Tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu được bảo vệ sẽ càng trở nêncần thiết hơn Theo tháp nhu cầu của Maslow thì khi con người đã đượcđáp ứng những nhu cầu về ăn mặc ở thì họ sẽ cần thiết thấy phải được bảo
vệ, họ không chỉ muốn bảo vệ cho bản thân, gia đình họ mà họ còn muốnbảo vệ cho của cải của họ…Vì vậy bảo hiểm thương mại được phát triểnnhằm đáp ứng ngày càng cao hơn nhu cầu của con người Không chỉ bảohiểm nhân thọ mà bảo hiểm phi nhân thọ cũng ngày càng trở nên quantrong hơn, đặc biệt hiện nay khi kinh tế phát triển nhu cầu giao lưu buônbán giữa các vùng trong một nước, cũng như giữa các quốc gia trên thế giớicàng trở nên phổ biến hơn Tuy nhiên việc mua bán đó tiềm ẩn rất nhiềunguyên nhân, những rủi ro không thể lường trước được trong đó Do việcvận chuyển hàng hóa bằng đường biển, đường không, đường bộ luôn cónhững bất ngờ xảy ra gây tổn thất đến hàng hóa, ảnh hưởng không nhỏ đếncông việc kinh doanh của các bên có liên quan Chính vì nguyên nhân này
mà các bên tham gia mậu dịch đều mong muốn có một cá nhân, một tổchức nào có thể đứng ra giúp đỡ họ hạn chế được mức thấp nhất những rủi
ro có thể xảy ra với hàng hóa của họ Vì vậy mà nghiệp vụ bảo hiểm hànghóa càng trở nên cần thiết trong cuộc sống hiện nay Nhưng còn không ítngười không thấy được tác dụng thực sự của nó đem lại, họ chỉ thấy đượccái lợi trước mắt là có thể tiết kiệm được một khoản chi phí thì sẽ tăngđược lợi nhuận mà không lường trước được việc khi rủi ro xảy ra họ có thể
bị mất trắng, cũng có thể bị phá sản Nhưng để thuyết phục người mua bảohiểm không phải là chuyện dễ Trong quá trình thực tập và có điều kiệntiếp xúc với công việc tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long cho emthấy được rất nhiều những khó khăn mà công ty đã trải qua để có được tiền
đề như ngày nay Đặc biệt trong lĩnh vực khai thác sản phẩm bảo hiểm Sau
một thời gian thực tập tại công ty em đã chọn đề tài: “ Tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình nhằm mục đích phân tích ,
đánh giá thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa ở Công ty Bảohiểm Bưu điện Thăng Long
II Mục đích nghiên cứu
Nhận thức một số vấn đề lý luận về hoạt động khai thác bảo hiểmhàng hóa
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn1
Trang 2Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác bảo hiểm bảo hiểm hànghóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quảkhai thác cho Công ty
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạtđộng khai thác bảo hiểm hàng hóa tại Công ty bảo hiểm Bưu điện ThăngLong
Phạm vi của đề tài được xác định là các vấn đề liên quan tới hoạtđộng khai thác bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện ThăngLong
IV Nội dung nghiên cứu
Bài viết tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản vềkhai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa , phân tích làm rõ thực trạng khaithác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện ThăngLong Từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát triển hơnhoạt động khai thác bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điệnThăng Long
V Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp
Và một số phương pháp khác
VI Cấu trúc của bài khóa luận
Nội dung bài khóa luận tốt nghiệp được chia thành 3 chương
Chương I: Khái quát chung về tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa.
Chương II: Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa tại Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long.
Chương III: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa
Trang 3Do kiến thức còn hạn hẹp cũng như thời gian thực tập còn khá ngắnnên những kiến thức thu được còn hạn chế nên trong quá trình làm bài cònnhiều vấn đề mang tính chủ quan và còn nhiều thiếu sót, em rất mong quíthầy cô thông cảm và có những đóng góp giúp em có thể hoàn thành tốthơn bài khóa luận của mình.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới Thạc sỹ Lục Mạnh Hiển và các anh chị trong đơn vị nơi em thực tập là Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng
Long đã hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận này.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
HÀNG HÓA
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn3
Trang 41.1 Khái niệm và đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.1.1 Khái niệm
Kinh doanh bảo hiểm là một hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểmnhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi docủa bên mua bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đểdoanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường chobên mua bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Mục đích kinh tế của kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, đây là mụcđích chính mà các doanh nghiệp bảo hiểm hướng tới Chỉ có thu được lợinhuận doanh nghiệp bảo hiểm mới có thể tồn tại và phát triển được trongđiều kiện kinh tế thị trường Lợi nhuận giúp doanh nghiệp trang trải chocác cá nhân và tổ chức cung cấp vốn cho họ Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ cóthể thu hút được nguồn vốn của các nhà đầu tư khác nếu tỷ suất lợi nhuậncủa doanh nghiệp bằng hoặc cao hơn loại hình đầu tư của họ trên thịtrường Mức lợi nhuận cao còn giúp doanh nghiệp duy trì được nguồn quỹ
dự phòng đủ lớn, hạn chế sự chuyển nhượng tái bảo hiểm và có điều kiện
để nâng cao mức thu nhập cho cán bộ nhân viên Bên cạnh mục tiêu chính
là lợi nhuận, kinh doanh bảo hiểm còn phải đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng ổn định cuộc sống và sản xuấtkinh doanh khi không may gặp tổn thất, thiệt hại xảy ra đối với họ
Thực chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các doanh nghiệpbảo hiểm chấp nhận rủi ro mà các bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho
họ, đồng thời chấp nhận trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho bên thamgia khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Đổi lại doanh nghiệp sẽ thu mộtkhoản phí bảo hiểm để hình thành quỹ dự trữ, bồi thường, trang trải cáckhoản chi khác có liên quan và có lãi Tuy nhiên, không phải mọi rủi ro màbên tham gia chuyển giao, doanh nghiệp bảo hiểm đều có thể chấp nhậnbảo hiểm
Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình: thế nào là sản
phẩm vô hình?
Sản phẩm bảo hiểm, về bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, mộtlời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng Khách hàng đóngphí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai
Trang 5Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận đượcqua cac giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra mầusắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm Họ cũng không thểcảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm, sờ mó, ngủi hoặc nếmthử…
Để khắc phục những khó khăn đó, cũng là để củng cố lòng tin củakhách hàng, các doanh nghiệp bảohiểm tìm cách tăngtính hữu hình của sảnphẩm: chú ý những lợi ích có liên quan đến dịch vụ: sử dụng những ngườinổi tiếng, có uy tín tuyên truyền dịch vụ; phát triển hệ thống đại lý chuyênnghiệp; xây dựng uy tín của công ty bảo hiểm; tăng cường vai trò quantrọng của hoạt động marketing Như vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụkhách hàng chính là chìa khóa để bán sản phẩm bảo hiểm
Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược:
Khác với chu trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi giá cảđược quyết định sau khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Nhưvậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình phải bỏ vốn ra trước,mua các máy móc, nguyên vật liêu, thuê nhân công thì mới sản xuất ra sảnphẩm và thực hiện quy trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khi sảnphẩm đó bán được doanh nghiệp mới thu tiền về, trong khoản tiền này baogồm cả vốn doanh nghiệp bỏ ra và lãi doanh nghiệp nhận được Còn doanhnghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước, họ nhận phí bảohiểm trước củangười tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên đượcbảo hiểm khi xảy ra sự cố bảo hiểm Do vậy, không thể tính được chính xáchiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm
Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay saukhi có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đãđóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng Phí bảo hiểm mà khách hàngđóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một hợp đồng bảo hiểm
Ví dụ, công ty bảo hiểm B bán bảo hiểm tai nạn con người Ngườitham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm.Công ty bảo hiểm B có ngay doanh thu từ đầu năm Các hợp đồng bảohiểm này sẽ kết thức vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của các công
ty bảo hiểm B trước các tổn thất – theo như thỏa thuận trong hợp đồng – sẽchấm dứt Đến ngày cuối năm, công ty bảo hiểm B mới có thể tính đượcchi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này Tương tự như vậy là chi phí hoạtđộng của công ty Chu trình kinh doanh của bảo hiểm có đặc điểm là công
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn5
Trang 6ty bảo hiểm định giá bán dịch vụ của mình trước khi tính toán được chi phímình bỏ ra.
Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩmnào ra thị trường Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người muachấp nhận, công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rấtlớn Khi rủi ro xảy ra cho một số khách hàng nào đó, công ty bảo hiểm có
đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi Ngược lại, nếu chỉ có một số ítkhách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ bé Công ty bảo hiểm sẽ dễrơi vào tình trạng thu không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệrủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệulực
Mặt khác, chu trình kinh doanh ngược còn có tác dụng chi phốitrách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất của người được bảo hiểm khi họ đãđược một hợp đồng bảo hiểm bảo vệ Bởi lẽ nếu tổn thất xảy ra ít, giá báncủa các hợp đồng bảo hiểm năm sau đó sẽ được giảm đi ( hay nói cáchkhác, khách hàng sẽ được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, kháchhàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau
Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này:
Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra đểđược nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấpbội lần so với số phí phải đóng
Quá trình mua sản phẩm bảo hiểm chịu sự chi phối của các yếu tốtâm lý Do chi phối bởi những tập tục, quan niệm có thể mang nặng yếu tốtâm linh, nên nói chung người mua không muốn nói đến rủi ro, khôngmuốn thấy cụ thể những hậu quả của rủi ro có thể được bảo hiểm, điểmhình nhất trong bảo hiểm tử vong hay thương tật
Nhưng ngược lại, người mua coi việc mua một sản phẩm bảo hiểmnhư một chiếc bùa hộ mệnh, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần đồngthời có sự đảm bảo về mặt vật chất khi điều không may xảy ra Người báncũng dễ bị ý nghĩ chiều lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà thiếu sựcân nhắc cần thiết cho việc lực chọn và đánh giá những rủi ro có thế đảmnhận
Trong khi tiến hành giao dịch chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểmphải chú ý tới đặc điểm này để thuyết phục khách hàng khi họ nói khôngquan tâm đến rủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra đối với họ Bởi lẽ,
Trang 7tất cả đều không mong muốn những tai nạn, tổn thất xảy ra Mặt khác, bảohiểm là tấm lá chắn cho những điều không mong muốn này Thông quathực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thấttại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết thamgia bảo hiểm.
1.2 Một số vấn đề về bảo hiểm hàng hóa
1.2.1 Khái niệm
Bảo hiểm hàng hóa được hiểu là việc người tham gia bảo hiểm đóngmột số phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểmbảo hiểm có thể gánh vác một phần rủi ro có liên quan đến đối tượng đượcbảo hiểm ở đây là hàng hóa khi gặp phải những rủi ro bất ngờ nằm trongđiều kiện bảo hiểm
1.2.2 Đặc điểm
Đối tượng được bảo hiểm thường rất đa dạng và phong phú
Hợp đồng bảo hiểm có thể được thực hiện giữa bên mua hoặc bênbán hàng với bên bảo hiểm
Do nhiều mối nguy hiểm vốn có trong vận chuyển, hầu hết các cánhân và doanh nghiệp lựa chọn để đảm bảo hàng hóa của họ trong khi họđang trên đường vận chuyển
1.2.3 Vai trò của bảo hiểm hàng hóa
Bảo hiểm hàng hóa là nghiệp vụ bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn đốivới đời sống kinh tế xã hội
Thứ nhất: Bảo hiểm hàng hóa nhằm khắc phục hậu quả tài chính của
rủi ro: Hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận cho các thương nhânnhưng khi rủi ro tổn thất xảy ra đối với hàng hóa thì họ sẽ gặp phải khókhăn rất lớn về tài chính mà đôi khi bản thân họ không thể tự khắc phụcđược Rủi ro có thể mang lại những thiệt hại tài chính bất thường cho các
cá nhân, tổ chức Khi có thiệt hại về tài sản, các cá nhân và tổ chức rất cầnđến nguồn tài chính kịp thời để bù đắp thiệt hại, lấy lại sự cân bằng, ổnđịnh tài chính Theo đó, khi tham gia bảo hiểm hàng hóa vận, người thamgia bảo hiểm sẽ có được sự bảo đảm cho hàng hóa là tài sản của mình, nhờ
đó mà họ có được trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự âu lo, tạo tâm
lý ổn định, kích thích mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn7
Trang 8Thứ hai: Bảo hiểm hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo
hiểm thường xuyên thực hiện nghiên cứu rủi ro, thống kê tổn thất, tìm kiếmcác biện pháp phòng tránh, giảm thiểu tổn thất đồng thời phát triển các dịch
vụ cứu trợ, phối hợp với khách hàng tổ chức thực hiện những biện pháp cầnthiết để bảo vệ hàng hóa trong quá trình vận chuyển là đối tượng bảo hiểmgóp phần giảm thiểu rủi ro, tốn kém cho toàn thể cộng đồng
Thứ ba: Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa ra đời góp phần tạo nên công
ăn việc làm cho xã hội Cùng với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trên thịtrường, bảo hiểm hàng hóa đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việctại các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm , mạnglưới đại lý bảo hiểm và các nghề liên quan như giám định tổn thất, định giátài sản…
Thứ tư: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hóa phát triển sẽ tăng
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, tăng nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế.Ngoài ra, từ những kết quả thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa cácdoanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện thực hiện các hoạt động xã hội như từthiện, hoạt động công ích…góp phần thực hiện công bằng xã hội, nâng caođời sống kinh tế xã hội của toàn cộng đồng
1.2.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hóa
1.2.4.1 Đối tượng và phạm vi
1.2.4.1.1 Đối tượng
Đối tượng của bảo hiểm hàng hoá bao gồm 2 nhóm đối tượng đó là:
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam: Bao gồmcác loại hàng hóa vận chuyển nội địa bằng các loại phương tiện được phéptham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam
Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu: Bao gồm các loại hàng hóa xuấtnhập ra vào lãnh thổ Việt Nam
1.2.4.1.2 Người tham gia bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa là các
tổ chức, cá nhân có tài sản hàng hóa là đối tượng được bảo hiểm trong hợpđồng bảo hiểm hàng hóa Người tham gia bảo hiểm thường là người có
“Quyền lợi có thể được bảo hiểm” Chỉ có người có quyền lợi đối với tài
sản, hàng hóa đang trên đường vận chuyển mới có quyền chỉ thị ký hợpđồng bảo hiểm Quyền lợi này không thể có được sau khi tài sản đã bị tổn
Trang 9thất hoặc không có rủi ro đối với tài sản được bảo hiểm, hoặc đối tượngđược bảo hiểm đã chuyển giao cho người khác.
*Các chi phí được bảo hiểm
Những chi phí hợp lý do người được bảo hiểm, người làm công hayđại lý của họ đã chi ra nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hànghóa được bảo hiểm
Những chi phí hợp lý cho việc dỡ hàng, lưu kho và gửi tiếp hàng hóađược bảo hiểm tại một nơi dọc đường đi do hậu quả của rủi ro thuộc phạm
vi trách nhiệm bảo hiểm
Những chi phí hợp lý cho việc giám định và xác định nguyên nhân,mức độ tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm
b Đối với bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
* Các rủi ro được bảo hiểm
Nội dung những rủi ro được bảo hiểm thuộc 3 bộ điều khoản bảohiểm hàng hóa của hiệp hội Luân Đôn (A), (B), (C) 1.1.1982
Tổn thất, tổn hại hợp lý qui cho:
Cháy, nổ
Tàu, thuyền mắc cạn, nằm cạn, chìm, lật
Phương tiện vận tải lật hay trật đường ray
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn9
Trang 10Ðâm, va của tàu, thuyền, phương tiện vận tải với vật thể khác khôngphải là nước.
Trách nhiệm trên cơ sở đâm va hai bên đều có lỗi
Ðộng đất, núi lửa phun, sét đánh
Nước biển, sông, hồ xâm nhập vào tàu, thuyền, phương tiện vận tải,container, hoặc nơi để hàng
Cuốn xuống biển
Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào bị rơi mất khỏi boong tàuhoặc bị rơi trong quá trình xếp, dỡ hàng từ tàu hoặc sà lan
Thời tiết xấu
Hành động sai trái
Cướp biển
Các rủi ro đặc biệt
1.2.4.2 Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
1.2.4.2.1 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm của hàng hóa được bảo hiểm phải là giá trị củahàng hóa do người được bảo hiểm kê khai phù hợp với giá thị trường Nếungười được bảo hiểm không khai báo được số tiền bảo hiểm thì có thể ápdụng cách tính giá trị bảo hiểm như sau: Giá trị bảo hiểm bao gồm giá tiềnhàng ghi trên hóa dơn (hoặc giá hàng thực tế tại nơi gửi hàng nếu không cóhóa đơn) cộng chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm.Trừ khi có thỏa thuậnkhác, người được bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính vào số tiềnbảo hiểm Tuy nhiên, tiền lãi này không được vượt quá 10% giá trị bảohiểm Trên thực tế do một số lý do như người tham gia bảo hiểm khai báokhông đúng, hoặc do biến động giá thị trường hoặc xuất phát từ ý chí của
Trang 11người tham gia bảo hiểm nên cũng có trường hợp số tiền bảo hiểm cao hơngiá trị bảo hiểm và cũng có trường hợp số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trịbảo hiểm Trong trường hợp số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo hiểm( còngọi là “bảo hiểm trên giá trị’) thì số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểmkhông thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm khi xảy ra tổn thất Trongtrường hợp số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm (gọi là “bảo hiểmdưới giá trị”) thì người được bảo hiểm phải tự chịu trách nhiệm phần tổnthất tương ứng với phần giá trị hàng hóa không được bảo hiểm, nhà bảohiểm sẽ bồi thường cho tổn thất hàng hóa dựa trên tỷ lệ giữa số tiền bảohiểm và giá trị bảo hiểm
Việc tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm như thế nào và với giánào, hoàn toàn do quyền lựa chọn của khách hàng nhưng theo tập quánthương mại quốc tế thì khai thác viên nên tư vấn cho khách hàng tham giabảo hiểm với 110% giá CIF, cụ thể:
Hàng nhập: theo đề nghị của khách hàng nhưng tối đa không quá110%CIF Cách quy đổi sang giá CIF theo hướng dẫn dưới đây
Hàng xuất: theo đề nghị của khách hàng nhưng tối đa không quá sốtiền trên hoá đơn x 110%
Hàng vận chuyển nội địa: theo đề nghị của khách hàng nhưng tối đakhông quá số tiền trên hoá đơn hoặc phiếu xuất kho
Đối với hàng cũ: cần đánh giá giá trị bảo hiểm sát với giá thị trườnghoặc theo khấu hao để có cơ sở giải quyết bồi thường
Cách quy đổi sang giá CIF từ các giá theo quy định của Incoterms2000
Giá CIF, CIP là giá hàng tại cảng đi + cước vận tải + phí bảo hiểm Giá FOB là giá hàng tại cảng đi
Giá CFR, C&F là giá hàng tại cảng đi + cước vận tải về cảng đến Giá EXW là giá xuất xưởng
Công thức quy đổi về giá CIF:
Giá hàng + Cước vận tải C+F
CIF = =
1- tỷ lệ phí bảo hiểm 1 - R
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn11
Trang 12CIF, CIP: không phải quy đổi
FOB CFR CIF: phải tính thêm cước vận tải để tính giá CIF CFR CIF: quy đổi theo công thức để tính giá CIF
EXW FOB CFR CIF: tính thêm cước vận tải tới cảng đi,thuế xuất khẩu (nếu có), cuớc vận tải tới cảng đến
Ước tính cước vận tải đường biển để tính số tiền bảo hiểm
Luồng Châu á : F = 5% giá FOB
Luồng Châu Âu : F = 10% giá FOB
1.2.4.2.2 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo thỏathuận trong hợp đồng bảo hiểm để nhận được cam kết bồi thường củadoanh nghiệp bảo hiểm, được coi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm Phí bảohiểm được xác định trên cơ sở số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm Sốtiền bảo hiểm được khách hàng khai báo, thông thường chính bằng giá trịbảo hiểm
Phí bảo hiểm được tính theo công thức:
phí bảo hiểm: I = Số tiền bảo hiểm x R
Trong đó R là tỉ lệ phí bảo hiểm (%)
1.2.4.2.3 Tỷ lệ phí bảo hiểm (Insurance rate)
Là một tỷ lệ phần trăm nhất định thường do các công ty bảo hiểmcông bố Tỷ lệ phí bảo hiểm được tính dựa vào thống kê rủi ro tổn thấttrong nhiều năm Xác suất xảy ra rủi ro càng lớn thì tỷ lệ phí bảo hiểm càngcao Các công ty bảo hiểm thường công bố bảng tỷ lệ phí bảo hiểm chotừng nghiệp vụ bảo hiểm
Trang 13b) Tỉ lệ phí phụ: phụ thuộc vào phương thức vận chuyển, tuyến đường vậnchuyển hàng hóa, tuổi tàu, các điều kiện bảo hiểm phụ bán kèm
1.2.4.3 Điều kiện bảo hiểm
Đối với hàng hóa XNK : Các điều kiện bảo hiểm thông thường làICC(A), ICC(B), ICC(C) và ICC (Air) 01.01.82 của Hiệp hội bảo hiểmLuân Đôn và một số điều khoản dành riêng cho từng mặt hàng riêng biệtnhư: hàng thịt đông lạnh, thực phẩm đông lạnh, dầu chở rời…
Đối với hàng hóa vận chuyển nội địa: Áp dụng bộ quy tắc bảo hiểmhàng hóa vận chuyển nội địa
Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa nhà bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm Theo đó người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộpphí bảo hiểm cho nhà bảo hiểm còn nhà bảo hiểm có trách nhiệm bồithường và trả tiền bảo hiểm cho người tham gia khi xảy ra các sự kiện bảohiểm gây tổn thất đối với hàng hóa của người tham gia
Hợp đồng bảo hiểm là cơ sở pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ củacác bên liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp.Trách nhiệm bảohiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hóa được bảo hiểm được xếp lênphương tiện chuyên chở tại địa điểm xuất phát ghi trong hợp đồng bảohiểm để bắt đầu vận chuyển tiếo tục có hiệu lực trong suốt quá trình vậnchuyển bình thường và kết thúc hiệu lực vào lúc hàng hóa được bốc dỡkhỏi phương tiện vận tải tại nơi đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm
Các hình thức ký kết hợp đồng bảo hiểm:
Đơn bảo hiểm chuyến
Là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng được vận chuyển từ nơinày đến nơi khác Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trongphạm vi một chuyến Hợp đồng bảo hiểm chuyến thường được trình bàydưới hình thức đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm do người bảohiểm cấp Theo đó:
Đơn bảo hiểm chính là một hợp đồng bảo hiểm chuyến đầy đủ Nộidung gồm hai phần Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, hành trình,người bảo hiểm và người được bảo hiểm Mặt sau thường ghi các điều lệhay các quy tắc bảo hiểm của công ty bảo hiểm
Giấy chứng nhận bảo hiểm là một đơn bảo hiểm vắn tắt, chỉ có nộidung như mặt trước của đơn bảo hiểm
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn13
Trang 14Hợp đồng bảo hiểm chuyến thường dùng bảo hiểm cho những lôhàng nhỏ lẻ, không có kế hoạch chuyên chở nhiều lần.
Hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc
Là hợp đồng bảo hiểm trong đó người bảo hiểm nhận bảo hiểm chomột khối lượng hàng vận chuyển trong nhiều chuyến kế tiếp nhau trongmột thời gian nhất định (thường là 1 năm) hoặc nhận bảo hiểm cho mộtkhối lượng hàng hoá vận chuyển nhất định không kể đến thời gian.Tất cảcác chuyến hàng thuộc phạm vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm bao đềuđược bảo hiểm một cách tự động, linh hoạt và phí bảo hiểm thường đượctrả theo thời gian thoả thuận, thường là theo tháng
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc gồm các vấn đề chungnhất, có tính nguyên tắc như: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việcđóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển, Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảohiểm, phí bảo hiểm và phương thức thanh toán phí, giám định, bồithường
Hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc dùng để bảo hiểm cho hàng hoá xuấtnhập khẩu thường xuyên khối lượng lớn vận chuyển làm nhiều chuyến
Trong hợp đồng bảo hiểm nguyên tắc có thể quy định một hạn ngạchcủa số tiền bảo hiểm (Floating policy), khi hết số tiền bảo hiểm đó hợpđồng sẽ hết hiệu lực
Đơn bảo hiểm bao
Thường áp dụng cho một Hợp đồng ngoại cụ thể với đầy đủ điềukiện để có thể cấp Đơn bảo hiểm hoặc ký Hợp đồng bao như: số tiền bảohiểm, hành trình, nhưng toàn bộ hợp đồng sẽ được giao hàng làm nhiềulần và khách hàng không biết lịch giao hàng cụ thể để kịp làm Giấy yêucầu bảo hiểm
Trường hợp này, nếu khách hàng không muốn ký Hợp đồngnguyên tắc (vì vẫn phải ràng buộc điều kiện khai báo thông tin từng lôhàng), người bảo hiểm có thể cấp Đơn bảo hiểm cho cả Hợp đồng ngoạivới hình thức như Đơn bảo hiểm chuyến Riêng phần thông tin về tên tàu
và ngày khởi hành phải ghi rõ "Thông báo cụ thể theo từng chuyến hàng".
Trong quá trình khách hàng thực hiện Hợp đồng ngoại, mỗi lầnnhận được thông tin về các lô hàng được vận chuyển, người bảo hiểm sẽcấp sửa đổi bổ sung cho từng lần giao hàng cụ thể và đánh số sửa đổi bổsung theo thứ tự từng chuyến hàng
Trang 151.2.4.5 Các chứng từ liên quan tới việc cấp hợp đồng bảo hiểm
Giấy yêu cầu bảo hiểm: Thể hiện việc khách hàng tự nguyện và cóyêu cầu tham gia bảo hiểm Trong giấy yêu cầu bảo hiểm có nêu các thôngtin của khách hàng về đối tượng bảo hiểm Giấy yêu cầu bảo hiểm là một
bộ phận không thể thiếu của một Hợp đồng bảo hiểm
Vận tải đơn hay phiếu vận chuyển
Hợp đồng mua bán hàng hóa, hóa đơn, L/C, Hợp đồng vận tải Nộidung các tài liệu này phải phù hợp với giấy yêu cầu bảo hiểm
Phụ lục
Sửa đổi bổ sung
Thông báo thu phí: thu phí hàng, thu phí tàu già
Hoá đơn tài chính.
1.3 Những vấn đề cơ bản về hoạt động khai thác bảo hiểm
1.3.1 Vai trò của hoạt động khai thác bảo hiểm.
Khai thác là công việc đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến sự thànhcông hay thất bại của bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm nào Mục tiêu của hoạtđộng khai thác bảo hiểm là tác động được số đông người tham gia, thựcchất của hoạt động này là tuyên truyền vận động các đối tượng hiểu về nộidung, mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm Hoạt động này có y nghĩa rất lớntrong việc quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt độngnày nếu được tiến hành tốt sẽ dẫn đến lượng khách hàng tham gia đông từ
đó tạo điều kiện cho việc hình thành nên quỹ bảo hiểm- tiền đề cho cáchoạt động tiếp theo của công ty
1.3.2 Hệ thống khai thác bảo hiểm
Phân phối là quá trình giúp chuyển giá trị thương hiệu từ nhà sảnxuất tới người tiêu dùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt độngkhác nhau
Kênh phân phối là tập hợp các công ty và cá nhân tham gia vào quátrình lưu chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêudùng
Kênh phân phối các sản phẩm bảo hiểm là một tập hợp bao gồm cáccông ty bảo hiểm và các cá nhân tham gia vào quá trình lưu chuyển các sảnphẩm bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm đến người có nhu cầu mua bảohiểm
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn15
Trang 16Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm chi phối, cho nên các doanhnghiệp bảo hiểm thường sử dụng các hệ thống phân phối sau:
1.3.2.1 Hệ thống đại lý chuyên nghiệp
Là trung gian đại diện cho quyền lợi của các công ty bảo hiểm
Các đại lý trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm: là trung gian hoạt độngnhư một đại lý của một công ty bảo hiểm và cam kết độc quyền để tiếnhành các hoạt động kinh doanh cho một công ty bảo hiểm
Các đại lý độc lập: Là trung gian hoạt động như là một đại lý chonhiều công ty bảo hiểm và với nhiều thoả thuận đại lý phức tạp với cáccông ty bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là các tổ chức hoặc cá nhân được doanh nghiệp bảohiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện các hoạtđộng đại lý bảo hiểm theo Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định kháccủa pháp luật có liên quan
Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảohiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằmthực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm
Về phía khách hàng, đại lí bảo hiểm là nơi khách hành dễ dàng tiếpcận dịch vụ tốt hơn, gần nhà hơn Sự tồn tại của các đại lí bảo hiểm làmcho người tham gia bảo hiểm yên tâm hơn vì mỗi khi có tranh chấp hay cácvấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, người tham gia có thểnhanh chóng thông báo và được giải quyết một cách kịp thời, đầy đủ hơn
Đây là hệ thống phân phối truyền thống, Trong các loại hệ thốngphân phối, hệ thống này được coi là khá tốn kém chi phí, do doanh nghiệpphải trả chi phí đào tạo đại lý, trả hoa hồng cao… Song đây lại là hệ thốngphân phối chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
Quản lý mạng lưới đại lý của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm cáccông việc sau:
Lập kế hoạch quản lý đại lý: là quá trình xác định các mục tiêu vàphương hướng tốt nhất đêt đạt được các mục tiêu đó Để lập được kế hoạchquản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm, trước hết phải tiến hành điều tra khảosát thị trường
Tổ chức quản lý đại lý bao gồm các công việc tuyển dụng, đào tạođại lý Yêu cầu của công tác tổ chức là phải phân tích công việc bằng cách
Trang 17liệt kê tất cả các công việc mà đại lý cần thực hiện, đồng thời phải phâncông công việc qua thiết lập cơ cấu và giao cho các đại lý Để bán sảnphẩm, doanh nghiệp bảo hiểm phải cạnh tranh với các doanh nghiệp bảohiểm khác, vì vậy họ phải tổ chức mạng lưới đại lý phù hợp Có ba cách tổchức mạng lưới đại lý chủ yếu: tổ chức theo nhóm đại lý, tổ chức theo khuvực đại lý và tổ chức theo nhóm khách hàng.
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức theo nhóm đại lý
(Trích nguồn Giáo trình QTKDBH)
Mô hình tổ chức theo nhóm đại lý có thể áp dụng với công tác quản
lý đại lý bảo hiểm trên cả qui mô rộng và hẹp
Ưu điểm của mô hình:
Tiết kiệm chi phí quản lý
Mạng lưới đại lý rộng khắp nên có điều kiện bao quát thị trường vàtăng doanh thu bảo hiểm
Các tổng đại lý thường được bố trí theo khu vực nên có thể nắm đặctính của từng khu vực, tạo điều kiện khai thác theo chiều sâu và có chiếnlược khai thác theo từng khu vực
Dễ nhận ra sự phù hợp của các sản phẩm bảo hiểm trên các khu vựckhác nhau
Nhược điểm của mô hình:
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn17
Trang 18Thông tin giữa khách hàng và nhà quản trị cấp cao bị chậm trễ và đôikhi thiếu chính xác.
Khả năng cải tiến sản phẩm và thích ứng với các mối đe dọa của toàndoanh nghiệp bảo hiểm kém
Lực lượng bán hàng bị phân tán
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức theo khu vực địa lý
(Trích nguồn Giáo trình QTKDBH)
Ưu điểm của mô hình:
Tạo khả năng thâm nhập thị trường và đẩy mạnh việc tiêu thụ sảnphẩm
Chuyên môn hóa sâu về nhân sự, giảm bớt sự quá tải công việc tạivăn phòng và việc áp dụng các chính sách, biện pháp đồng bộ rất thuận lợi
Phát triển kịp thời những sản phẩm bảo hiểm tốt, xấu tại các vùnglãnh thổ nhất định Từ đó dễ dàng kiểm soát nhu cầu bảo hiểm ở từng vùngđịa lý khác nhau để có kế hoạch điều chỉnh phù hợp
Nhược điểm của mô hình
Giám đốc vănphòng khu vực
Tổ trưởngnhóm II
Tổ trưởngnhóm I
Tổ trưởngnhóm II
Trang 19Chi phí quản lý cao và trùng lặp giữa các bộ phận khi giải quyếtcông việc
Thông tin giữa khách hàng và các nhà quản trị cấp cao thường bịchâm trễ và đôi khi thiếu chính xác
Khả năng cải thiện sản phẩm, khả năng thích ứng với các mối đe dọacủa toàn doanh nghiệp bảo hiểm kém
Sơ đồ 3: Mô hình tổ chức theo nhóm khách hàng
(Trích nguồn: Giáo trình QTKDBH)
Ưu điểm của mô hình:
Tạo điều kiện chuyên hóa trong khâu bán hàng Nhân viên bán hàngđược đào tạo chuyên sâu nên kỹ năng bán hàng rất cao
Người bán hiểu sâu sắc các đặc điểm và nhu cầu của khách hàng nên
sẽ đưa ra các đề nghị xác thực đối với doanh nghiệp bảo hiểm làm cho sảnphẩm bảo hiểm có tính hấp dẫn cao hơn đối với từng nhóm khách hàng vàgây ấn tượng sâu sắc với họ
Hiệu quả bán bảo hiểm cao và nâng cao khả năng cạnh tranh
Nhược điểm của mô hình:
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn19
Trưởng phòng
bán hàng thị trường
dân cư
Trưởng phòng bán hàng thị trường thương mại
ThịTrưởng phòng bán hàng thị trườngchính phủ
Trưởng phòng bán hàng khu vực
Nhóm đại lý phụ
trách thị trường dân
cư
Nhóm đại lý phụtrách thị trườngthương mại
Nhóm đại lý phụtrách thị trườngchính phủ
Trang 20Khó đạt được sự đồng bộ của cùng một loại sản phẩm bảo hiểm vìvới cùng một loại sản phẩm bảo hiểm nhưng yêu cầu của khách hàng trongtừng nhóm thị trường lại khác nhau
Khó cải tiến sản phẩm bảo hiểm
1.3.2.2 Các mạng lưới phân phối kết hợp ( Hệ thống phân phố bán hàng tại điểm)
Đây là hệ thống phân phối dực trên kênh phân phối của các lĩnh vựckinh doanh khác như ngân hàng, bưu điện, cơ quan thuế, hệ thống các cửahàng bán lẻ…Do tận dụng được con người, cơ sở vật chất, nguồn kháchhàng của các lĩnh vực này nên đây là kênh phân phối khá tiết kiệm chi phícho doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.2.3 Các văn phòng bán bảo hiểm
Đây là hệ thống phân phối trong đó nhân viên của doanh nghiệp bảohiểm được trả lương trực tiếp thực hiện việc bán sản phẩm tại trụ sở chínhcủa doanh nghiệp hay tại các phòng bảo hiểm khu vực, các chi nhánh
1.3.2.4 Môi giới
Theo từ điển các thuật ngữ đầu tư và tài chính:
Môi giới bảo hiểm là một nhà môi giới độc lập, là người tìm kiếmcác khoản bảo hiểm với mức giá tốt nhất cho khách hàng của họ Nhà môigiới bảo hiểm không làm việc cho công ty bảo hiểm mà cho những người
mua các sản phẩm bảo hiểm.
Theo sách Nguyên lý và thực hành bảo hiểm:
Môi giới bảo hiểm là người được bảo hiểm uỷ quyền, có nhiệm vụtìm kiếm trong số các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên thịtrường một doanh nghiệp đảm bảo cung cấp bảo hiểm với sự tương thíchtốt nhất giữa phí và chất lượng dịch vụ trên cơ sở có tính đến các điều kiện
mà công ty đặt ra và khả năng an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệpbảo hiểm đó
Hoạt động môi giới bảo hiểm là việc cung cấp thông tin tư vấn chobên mua bảo hiểm vầ sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảohiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các điều kiện có liên quan đến đàm phán,thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảohiểm
Trang 21Có 2 loại hình cho môi giới bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm :
Môi giới bảo hiểm có chức năng tư vấn các vấn đề về bảo hiểm chongười tham gia để họ nắm được thấu đáo những rủi ro mà nhà đầu tư sẽ gặp
từ đó tư vấn về các chương trình bảo hiểm, các điều kiện, điều khoản có lợicho người tham gia đồng thời môi giới bảo hiểm có thể thay mặt kháchhàng thu xếp, đàm phán với các công ty bảo hiểm để lập được những hợpđồng bảo hiểm theo yêu cầu của khách hàng Ngoài ra, môi giới bảo hiểmcòn kiểm tra các thủ tục cấp đơn, tư vấn cho khách hàng trong việc đòi bồithường, quản lý rủi ro, ngăn ngừa tổn thất trong suốt quá trình thực hiệnhợp đồng bảo hiểm
Môi giới tái bảo hiểm:
Môi giới tái bảo hiểm tập trung vào việc sắp xếp các chương trình táibảo hiểm, thương lượng mức phí cho các công ty tái bảo hiểm, sắp xếp cácchương trình tạm thời trong trường hợp các rủi ro bảo hiểm không nằmtrong hợp đồng hoặc vượt quá hợp đồng cố định Môi giới tái bảo hiểm còn
có trách nhiệm lựa chọn các nhà tái có năng lực, đảm bảo khả năng tàichính , dàn xếp các điều kiện tốt cho họ và hỗ trợ trong việc đòi bồi thường
từ các nhà tái bảo hiểm
1.3.2.5 Các hệ thống phân phối khác
Ngoài việc sử dụng các hệ thống trên, các doanh nghiệp bảo hiểmcòn cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua gửi thư trực tiếp, qua điệnthoại, qua mạng máy tính, qua việc quảng cáo trên các phương tiện thôngtin đại chúng: Vô tuyến truyền hình, đài phát thanh…
1.3.3 Quy trình khai thác.
Quy trình khai thác bảo hiểm diễn ra làm rất nhiều bước Thôngthường thì người ta chia ra làm 5 bước cơ bản như sau:
Sơ đồ 4: Quy trình khai thác bảo hiểm
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn21
Tiếp cận khách hàng và tiếp nhận yêu cầu bảo hiểm
Thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro
Trang 22Bước 1 Tiếp cận khách hàng và tiếp nhận yêu cầu bảo hiểm
Công việc này được chia ra thành các công đoạn sau:
- Xây dựng chương trình khai thác khách hàng
+ Xác định đối tượng khách hàng
+ Nguồn khách hàng
+ Lập danh sách khách hàng dự kiến/ tìm hiểu khách hàng
+ Những tài liệu cần chuẩn bị khi đến gặp khách hàng
- Tiếp nhận yêu cầu bảo hiểm của khách hàng
+ Khai thác trực tiếp
+ Khai thác qua đại lý bảo hiểm
+ Khai thác qua môi giới
Bước 2 Thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro
- Hình thức đánh giá rủi ro
- Nội dung đánh giá rủi ro
+ Đối tượng bảo hiểm
+ Số tiền bảo hiểm
Chào phí bảo hiểm
Phát hành hợp đồng và các chứng từ kèm theo
Theo dõi quá trình thực hiện
hợp đồng
Trang 23+ Điều kiện
+ Số liệu thống kê của nhóm khách hàng tương tự
Bước 3 Chào phí bảo hiểm
- Lên phương án chào phí bảo hiểm
- Hình thức chào phí
- Nội dung chính của bản chào phí
- Đàm phán
Bước 4 Phát hành hợp đồng bảo hiểm và các chứng từ đi kèm
- Hướng dẫn kê khai giấy yêu cầu bảo hiểm
+ Quy định về hình thức
+ Quy định về nội dung
+ Hướng dẫn kê khai giấy yêu cầu bảo hiểm
Bước 5 Theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm
- Theo dõi việc thanh toán phí bảo hiểm của khách hàng
- Theo dõi các thay đổi trong hợp đồng bảo hiểm
1.3.4 Tổ chức khai thác
Việc tổ chức khai thác bảo hiểm hàng hóa được tổ chức theo quychuẩn ISO, tức là mọi văn bản, biểu mẫu khai thác cũng như quá trình khaithác đều theo tiêu chuẩn ISO mà mỗi công ty đề ra Việc tổ chức khai thácđược chia ra làm rất nhiều công đoạn như việc tổ chức hoạt động tuyểndụng, đào tạo đại lý, cán bộ nhân viên, việc quản lý hoạt động của đại lý,việc mở rộng liên kết với các ngân hàng, ký kết hợp đồng liên kết với ngânhàng, các công ty môi giới Tất cả các vấn đề đó phải được thực hiện mộtcách chuyên nghiệp nhằm mục đích là tiếp cận với khách hàng và tăngdoanh thu cho công ty
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn23
Trang 241.3.4.1 Công tác tuyển dụng, đào tạo và quản lý đại lý
Là một trong những yếu tố không thể thiếu được đối với các công ty bảo hiểm hiện nay
a Tuyển dụng đại lý
Các ứng viên sau khi đọc thấy thông tin tuyển dụng của các công tybảo hiểm thông qua nhiều cách truyền thông khác nhau thì nộp hồ sơ phỏngvấn Sau đó công ty bảo hiểm sẽ xem xét các ứng viên phù hợp với tiêuchuẩn đưa ra và tiến hành hội thảo định hướng nghề nghiệp cho ứng viên,
và ứng viên sẽ được làm một bài kiểm tra nhỏ để kiểm tra khả năng học hỏicủa ứng viên Sau khi lựa chọn được ứng viên, công ty bắt đầu phỏng vấntrực tiếp ứng viên nhằm phân loại ứng viên vào các vị trí phù hợp
b Đào tạo đại lý
Công ty sẽ mở ra một khóa đào tạo ngắn ngày nhằm giúp đại lý cónhững kiến thức căn bản về nghiệp vụ khi tiếp xúc với khách hàng Saukhóa đào tạo công ty sẽ cho làm bài kiểm tra và nếu đại lý nào qua sẽ đượccấp một chứng chỉ về việc hoàn thành khóa học nghiệp vụ và giao tiếp vớikhách hàng
c Quản lý đại lý
Thường thì đại lý sẽ được quản lý trực tiếp bởi các nhân viên phòngnghiệp vụ cũng như kinh doanh, việc khai thác hay hoa hồng sẽ được thôngqua nhân viên các phòng tiến hành
1.3.4.2 Việc liên kết, khai thác qua ngân hàng, môi giới.
Các công ty sẽ ký kết với ngân hàng và các công ty môi giới thongqua một hợp đồng liên kết được lý kết giữa hai bên, theo hợp đồng đó thìkhi khách hàng có nhu cầu mua bảo hiểm tìm đến các công ty môi giới, cáccông ty môi giới sẽ thông báo tới công ty bảo hiểm và tư vấn cho kháchhàng lựa chọn công ty bảo hiểm, sau khi nhận được thông báo của công tymôi giới, công ty bảo hiểm sẽ xin thông tin của khách hàng và liên hẹ trựctiếp cho khách hàng để tìm hiểu và tư vấn cho khách hàng về mặt nghiệp
vụ, sau khi ký kết hợp đồng bảo hiểm với khách hàng và nhận được phíbảo hiểm của khách hàng thì công ty sẽ trích ra một phần hoa hồng để trảcho công ty môi giới Làm việc qua ngân hàng cũng vậy, lợi dụng việc khikhách hàng cho vay vốn thì ngân hàng sẽ bắt khách hàng thế chấp một tàisản tương đương với số tiền mà họ vay, và phải đảm bảo tài sản đó không
Trang 25gặp rủi ro gì, ngân hàng sẽ bắt khách hàng phải mua bảo hiểm, vì vậy cáccông ty bảo hiểm sẽ liên kết với ngân hàng và cũng trả cho ngân hàng mộtkhoản hoa hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng liên kết giữa hai bên.
1.3.4.3 Triển khai hoạt động bán hàng trực tiếp.
Nhân viên kinh doanh ngoài quản lý đại lý cũng phải tiến hành khaithác các nghiệp vụ bảo hiểm, có thể qua nhiều nguồn và tiếp cận kháchhàng từ nhiều phía, các nhân viên kinh doanh trược tiếp tiếp xúc với kháchhàng và cấp đơn bảo hiểm cho khách hàng mà không phải thông qua khâutrung gian nào
Thường thì việc liên kết với các công ty môi giới và ngân hàng là docác nhân viên trong phòng kinh doanh, nghiệp vụ tìm hiểu và liên kết Việctuyển dụng đại lý cũng có thể do các phòng tự tuyển dụng cũng có thể docông ty tuyển dụng rồi đưa về các phòng kinh doanh và nghiệp vụ
1.3.5 Những đặc điểm riêng của hoạt động khai thác bảo hiểm hàng hóa.
Khi khai thác bảo hiểm hàng hóa cần phải xem xét tới vấn đề phâncấp trong khai thác Tức là có các chỉ tiêu nhằm phân cấp khai thác đối vớicác cấp quản lý trong cùng một công ty, hay trong cùng một hệ thống Cóthể phân cấp về số tiền bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phí bảo hiểm,…
Đối với nghiệp vụ khai thác bảo hiểm hàng hóa thì để ký kết hợpđồng và cấp đơn bảo hiểm cần có một số thông tin như hợp đồng mua báncủa hàng hóa, số vận đơn, L/C đối với các hợp đồng ngoại…
Đối với các nghiệp vụ khác thì thường khi ký kết hợp đồng thì cũng
đã quy định cụ thể số tiền bảo hiểm trong hợp đồng, nhưng đối với nghiệp
vụ bảo hiểm hàng hóa trong một số trường hợp khi ký kết hợp đồng chưabiết được chính xác số tiền bảo hiểm, hay hành trình, ngày khởi hành…Thường thì các nghiệp vụ bảo hiểm khác thì bảo hiểm thời hạn bảo hiểm là
>= 1 năm kể từ ngày ký, nhưng đối với bảo hiểm hàng hóa vận chuyển thìthời hạn bảo hiểm chỉ phát sinh khi bên người bảo hiểm cấp đơn bảo hiểmcho chuyến hàng đó và kết thúc tại địa điểm ghi trên hợp đồng, có thể là 1ngày, cũng có thể là vài ngày
Trong qua trình khai thác bảo hiểm hàng hóa nếu có phát sinh yêucầu bảo hiểm thì trong trường hợp nếu hàng hóa được vận chuyển bằng tàu
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn25
Trang 26thì ngoài những thông tin về hàng hóa thì cần có những thông tin về tàunhư tuổi của tàu, cờ tàu, xếp hạng tàu,…
Khách hàng có thể lựa chọn ký kết hợp đồng theo một trong ba hìnhthức đó là ký kết hợp đồng bao, đơn bảo hiểm bao, đơn bảo hiểm chuyến
Trong bảo hiểm hàng hóa khách hàng cũng có thể mua bảo hiểm với
số tiền là 110%CIF Đây là đặ trưng cơ bản của bảo hiểm hàng hóa
1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động khai thác
1.4.1 Chỉ tiêu đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
Hàng năm các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải tiến hành lập kếhoạch khai thác cho từng nghiệp vụ, từng loại sản phẩm bảo hiểm
Để lập kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
1.4.2 Chỉ tiêu phân tích cơ cấu khai thác
Cơ cấu doanh thu theo loại hình bảo hiểm và theo nghiệp vụ bảohiểm cần được tính toán và phân tích cụ thể
Với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa có thể phân tích số đơn bảo hiểm
đã cấp hoặc doanh thu phí bảo hiểm theo cơ cấu vùng lãnh thổ, loại kháchhàng, loại hàng hóa…
1.4.3 Chỉ tiêu phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác bảo hiểm
Việc xác định và vạch rõ tính thời vụ cho mỗi nghiệp vụ và mỗi loạisản phẩm bảo hiểm là rất cần thiết Bởi vì, tính thời vụ là cơ sở thực tế giúpdoanh nghiệp bảo hiểm tổ chức khai thác, bố trí, sử dụng lao động hợp lý,
Trang 27chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết để ký kết hợp đồng bảo hiểm Phân tíchtính thời vụ trong khâu khai thác có thể sử dụng các phương pháp:
+ Chỉ số thời vụ theo các tháng trong năm
+ Chỉ số thời vụ theo tháng (Ki) phản ánh mối quan hệ giữa mức độkhai thác trong từng tháng với mức độ khai thác bình quân một tháng trongnăm Kết quả tính ra càng gần 1 thì tính chất thời vụ trong tháng đó càng ít
và ngược lại
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
THĂNG LONG2.1 Khái quát chung về Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long.
2.1.1 Lịch sử hình thành.
THÔNG TIN CHUNG
Tên đơn vị: Công Ty Bảo Hiểm Bưu Điện Thăng Long
Tên tiếng anh : Post & Telecomunication insurance Thang Long company (PTI Thang Long)
Địa chỉ: 100 Thái Thịnh- Đống Đa- Hà Nội
Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long là một trong 24 công ty nhỏtrực thuộc Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn27
Trang 28Được thành lập ngày 12/08/1998, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểmBưu điện là tập hợp của các doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinhdoanh khác nhau tạo nên sự đa dạng về ngành nghề cũng như vững chắc vềtài chính Cổ đông sáng lập và chi phối là Tổng Công ty Bưu Chính ViễnThông Việt Nam (VNPT), nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam và các cổ đông sáng lập khác là Tổng Công ty Cổ phần Tái Bảo hiểm
Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế
Để phù hợp với sự phát triển và phục vụ khách hàng ngày càng tốthơn, bên cạnh các Chi nhánh đã đi vào hoạt động, được phép của Bộ Tàichính (theo thông báo số 4522/TC/BH ngày 18/04/2005 của Bộ Tài chính)PTI đã thành lập Hội sở giao dịch Hà Nội có trụ sở tại số 100 Thái Thịnh,Đống Đa, Hà Nội Ngày 01 tháng 07 năm 2005, Hội sở Giao dịch đã chínhthức đi vào hoạt động Hội sở Giao dịch công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưuđiện được thành lập trên cơ sở kế thừa toàn bộ hoạt động kinh doanh và cácphòng kinh doanh bảo hiểm của Văn phòng PTI trước đây Như vậy, với sự
ra đời của Hội sở giao dịch Hà Nội PTI đã hoàn thành việc tách toàn bộkhối trực tiếp khai thác kinh doanh bảo hiểm và khối quản lý vĩ mô, trợgiúp cho các Đơn vị trực thuộc trong kinh doanh, nhận và nhượng tái bảohiểm, giải quyết các vụ việc trên phân cấp của các Đơn vị Đến tháng09/2010 do cơ chế thay đổi trong chính sách của hội đồng quản trị của công
ty cổ phần bảo hiểm bưu điện và đã có quyết định đổi Công ty cổ phần bảohiểm thành Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện, Hội sở giao dịch HàNội thành Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long và 23 chi nhánh trong
cả nước chuyển thành 23 Công ty con.
PTI Thăng Long cũng đang từng bước phát triển mình nhằm đạtđược mục tiêu là công ty đứng đầu trong tổng công ty bảo hiểm bưu điện
về doanh thu hàng năm
Trang 292.1.2 Hệ thống bộ máy tổ chức của PTI Thăng Long
Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của công ty đang dần đượchoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu của công việc Hiện nay cơ cấu được thểhiện như sau:
Giám Đốc: Điều hành hoạt động chung của công ty, có trách nhiệmbáo cáo với ban lãnh đạo của tổng công ty tình hình hoạt động của công ty
Phó Giám Đốc 1,2 : Phụ trách ký hết hợp đồng bảo hiểm, có tráchnhiệm báo cáo Giám đốc những nội dung công việc có liên quan tới phầnmình đảm trách, thay mặt giám đốc điều hành công việc khi Giám đốc đicông tác
Phòng Kế Toán: Thu thập xử lý thông tin, số liệu kế toán theo từngnội dung công việc: khách hàng, nhân viên, doanh thu, bồi thường Kiểmtra giám sát các hoạt động thu, chi, thanh toán nợ, quản lý và sử dụng tàisản và nguồn vốn; phân tích các thông tin, số liệu kế toán theo yêu cầu củagiám đốc, quyết toán kinh doanh lỗ lãi, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhànước
Phòng Tổng Hợp: Thu thập thông tin, hồ sơ liên quan đến kháchhàng, tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, báo cáoGiám đốc, quản lý và giải quyết công việc hàng ngày, tiếp nhận công văn
đi đến, có chức năng là phòng tham mưu cho Giám đốc
Phòng bảo hiểm Phi hàng hải: Xử lý tất cả các công việc liên quantới các nghiệp vụ xe cơ giới, con người, lưu trữ hồ sơ liên quan đến cácnghiệp vụ này, giải quyết bồi thường cho các nghiệp vụ này Ngoài ra còn
có thể khai thác các hợp đồng bảo hiểm hàng hải và tài sản kỹ thuật
Phòng bảo hiểm hàng hải: Xử lý tất cả các công việc liên quan tớicác nghiệp vụ hàng hóa và tàu, lưu trữ hồ sơ liên quan đến các nghiệp vụnày, giải quyết bồi thường cho các nghiệp vụ này Ngoài ra còn có thểkhai thác các hợp đồng bảo hiểm phi hàng hải và tài sản kỹ thuật
Phòng tài sản kỹ thuật: Giống như hai phòng nghiệp vụ ở trên, ngoàikhai thác, lưu trữ, chăm sóc khách hàng và bồi thường các hợp đồng bảohiểm tài sản kỹ thuật thì phòng này cũng làm các nghiệp vụ khác
Phòng kinh doanh 1,2,3,4,5,6, Hà Đông: Thực hiện kinh doanh, khaithác các nghiệp vụ bảo hiểm, chịu trách nhiệm nghiên cứu, nắm bắt thịtrường, kinh doanh sản phẩm, kí kết hợp đồng
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn29
Trang 30Sơ đồ 5 : Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty bảo hiểm bưu điện Thăng Long
2.1.3 Cơ cấu và trình độ của cán bộ, nhân viên của công ty bảo hiểm bưu điện
2.1.3.1 Cơ cấu cán bộ, nhân viên:
Do tính chất công việc nên cơ cấu nhân sự của công ty nam nhiềuhơn nữ Công việc khá vất vả với nữ nên đa số nhân viên nữ khi vào làm ởđây được vài tháng rồi lại thôi việc nên cơ cấu nhân viên thì nam vẫn luônnhiều hơn nữ
Cơ cấu cán bộ nhân viên của công ty cũng có ảnh hưởng khá lớn đếnhoạt động của công ty Mặc dù số lượng nữ ít hơn nam nhưng hiệu quảcông việc mà họ mang lại rất tốt, doanh thu họ mang về cho công ty cũngkhá cao Tuy nhiên do đặc thù của công việc rất vất vả với nữ giới, hơn nữachuyện gia đình cũng ảnh hưởng khá nhiều đến sự người của cán bộ nữ,nên hầu hết lãnh đạo của công ty cũng như ở các phòng ban đều là namgiới Nữ giới chỉ làm những công việc liên quan đến bàn giấy, rất ít nữ giớilàm mảng khai thác
2.1.3.2 Trình độ của CBNV
Số cán bộ của PTI hầu hết được đào tạo qua các trường lớp, tuynhiên chỉ có một số ít cán bộ, nhân viên của công ty được học chuyênngành bảo hiểm trong các trường đại học Phần đông họ làm trái ngành, trái
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC 1
PHÓ GIÁM ĐỐC 2
P
Phi HH
P.KDHàĐông
Hệ Thống các đại lý khai thác
Trang 31nghề Tuy nhiên qua tiếp xúc với thực tế, mức độ năng động của công việc
đã giúp trình độ chuyên môn của họ ngày càng được nâng cao PTI luônquan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, Công tyluôn luôn củng cố tổ chức , xây dựng chức năng nhiệm vụ cho từng cán bộ,tăng cường công tác tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ để nắm bắt tìnhhình, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Và thực tế cho đến nay, Công ty đãxây dựng được một đội ngũ CBCNV kinh nghiệm, trình độ chuyên mônhoá sâu trong các lĩnh vực bảo hiểm hiện đang triển khai tại công ty
Bên cạnh nhân viên trực tiếp thì công ty cũng có một đội ngũ đôngđảo các đại lý, hầu hết các hợp đồng của công ty đều được ký qua các đại
lý Các đại lý ngày càng được đào tạo bài bản hơn về tác phong làm việcvới khách hàng, cũng như những hiểu biết về nghiệp vụ Theo thống kê củaPTI Thăng Long thì đến cuối năm 2010, tổng số đại lý là 500 người
2.1.4 Kết quả kinh doanh của PTI Thăng Long trong 2 năm 2009 và 2010.
Chỉ trong 5 năm thành lập, công ty cũng đã có những thành côngnhất định, doanh thu phí bảo hiểm gốc qua các năm đều tăng điều đó chứng
tỏ công ty ngày càng có chỗ đứng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Hiệntại PTI Thăng Long là công ty đóng góp doanh thu lớn nhất cho Tổng công
ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện Theo thống kê của tổng công ty hiện tạiCông ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long là công ty có triển vọng nhấttrong 24 công ty con trực thuộc tổng công ty Dưới đây là bảng tổng hợpkết quả kinh doanh của công ty
Bảng 1: kết quả kinh doanh của công ty trong 2 năm 2009-2010
Chỉ
Tiêu
Năm
Tổng doanh thu
Tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế
Tổng chi
đề phòng hạn chế tổn thất
Tổng chi bồi thường
Chi phí khác
2009 84,206 749 23,547 35,675 24,235
2010 119,429 593 29,758 41,385 47,693
( Nguồn tại PTI Thăng Long) Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn31
Trang 32Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy lợi nhuận của công ty có xuhướng tăng từ năm 2009 đến năm 2010 Lợi nhuận sau thuế của năm 2010tăng gần gấp đôi so với năm 2009 mặc dù chi phí của năm 2010 cũng khálớn.
Hiện nay PTI Thăng Long đã triển khai rất nhiều sản phẩm bảo hiểmtrong các lĩnh vực như xe cơ giới, xây dựng lắp đặt, tài sản, hàng hải mỗinghiệp vụ lại có những đặc thù riêng và đóng góp một lượng lớn vào doanhthu của công ty, Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và các công ty bảohiểm của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện nói riêng có những thếmạnh về một số nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau, như PIJCO thì mạnh vềnghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, PVI mạnh về bảo hiểm về dầu khí, VNImạnh về bảo hiểm máy bay PTI Thăng Long cũng vậy cũng mạnh về mộthoặc một số nghiệp vụ, Thông qua doanh thu cụ thể của từng nghiệp vụ ta
có thể nắm được nghiệp vụ nào là mạnh ở PTI Thăng Long Sau đây làbảng số liệu về doanh thu của từng nghiệp vụ của PTI Thăng Long trongnăm 2010
Bảng 2 : Doanh thu phân chia theo nghiệp vụ năm 2010
(tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
(Trích nguồn: BHBĐ Thăng Long)
Dưới đây là biểu đồ biểu thị cơ cấu của các nghiệp vụ bảo hiểm đónggóp vào tỷ trọng doanh thu của công ty
Nhìn vào biểu đồ ta có thể nhận thấy công ty mạnh về nghiệp vụ bảohiểm xe cơ giới với tỉ lệ chiếm 30%/ tổng doanh thu bảo hiểm bảo hiểm xe
Trang 33cơ giới trở thành nghiệp vụ quan trọng không thể thiếu được của công ty,doanh thu đạt được trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là mảng bảo hiểmvật chất xe.
Biểu đồ 1: Tỉ trọng doanh thu của các nghiệp vụ
TỶ TRỌNG CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
Bảo hiểm xe cơ giới 30%
Xây dựng lắp đặt 23%
Bảo hiểm thiết bị điện tử 18%
Bảo hiểm hàng hóa 6%
Bảo hiểm họa hoạn 5%
Bảo hiểm khác 18%
2.2 Tình hình thị trường bảo hiểm và bảo hiểm hàng hóa ở Việt Nam năm 2010
2.2.1 Tình hình thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam năm 2010
Năm 2010 ngành bảo hiểm cũng gặp không ít khó khăn từ nền kinh
tế xã hội, sự kiện Vinashin làm cho một số DNBH tồn đọng phí bảo hiểmchưa thu được Giá vàng, tỉ giá ngoại hối và lãi suất thay đổi ảnh hưởngđáng kể tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Lũ lụt liên tiếp xảy ra
ở các tỉnh miền Trung làm gia tăng bồi thường bảo hiểm nhưng không đáng
kể so với tổng thiệt hại khoảng 16.050 tỉ đồng của nhiều đối tượng chưamua bảo hiểm Những tổn thất do bão lũ miền Trung để lại hậu quả nghiêmtrọng với 260 người chết, 96 người mất tích, 491 người bị thương, 6.000ngôi nhà bị sập đổ trôi, 471.985 nhà ngập,hư hại, tốc mái, 312.000 ha lúahoa màu bị hư hỏng
Năm 2010, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều củaLuật kinh doanh bảo hiểm, Bộ Tài chính-Cục Quản lý giám sát bảo hiểmnâng cao chế độ quản lý nhà nước thông qua việc kiểm soát chặt chẽ đàotạo đại lý bảo hiểm, tiến hành thanh tra, kiểm tra một số doanh nghiệp bảohiểm và việc thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới
Năm 2010, các doanh nghiệp bảo hiểm đã hoàn thành lộ trình có đủvốn pháp định 300 tỉ đồng đối với phi nhân thọ, 600 tỉ đồng đối với nhânthọ, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần BộTài chính đã cấp giấy phép hoạt động cho 2 doanh nghiệp bảo hiểm là
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn33
Trang 34Công ty TNHH Bảo hiểm Phi nhân thọ Cathay và Công ty Bảo hiểm Nhânthọ Fubon Việt Nam và chấp thuận nguyên tắc chuẩn bị cấp phép cho Công
ty Bảo hiểm Nhân thọ Generali
Năm 2010, ngành bảo hiểm hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu Chiếnlược phát triển thị trường bảo hiểmViệt Nam giai đoạn 2003 – 2010 đượcThủ tướng chính phủ phê duyệt và kế hoạch 5 năm phát triển thị trường bảohiểm 2006 – 2010 của Bộ Tài chính
Doanh thu bảo hiểm năm 2010 đạt 30.844 tỉ đồng xấp xỉ chỉtiêuchiến lược đề ra trong đó bảo hiểm phi nhân thọ đạt 17.052 tỉ đồng, vượtchỉtiêu Chiến lược 91%, bảo hiểm nhân thọ đạt 13.792 tỉ đồng đạt 45% sovới chỉ tiêu Chiến lược, thu nhập đầu tư 8.200 tỉ đồng Tổng vốn đầu tư củadoanh nghiệp bảo hiểm ước đạt trên 92.000 tỉ đồng (tương đương 4,6 tỉUSD) đạt chỉ tiêu chiến lược Tổng số đại lý bảo hiểm trên 200.000 người,tăng 33% so với chỉ tiêu chiến lược, năng lực tài chính của doanh nghiệpbảo hiểm ngày một tăng Tổng vốn chủ sở hữu 30.100 tỉ đồng trong đónhân thọ 10.600 tỉ đồng, Phi nhân thọ 19.500 tỉ đồng
Hiện tượng cạnh tranh gay gắt bằng hạ phí bảo hiểm , mở rộng điềukhoản, điều kiện bảo hiểm đã có dấu hiệu hạ nhiệt Nhiều doanh nghiệpbảo hiểm đã chú ý đến hiệu quả hướng tới mục tiêu không lỗ về nghiệp vụbảo hiểm bằng cách xây dựng công nghệ quản lý khai thác bồi thường hiệnđại tiên tiến, đặt chỉ tiêu giảm chi phí quản lý hành chính và bồi thường.Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã chú ý đến phát triển sản phẩm mới, mởrộng các tiện ích của sản phẩm bảo hiểm, tăng thêm các dịch vụ chăm sóckhách hàng, mở rộng kênh phân phối qua ngân hàng và các tổ chức khác
Tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 17.052 tỉ đồng tăng24,9% so với năm 2009 Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 4.198 tỉ đồng, PVI3.512tỉ đồng, Bảo Minh 1.942 tỉ đồng, PJICO 1.592 tỉ đồng, PTI 679 tỉđồng Các doanh nghiệp bảo hiểm có tỉ lệ tăng trưởng doanh thu cao làMSIG 327,2%, Groupama 228%, ACE 198,6%, Fubon 98,3%, Bảo Ngân96,6%, Hùng Vương 94,8%, SVIC 93% Các nghiệp vụ bảo hiểm thuộcnhóm trên 1.000 tỉ đồng là Xe cơ giới 5.378 tỉ đồng, Tài sản và thiệt hại3.698 tỉ đồng, Sức khỏe và tai nạn con người 2.501 tỉ đồng, Xây dựng lắpđặt 2.051 tỉ đồng, Thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu 1.796 tỉ đồng,Cháy nổ và mọi rủi ro 1.436 tỉ đồng, Hàng hóa vận chuyển 1.248 tỉ đồng,Bảo hiểm dầu khí 1.204 tỉ đồng Các doanh nghiệp bảo hiểm có tỉ lệ bồithường cao là SVI 74,7%, Bảo Long 70,1%, Liberty 64%, Bảo Minh
Trang 3542,6%, PJICO 42%, Các nghiệp vụ có tỉ lệ bồi thường cao là bảo hiểm xe
cơ giới 49,9%, bảo hiểm Sức khỏe con người 43,1% Bảo hiểm mọi rủi rotài sản 40,1%
2.2.2 Tình hình nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển ở Việt Nam năm 2010
Năm 2010, tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa cũng cónhững bước tiến triển rõ rệt Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt doanh thu1.248 tỉ đồng, tăng trưởng 31% Cả phí bảo hiểm gốc, nhận tái bảo hiểmtrong nước, nhận tái bảo hiểm ngoài nước, nhượng tái bảo hiểm ngoàinước, nhượng tái bảo hiểm trong nước năm 2010 cũng có xu hướng tăng
Các doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu bảo hiểm gốc khá cao làBảo Việt 310 tỉ đồng, PJICO 175 tỉ đồng, PVI 103 tỉ đồng, Bảo Minh 102 tỉđồng, SVI 83 tỉ đồng, BV Tokio Marine 65 tỉ đồng, Bảo Long 52 tỉ đồng,PTI 38 tỉ đồng Cũng còn khá nhiều doanh nghiệp có doanh thu từ phí bảohiểm gốc khá nhỏ như Liberty 53 triệu đồng, Groupama 258 triệu đồng,ACE Insurance 890 triệu đồng…Nhận tái bảo hiểm trong nước cũng có khánhiều doanh nghiệp có doanh thu cao như Bảo Minh là 29 tỉ đồng, PVI là
22 tỉ đồng, Bảo Việt là 12 tỉ đồng, PTI là 11 tỉ đồng…Hầu như có rất ít cácdoanh nghiệp nhận tái bảo hiểm ngoài nước, chỉ có SVI nhận 2 tỉ đồng,AAA nhận 118 triệu đồng, còn hầu như các doanh nghiệp không nhận táibảo hiểm ngoài nước cũng như nhận rất ít So với kim ngạch xuất khẩu 70
tỉ USD, nhập khẩu 84 tỉ USD thì phí bảo hiểm thu được còn quá khiêm tốn.Những cảnh báo về rủi ro khi không thu phí tàu già, một số cảng biển vàmột số mặt hàng có tổn thất cao ít được doanh nghiệp bảo hiểm chú ý vẫntiếp tục cạnh tranh giành giật khách hàng một cách gay gắt Theo tình hìnhthống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ bảohiểm hàng hóa năm 2010 từ bảo hiểm gốc như sau, các doanh nghiệp có tỷ
lệ bồi thường cao nhất là ACE Insurance với tỷ lệ bồi thường là 657%, tiếptheo là Bảo Long với 138%, Groupama có tỷ lệ bồi thường 0%, Gmic là0.39% Nhìn chung thị trường bảo hiểm hàng hóa năm 2010 có những biếnchuyển rất mới, doanh thu của Bảo Việt trong nghiệp vụ bảo hiểm hànghóa vẫn giữ được vị trí đầu 271 tỉ đồng, tiếp sau đó Pjico là 88 tỉ đồng,BảoMinh đứng thứ ba với 53 tỉ đồng
2.3 Thực trạng hoạt động khai thác bảo hiểm hàng hóa tại Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn35
Trang 362.3.1 Những quy định về hoạt động khai thác bảo hiểm hàng hóa tại Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện có quy định cụ thể về vấn
đề phân cấp trong khai thác bảo hiểm hàng hóa Căn cứ vào khả năng vàkinh nghiệm khai thác bảo hiểm hàng hoá của cấp dưới tại các phòng, banGiám đốc công ty có thể phân cấp cho Phó Giám đốc hoặc Trưởng/Phó cácPhòng kinh doanh của công ty trong phạm vi mức phân cấp khai thác củamình và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Công ty, Hội đồng quản trị vàpháp luật về các quyết định của mình Các cá nhân, đơn vị lạm dụng “Phâncấp khai thác bảo hiểm hàng hóa” gây thiệt hại cho Công ty và khách hàngphải chịu trách nhiệm trước Công ty, Hội đồng quản trị và pháp luật đồngthời phải bồi hoàn thiệt hại
2.3.1.1 Phân nhóm Chi nhánh
Bảng 3 : Phân nhóm theo chi nhánh
STT Phân nhóm Doanh thu phí bảo hiểm hàng hóa (X)
- Phân cấp về Quy tắc, điều kiện và điều khoản bảo hiểm
Tổng công ty áp dụng mức phân cấp chung về điều kiện, điều khoảnbảo hiểm cho tất cả các công ty con, cụ thể như sau:
Các công ty con được phân cấp chủ động áp dụng các Quy tắc bảohiểm hàng hoá mà Tổng công ty đã đăng ký với Bộ Tài chính (Theo Phụlục số 01 đính kèm) Tuyệt đối không được mở rộng để bảo hiểm cho cácrủi ro sau:
Các rủi ro về từ bỏ hàng (Rejection risks);
Trang 37Các rủi ro mang tính hậu quả và các rủi ro về tài chính (Contingency
& financial risks);
Các rủi ro do bị tịch thu/bắt giữ (Confiscation risks);
Các đơn bảo hiểm cấp trên cơ sở Tổn thất đầu tiên (First Loss);
Các đơn bảo hiểm vượt mức bồi thường (Excess of loss policies); Đơn bảo hiểm áp dụng điều khoản Stock through put;
*Đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hoá không bao gồm rủi ro chiếntranh đình công, các loại trừ cần áp dụng bao gồm:
Điều khoản rủi ro về ô nhiễm phóng xạ, vũ khí hóa học, sinh hóa, vũkhí điện từ - Điều khoản 370 - 10.11.2003 (Institute RadioactiveContamination, Chemical, Biochemical & Electromagnetic weaponExclusion Clause)
Điều khoản loại trừ rủi ro máy tính - Điều khoản 380 – 10.11.2003(Institute Cyber Attach Exclusion Clause)
Điều khoản rủi ro Công nghệ thông tin 16.11.2001 XL 2001/2003(Information Technology Hazards Clause)
Điều khoản loại trừ rủi ro năng lượng hạt nhân - Nuclear EnergyRisks Exclusion Clause – Marine (1989)
Điều khoản rủi ro ô nhiễm, nhiễm bẩn (Seapage and PollutionExclusion) nếu hàng hoá là hàng xăng dầu, hoá chất
*Đối với hợp đồng bảo hiểm có bao gồm rủi ro chiến tranh đình công,
các loại trừ cần áp dụng bao gồm:
Điều khoản rủi ro về ô nhiễm phóng xạ, vũ khí hóa học, sinh hóa, vũkhí điện từ - Điều khoản 370 - 10.11.2003 (Institute RadioactiveContamination, Chemical, Biochemical & Electromagnetic weaponExclusion Clause)
Điều khoản loại trừ rủi ro máy tính - Điều khoản 380 – 10.11.2003(Institute Cyber Attach Exclusion Clause)
Điều khoản rủi ro Công nghệ thông tin 16.11.2001 XL 2001/2003(Information Technology Hazards Clause)
Điều khoản loại trừ rủi ro năng lượng hạt nhân - Nuclear Energy RisksExclusion Clause – Marine (1989)
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Nhàn37
Trang 38Điều khoản rủi ro ô nhiễm, nhiễm bẩn (Seapage and PollutionExclusion) nếu hàng hoá là hàng xăng dầu, hoá chất.
Điều khoản hủy bỏ rủi ro chiến tranh - Điều 271 (Institute WarCancellation – Cargo)
Điều khoản tự động hủy bỏ - thông báo số 86 của ủy ban định phíchiến tranh Luân Đôn (Automatic Cancelation Clause)
Điều khoản chấm dứt thời hạn bảo hiểm (rủi ro đình công) – CargoTermination of Transit Clause (Terrorism)
Tất cả mọi trường hợp áp dụng điều khoản bảo hiểm chính hoặc thêmđiều khoản sửa đổi bổ sung nào khác với quy định nêu trên đều phải xin ýkiến Tổng công ty trước khi áp dụng
- Phân cấp về số tiền bảo hiểm
Bảng 4: Phân cấp về số tiền bảo hiểm
TT Tiêu chí Chi nhánh A Chi nhánh B Chi nhánh C
Số tiền
bảo hiểm
(SI)
USD3.000.000(48 tỷ đồng)
USD3.000.000(48 tỷ đồng)
USD1.000.000(16 tỷ đồng)
(Nguồn BHBĐ Thăng Long)
- Phân cấp về đối tượng bảo hiểm
*Đối với các Chi nhánh nhóm A và B: được phép khai thác tất cả cácmặt hàng loại trừ các mặt hàng sau:
Phương tiện bay (mã hàng 140400);
Thiết bị vận tải liên hợp (mã hàng 140500);
Chất amiăng (mã hàng 150100);