Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ ở Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO PHỤ 7
1.1 Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 7
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ 7
1.1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 9
1.1.3 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 10
1.1.3.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.1.3.2 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 11
1.1.3.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm 14
1.1.3.4 Phí bảo hiểm 15
1.1.3.5 Giám định và bồi thường 18
1.1.3.6 Đề phòng và hạn chế tổn thất 19
1.2 Công tác khai thác bảo hiểm cháy và rủi ro phụ 20
1.2.1 Quy trình khai thác 20
1.2.1.1 Tiếp thị khách hàng 20
1.2.1.2 Đánh giá rủi ro 21
1.2.1.3 Ký kết hợp đồng 21
1.2.1.4 Quản lý hợp đồng bảo hiểm 22
1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 22
1.3.1 Chỉ tiêu phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác 22
1.3.2 Chỉ tiêu phân tích cơ cấu khai thác 23
1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 23
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 24
1.5.1 Yếu tố chủ quan 24
1.5.1.1 Uy tín, thương hiệu của công ty 24
1.5.1.2 Yếu tố thuộc về sản phẩm bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 25
1.5.1.3 Kênh phân phối của sản phẩm bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 25
1.5.1.4 Dịch vụ chăm sóc khách hàng 26
1.5.2 Yếu tố khách quan 26
1.5.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 26
1.5.2.2 Sự cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ RỦI RO PHỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI 28
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội và tình hình kinh doanh của Công ty 28
Trang 32.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông
– Chi nhánh Hà Nội 28
2.1.1.1 Lịch sử hình thành 28
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức 29
2.1.2 Tình hình kinh doanh bảo hiểm tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội 29
2.1.3 Phương hướng hoạt động của doanh nghiệp 31
2.2 Thị trường kinh doanh bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ trên thị trường Việt Nam hiện nay 32
2.3 Thực trạng của hoạt động khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội 34
2.3.1 Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội 34
2.3.2 Kết quả khai thác 38
2.3.3 Hiệu quả khai thác 41
2.4 Đánh giá chung 43
2.4.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 43
2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 44
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO PHU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI 46
3.1 Giải pháp 46
3.1.1 Giải pháp đối với nguồn nhân lực 46
3.1.2 Giải pháp về quản lý và xác định đối tượng tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ 47
3.1.3 Giải pháp về mở rộng mạng lưới phân phối 48
3.1.4 Giải pháp về nâng cao chất lượng hệ thống phân phối qua đại lý 49
3.1.5 Giải pháp về dịch vụ chăm sóc khách hàng 50
3.1.6 Giải pháp đối với công tác tuyên truyền quảng cáo 51
3.1.7 Về phối hợp với lực lượng Công an, Cảnh sát PCCC 52
3.2 Khuyến nghị 52
3.2.1 Đối với Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng có liên quan 52
3.2.2 Đối với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 54
KẾT LUẬN 55
PHỤ LỤC 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1: Quy trình khai thác bảo hiểm ………21
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông - Chi nhánh
Hà Nội ………30Bảng 1 Kết quả kinh doanh bảo hiểm giai đoạn 2008-2010……… 31Bảng 2 Thị phần bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ năm 2010 ………34Bảng 3: Doanh thu, tốc độ tăng và thị phần bảo hiểm cháy, nổ trên thị trườngbảo hiểm phi nhân thọ ………34
Sơ đồ 3 Quy trình khai thác của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ ……… 36
Bảng 4 Doanh thu và tình hình thực hiện kế hoạch nghiệp vụ bảo hiểm cháy
và các rủi ro phụ 2008 – 2010 ……….39Bảng 5 : Doanh thu phí và số hợp đồng khai thác giai đoạn 2008 – 2010 … 40Bảng 6 : Doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ các đơn vịtrực thuộc khu vực miền Bắc – VASS……….41Bảng 7 : Doanh thu phí bảo hiểm tài sản giai đoạn 2008 – 2010 ………… 42Bảng 8: Hiệu quả khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ VASS Hà Nội
2008 – 2010 ……….43
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cáclĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội không ngừng phát triển Đặc biệt là lĩnhvực kinh tế với mức tăng trưởng cao, nhiều nhà máy, xí nghiệp, nhà caotầng…được xây mới; Hàng hóa, vật tư, thiết bị, máy móc…ngày càng nhiều.Bên cạnh đó, với sự gia tăng dân số, nhất là các đô thị lớn, làm nguy cơ cháy,
và nguồn vốn đầu tư vào công tác đảm bảo an toàn thường thấp hơn so nguồnvốn đầu tư phát triển Vì thế ngày càng có nhiều vụ cháy với thiệt hại lớn hơn,nguyên nhân xảy ra cũng khó lường hơn trong đó cũng có cả nguyên nhânxuất phát từ mặt trái công nghệ
Tuy nhận thức được sự nghiêm trọng của cháy, nổ và thiệt hại do cháy,
nổ gây ra, nhưng không phải tổ chức, cá nhân nào cũng ý thức được tầm quantrọng của việc mua bảo hiểm cháy và rủi ro phụ Chính vì vậy, tuy đã đượctriển khai trên thị trường bảo hiểm Việt Nam từ rất lâu nhưng việc khai thácnghiệp vụ bảo hiểm này vẫn còn rất khiêm tốn Cần phải có sự thay đổi nhậnthức để các cơ quan, doanh nghiệp, hộ cá nhân không chỉ mua bảo hiểm cháy
nổ bắt buộc mà còn tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tự nguyện để
bảo vệ mình và xã hội Chính vì vậy mà em đã quyết định chọn đề tài : “Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ ở Công ty Cổ phần bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp
với mong muốn góp phần làm rõ thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nhằmđẩy mạnh công tác khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tạiCông ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội trong những nămtiếp theo
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Từ những vấn đề lý luận chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy
và rủi ro phụ để thấy được ý nghĩa thiết thực của bảo hiểm cháy và các rủi rophụ Đồng thời thông qua việc phân tích cụ thể tình hình khai thác nghiệp vụnày ở VASS Hà Nội để nhằm tìm ra những mặt còn hạn chế trong việc khaithác nghiệp vụ bảo hiểm này từ đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằmnâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tạiVASS Hà Nội trong thời gian tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy
và các rủi ro phụ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh HàNội
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chinhánh Hà Nội giai đoạn 2008 – 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Một số phương pháp khác: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
số liệu kết hợp phân tích lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu khóa luận
Chương I: Lý luận chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và cácrủi ro phụ
Chương II: Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi rophụ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác khai thácnghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểmViễn Đông – Chi nhánh Hà Nội
Trang 7CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO PHỤ
1.1 Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ.
1.1.1.1 Trên thế giới
Tại những thành phố đông đúc của thế kỷ XVII ở châu Âu, hầu hết nhàcửa đều dựng bằng gỗ, trong khi đó mọi người dùng lửa để sưởi ấm, chiếusáng và đun nấu Do đó mà rủi ro nhà bị bắt lửa là rất dễ xảy ra Để đề phòngnguy cơ xảy ra rủi ro này thì vào ban đêm ở các thành phố thị trấn đều có độituần tra để nhắc nhở các nhà về nguy cơ cháy đồng thời nhà nào cũng dự trữcác xô chứa nước để kịp thời dập những đám cháy nhỏ Còn khi có ngôi nhànào đó bị cháy rụi thì tất cả các hàng xóm sẽ hợp sức với nhau để giúp xâydựng lại ngôi nhà Hoạt động này chỉ mang tính chất tương hỗ, giúp đỡ nhauchứ không mang tính chất bảo hiểm
Hiệp hội bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591 mang tên FeuerCasse, một thời gian ngắn sau đó đã xuất hiện thêm một vài công ty nữanhưng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17 Phải đến năm 1666,sau khi chứng kiến đám cháy khủng khiếp ở thủ đô Luân Đôn kéo dài bảyngày, tám đêm (bắt đầu từ chủ nhật 2/9/1666 đến ngày 9/9/1666) thiêu hủyhoàn toàn 13.200 ngôi nhà, 137 văn phòng, 87 nhà thờ trong đó có cả nhà thờSaint Paul và trụ sở của Lloyd’s người ta mới ý thức được tầm quan trọng củaviệc thiết lập hệ thống phòng cháy, chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệthại một cách hiệu quả Như vậy, thảm họa này đã kích thích sự ra đời của mộtnghiệp vụ bảo hiểm mới – Bảo hiểm cháy
Năm 1667 ở Anh, văn phòng bảo hiểm cháy đầu tiên được thành lập lấytên gọi là “The fire office” với tiền thân là những người lính cứu hỏa LuânĐôn Năm 1684, công ty bảo hiểm cháy đầu tiên (Công ty Friendly Society) rađời, hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ và hệ thống chi phí cố định, tức làngười được bảo hiểm phải chịu một phần tổn thất khi rủi ro xảy ra Sau đóhàng loạt các công ty bảo hiểm cháy khác ra đời ở Anh như: Amicable (1696),Hand in hand (1696), Sun Fire Office (1710), Union (1714) và các công ty nàyvẫn hoạt động cho đến ngày nay Sau nước Anh, bảo hiểm cháy đã lan dầnsang các nước khác trên lục địa Châu Âu: ngay từ năm 1677, tại Hambourg
Trang 8(Đức) đã thành lập quỹ hỏa hoạn đầu tiên của thành phố; năm 1684, công tybảo hiểm đầu tiên ở Pháp chính thức đi vào hoạt động.
Ngày nay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ được triển khai ở hầuhết các nước trên thế giới: Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là công
ty bảo hiểm tương hỗ do Benfamir Franklin và một số thành viên khác sánglập năm 1752, mang tên The Philadenphia Contributionship chuyên bảo hiểmhỏa hoạn cho nhà cửa Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ở Mỹ mang tên làThe insurance company of North America được thành lập năm 1792 TạiNhật, bảo hiểm cháy đã phát triển mạnh mẽ và trở thành nghiệp vụ truyềnthống với doanh thu phí hàng năm rất cao, năm 1993 doanh thu phí của nghiệp
vụ bảo hiểm cháy đạt 1.017.008 triệu yên chiếm 15,5% tổng doanh thu cácnghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Hiện nay, hợp đồng bảo hiểm cháy ngoài các rủi ro chính như cháy, nổ,sét đánh còn bao gồm các rủi ro phụ hay các rủi ro đặc biệt như: động đất, lũlụt, cháy ngầm dưới đất, hệ thống phòng cháy, chữa cháy bị rò rỉ nước, máybay và các phương tiện hàng không rơi vào làm tài sản bị cháy, nổ hay thiệthại do bạo loạn, đình công… từ đó hình thành nên nghiệp vụ bảo hiểm cháy
và các rủi ro phụ
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam thì đây cũng là một nghiệp vụ được triển khai sớm vào cuốinhững năm 1989 sau khi có quyết định 06/ TCQĐ ngày 17/1/1989 của Bộtrưởng Bộ Tài Chính và Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên triển khai nghiệp
vụ bảo hiểm cháy Sau một thời gian thực hiện để phù hợp hơn với thực tế BộTài Chính đã ban hành thêm một số quyết định: quyết định số 142/TCQĐ vềquy tắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 ban hànhbiều phí bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ với mức phí tối đa thay cho biểu phí
cũ theo quyết định số 142/TCQĐ và mới nhất là quyết định 28/2007/QĐ- BTCngày 24/04/2007 về quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy bắt buộc Với việc banhành nghị định 130/2006/NĐ - CP ngày 08/11/2006 của Chính phủ quy địnhchế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã làm cho thị trường bảo hiểm cháy trởnên là chiếc bánh hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm
Tính đến năm 1990 thì nước ta đã có khoảng 16 doanh nghiệp triển khainghiệp vụ này với giá trị bảo hiểm lên tới 6200 tỷ đồng Mặc dù đối tượng bảohiểm chủ yếu của doanh nghiệp là các kho xăng dầu, còn phần lớn các khách
Trang 9sạn, chợ, nhà máy … có giá trị lớn vẫn chưa được bảo hiểm xong năm 1994thì loại hình này đã được triển khai ở hầu hết 53 tỉnh thành phố với tổng giá trịbảo hiểm 27.000 tỷ đồng Còn giai đoạn 1994-1995 thì có sự xuất hiện củamột số công ty bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo Minh, Pjico, Bảo Long… đã hâmnóng thị trường bảo hiểm cháy Từ đó cho đến nay thì chúng ta tiếp tục chứngkiến sự phát triển đa dạng và sôi động của thị trường bảo hiểm cháy với sựxuất hiện của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm như VASS, PTI, BIC, MIC,ABIC…Và từ ngày 01/01/2008 cuộc cạnh trạnh trong thị trường bảo hiểmcháy càng diễn ra khốc liệt hơn, khi Việt Nam sẽ thực hiện lộ trình cam kếtWTO, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài sẽ được khai thác sảnphẩm bảo hiểm trong đó có bảo hiểm cháy nổ
1.1.2 Vai trò của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ ra đời có tác dụng rất lớn đốivới không chỉ các cá nhân, tổ chức mà còn cho toàn xã hội Điều đó được thểhiện :
+ Góp phần khắc phục tổn thất từ đó ổn định sản xuất và sinh hoạt của con người.
Nếu xảy ra cháy lớn, khi chưa có nghiệp vụ này thì các cá nhân, tổ chức,doanh nghiệp phải đương đầu với rất nhiều khó khăn về tài chính, thậm chí cóthể phá sản đặc biệt khi giá trị tài sản lớn Nhưng khi tham gia bảo hiểm cháy
và các rủi ro phụ thì lúc đầu họ chỉ bỏ ra một khoản tiền không lớn để nhậnđược sự cam kế bồi thường trong tương lai khi có rủi ro xảy ra từ phía nhà bảohiểm Khi không may gặp rủi ro sẽ được nhanh chóng bồi thường để ổn địnhsản xuất kinh doanh
Có thể nói khi tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ các cá nhân, tổchức, doanh nghiệp đã tự trang bị cho mình tấm lá chắn kinh tế hữu hiệu từ đó
họ có thể yên tâm sản xuất mở rộng, góp phần chống thất nghiệp, mang lạicuộc sống tốt đẹp cho con người, từ đó phát triển xã hội
+ Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ góp phần tích cực vào công tác đề phòng hạn chế tổn thất.
Tham gia bảo hiểm cháy đồng thời thực hiện những biện pháp phòngcháy, chữa cháy hữu hiệu nhất Cháy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ nơiđâu gây nên thiệt hại lớn, nhiều lúc còn mang tính thảm họa Do đó các công
ty phối hợp với khách hàng thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất
Trang 10như: tập huấn về phòng cháy chữa cháy, hỗ trợ khách hàng thiết bị phòngcháy, trích một phần phí để hạn chế tổn thất
+ Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác phòng cháy
và tham gia bảo hiểm:
Cần thực hiện công tác thống kê vì để xác định chính xác tỷ lệ phí, tỷ lệtổn thất, tỷ lệ bồi thường Thông qua thống kê bảo hiểm về các vụ cháy ở quákhứ, cũng như xác xuất xảy ra vụ cháy để xác định được thông tin đảm bảo,nâng cao nhận thức của người dân về rủi ro này Công ty có thể tuyên truyền,phổ biến kiến thức về phòng cháy chữa cháy và tác hại của rủi ro này từ đónâng cao nhận thức của người dân
+ Mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và nhà nước
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm : việc triển khai nghiệp vụ này làm choDNBH đa dạng hóa được sản phẩm, tăng doanh thu phí và lợi nhuận bằngcách khi số phí này nhàn rỗi các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đem đi đầu tư sinhlời Có thể đầu tư vào các hạng mực như: bất động sản, chứng khoán, chongân hàng vay lãi… đem lại lợi nhuận đầu tư lớn và nâng cao hiệu quả kinhdoanh, tăng cường uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Từ
đó có thể giúp doanh nghiệp mở rộng được quy mô doanh nghiệp tạo lậpthương hiệu và chiếm lĩnh thị trường
Nếu khi rủi ro xảy ra, khi tham gia nghiệp vụ bảo hiểm này, người dân vàdoanh nghiệp, các tổ chức sẽ nhanh chóng khắc phúc được hậu quả Rủi roxảy ra có thể làm cho người dân mất đi chỗ ở, các doanh nghiệp hoạt độngkém hiệu quả, thất nghiệp…ảnh hưởng đến cuộc sống của xã hội Ngoài ranhà nước còn thu thêm được từ các doanh nghiệp 1 khoản thuế bổ sung vàongân sách nhà nước
Hơn nữa, từ khi gia nhập WTO, cơ hội mở ra cho nước ta rất lớn, nềnkinh tế phát triển hơn trong quá trình hội nhập, thu hút được vốn đầu tư nướcngoài, khi tham gia bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ sẽ làm cho các nhà đầu
tư an tâm hơn để đầu tư vào nước ta Từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.1.3 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.1.3.1 Các khái niệm cơ bản
+ Cháy : là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sáng do nổ hoặc bất kỳnguyên nhân nào khác
Trang 11+ Nổ : là phản ứng hóa học gây ra việc giải phóng khí và năng lượng độtngột với khối lượng lớn đồng thời phát ra âm thanh và ảnh hưởng vật lý, đếncác vật xung quanh.
+ Sét : là hiện tượng phóng điện từ các đám mây tích điện và mặt đất, tácđộng vào đối tượng bảo hiểm
+ Đơn vị rủi ro : Khi những tài sản ở trên các tòa nhà, kho tàng khácnhau và mỗi tòa nhà, kho tàng cách nhau một khoảng trống lớn hơn khoảngcách tối thiểu h có bức tường chống lửa ở giữa các tòa nhà, kho tàng được gọi
là đơn vị rủi ro hoặc rủi ro riêng biệt
+ Cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ là các cơ sở được quy định tại phụ lục
1 Nghị định số 35/2003/NĐ – CP ngày 04/04/2003 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của luật phòng cháy và chữa cháy
+ Mức khấu trừ là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải tự chịu trong mỗi
sự kiện bảo hiểm
1.1.3.2 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
a Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ là: Tàisản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong xãhội Đối tượng này được phân thành các loại như sau:
- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai)
- Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh
- Vật tư, hàng hoá dự trữ trong kho
- Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và thành phẩm trêndây chuyền sản xuất
- Các loại tài sản khác: kho, bãi, chợ
Việc phân loại này nhằm mục đích xác định phí bảo hiểm cho chính xác
và dễ dàng hơn; làm cho công tác đánh giá và quản lý rủi ro có lợi hơn; làmcho công tác giám định và bồi thường chuẩn xác hơn, hạn chế tối đa sự khiếunại bồi thường không cần thiết
b Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi BH là giới hạn các rủi ro được BH và giới hạn trách nhiệm củacác công ty BH Trong BH cháy, nhà BH có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
và chi phí sau:
Trang 12- Những thiệt hại do những rủi ro được BH gây ra cho TS
- Những chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất TS được BHtrong và sau khi cháy
- Những chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi cháy
* Rủi ro được bảo hiểm
Trong bảo hiểm cháy nổ rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
- Rủi ro chính : “Cháy” (rủi ro A)
Rủi ro này thực chất bao gồm: cháy, sét, nổ
+ Cháy : cháy sẽ được bảo hiểm nếu có đủ 3 yếu tố: Cháy phải thực sự
phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dùng và lửa đó phải là ngẫu nhiên,bất ngờ phát ra, chứ không phải do cố ý, có chủ định Tuy nhiên, nếu cháy xảy
ra do bất cẩn của người được bảo hiểm thì vẫn thuộc phạm vi trách nhiệm bồithường
Khi có đủ 3 yếu tố đó và có thiệt hại về vật chất do những nguyên nhânđược cho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó là
do bị cháy hoặc là do nhiệt hoặc khói gây ra
+ Sét : Người được bảo hiểm sẽ được bồi thường khi tài sản bị phá huỷ
trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây cháy Tức là nếu sét đánh mà không làmhuỷ hoại giá trị của tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường
Cần lưu ý rằng khi sét đánh phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện tử thìđược bồi thường, còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại chothiết bị điện tử thì không được bồi thường
+ Nổ : Nổ trong rủi ro nhóm A, phạm vi bảo hiểm gồm:
Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt
Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôinhà chứ không phải phục vụ cho sản xuất trong các xưởng làm các công việc
nổ đó không phải là do các nguyên nhân bị loại trừ
Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ cháy: Thiệt hại ban đầu docháy được bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quả của nổ thì không được
Trang 13bồi thường
* Các rủi ro phụ.
Ngoài những rủi ro chính đã kể ở trên, trong các đơn bảo hiểm cháy còn
có thêm các rủi ro phụ Nhà bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm cho các rủi rophụ khi người tham gia bảo hiểm đã tham gia các rủi ro chính Người tham giabảo hiểm có thể lựa chọn các rủi ro phụ mà họ thấy cần thiết Họ phải trả thêmphí cho các rủi ro phụ này
- Vỡ, tràn nước từ các bể chứa, thiết bị chứa nước hay đường ống dẫn
- Xe cộ, súc vật không thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm soát của ngườiđược bảo hiểm hay của người làm thuê cho họ đâm vào
- Nước chảy hoặc rò rỉ ra từ thiết bị vòi phun sprinkler tự động lắp sẵntrong nhà
* Rủi ro loại trừ.
Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại
do một trong những nguyên nhân sau gây ra:
- Tổn thất do hành động cố ý hay đồng lõa của người được bảo hiểmgây ra nhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm
- Những tổn thất có liên quan đến hàng hóa nhận ủy thác hoặc kí gửi,trừ khi những hàng hóa đó được xác nhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm làđược bảo hiểm và người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo quy định
- Tiền, chứng khoán, kim loại quý, đá quý, thư bảo lãnh, bản thảo, sổsách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng,khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này được xác
Trang 14nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Chất nổ nhưng không bao gồm: nhiên liệu, xăng dầu
- Người, thực vật và động vật sống
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theođơn Bảo hiểm hàng hải hay thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo hiểmhàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá trách nhiệm bồi thường theo đơn bảohiểm hàng hải
- Tài sản bị mất cắp hay bị cướp
- Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba
- Những thiệt hại nằm trong phạm vi mức miễn thường
1.1.3.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
a Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị của tài sản được bảo hiểm Giá trị này là giátrị thực tế hoặc giá trị mua mới
Tài sản được bảo hiểm cháy thường có giá trị rất lớn như nhà cửa, côngtrình, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hàng hoá vật tư trong kho Có thểxác định GTBH như sau:
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc GTBH được xác định theo giá trị muamới hoặc giá trị còn lại
+ Giá trị mới là giá trị là giá trị ban đầu khi đưa những loại TS này vào
sử dụng (giá trị mới xây của ngôi nhà) bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế
+ Giá trị còn lại là giá trị mua mới trừ đi hao mòn đã sử dụng theo thờigian (đối với TS đã qua sử dụng)
- Đối với máy móc, thiết bị và các loại TS cố định khác: GTBH đượcxác định trên cơ sở giá trị mua mới cộng chi phí chuyên chở lắp đặt (nếu có)hoặc giá trị còn lại
- Đối với thành phẩm, bán thành phẩm, GTBH được xác định trên cơ sởgiá thành sản xuất
- Đối với hàng hóa mua về để trong kho, để trong cửa hàng GTBH đượcxác định theo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại hàng hoá có mặttrong thời gian BH
b Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của người bảo hiểm trongtrường hợp tài sản không được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ Số tiền bảo hiểm
Trang 15còn là căn cứ để xác định phí bảo hiểm Vì thế, xác định chính xác STBH có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Cơ sở xác định STBH là GTBH.
Trường hợp số lượng tài sản thường xuyên tăng giảm thì số tiền bảohiểm có thể được xác định theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa theo thoảthuận của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Cụ thể như sau:
- Giá trị trung bình là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thôngbáo cho doanh nghiệp bảo hiểm về giá trị trung bình của tài sản trong thời hạnbảo hiểm
- Giá trị tối đa là số tiền được bên mua bảo hiểm ước tính và thông báocho doanh nghiệp bảo hiểm giá trị tối đa của tài sản có thể đạt vào một thờiđiểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm Tùy theo thỏa thuận, đầu mỗi thánghoặc quý, bên mua bảo hiểm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm giá trị tối
đa của tài sản được bảo hiểm trong tháng hoặc quý trước đó
Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiềnbảo hiểm do các bên thỏa thuận
1.1.3.4 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm Tính toán mức giá vừaphải, phù hợp với yêu cầu của khách hàng, đảm bảo hoạt động kinh doanhkhông phải đơn giản Bảo hiểm cháy có đối tượng là tài sản rất đa dạng vềchủng loại, giá trị và mức độ rủi ro khác nhau do đó phí bảo hiểm cũng khácnhau
Phí bảo hiểm cháy được tính theo công thức:
P= Sb R Trong đó: Sb là số tiền bảo hiểm
R là tỉ lệ phí bảo hiểm
P là phí bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm (Sb)
Với số tiền bảo hiểm xác định theo giá trị trung bình thì phí bảo hiểmđược tính trên cơ sở giá trị trung bình đó
Với số tiền bảo hiểm xác định theo giá trị tối đa thì khi giao ký kết hợpđồng, phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa theo thông báo của bênmua bảo hiểm Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở giá trị tối đa và thườngđược thu trước 75%
Cuối thời hạn bảo hiểm, căn cứ vào các giá trị tối đa đã thông báo,
Trang 16doanh nghiệp bảo hiểm tính giá trị tài sản tối đa bình quân của cả thời gianbảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm trên cơ sở giá trị tối đa bình quân này Nếuphí bảo hiểm tính được trên cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn phí bảohiểm đã nộp thì bên mua bảo hiểm phải trả thêm cho doanh nghiệp bảo hiểm
số phí bảo hiểm còn thiếu Nếu số phí bảo hiểm tính được này, thấp hơn phíbảo hiểm đã nộp thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả số chênh lệch chobên mua bảo hiểm Nhưng số phí bảo hiểm chính thức phải nộp không đượcthấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã nộp
Nếu trong thời hạn bảo hiểm , tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm đượcngười bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bìnhquân thì phí bảo hiểm được tính dựa vào số tiền được bồi thường được coi là
số tiền bảo hiểm
Tỷ lệ phí thuần (R1) được xác định tương đối phức tạp Về mặt lý thuyếtphải căn cứ vào số liệu thống kê trong một số năm trước đó như: tổng số đơn
vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy; số đơn vị rủi ro bị cháy; tổng số tiền bảohiểm cháy; số tiền bồi thường bảo hiểm cháy…
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: theo phân loại và theo danhmục
+ Theo phân loại: Đây là cách kết hợp các đơn vị có thể so sánh vớinhau vào cùng một loại, sau đó tính tỷ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và cácchi phí khác của loại đó Phương pháp này phù hợp với những tài sản tươngđối đồng nhất với nhau như nhà ở của dân cư, các nhà thờ…Khi thực hiệnphương pháp này cần xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phí như:
Vật liệu xây dựng
Khả năng phòng cháy, chữa cháy
Trang 17 Người sử dụng.
Những vật xung quanh, bên ngoài
+ Theo danh mục: các bước xác định tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm:
Bước 1: Rà xét lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm cháy rồiphân loại từng loại tài sản theo danh mục khác nhau (Bởi vì mỗi loại tài sản
có khả năng cháy, nổ khác nhau)
Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệphí thích hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn
Bước 3: Điều chỉnh tỷ lệ phí đã chọn theo các yếu tố tăng (giảm)
- Về vật liệu xây dựng: Tùy theo vật liệu sử dựng mà công trình xâydựng được chia thành nhiều loại khác nhau Có thể tập chung thành 3 loại
+ Công trình loại D : Được xây dựng từ các vật liệu nặng, khó bắt lửa
và có khả năng chịu lửa tốt (bê tông, cốt thép, đá…) Công trình loại D thườngđược giảm phí bảo hiểm trong biểu phí
+ Công trình loại N : Được xây dựng bằng các vật liệu nhiều chất hóahọc trộn với vật liệu thiên nhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệunặng Công trình loại N thường giữ nguyên tỷ lệ phí
+ Công trình loại L : Được xây dựng bằng các vật liệu nhẹ, dễ bắt lửa
và không có sức chịu lửa Công trình loại L thường làm tăng phí bảo hiểm
- Kết cấu công trình: Các kết cấu của nhà, tầng nhà sẽ ảnh hưởng đếnviệc lan truyền lửa và hơi nóng khi có cháy xảy ra Vì vậy đây cũng là mộtyếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
- Phòng cháy, chữa cháy: Nếu công tác phòng cháy, chữa cháy tốt sẽhạn chế được rủi ro xảy ra cháy thì phí bảo hiểm sẽ được tính thấp hơn
- Cách phân chia các đơn vị rủi ro: theo như tài liệu thống kê của nhiềunước, yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ phí
- Ngoài ra, tỷ lệ phí thuần còn phụ thuộc vào bao bì đóng gói, chủngloại hàng hóa, cách thức xắp xếp
Trường hợp thời gian bảo hiểm nhỏ hơn 1 năm, phí bảo hiểm được tínhtương ứng theo tỷ lệ của thời hạn bảo hiểm, theo công thức sau:
P = Sb × R × t / T
Trong đó: t – thời hạn bảo hiểm
T – thời gian 1 năm (12 tháng)
Trang 181.1.3.5 Giám định và bồi thường
a Giám định
Giám định là cơ sơ xác định chính xác số tiền bồi thường Khi tổn thấtxảy ra, người tham gia bảo hiểm phải kịp thời thông báo tới cơ quan bảo hiểmbằng văn bản, điện thoại, điện tín hoặc fax, bảo đảm 3 nội dung:
- Địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất
- Đối tượng thiệt hại
- Dự đoán nguyên nhân xảy ra tổn thất
Sau khi nhận được thông báo, công ty bảo hiểm cử ngay nhân viên cótrách nhiệm đến hiện trường làm công tác giám định Khi giám định phải làm
rõ các vấn đề sau:
- Thời điểm xảy ra cháy và kết thúc cháy
- Nguyên nhân xảy ra cháy
- Thống kê toàn bộ số tài sản bị thiệt hại
- Lời khai của các nhân chứng
- Công tác phòng cháy chữa cháy và ngăn ngừa thiệt hại khi cháy xảyra
Sau đó lập biên bản giám định có chữ ký của các bên (Công an,cảnh sátphòng cháy chữa cháy, chính quyền sở tại…)
Căn cứ vào biên bản giám định để dự trù số tiền bồi thường một lần haynhiều lần cho người tham gia bảo hiểm
b Bồi thường
Bồi thường là trách nhiệm chủ yếu của công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi
ro được bảo hiểm
Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy, căn cứ vào biên bản giám định, xétbồi thường theo quy tắc tỷ lệ số tiền bảo hiểm
Theo quy tắc này,việc bồi thường được quy định:
- Nếu thời điểm xảy ra tổn thất, số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị thực tếcủa tài sản được bảo hiểm thì số tiền bồi thường (STBT) là:
STBT = Giá trị tổn thất thực tế X
Giá trị bảo hiểm
- Nếu số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm của tài sản tại thời điểm xảy ratổn thất thì số tiền bồi thường ngang băng giá trị tổn thất thực tế
Trang 19- Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất mà giá trị thực tế của tài sản trên thịtrường lớn hơn giá trị của tài sản khi tham gia bảo hiểm đánh giá thì số tiềnbồi thường sẽ là:
Giá trị TS khi tham gia bảo hiểmSTBT = Giá trị tổn thất thực tếc X
Giá trị TS tại thời điểm xảy ra tổn thất
- Nếu tại thời điểm tài sản bị phá hủy hay hư hại trong khi được bảohiểm mà tài sản đó lại được bảo hiểm bằng một hợp đồng bảo hiểm khác thìtrách nhiệm của công ty bảo hiểm trong bất kỳ trường hợp nào cũng chỉ chịutrách nhiệm giới hạn ở phần tổn thất phân bổ cho hợp đồng mà mình bảo hiểmtheo tỷ lệ Cụ thể:
Phí bảo hiểm đã đóngSTBT = Giá trị tổn thất thực tế X
Phí bảo hiểm lẽ ra phải đóng
1.1.3.6 Đề phòng và hạn chế tổn thất
Mục đích của bảo hiểm cháy không chỉ nhằm bồi thường, ổn định tàichính cho người tham gia bảo hiểm mà còn nhằm hạn chế các vụ cháy và hậuquả của chúng
Qua công tác thống kê tình hình tổn thất, giám định bồi thường các vụrủi ro, trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân chủ yếu thường dẫn đến tổn thất,nghiên cứu và đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm làm giảm đến mứcthấp nhất khả năng xảy ra tổn thất, đó là một mặt thuộc công tác đề phòng vàhạn chế tổn thất của công ty
Với số phí bảo hiểm thu được hàng năm, công ty trích lập quỹ đề phòng
và hạn chế tổn thất dùng vào mục đích như : tuyên truyền, hỗ trợ kinh phí, hộinghị khách hàng… Trong các khoản chi này thì khoản chi hỗ trợ kinh phíchiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ số chi cho công tác này Khoản chi này
có tác dụng to lớn không chỉ có giá trị to lớn về mặt kinh tế mà còn có tácdụng tích cực trong tuyên truyền cho hoạt động của nghiệp vụ Khoản chi hỗtrợ trong bảo hiểm cháy bao gồm chi mua các phương tiện cần thiết tối thiểunhư mua bình chữa cháy, còi báo động và chi cho công tác luyện tập của độichữa cháy bán chuyên nghiệp của cơ quan doanh nghiệp, chi thiết lập các biểnbáo cấm lửa…
Trang 20Khoản chi tuyên truyền: Tuyên truyền tốt có tác dụng to lớn trong đềphòng và hạn chế tổn thất Với khoản chi này, công ty sử dụng nhiều biệnpháp tuyên truyền khác nhau như sách, báo, đài, ti vi, pano, áp phích…và điềunày có tác động mạnh mẽ tới ý thức PCCC của nhân dân.
Khoản chi hội nghị: thông qua khoản chi hội nghị khách hàng mà công
ty tiến hành tìm hiểu phân tích đánh giá các biện pháp hạn chế tổn thất hiệuquả nhất
Ngoài các công việc trên công ty thường xuyên cử cán bộ xuống đônđốc người tham gia bảo hiểm thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất,phối hợp với cảnh sát PCCC, về mặt pháp lệnh yêu cầu đối tác phải thực hiệnPCCC từ khâu sản xuất, bố trí mặt bằng… Trong quá trình đề phòng và hạnchế tổn thất, yếu tố "ý thức" con người là quan trọng nhất Do điều kiện kinh
tế, chúng ta còn thiếu phương tiện PCCC nên không thể thiếu ý thức PCCC
1.2 Công tác khai thác bảo hiểm cháy và rủi ro phụ
1.2.1 Quy trình khai thác
Quy trình khai thác bảo hiểm thường được thực hiện như sau:
Sơ đồ 1: Quy trình khai thác bảo hiểm
1.2.1.1 Tiếp thị khách hàng
Nằm trong chiến lược quảng cáo của công ty, tiếp thị khách hàng làkhâu rất quan trọng và có thể nói là khâu đầu tiên trong một quy trình triểnkhai nghiệp vụ
Khi đã biết một số thông tin cơ bản về khách hàng, yêu cầu tiếp theo làvấn đề giới thiệu sản phẩm như thế nào Các bước tiến hành:
- Nhân viên của công ty sẽ mang đơn tiêu chuẩn về bảo hiểm cháy vàcác rủi ro phụ đến giới thiệu với khách hàng Nhân viên có trách nhiệm giảithích rõ ràng những từ ngữ, thuật ngữ trong đơn khi khách hàng yêu cầu
- Căn cứ vào nhu cầu của mình, khách hàng sẽ lựa chọn rủi ro bảo hiểm
Tiếp thị
khách
hàng
Đánh giá rủi ro
Ký kết hợp đồng bảo hiểm
Quản lý hợp đồng bảo hiểm
Trang 21cho tài sản của mình.
- Khi nhận được sự đồng ý của khách hàng, nhân viên của công ty sẽcung cấp Giấy yêu cầu bảo hiểm để khách hàng tự khai vào giấy này Đây làđiểm mà nhân viên của công ty bảo hiểm phải hết sức lưu ý khi tiến hành khaithác
Như vậy, cho đến khi khách hàng đồng ý mua bảo hiểm (hoặc có thểkhông mua) là đã kết thúc quá trình tiếp thị khách hàng
1.2.1.2 Đánh giá rủi ro
Bước này làm cơ sở cho việc xác định phí và đề xuất các phương án đềphòng và hạn chế tổn thất hiệu quả Đồng thời nó cũng liên quan trực tiếp đếncông tác bồi thường sau này
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của khách hàng, công ty sẽtiến hành việc điều tra và đánh giá nguy cơ có liên quan đến các rủi ro đượcyêu cầu bảo hiểm Phương thức đánh giá rủi ro được sử dụng phổ biến là nhânviên khai thác sẽ đưa cho khách hàng một bảng câu hỏi đánh giá rủi ro và yêucầu khách hàng điền đầy đủ thông tin vào bảng này Đối với những trườnghợp đơn bảo hiểm có giá trị nhỏ, khai thác viên có thể thực hiện việc đánh giárủi ro thông qua nghiên cứu bảng câu hỏi và trao đổi thư từ với người yêu cầubảo hiểm Hoặc có thể cán bộ khai thác sẽ cử một nhân viên bán bảo hiểm tạiđịa phương đến thăm đối tượng được bảo hiểm Tuy nhiên, điều này không thể
áp dụng được với các trường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn và phức tạp Bởi
vì các chi tiết về rủi ro không chỉ giới hạn trong một bảng câu hỏi, dù bảngcâu hỏi này lớn Nên đối với những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn thì công
ty bảo hiểm có thể cử giám định viên hoặc cộng tác viên đến tận nơi để xemxét về đối tượng được bảo hiểm
Sau khi tiến hành đánh giá rủi ro, nếu nhận thấy không thể bảo hiểmcho đối tượng này được thì cán bộ khai thác phải thông báo bằng văn bản tớiđối tượng tham gia bảo hiểm Nếu xét thấy có thể bảo hiểm được cho đốitượng này thì cán bộ khai thác sẽ tiến hành tính toán hiệu quả của hợp đồng,xác định phí chào, điều kiện chào phí…căn cứ vào những thông tin được cungcấp
1.2.1.3 Ký kết hợp đồng
Trong khâu này, sau khi nhận được bản đánh giá rủi ro và báo cáo trựctiếp của chuyên viên đánh giá rủi ro, công ty bảo hiểm hay bộ phận chuyên
Trang 22môn sẽ quyết định chấp nhận bảo hiểm hay không Nếu chấp nhận thì hai bên
sẽ thoả thuận với nhau về các điều khoản:
- Số tiền bảo hiểm
- Giá trị tài sản tham gia bảo hiểm
Có thể người tham gia lựa chọn bảo hiểm dưới giá trị hoặc bảo hiểmbằng giá trị Khi lựa chọn hình thức tham gia, cả hai bên phải thoả thuận vớinhau về cách tính số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm
- Xác định tỷ lệ phí bảo hiểm: căn cứ vào phiếu đánh giá rủi ro, tổn thấttrong quá khứ và hợp đồng mới hay tái tục mà bộ phận chuyên môn sẽ lựachọn tỷ lệ phí phù hợp
- Hoa hồng cho các bên, các bên ở đây có thể xác định là người môigiới, đại lý
Ngoài những điều khoản cơ bản trên ra thì cả hai bên đều phải thoảthuận một cách cụ thể những điều khoản khác có trong hợp đồng để hạn chếtối đa những khiếu nại có thể phát sinh sau này Sau khi đã thoả thuận xong vàđưa ra những điều kiện ràng buộc - những điều kiện này phải được ghi cụ thểtrong hợp đồng - thì cả hai bên sẽ tiến hành ký kết Và hợp đồng bảo hiểm chỉ
có hiệu lực sau khi người tham gia bảo hiểm nộp khoản phí bảo hiểm (trừ khi
có thoả thuận khác, chẳng hạn công ty có thể cho khách hàng nợ phí)
1.2.1.4 Quản lý hợp đồng bảo hiểm
Sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết Hợp đồng này sẽ được đưa lêntrình lãnh đạo để đóng dấu và thực hiện lưu đơn bảo hiểm
Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, hợp đồng sẽ được công ty quản
lý và theo dõi, nhằm đảm bảo việc thu phí đúng và đủ theo cam kết Trongtrường hợp, khách hàng yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung tài sản được bảo hiểm
về giá trị, về số lượng tài sản…thì công ty cần phải xem xét để có thể đáp ứngtốt nhất nhu cầu của khách hàng mà không ảnh hưởng đến lợi ích của công ty
1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.3.1 Chỉ tiêu phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
Hàng năm các doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch khai thác cho từngnghiệp vụ cụ thể trong đó có cả nghiệp vụ bảo hiểm cháy và rủi ro phụ Để lập
và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch khai thác có thể vận dụng các chỉ sốsau:
Trang 231.3.2 Chỉ tiêu phân tích cơ cấu khai thác
Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp bảo hiểm xác định và đánh giá đượcnghiệp vụ bảo hiểm nào, sản phẩm bảo hiểm nào là chủ yếu trong hệ thốngsản phẩm bảo hiểm của công ty, thấy được xu hướng phát triển của chúngtrong tương lai Phân tích cơ cấu khai thác bảo hiểm chủ yếu được thực hiệnvới các chỉ tiêu: Tổng số hợp đồng bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm
1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy
Hk = D / C Trong đó Hk : Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
Trang 24D : Doanh thu trong kỳ
C :Chi phí trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên cứ 1 đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng doanh thu cho doanh nghiệp Chỉ tiêu trên càng lớn thì càng tốt, vì vớichi phí nhất định thì doanh nghiệp có mức doanh thu ngày càng tăng
● Góc độ xã hội :
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm được thể hiện :
Hx = K / C Trong đó : Hx : hiệu quả xã hội trong kỳ
K : Số hợp đồng bảo hiểm trong kỳ
C : Chi phí.
Chỉ tiêu này nói lên cứ 1 đồng chi phí khai thác Công ty bỏ ra trong kìthì khai thác được bao nhiêu hợp đồng bảo hiểm, và như vậy chỉ tiêu này cànglớn thì càng tốt, vì càng lớn thì thể hiện Công ty phải bỏ ra ít chi phí mà khaithác được nhiều hợp đồng bảo hiểm
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.5.1 Yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Uy tín, thương hiệu của công ty
Uy tín và thương hiệu của công ty là một yếu tố quan trọng ảnh hưởngtới hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ nói riêng
và tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm nói chung Riêng đối với bảo hiểm cháy vàcác rủi ro phụ đây còn là một yếu tố đặc biệt quan trọng hơn vì khi sự kiện bảohiểm xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng con người, tài sản với mức thiệthại là rất cao, mức ảnh hưởng rộng lớn
Một công ty bảo hiểm đã có thời gian hoạt động dài, đã tạo được uy tín
về thương hiệu của công ty trên thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ thì
sẽ thuận lợi hơn cho công tác khai thác các sản phẩm bảo hiểm, nhiều ngườibiết đến sẽ thu hút được nhiều khách hàng, rút ngắn được quá trình khai thác.Ngược lại nếu công ty mới thành lập và chưa khẳng định được uy tín thì sẽkhó khăn hơn trong hoạt động khai thác nghiệp vụ này
Chính vì vậy, các công ty bảo hiểm ngoài việc chú trọng hoạt động kinhdoanh bảo hiểm phải có những hoạt động khác nhằm tạo được niềm tin của
Trang 25khách hàng, nâng cao được uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường bảohiểm cháy và các rủi ro phụ.
1.5.1.2 Yếu tố thuộc về sản phẩm bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Sản phẩm bảo hiểm phải phù hợp với nhu cầu muốn tham gia bảo hiểm,phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng
Khi khách hàng tham gia một sản phẩm bảo hiểm của công ty nào họthường quan tâm tới các vấn đề sau của sản phẩm bảo hiểm:
Đối tượng, phạm vi bảo hiểm của sản phẩm đó có phù hợp với nhu cầu
của họ về sản phẩm mà họ đang muốn tham gia Hay nói cách khác là kháchhàng sẽ lựa chọn một sản phẩm bảo hiểm mà đáp ứng được mong muốn đượcbảo vệ của họ Chính vì vậy những sản phẩm bảo hiểm cùng loại của các công
ty khác nhau, công ty nào mở rộng đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm hơncác công ty khác thì sẽ thuận lợi hơn cho công tác khai thác
Mức phí bảo hiểm: Thông thường nếu các công ty có sản phẩm với
những điều khoản như nhau, đối tượng, phạm vi bảo hiểm tương tự nhau, chấtlượng phục vụ như nhau thì khách hàng sẽ lựa chọn tham gia bảo hiểm củacông ty có mức phí thấp hơn
Các điều khoản của sản phẩm: Sản phẩm của công ty nào có các điều
khoản có lợi hơn cho khách hàng thì sẽ dễ triển khai hơn và ngược lại nếu cácđiều khoản mang lại ít lợi ích hoặc điều khoản không được thuận lợi chongười tham gia thì sẽ gây khó khăn cho công tác khai thác
1.5.1.3 Kênh phân phối của sản phẩm bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm là “con đường” để khách hàng biếtđến sản phẩm bảo hiểm của công ty, chính vì vậy nếu công ty nào có kênhphân phối phù hợp, rộng và dễ dàng tiếp cận được với khách hàng sẽ là mộtthuận lợi rất lớn cho công tác khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi rophụ
Đối với nghiệp vụ này đa số các công ty bảo hiểm sử dụng kênh phânphối thông qua đại lý và môi giới vì vậy công ty nào có số lượng đại lý bảohiểm lớn, năng động và làm việc hiệu quả, quan hệ tốt thì sẽ tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Trang 261.5.1.4 Dịch vụ chăm sóc khách hàng
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm thực hiện tốt công tácchăm sóc khách hàng sẽ khuyến khích khách hàng tiếp tục thực hiện hợp đồngbảo hiểm và có khả năng tái tục bảo hiểm
Đồng thời công tác chăm sóc khách hàng được thực hiện tốt sẽ giúptăng thêm sự tin cậy, thân thiết của khách hàng đối với công ty bảo hiểm, mỗikhách hàng sẽ là một trung tâm truyền tin “hiệu ứng lan truyền thông tin” giúpnâng cao uy tín, thương hiệu của công ty trên thị trường bảo hiểm cháy, đồngthời khách hàng đó sẽ giới thiệu cho những người thân, bạn bè của họ thamgia bảo hiểm của Công ty Yếu tố này sẽ tác động tạo thuận lợi cho công táckhai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
1.5.2 Yếu tố khách quan
1.5.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Kinh tế - xã hội phát triển thì thu nhập và nhận thức của người dân vềbảo hiểm cũng được tăng lên từ đó cũng tác động đến nhu cầu tham gia bảohiểm của người dân Nhiều các nhà máy, xí nghiệp được xây dựng, đồng thờicùng với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nóng lên của trái đất thì nguy
cơ cháy nổ ngày càng cao, từ đó nhu cầu tham gia bảo hiểm cháy và các rủi rophụ cũng tăng lên
Khi kinh tế - xã hội phát triển cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời,hoạt động của các công ty bảo hiểm đồng thời các công ty bảo hiểm cũng hoạtđộng năng động hơn, có các chiến lược phát triển công ty, học hỏi được nhữngkinh nghiệm của các công ty khác nên sẽ có tác động tích cực tới hoạt độngtriển khai của nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Ngược lại nếu kinh tế - xã hội chưa phát triển, người dân thu nhập thấp,các công ty làm ăn kém hiệu quả sẽ tìm cách trốn tránh mua bảo hiểm hoặc sẽkhông có tiền tham gia bảo hiểm, đồng thời có ít các nhà máy xí nghiệp, cơquan mọc lên, ít các công trình thì sẽ ít nhu cầu cần được bảo vệ về cháy nổhơn sẽ khó khăn cho hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi
ro phụ
1.5.2.2 Sự cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ
Thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ có sự cạnh tranh sẽ có tácđộng hai chiều tới hoạt động triển khai nghiệp vụ cụ thể:
Trang 27Nếu thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ có sự cạnh tranh thì bắtbuộc phải có những biện pháp, chiến lược nhằm triển khai nhằm triển khainghiệp vụ bảo hiểm của công ty mình Sửa đổi, bổ sung các điều khoản cuẩnphẩm bảo hiểm cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng, hoàn thiện kênhphân phối sản phẩm, chú trọng khâu chăm sóc khách hàng nhằm cạnh tranhvới các công ty khác… như vậy sẽ thúc đẩy thị trường bảo hiểm cháy và cácrủi ro phụ phát triển, công tác triển khai bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ đạtđược những kết quả khả quan, quyền lợi của khách hàng được đảm bảo.
Ngược lại nếu thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ có sự cạnhtranh không hoàn hảo, các công ty bảo hiểm tìm mọi cách để thu hút kháchhàng như hạ phí bảo hiểm, tạo thêm điều khoản có lợi cho khách hàng màkhông thuộc đặc điểm của sản phẩm… để cạnh tranh với công ty khác thì sẽảnh hưởng tới hoạt động triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro phụcủa các công ty khác Quá trình cạnh tranh như vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến chấtlượng của sản phẩm Nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra nhiều thì Công ty sẽ không
có khả năng thanh toán cho khách hàng, dẫn tới mất uy tín, mất khách hàng,đẩy Công ty vào thế khó khăn Như vậy hoạt động triển khai nghiệp vụ bảohiểm cháy và các rủi ro phụ sẽ bị hạn chế
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ RỦI RO PHỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội và tình hình kinh doanh của Công ty.
2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông – Chi nhánh Hà Nội.
Tên giao dịch
Tiếng Việt : Công ty Cổ phần Bảo Hiểm ViễnĐông
Sau 3 tháng đi vào hoạt động, Công ty VASS đã ký kết gần 1.000 hợpđồng bảo hiểm với tổng số tiền bảo hiểm trên 3.000 tỷ đồng và khẳng định vịthế của mình trên thị trường bảo hiểm Việt Nam bằng việc khai trương chinhánh đầu tiên tại Hà Nội vào ngày 27/5/2004 có địa chỉ tại Tầng 6, số 92 VõThị Sáu, nay chuyển về Tầng 8, 314 Minh Khai, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.Chi nhánh thực hiện va chịu sự quản lý theo hai chiều: Chiều dọc quản lý theo
Trang 29cấp bậc, chức vụ từ trên xuống và chiều ngang quản lý về mặt chuyên mônnghiệp vụ, đầu mối tập trung tại Trụ sở chính.
Trong giai đoạn 2008 – 2010, kết quả kinh doanh bảo hiểm tại Chinhánh như sau:
Ban giám đốc
Phòng nghiệp vụ
tổng hợp
Phòng kế toán quản trị
Bộ phận giám định bồi thường
vụ và thống kê
Các văn phòng dịch
vụ khách hàng
Các phòng kinh doanh
Trang 30Bảng 1: Kết quả kinh doanh bảo hiểm giai đoạn 2008-2010.
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Trang 31đồng Do đó lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong những nămqua là không có, thậm chí doanh nghiệp phải chịu bù lỗ với số tiền lớn.
Trong giai đoạn 3 năm 2008 – 2010 tình trạng bị thua lỗ trong cácnghiệp vụ bảo hiểm và số vụ phải bồi thường với số tiền ngày càng tăng caokhông chỉ Bảo hiểm Viễn Đông mà hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm phinhân thọ khác đều rơi vào tình trạng trên Đó là do ảnh hưởng của khủnghoảng kinh tế kéo dài, thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều dẫn tới nhiều sựkiện bảo hiểm xảy ra, bồi thường với số tiền lớn
2.1.3 Phương hướng hoạt động của doanh nghiệp
Trong những năm tiếp theo, VASS đã đề ra định hướng phát triển chomình, cụ thể:
Quy mô vốn và doanh thu
Bảo hiểm Viễn Đông sẽ là một trong các doanh nghiệp có quy mô vốn lớnnhất Việt Nam Tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm bình quân từ 30 – 40%/năm và sẽ phấn đấu giữ vững vị trí hàng đầu trong khối bảo hiểm tư nhân
Xây dựng cơ sở và phát triển mạng lưới
Mở chi nhánh, văn phòng dịch vụ khách hàng và đại lý tại hơn 40 tỉnhthành trong khắp lãnh thổ Việt Nam theo phương châm “ở đâu có phát triểnsản xuất kinh doanh ở đó có bảo hiểm Viễn Đông”
Thành lập hoặc góp vốn đầu tư vào các công ty, bao gồm góp vốn vàocác công ty trực thuộc và thành lập: Công ty chứng khoán Viễn Đông, Công tyquản lý quỹ Viễn Đông, Công ty địa ốc Viễn Đông…
Đảm bảo việc dự trữ của Công ty được thực hiện dưới hình thức muatrái phiếu chính phủ và các dạng dự trữ khác, nhằm đảm bảo an toàn và tối đahóa hiệu quả
Xây dựng mối liên hệ chặt chẽ với các công ty bảo hiểm lớn, các công
ty tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm trong nước và ngoài nước nhằm tăngcường khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường
Công nghệ quản lý kinh doanh
Áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và tiến bộ của công nghệthông tin; thực hiện ERP trong thời gian tới
Xây dựng các phần mềm nghiệp vụ, cải tiến quy trình quản lý điều hànhcũng như quản lý nghiệp vụ, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm đa dạng cho thịtrường
Trang 32Xây dựng tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9001)
Môi trường làm việc và nguồn nhân lực
Xây dựng Bảo hiểm Viễn Đông thành một môi trường năng động, cónét văn hóa riêng, là nơi để các nhân tài phát huy khả năng của mình và đónggóp cho sự phát triển chung của thị trường bảo hiểm và kinh tế đất nước
Xây dựng một đội ngũ cán bộ nhân viên năng động, sáng tạo, có trình độ caochung lòng đoàn kết với phương châm“ NĂNG ĐỘNG VỚI DỊCH VỤHOÀN HẢO” thực hiện đúng mục đích và ý nghĩa của ngành bảo hiểm là gópvốn vào một quỹ để phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất "Bảo hiểm là vốntrong rủi ro – Đầu tư để quản lý rủi ro”
2.2 Thị trường kinh doanh bảo hiểm cháy và các rủi ro phụ trên thị trường Việt Nam hiện nay.
Theo thống kê của Cục cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ ( thuộc Tổngcục Cảnh sát – Bộ Công an), trong năm 2009, cả nước xảy ra 1.948 vụ cháy,tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 500 tỉ đồng Bên cạnh đó cũng xảy ra
18 vụ nổ làm chết 16 người, bị thương 42 người, thiệt hại về tài sản ước tính1,3 tỉ đồng So với năm 2008 thì số vụ cháy nổ 2009 tuy giảm về lượng nhưnglại tăng mức thiệt hại về người Điển hình là số người chết vì cháy tăng 19%
và chết trong các vụ nổ tăng 52%
Nguyên nhân gây cháy phần lớn là do thiếu ý thức, sơ suất trong sinhhoạt sử dụng thiết bị điện và vi phạm quy định về PCCC Đặc biệt năm 2010xảy ra rất nhiều vụ cháy nổ nghiêm trọng như cháy ở Ga Giáp Bát, nổ 02container pháo hoa ở Mỹ Đình làm thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản
Mặc dù số thiệt hại do cháy nổ gây ra là rất lớn nhưng theo kết quả khảosát cho thấy số cơ sở có nguy cơ về cháy nổ tham gia mua bảo hiểm cháy nổcòn rất thấp, mới chỉ chiếm khoảng 20% số cơ sở có nguy hiểm về cháy nổ
Trong 9 tháng đầu của năm 2008 bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro phụđạt doanh thu 715 tỉ đồng Dẫn đầu là Bảo hiểm Bảo Việt 181 tỉ đồng, BảoMinh 177,8 tỉ đồng, PVI đạt 192 tỉ đồng, UIC 56 tỉ đồng , PJICO đạt 41,6 tỉđồng Sang năm 2010 nghiệp vụ bảo hiểm này đạt doanh thu 1.436 tỷ đồng.Các doanh nghiệp đạt doanh thu cao là PVI 367 tỉ đồng, chiếm 25,5%; BảoMinh 291 tỉ đồng, chiếm 20,2%; Bảo Việt 157 tỉ đồng, chiếm 10,9%
Tổng số tiền bồi thường là 466 tỉ đồng, chiếm 32,4% doanh thu Cácdoanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ bồi thường cao là ABIC 355,9%; BIC119,2%; PJICO 74,6%; Bảo Long 55,3%; VASS 48,3%