.1triệu 64.8% tổng số lao động được trả lương (không kể việc làm trongcác tổ chức hành chính, xã hội) được tạo ra từ khu vực này so với 22.5%lao động được tạo ra từ khu vực kinh tế nhà nước.
Dưới đây là bảng tỷ lệ lao động được trả lương trong khu vực sảnxuất vật chất năm 1993 và năm 1998 Sở dĩ nói lao động được trả lương
là vì trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số lớn là các doanhnghiệp hộ gia đình với một đặc điểm riêng biệt Trong các doanh nghiệploại này có những người trong gia đình làm trong các đơn vị đó và khôngnhận lương, phần chi phí trả cho họ không nằm trong bảng lương củadoanh nghiệp (có thể họ sẽ nhận được tiền khi đã kết thúc một chu kỳkinh doanh, có thể họ nhận tiền kiểu khác ) Quy định rõ tỷ lệ lao độngđược trả lương sẽ xác định đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏtrong việc giải quyết công ăn việc làm chính thức cho các lao động tínhtrên tổng thể nền kinh tế
Bảng 2.8: Tỷ lệ lao động được trả lương trong khu vực sản
Trang 38Tư nhân
và hỗn hợp
Cá thể
Vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Ban chỉ đạo điều tra việc làm Trung ương: Báo cáo sơ bộ kết quả điều
tra lao động-việc làm 1-7-2001.
Nếu xét từ góc độ tạo việc làm trên tổng số lao động thì hộ kinhdoanh cá thể chiếm ưu thế trong khu vực kinh tế tư nhân (30.4%) nhưngđóng góp của chúng có xu hướng giảm vì số việc làm được tạo ra bởi mỗi
cơ sở thuộc loại hình này rất ít Tuy đóng góp của khu vực kinh tế tưnhân chính thức vào GDP còn thấp (khoảng 7.31% tập trung chủ yếuvào khối công nghiệp và dịch vụ), nhưng khu vực này tiềm tàng khả năngtạo nhiều công ăn việc làm lớn hơn các khu vực khác Ta có thể nhận ra
Trang 39việc làm thường xuyên theo ngành kinh tế và khu vực thành phần kinh tếnăm 2001.
b Về lao động trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp:Tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này trong ngành côngnghiệp được khẳng định qua cuộc tổng điều tra về khu vực công nghiệp.Loại hình doanh nghiệp này tạo ra một nửa số lượng việc làm trong cácngành công nghiệp Tuy nhiên điều đáng chú ý là các doanh nghiệp nhỏ
và cực nhỏ không tạo được nhiều việc làm cho lao động do ngành côngnghiệp sử dụng nhiều lao động phải là các doanh nghiệp có quy mô vừa.Cũng cần lưu ý rõ là lĩnh vực hoạt động chính của các doanh nghiệp nhỏ
và cực nhỏ của Việt Nam là thương mại và dịch vụ chứ không phải làcông nghiệp
Bảng 2.10: Phân bổ lao động theo quy mô của doanh nghiệp
trong ngành công nghiệp
Tổng số
(%)
Doanhnghiệplớn
Doanhnghiệp vừa
Doanhnghiệp nhỏ
Doanhnghiệp cựcnhỏ
Hộ kinhdoanh cáthể
Nguồn:Tổng cục Thống kê: Kết quả điều tra toàn bộ công nghiệp năm 1998,
NXB Thống kê, Hà Nội, 1999
Ghi chú: Doanh nghiệp vừa ở đây có quy mô 50-200 lao động
Ý nghĩa của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong vấn đề tạo việclàm còn thể hiện ở chi phí vốn cho một việc làm Nếu so sánh chi phí tạoviệc làm giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa thì thấy rằng doanh nghiệp cóquy mô nhỏ không tạo được nhiều việc làm trên một đồng vốn so vớidoanh nghiệp có quy mô vừa-có từ 50-200 lao động Do thiếu số liệuthống kê về chi phí vốn cho một lao động tại các doanh nghiệp nhỏ vàvừa Việt Nam nên chỉ số này được xem xét dựa vào sự so sánh giữa cácdoanh nghiệp thuộc các thanh phần kinh tế khác nhau
Trong các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài chi phí vốn tạo một việc làm thường cao hơn Chi phí vốn
để tạo ra một việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân chính thức bình
Trang 40triệu đồng Tuy nhiên chi phí vốn cao nhất cho một việc làm thuộc về khuvực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: bình quân là 294 triệu đồng (Các
số liệu dựa theo UNIDO: Tài liệu hành động số 5, Hỗ trợ cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, Vienne, 2000).
Có nhiều bằng chứng cho thấy chi phí vốn thật sự để tạo ra mộtviệc làm trong khu vực kinh tế nhà nước cao hơn tỷ lệ vốn/lao động đềcập ở trên trước hết giá trị tài sản cố định trong các doanh nghiệp nhànước được xác định theo giá trị khấu hao chứ không phải theo chi phí cơhội (chi phí thay thế) Thứ hai, tổng giá trị đất đai của các doanh nghiệpnhà nước không xác định được vì đất đai thường được ghi nhận như chiphí lưu động (tiền thuê) và không phải là chi phí vốn Cuối cùng, khu vựckinh tế nhà nước đang có một số lượng đáng kể lao động dư thừa Từnăm 2001 Chính phủ Việt Nam đã tạm dừng việc thành lập doanh nghiệpnhà nước Trong số các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động, có 40%hoạt động không hiệu quả Tổng số nợ của doanh nghiệp nhà nước lên tới
190000 tỷ đồng (13.1 tỷ USD) bằng 33% GDP
(Các phân tích về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và các số liệu nói
trên được rút ra từ cuốn Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Phạm thị Thu Hằng, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2002 )
III Các đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân:
Đặc điểm đầu tiên cần nói đến là tỷ lệ lao động được trả lương
trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực tư nhân - PSSMEs ở khu vựcthành phố cao hơn so với khu vực nông thôn, theo nghiên cứu thực hiệnnăm 1996 (xem bảng 2.7 phần Phụ lục) Số lao động được trả lương trongcác PSSMEs ở thành thị cao hơn ở nông thôn phản ánh một phần về trình
độ chuyên nghiệp của các lao động này Sự khác biệt về tỷ lệ lao độngđược trả lương đó có tương quan dương với trình độ nguồn lao động Nóicách khác là tỷ lệ càng chênh lệch thì khác biệt về trình độ càng lớn
Bảng 2.7: Đặc điểm chính của các PSSMEs năm 1996
(phần rút ngắn)