1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương

103 659 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 762 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều thành tựu to lớn là kết quả của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất thông qua các hoạt động khuyến nô

Trang 1

LỜI CAM ĐOANTên tôi là Nguyễn Trí Trung với đề tài nghiên cứu “Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến nông Huyện Gia Lộc – Tỉnh Hải Dương”.

Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Nguyễn Thị Thiêm, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Trí Trung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Báo cáo tốt nghiệp là bước cuối đánh dấu sự trưởng thành một sinh viên ở giảng đường đại học, để trở thành một cử nhân hay một kỹ sư đóng góp những gì mình đã học được cho sự phát triển đất nươc

Trong quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp, tôi đã được sự giúp đỡ, hưởng dẫn, hỗ trợ từ gia đình, từ quý thầy cô cùng các bạn nhờ đó mà tôi đã hoàn thành được báo cáo như mong muốn, nay xin phép cho em được gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành đến :

Cha mẹ người đã luôn bên cạnh tôi, vất vả nuôi tôi khôn lớn, bạn bè đã động viên khích lệ, giúp đỡ trong những lúc tôi gặp khó khăn

Toàn thể cán bộ Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc đã tận tình cung cấp tài liệu và chỉ dạy tôi nhiệt tình

Các thầy cô khoa kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn cô ThS Nguyễn Thị Thiêm Bộ môn Kinh tế Nông Nghiệp và Chính Sách – Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, người trực tiếp hưỡng dẫn đề tài Trong quá trình làm báo cáo tố nghiệp, cô đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện

đề tài, giúp tôi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình làm báo cáo và hoàn thành đúng định hướng ban đầu

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Trí Trung

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Huyện Gia Lộc là 1 xã thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông hồng, đất đai đa dạng, phì nhiêu màu mỡ, cây trồng vật nuôi phong phú, có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều thành tựu to lớn là kết quả của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất thông qua các hoạt động khuyến nông của huyện Đến nay qua nhiều năm hoạt động với sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã và các ban ngành đoàn thể khuyến nông huyện và xã đã đạt được nhiều kết quả góp phần hình thành các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện nhà Bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động khuyến nông thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhiều khi còn mang tính áp đặt Vì vậy, cần có nhiều thay đổi mới trong hoạt động khuyến nông để đáp ứng nhu cầu công tác hiện nay là nhu cầu cấp thiết và được sự nhất trí của trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp: “Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến nông Huyện Gia Lộc – Tỉnh Hải Dương” Gồm mục tiêu nghiên cứu là: (1)Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý

luận và thực tiễn về khuyến nông, đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông (2)Đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Gia Lộc – Tỉnh Hải Dương.(3) Đề xuất một số giả pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động khuyến nông ở địa phương

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu gồm: (1) Phương pháp thu thập số liêu thứ cấp đó là những số liệu được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, những nghiên cứu khoa học trước (2) Thu thập số liệu sơ cấp đó là những số liệu được thu thập thông qua điều tra trực tiếp các cán bộ khuyến nông, cán bộ khuyến nông viên cơ sở và các hộ nông dân Sau đó tiến hành xử lý và phân tích số liệu thu thập được để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 4

Qua quá trình nghiên cứu tại trạm khuyến nông huyện Gia Lộc, đề tài của tôi đã thu được kết quả nghiên cứu như sau: Thứ nhất, nắm bắt được thực trạng hoạt động khuyến nông của trạm khuyến nông tác động tới các xã trên địa bàn huyện về tình hình tổ chức, bộ máy hoạt động khuyến nông cũng như cách thức chuyển giao kĩ thuật tiến bộ tới người nông dân.Tình hình thực hiện các nội dung hoạt động khuyến nông được thực hiện theo Nghị định số 56/2005/NĐ – CP Thứ hai, đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện trên cơ sở thu thập thông tin về kết quả thực hiện các hoạt động đào tạo tập huấn, xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn, công tác thông tin tuyên truyền được thực hiện trong 3 năm 2011 – 2013 Ý kiến đánh giá của cán bộ khuyến nông và ý kiến đánh giá của các hộ nông dân Phân tích khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện các hoạt động của Trạm khuyến nông Gia Lộc Thứ ba từ những đánh giá tình hình thực hiện hoạt động khuyến nông, phân tích những khó khăn và thuận lợi đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Công tác lập kế hoạch khuyến nông phải có sự tham gia của người dân, xuất phát từ nhu cầu của người dân Tăng cường đầu tư nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ khuyến nông, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho cán bộ khuyến nông và tăng kinh phí đầu tư các hoạt dộng khuyến nông Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền phổ biến kiến thức mới, khoa học kĩ thuật mới áp dụng khuyến nông Nâng cao chất lượng và số lượng các kênh thông tin tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng như loa phát thanh, tăng cường các bài viết về thông tin khuyến nông – khuyến ngư, nêu gương những nông dân sản xuất giỏi để người dân để người dân tin tưởng vào hoạt động khuyến nông Nâng cao chất lượng và tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của người dân và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ khuyến nông Tiếp tục xây dựng các mô hình trình diễn đáp ứng nhu cầu của người dân, phát triển các mô hình mang lại hiệu quả cao cho nông dân phù hợp với đặc điểm từng địa phương.

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Nguồn nhân lực cán bộ khuyến nông của Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc năm 2013 47

Bảng 4.2: Cơ cấu cán bộ KNVCS năm 2013 48

Bảng 4.3: Công tác tuyên truyền, giao ban và hội thảo đầu bờ trong các năm 2011, 2012, 2013 50

Bảng 4.4: Mức độ theo dõi thông tin khuyến nông 51

Bảng 4.5: Kết quả tập huấn trong các năm 2011, 2012, 2013 52

Bảng 4.6: Đánh giá của người dân về tần suất tổ chức tập huấn, đào tạo khuyến nông 54

Bảng 4.7: Đối tượng của hộ tham gia các lớp tập huấn theo giới tính 55

Bảng 4.8: Thành phần tham gia các lớp tập huấn theo vai trò trong sản xuất 56

Bảng 4.9: Đánh giá của người dân về đối tượng tham gia các lớp tập huấn, đào tạo khuyến nông theo điều kiện kinh tế 57

Bảng 4.10: Mức độ tham gia các lớp tập huấn khuyến nông 58

Bảng 4.11: Nhu cầu tham quan và hội thảo đầu bờ 59

Bảng 4.12: Kết quả xây dựng mô hình Trồng trọt, Chăn nuôi, Thuỷ sản trong các năm 2011, 2012, 2013 62

Bảng 4.13: Nhu cầu thực hiện mô hình 63

Bảng 4.14: Mức độ quan tâm của người dân về sự hiện diện của cán bộ khuyến nông xã 66

Bảng 4.15: Mức độ tiếp xúc với cán bộ khuyến nông xã 68

Bảng 4.16: Nhu cầu về sự cần thiết của cán bộ khuyến nông xã 68

Bảng 4.17: Phân tích SWOT trong hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến nông Gia Lộc 70

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

SƠ ĐỒ:

Sơ đồ 2.1 – Vai trò khuyến nông 9

Sơ đồ 2.2: Liên kết “4 nhà” trong công tác khuyến nông 13

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam 32

Sơ đồ 4.1: Cấu trúc hệ thống hoạt động mạng lưới khuyến nông huyện Gia Lộc 46

Đồ thị 4.1: Trình độ của khuyến nông viên cơ sở 48

Đồ thị 4.2: Mức độ theo dõi thông tin khuyến nông của người dân 51

Đồ thị 4.3: Thành phần tham gia các lớp tập huấn theo vai trò trong sản xuất 56

Đồ thị 4.4: Mức độ tham gia các lớp tập huấn khuyến nông .58

Trang 8

KN - KL: Khuyến nông - Khuyến lâm

KN - KN: Khuyến nông - Khuyến ngư

KNVCS: Khuyến nông viên cơ sở

NN & PTNT: Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

TBKH: Tiến bộ khoa học

TBKHKT: Tiến bộ khoa học kỹ thuật

TBKT: Tiến bộ kỹ thuật

TM - DV: Thương mại - Dịch vụ

UBND: Uỷ ban nhân dân

ƯDKH & CGCN: Ứng dụng khoa học & Chuyển giao công nghệ

Trang 9

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường sản xuất tự cung, tự cấp không còn đảm bảo được điều kiện sống cho người dân Khắp mọi nơi chúng ta có thể thấy một xu thế cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và chỉ có những người dân hoạt động hiệu quả cao mới có thể đứng vững được Trong cơ chế mới người dân luôn đứng trước thực trạng thiếu hụt thông tin về thị trường, giá cả để định hướng sản xuất Mặt khác, trình độ sản xuất của phần lớn người dân còn yếu, thông tin khoa học kỹ thuật đối với người dân còn ít Do đó, vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, kinh nghiệm quản lý, thông tin thị trường, chuyển giao tiến bộ khoa học cho người dân để họ có đủ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, tự giải quyết các vấn đề của mình là một yêu cầu bức thiết trong vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay

Trước yêu cầu đó, công tác khuyến nông đã được củng cố và từng bước cải thiện cho phù hợp với tình hình mới Ngày 02/03/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, thông tư liên bộ số 02/LBLT ngày 02/08/1993 hướng dẫn thi hành Nghị định 13/CP Từ khi ra đời Nghị định này đã đem lại kết quả khả quan trong nông nghiệp nông thôn

Hệ thống khuyến nông nước ta đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng, với mạng lưới ngày càng hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Có thể nói, công tác khuyến nông đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển nông nghiệp, tạo ra nhiều hàng hoá nông sản có chất lượng, tăng thu nhập và mức sống cho người dân Bên cạnh những thành tựu

đã đạt được, phải thừa nhận một thực tế đó hiệu quả mà hoạt động khuyến nông đem lại còn chưa cao một phần do các chương trình, các hoạt động

Trang 10

khuyến nông được đưa ra còn mang tính áp đặt từ trên xuống, chưa xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn của người dân

Để phù hợp với chiều hướng phát triển hiện nay thì khuyến nông phải phát huy sự tham gia của người dân Trong đó, việc lập kế hoạch cho các chương trình, dự án khuyến nông phải xuất phát từ những vấn đề và nhu cầu của chính người dân trong cộng đồng Thông qua việc đánh giá tìm hiểu những khó khăn, vấn đề mà người dân đang gặp phải để từ đó các nhà quản

lý, nhà hoạch định chính sách đưa ra các chương trình tới các hoạt động, phương pháp khuyến nông phù hợp để có thể phát huy sự tham gia tối đa của người dân địa phương

Huyện Gia Lộc là 1 xã thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông hồng, đất đai đa dạng, phì nhiêu màu mỡ, cây trồng vật nuôi phong phú, có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Trong những năm qua, ngành nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều thành tựu to lớn là kết quả của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất thông qua các hoạt động khuyến nông của huyện Đến nay qua nhiều năm hoạt động với sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân xã và các ban ngành đoàn thể khuyến nông huyện và xã đã đạt được nhiều kết quả góp phần hình thành các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện nhà Bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động khuyến nông thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhiều khi còn mang tính áp đặt Vì vậy, cần có nhiều thay đổi mới trong hoạt động khuyến nông để đáp ứng nhu cầu công tác hiện nay là nhu cầu cấp thiết

Xuất phát từ điều kiện thực tế của huyện cũng như sự phân bổ của bộ môn Kinh Tế Nông Nghiệp và Chính Sách, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến nông Huyện Gia Lộc – Tỉnh Hải Dương”.

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng, kết quả của hoạt động khuyến nông tại Trạm khuyến nông xã Gia Khánh – Huyện Gia Lộc – Tỉnh Hải Dương nhằm góp phần hoàn thiện, thực hiện tốt chính sách

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Khuyến nông là gì? Vai trò của khuyến nông trong sản xuất nông nghiệp?

- Kết quả của huyện 3 năm gần đây khi áp dụng chính sách khuyến nông

có tốt không? Có tác động rõ rệt tới người dân (người được hưởng lợi) không?

- Có thể đẩy mạnh khuyến nông ở địa phương để phát triển nông nghiệp mạnh hơn được không? Nếu có cần phải làm thế nào? Đưa ra giải pháp?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề về thực trạng công tác khuyến nông của huyện Gia Lộc, kết quả của hoạt động khuyến nông, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển công tác tổ chức khuyến nông tại huyện Gia Lộc

Trang 12

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Đề tài này được thực hiện ở cấp huyện, nghiên cứu tại địa bàn huyện Gia Lộc với 3 xã đại diện là (Gia Tân, Hoàng Diệu, Gia Khánh)

- Thời gian thực hiện: Từ ngày 7/1/2014 – 4/6/2014

- Số liệu thu thập nghiên cứu từ 2011 – 2013 (điều tra, phỏng vấn)

Trang 13

PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm khuyến nông

Khuyến nông là một khái niệm khó định nghĩa một cách chính xác, vì khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi, do đó có nhiều quan niệm khác nhau về khuyến nông, nhưng từ những sự hiểu biết khác nhau đó, chúng ta có thể thống nhất được những quan điểm chung về khuyến nông Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm về khuyến nông

Theo FAO (Tổ chức nông lương thế giới): Khuyến nông là cách đào tạo tay nghề cho nông dân đồng thời giúp họ hiểu được các chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có khả năng giải quyết những vấn

đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao trình độ dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới

Theo nghĩa Hán, “Khuyến” có nghĩa là khuyên người ta cố gắng trong công việc, còn khuyến nông nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp

Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh, sau đó được mở rộng tới các hội giáo dục ở Anh và các nước khác “Extension” với nghĩa ban đầu là

“triển khai” hay “mở rộng”, khi ghép với từ “Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì dịch là khuyến nông

“Khuyến nông, khuyến lâm là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn” (A.W.Van den Ban và H.S hawkins , 1998)

“Khuyến nông, khuyến lâm là một quá trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông khuyến lâm thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên

Trang 14

khác, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo” (Falaconer và các cộng sự , 1987).

Qua rất nhiều định nghĩa, chúng ta có thể tóm tắt lại và có thể hiểu khuyến nông theo hai nghĩa:

Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản

lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn

Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả công tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông lâm ngư, các Trạm khoa học nông lâm ngư để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ

có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn

Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa về khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng giải quyết những vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển sản xuất

Trang 15

Khuyến nông là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Khuyến nông là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân

2.1.2 Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông

Bản chất (mục tiêu cơ bản) của khuyến nông xem ra khá thống nhất ở mọi quốc gia, nhưng nhiệm vụ chức năng của khuyến nông không thống nhất

do bởi phạm vi hoạt động khuyến nông rất rộng Các quốc gia khác nhau có điều kiện đất đai, khí hậu, kinh tế, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán khác nhau; người giàu nghèo khác nhau, trồng trọt chan nuôi, bảo quản chế biến nông sản khác nhau v.v nên họ hiểu nhiệm vụ chức năng của khuyến nông có khác nhau Ví dụ:

Theo Mosher, 1979 cho rằng khuyến nông có 6 nhiệm vụ chức năng chủ yếu là:

- Giải quyết đầu vào cho sản xuất nông nghiệp

- Giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

- Công tác tín dụng

- Đào tạo cán bộ khuyến nông, đào tạo nông dân sản xuất nông nghiệp

- Lập các tổ chức xã hội và dịch vụ hỗ trợ nông dân sản xuất

- Thực hiện các thie nghiệm thẩm tra tiến bộ kỹ thuật (TBKT) để ứng dụng vào sản xuất

Theo Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI (International Rice Research Institute), khuyến nông có 10 nhiệm vụ chức năng chủ yếu được tóm lược như sau:

- Thu thập và truyền đạt thông tin

- Phát hiện các thuận lợi khó khăn và đề xuất các giải pháp khắc phục

- Xây dung hệ thống xã hội hỗ trợ

Trang 16

- Lựa chọn mục tiêu khuyến nông cho tong khu vực

- Chuyển giao TBKT mới cho nông dân

- Lựa chọn phương pháp dạy phi chính qui cho người lớn tuổi

- Đánh giá và thử mghiệm TBKT mới

- Thực hiện các hoạt động khuyến nông

- Hướng dẫn truyền đạt thông tin cho các khuyến nông viên cơ sở

- Chức năng điều hành công tác khuyến nông cho các khu vực

Theo Nđ số13/CP của Chính phủ Việt Nam ngày 2/3/1993 đã qui định

cụ thể nội dung công tác khuyến nông:

- Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiền tiến cho nông dân

- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường giá cả nông sản đẻ nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, Nđ số 56/2005/Nđ-CP ngày 24/6/2005 và TT số 60/2005/TT/BNN đã qui định mục tiêu khuyến nông-khuyến ngư:

- Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất

- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư

Trang 17

2.1.3 Vai trò của khuyến nông

2.1.3.1 Khuyến nông có vai trò là cầu nối

Có thể diễn đạt khuyến nông có vai trò cầu nối thông tin 2 chiều giữa nông dân với 9 đầu mối theo sơ đồ 1 như sau:

Sơ đồ 2.1 – Vai trò khuyến nông Cầu nối nông dân với Nhà nước

Đất nước ta có trên 80 triệu dân, trong đó trên 70% là nông dân Nhìn chung, trình độ dân trí chưa cao nên không thể mọi người nông dân đều hiểu được mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ về nông nghiệp Khuyến nông có vai trò giúp nông dân nâng cao nhận thức trong quá trình sản xuất sao cho sản xuất có hiệu quả và phù hợp với đường lối lãnh đạo

NÔNG DÂN Cầu nối khuyến nông

Nhà nướcNghiên cứuMôi trườngThị trường

Nông dân sản xuất giỏi

Các Doanh NghiệpCác ngành

Các đoàn thể

Quốc tế

Trang 18

của Nhà nước Ngược lại thông qua cầu nối khuyến nông Đảng và Chính phủ hiểu được tâm tư nguyện vọng của nông dân, những nhu cầu bức xúc của nông dân trong sản xuất, cuộc sống và phát triển nông thôn

Cầu nối nông dân với nghiên cứu

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, hàng ngày hàng giờ có những phát minh sáng tạo mới ra đời Khuyến nông giúp nông dân lựa chọn áp dụng những TBKT mới phù hợp với điều kiện địa phương mình, gia đình mình Ngược lại, qua quá trình nông dân áp dụng những sáng tạo kỹ thuật mới mà các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu khoa học biết nên nghiên cứu những gì cho phù hợp sản xuất

Cầu nối nông dân với môi trường

Nông nghiệp một nước đang phát triển và phát triển phải quan tâm đến vấn đề môi trường Sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu sản xuất nông nghiệp hàng hóa lại càng phải lưu ý tới tới môi trường để sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn cho đời sống và môi trường sống của mọi người dân trong cộng đồng và xã hội Ví dụ, một vùng chuyên canh sản xuất rau phải quan tâm đến sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM, Một làng sản xuất đay phải quan tâm đến nước sạch nông thôn

và sức khẻo cộng đồng, nhất là đối với phụ nữ Một làng quê có nghề nấu rượu, làm miến dong, chăn nuôi lợn phải lưu ý đến vấn đề nước thải

Cầu nối nông dân với thị trường

Sản phẩm nông nghiệp phải được sử dụng và tiêu thụ Vấn đề thị trường là một trong những nhân tố có tác dụng rất lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất Từ năm 1988 thực hiện “Khoán10”, chúng ta chuyển đổi quản lý kinh tế nông nghiệp theo hướng kinh tế hộ gia đình, sản xuất theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều chỉnh của Nhà nước Những năm tháng đầu chúng

ta gặp rất nhiều khó khăn do sản xuất nông nghiệp của nước ta đã trải qua hàng ngàn năm sản xuất theo mục đích tự cung tự cấp, tiếp đến những năm

Trang 19

chống Mỹ sản xuất nông nghiệp theo “Kế hoạch hóa nhà nước” nên nông dân

ta chưa quen với sản xuất nông nghiệp hàng hóa Để sản xuất nông nghiệp hàng hóa cần phải quan tâm đến qui luật kinh tế thị trường; quan tâm đến số lượng, chất lượng, bao bì mẫu mã (thương hiệu) và tiếp thị thị trường các sản phẩm

Cầu nối nông dân với nông dân sản xuất giỏi

Từ năm 1988 thực hiện “Khoán 10” chuyển từ sản xuất tập thể sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại theo hướng nông nghiệp hàng hóa rất cần có vai trò khuyến nông Khuyến nông giúp nông dân tăng cường tính cộng đồng trong sản xuất nhằm đảm bảo môi trường sinh thái trong sạch và bền vững Khuyến nông giúp nông dân có được những giải pháp khắc phục vấn đề môi trừng sống bị ô nhiễm

Cầu nối nông dân với các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp có tầm quan trong giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Khuyến nông đã góp phần tăng cường mối liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp

Cầu nối nông dân với các tổ chức chính quyền, đoàn thể và các ngành hữu quan

Khuyến nông không hiệu quả nếu hoạt động đơn độc Hoạt động khuyến nông mang tính cộng đồng Thực hiện một nội dung nào đó cần có sự phối hợp rất chặt chẽ của mọi cấp, mọi ngành, mọi đoàn thể

Cầu nối nông dân với Quốc tế

Để có được sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, tiếp cận thị trường thế giới cần có vai trò của khuyến nông Khuyến nông giúp nông dân nhận biết trong cơ chế kinh tế hội nhập hiện nay nên sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trang 20

Mối “Liên kết 4 Nhà”

Một trong những cầu nối khuyến nông quan tâm hiện nay là mối “Liên kết 4 Nhà” trong công tác khuyến nông là khá quan trọng có tác dụng nâng cao kết quả sản xuất nông nghiệp (Sơ đồ 2.2)

Nhà nước trong mối liên kết này thể hiện xác định định hướng và kế hoạch thực hiện cho các hoạt động của các doanh nghiệp cùng như nghiên cứu của cơ quan khoa học, các nhà khoa học Nhà nước xây dựng Pháp chế, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành

Các nhà khoa học cần nghiên cứu những gì đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân thì nghiên cứu đó mới có ý nghĩa Họ cần liên kết với các doanh nghiệp để thu hút nguồn vốn phục vụ nghiên cứu và thúc đẩy nhanh đưa TBKT học vào sản xuất Các nhà khoa học cũng là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp triển khai đưa các TBKT vào sản xuất

Nhà doanh nghiệp thường phải phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học

và khuyến nông công tác nghiên cứu cũng như chuyển giao kết quả TBKT vào sản xuất Nhà doanh nghiệp còn có vai trò giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp của nông dân Họ giải quyết vốn, vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản nông nghiệp

Mọi tác động của Nhà nước, Nhà khoa học cũng như Nhà doanh nghiệp ở mối liên kết này đều tác động đến nông dân mới thể hiện hiệu quả Khuyến nông có vai trò cầu nối trong mối liên kết này Nông dân là nhân tố bên trong quyết định, nhưng khuyến nông là tác nhân bên ngoài rất quan trọng

Trang 21

Sơ đồ 2.2: Liên kết “4 nhà” trong công tác khuyến nông

2.1.3.2 Khuyến nông có vai trò trong chuyển đổi nền kinh tế của đất nước

Vai trò khuyến nông trong chuyển đổi nền kinh tế của đất nước thể hiện khá rõ rệt ở 2 khía cạnh:

Thứ nhất: Giai đoạn sản xuất nông nghiệp HTX, nông trường quốc doanh, nông dân làm ăn tập thể, sản xuất theo kế hoạch hóa nhà nước Mỗi HTX cũng như nông trường quốc doanh đều có tổ KHKT để thực thi những nhiệm vụ chỉ đạo của ban quản trị HTX Mọi TBKT, tiến bộ trong tổ chức quản lý sản xuất từ cấp trên quán triệt đến HTX, nông trường quốc doanh được xem như hoàn thành Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình “Khoán 10”, người nông dân tự

do kinh doanh trên mảnh đất, chuồng trại của mình nên khuyến nông cần đến từng hộ gia đình và thậm chí phải đến từng người lao động

Thứ hai: chúng ta chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp, từ sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch hóa nhà nước sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã gặp rất nhiều khó khăn rất cần vai trò cầu nối của khuyến nông

NHÀ NƯỚC

NHÀ NÔNG

NHÀ KHOA

HỌC

NHÀ DOANH NGHIỆP

K

N

Trang 22

Sản xuất nông nghiệp hàng hoá là sản xuất cái để bán nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, cần phải tìm hiểu và tìm kiếm thị trường Nông dân sản xuất cái gì sản phẩm sản xuất ra sử dụng ra sao, tiêu thụ thế nào, bán ở đâu,

Sản xuất nông nghiệp hàng hoá cần làm tốt quảng bá, tiếp thị để nhiều người biết đến Thực hiện công việc này cần phối hợp làm tốt công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, đài phát thanh TW và địa phương, TV, tổ chức và tham gia các hội chợ trong và ngoài nước, thông tin trên Website

2.1.3.3 Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ TW đến địa phương

Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ TW đến địa phương Cơ cấu tổ chức hệ thống khuyến nông quốc gia có số lương cán

Trang 23

bộ khuyến nông của nhà nước rất hạn chế Một Trạm khuyến nông chỉ có 3-5 cán bộ khuyến nông Ở các huyện miền núi do địa bàn rất rộng cũng chỉ có không quá 10 cán bộ khuyến nông Đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện phải đảm đương phụ trách hàng vạn nông dân Nhiều khi thực hiện 1 chương trình khuyến nông cần đến nhiều chục cán bộ khuyến nông Ví dụ thực hiện chương trình sông Hồng ở huyện Tam Dương, Vĩnh phúc cần đến 67 cán bộ khuyến nông trong khi tổ chức Trạm khuyến nông chỉ có 5 cán bộ khuyến nông Chính vì vậy khuyến nông phải ký hợp đồng với rất nhiều khuyến nông viên cơ sở Lực lượng đó là:

Học sinh, sinh viên mới tốt nhiệp chưa có việc làm

Những học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp chưa có việc làm có cơ hội

ký hợp đồng tham gia công tác khuyến nông tại các địa phương

Cán bộ khoa học kỹ thuật đã hưu trí

Nhà nước ta đã có qui định: Nam đến hết tuổi 60, nữ hết tuổi 55 phải

về hưu (Trừ 1 số ít là chuyên viên cao cấp, hoặc là TSKH, hoặc là PGS, GS nếu cơ quan công tác xét thấy rất có nhu cầu và cá nhân có nguyện vọng có thể kéo dài thời gian công tác không quá 5 năm) Những cán bộ hưu trí đôi khi họ còn sức khỏe tốt, họ lại là những “Kho tri thức sống rất quí”, nếu họ còn nhiệt tình thì khuyến nông có thể ký hợp đồng công việc với họ

Cán bộ khoa học kỹ thuật đang công tác

Khuyến nông ký hợp đồng với những cán bộ KHKT đang công tác

đã tạo cơ hội cho chúng ta tranh thủ sự cống hiến của họ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn rất hữu ích Sự góp sức của đối tượng này còn có ý nghĩa nâng cao hiệu quả công tác, nghiên cứu sáng tạo của các nhà khoa học

2.1.3.4 Khuyến nông góp phần xoá đói giảm nghèo

Như ta đã phân tích mục tiêu cơ bản của khuyến nông, cái đích phấn đấu của khuyến nông là làm như thế nào để nông nghiệp phát triển, nông thôn

Trang 24

phát triển nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá xã hội nông thôn; chúng

ta đã phân biệt sự khác nhau rất cơ bản khuyến nông với khuyến mại nông nghiệp cũng đủ thấy rõ khuyến nông có vai trò xóa đói giảm nghèo Chương trình 135 coi trọng vấn đề dân số, sinh đẻ có kế hoạch, nước sạch nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo Nhiều chương trình dự án về an ninh lương thực ở các nơi, đặc biệt vùng sâu vùng xa được khuyến nông coi trọng

2.1.3.5 Khuyến nông đã liên kết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình ở nông thôn có sự phân hóa Có những hộ gia đình sản xuất rất thành đạt do họ có trình độ nhận thức cao, có vốn, có lao động, có những hộ gia đình làm ăn yếu kém, gặp rủi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn Nhà nước ta không thể không lưu tâm đến tính tiêu cực

“đèn nhà ai nhà đó rạng” của sản suất kinh tế hộ Khuyến nông đã làm tốt vai trò cầu nối giữa những nông dân sản xuất giỏi với mọi người nông dân, nhất

là nông dân sản xuất yếu kém trong cộng đông Ví dụ khuyến nông coi trọng

tổ chức các hộ nghị, hội thảo, tham quan học tập các điển hình, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông Những việc làm đó đã liên kết nông dân, tăng cường

sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

2.1.4 Đặc điểm của khuyến nông

Khuyến nông cùng làm với dân, không làm thay cho dân

Khuyến nông cùng làm với dân Chỉ có bản thân người dân mới có thể quyết định được phương thức canh tác trên mảnh đất của gia đình họ Cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay cho nông dân Nông dân hoàn toàn có thể đưa ra những quyết định đúng đắn để giải quyết khó khăn của họ nếu như được cung cấp đầy đủ thông tin và những giải pháp khác nhau Khi tự mình đưa ra quyết định, người nông dân sẽ tin vào bản thân hơn so với khi bị áp đặt Cán bộ khuyến nông cần cung cấp thông tin, trao đổi, thảo luận với nông

Trang 25

dân trên cơ sở điều kiện cụ thể của nông trại: đất đai, khí hậu, nguồn nước, vốn, nhân lực từ đó khuyến khích họ tự đưa ra quyết định cho mình.

Khuyến nông là công việc đầy trách nhiệm

Một mặt, khuyến nông chịu trách nhiệm trước nhà nước là cơ quan quyết định những chính sách phát triển nông thôn, cho nên phải tuân theo những đường lối và chính sách của nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ Mặt khác, khuyến nông là người phục vụ tận tuỵ của nông dân, có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của nông dân trong vùng Điều đó có nghĩa là người nông dân có quyền đánh giá hiệu quả của hoạt động của khuyến nông

Tính hiệu quả của hoạt động khuyến nông, trước hết được đánh giá trên cơ sở đường lối, chính sách phát triển nông thôn hoặc chương trình khuyến nông của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không Ngoài ra, nó còn được đánh giá trên cơ sở thu nhập và cuộc sống của nông dân, có phải nhờ khuyến nông mà được cải thiện hay không Do đó các chương trình, DA khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân nói riêng và nhu cầu phát triển nền kinh tế nông thôn nói chung Nhiệm vụ của người cán bộ khuyến nông là thoả mãn một cách hài hoà hai nhu cầu đó

Khuyến nông là nhịp cầu cho thông tin hai chiều

Khuyến nông là một nhịp cầu vừa chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật của các cơ quan nghiên cứu đến cho nông dân, vừa tiếp nhận thông tin của nông dân chuyển đến các cơ quan nghiên cứu Khuyến nông không chỉ trao mà còn phải sẵn sàng tiếp nhận những sáng kiến, những đề xuất hay những vấn đề của nông dân

Cơ quan

nghiên cứu

Khuyến nông

Nông Dân

Trang 26

Sự thông tin hai chiều như vậy sẽ xảy ra trong những trường hợp sau:Khi xác định những vấn đề của nông dân: Do tiếp xúc thường xuyên với nông dân, cán bộ khuyến nông có thể giúp những người làm nghiên cứu hiểu rõ hơn những vấn đề canh tác và những khó khăn của nông dân Cán bộ khuyến nông có thể giúp những người làm nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với nông dân để đảm bảo chắc chắn đề xuất của những người làm nghiên cứu luôn phù hợp với nhu cầu của nông dân

Khi thực nghiệm những đề xuất tại hiện trường: Một khuyến cáo mới

có thể tốt trong khu vực thí nghiệm nhưng chưa chắc chắn đã có hiệu quả trên đất đai của nông dân Vì vậy, mọi nghiện cứu khi được làm trên đất đai của nông dân luôn tạo cơ hội tốt để đánh giá đúng hiệu quả của nó và cung cấp thông tin phản hồi cho người làm nghiên cứu Vì vậy, khuyến nông giúp những người làm nghiên cứu tiến hành các cuộc thực nghiệm trên đất đai của nông dân

Khi nông dân áp dụng những đề xuất nghiên cứu: Đôi khi, người nông dân có thể phát hiện ra những vấn đề bị bỏ sót trong quá trình nghiên cứu Những phát hiện này rất có ích nếu như nó được cán bộ khuyến nông phản ánh kịp thời cho người làm nghiên cứu để điều chỉnh hoặc bổ sung

Vì vậy, khuyến nông là nhịp cầu truyền đạt thông tin hai chiều giữa nông dân và những người làm nghiên cứu Đó là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động khuyến nông

Khuyến nông không áp đặt, không mệnh lệnh

Mỗi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế độc lập, đời sống của họ do họ quyết định Vì thế nhiệm vụ của khuyến nông là tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của người dân trong sản xuất nông nghiệp, đưa ra những tiến bộ kỹ thuật sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn Vụ này chưa áp dụng vì họ thấy chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng, nhưng đến vụ sau

Trang 27

thông qua một số hộ đã áp dụng mô hình do khuyến nông tạo ra, lúc đó họ sẽ

tự áp dụng TBKT

Nguyên tắc không áp đặt và mệnh lệnh đòi hỏi sự tự nguyện, dân chủ

và công khai trong việc áp dụng kỹ thuật tiến bộ

Khuyến nông hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác

Khuyến nông phải hợp tác chặt chẽ với những tổ chức đang cung cấp dịch vụ cơ bản khác cho nông dân Khuyến nông chỉ là một trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị của sự nghiệp phát triển nông thôn

Vì cùng chung mục đích hỗ trợ nông dân, khuyến nông phải sẵn sàng phối hợp với các tổ chức khác có mặt trong địa bàn hoạt động của mình Những tổ chức đó bao gồm:

Chính quyền địa phương: Thông thường chính quyền và những lãnh đạo địa phương đều rất nhiệt tình với công tác khuyến nông Nếu biết hợp tác

và tranh thủ sự giúp đỡ của họ, khuyến nông sẽ dễ dàng tiếp cận nông dân hơn và đạt được hiệu quả hơn

Các tổ chức dịch vụ: Đó là những cơ quan cung cấp tín dụng hoặc những loại dịch vụ khác cho sản xuất nông nghiệp Khuyến nông cần phối hợp với họ để tạo điều kiện cho những dịch vụ đó được cung cấp đầy đủ, đúng lúc, đúng chỗ theo nhu cầu của nông dân

Các cơ quan y tế: Khi phối hợp với các cơ quan y tế, cán bộ khuyến nông sẽ nắm được vấn đề liên quan đến sức khoẻ của nông dân, tình hình kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt tình trạng dinh dưỡng là hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy, cán bộ khuyến nông cần liên hệ thường xuyên với cơ quan y tế để có thể làm cho các chương trình khuyến nông luôn phù hợp với nhu cầu y tế của địa phương

Trường phổ thông các cấp: Phát động học sinh các trường học ở nông thôn sẽ trở thành những nông dân trong tương lai Cán bộ khuyến nông cần

Trang 28

phối hợp với nhà trường để sớm trang bị cho học sinh những kiến thức và những kỹ năng cần thiết.

Các tổ chức quần chúng và phi chính phủ: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên hoặc những tổ chức phi chính phủ quốc

tế hoặc của Việt Nam đang hoạt động tại địa bàn Đây là những tổ chức có cùng mục tiêu giáo dục với khuyến nông Khi phối hợp với họ, khuyến nông

có thể giúp đỡ họ phát triển được những chương trình hành động mang tính cộng đồng Hợp tác chặt chẽ giữa khuyến nông với những cơ quan đó sẽ tránh hiện tượng lặp lại những việc của người khác đã và đang làm, tạo ra những cơ hội để phối hợp hài hoà giữa các chương trình phát triển nông thôn khác nhau

2.1.5 Theo nghị định 56 của chính phủ (2005), khuyến nông có các hoạt động chính như sau

Thông tin tuyên truyền

Tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến bộ khoa học và ông nghệ, thông tin thị trường, giá cả, điển hình tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp thủy sản

Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằng các phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, hội thị, hội chợ, triển lãm và các hình thức thông tin truyên truyền khác

Bồi dưỡng, tấp huấn đào tạo

Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến thức, kỹ năng sản xuất, quản lý kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản

Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người hoạt động khuyến nông, khuyến ngư

Tổ chức tham quan, khảo sát, học tập nước ngoài

Trang 29

Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ

Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất

Xây dựng các mô hình công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp , thủy sản

Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các mô hình trình diễn ra rộng

Tư vấn và dịch vụ

Tư vấn, hỗ trợ chính sách, pháp luật về: đất đai, thủy sản, thị trường, khoa học công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh về phát triển nông nghiệp thủy sản

Dịch vụ trong các lĩnh vực: pháp luật, tập huấn, đào tạo, cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, thị trường, giá cả, đầu tư, tín dụng, xây dựng dự án, cung ứng vật tư kỹ thuật, thiết bị và các hoạt động khác có liên quan đến nông nghiệp, thủy sản theo quy định của pháp luật

Tư vấn, hỗ trợ việc khởi sự doanh nghiệp nhr và vừa lập dự án đầu tư phát triển nông nghiệp, thủy sản và nghành nghề nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyển dụng, đào tạo lao động, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư

và các thủ tục hành chính khác theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch phát triển nông nghiệp, thủy sản và ngành nghề nông thôn theo vùng, lãnh thổ và địa phương

Tư vấn, hỗ trợ phát triển, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông lâm, thủy sản, nghề muối

Tư vấn, hỗ trợ quản lý, sử dụng nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn

Trang 30

Tư vấn, hỗ trợ đổi mới tổ chức, cải tiến quản lý, hợp lý hóa sản xuất,

hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, của tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn

Hợp tác quốc tế khuyến nông, khuyến ngư

Tham gia các hoạt động về khuyến nông, khuyến ngư trong các chương trình hợp tác quốc tế

Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông, khuyến ngư với các tổ chức, các nhân nước ngoài và các tổ chức quốc tế (Nghị định số 56/2005/NĐ – CP)

2.1.6 Nội dung đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông

- Đánh giá thực trạng hoạt động của Trạm khuyến nông Gia Lộc

- Đánh giá kết quả đạt được của các hoạt động của Trạm khuyến nông Gia Lộc

- Phân tích khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện các hoạt động của Trạm khuyến nông Gia Lộc

- Giải pháp thực hiện của Trạm khuyến nông Gia Lộc

+ Giải pháp đã được Trạm khuyến nông thực hiện

+ Đề xuất giải pháp

2.2 Cơ sở thực tiễn

Nhiều tài liệu cho rằng, khuyến nông bắt đầu từ thời kỳ phục hưng (thế

kỷ 14) khi khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn

Khởi đầu là một thầy thuốc và cũng là nhà giáo người Pháp Rabelais (1493 - 1553), ông chủ trương nguyên tắc gắn liền nhà trường với thực tiễn Năm 1661, một giáo sư người Anh là Hartlib đã viết một cuốn sách về “Sự tiến bộ của nghề nông”, được coi như tài liệu đầu tiên về khuyến nông Sau

đó, tổ chức hiệp hội “Tăng cường hiểu biết về nông nghiệp” đầu tiên đã được thành lập ở Pháp năm 1761, Đức năm 1764, Nga năm 1765 Các hiệp hội này

đã đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển khuyến nông sau này

(Trạm khuyến nông quốc gia, 2010).

Trang 31

Danh từ Khuyến nông (Extension) có nghĩa Mở rộng, triển khai được

sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866 Tại Mỹ, Bộ Nông nghiệp nước này thành lập hoạt động khuyến nông theo kiểu kết hợp triển khai và giáo dục Đến năm 1914, Chính phủ Mỹ thông qua Luật Khuyến nông, cho phép sử dụng các nguồn tài trợ của địa phương vào các hoạt động khuyến nông

Có thể nói rằng: Nông nghiệp thế giới phát triển nhanh nhờ có sự chuyển hướng trong giáo dục, đào tạo ngày càng gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành đặt cơ sở cho sự ra đời của tổ chức khuyến nông (Trạm

khuyến nông quốc gia, 2010).

Nhìn chung, khuyến nông trên thế giới được hình thành từ bốn tổ chức cơ bản: (1) Hiệp hội nông dân, (2) Các tổ chức khác ở nông thôn, (3) Các trường đại học và (4) Các tổ chức nông nghiệp của chính phủ

2.2.1 Tình hình hoạt động khuyến nông của 1 số nước trên thế giới

Mỹ

Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm

1843, sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân

1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên Ông cũng là người sáng lập

ra Hội nông dân và Học viện nông dân

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học

Trang 32

Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như đại học Chicago, đại học Wicosin cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông Đến năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường/39 bang có đào tạo khuyến nông Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông

1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống khuyến nông quốc gia Giai đoạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên

Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương (Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn/6 năm, xuất khẩu lớn nhất thế giới: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54% lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới Ngô 2000-

2001 đạt 335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn chiếm 69% thế giới ) (Trạm

khuyến nông quốc gia, 2010)

Ấn Độ

Hệ thống khuyến nông Ấn độ được thành lập tương đối sớm vào năm

1960 Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn độ đang là vấn đề rất bức xúc Ấn độ là quốc gia đông dân thứ 2 trên thế giới, sau Trung Quốc, (vào thời điểm này dân số Ấn độ có khoảng 400 triệu, Trung Quốc có khoảng 600 triệu) Nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lương thực thiếu thốn, dân thiếu ăn và thường xuyên có những người dân chết do đói ăn

Trước thực trạng này Chính phủ Ấn độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề lương thực Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Ấn độ lúc này

là cần thiết và tất yếu

Trang 33

Sự thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể của khuyến nông Nói đến nông nghiệp Ấn độ phải nói tới thành tựu 3 cuộc cách mạng:

Cách mạng xanh: đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất Nói đến nông nghiệp Ấn độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời đã làm tăng vọt năng suất và sản lương lương thực của quốc gia này

Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu Nơi nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa Khuyến nông có vai trò quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: vốn sản xuất, giống trâu bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa

Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng nâu đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu (Trạm khuyến nông quốc gia, 2010)

Thái Lan

Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967 Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:

Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120-150 triệu USD và thậm chí 200 triệu USD Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta

Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm)

Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản (Trạm khuyến nông quốc gia, 2010)

Trang 34

Năm 1928 Viện đại học nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông.

Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông

do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến tri thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ ”

1933, Trường đại học Kim Lăng (Nay là trường đại học tổng hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông

Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 – 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX Nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp củ Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dưng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng

Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh

1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, NQ của BCH TW đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp

Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển

Trang 35

Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận là:

Lúa lai:

Trung Quốc nghiên cứu lúa lai từ năm1964 và thành công năm 1985 đây là một thành công rực rỡ Người ta nói sứ mạng lịch sử của cuộc “Cách mạng xanh” đến nay đã đạt tột đỉnh Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới 5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chụi thâm canh tăng năng suất và sản lượng Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu qủa áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể nâng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn

Nuôi trồng thủy sản:

Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của Trung Quốc Nuôi trai lấy ngọc, nuôi các loài thủy sản quí hiếm như ba ba, lươn, ếch Nhiều loài thủy sản Trung Quốc độc quyền sản xuất giống như công nghệ nuôi trai lấy ngọc, sản xuất cá giò, cá song (Trạm khuyến nông quốc gia, 2010)

Trang 36

2.2.2 Tình hình hoạt động khuyến nông ở Việt Nam

Trước năm 1993

Có thể nói rằng khuyến nông Việt Nam đã có từ thời vua Hùng với nông nghiệp nước Văn Lang và nền văn minh lúa nước Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa,

mở cuộc thi để các hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn độc đáo bằng nông sản tại chỗ (Lê Quốc Hưng, 1997)

Để tỏ sự quan tâm tới nông nghiệp, Lê Đại Hành (980 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịch điền ở Đại Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Hà Nam ngày nay (Lê Quốc Hưng, 1997)

Các vua nhà Lý (1009 -1225) rất coi trọng nghề nông, cho đắp đê Cơ

Xá và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp, nhiều lần vua cày ruộng tịch điền và thăm nông dân gặt hái (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), đặt ra chức Hà đê sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ Luật Hồng Đức (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Thời vua Quang Trung (1788 - 1792): Từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm Quang Trung ban bố ngay “Chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm những vùng đất hoang hoá đã được phục hồi, sản xuất phát triển (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Triều nhà Nguyễn (1802 - 1945), đã định ra chức Đinh điền sứ Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này, ông đã có công chiêu mộ dân khai khẩn đất hoang lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Thời kỳ thực dân Pháp thực hiện chính sách lập các đồn điền thuộc quyền chiếm hữu của bọn thực dân, các quan lại, địa chủ, cường hào Hàng

Trang 37

vạn người Việt Nam bị ép làm nông phu trong các đồn điền đó, đời sống của

họ vô cùng cực khổ như những nô lệ Thời kỳ này một số giống cây trồng mới được nhập về như: Cà phê (1857), Cao su (1897), Khoai tây, Súplơ Một số giống vật nuôi như lợn Yorkshine, gà Rodeslend (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xuất khẩu được một số nông sản như gạo 967.000 tấn (1919), 70.417 tấn nhựa cao su (1920 - 1929) Người Pháp tổ chức các cơ sở Canh nông ở Bắc Kỳ, các ty Khuyến nông ở các tỉnh Hàng năm tổ chức thi đấu xảo các sản phẩm nông nghiệp quý như thi các giống bò sữa, giống ngựa tốt (Nguyễn Thanh Lâm, 2005)

Năm 1938 Trường đào tạo Kỹ sư Canh nông được thành lập để đào tạo các kỹ sư ngành nông nghiệp

Từ sau Cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, Người kêu gọi quốc dân “tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! Đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc

này” Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục

kinh tế, phát triển sản xuất (Ngô Thị Nhuận, 2003)

Từ năm 1958 - 1975: Nông nghiệp miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động trực tiếp của mô hình Hợp tác xã nông nghiệp Từ tổ đổi công (1956), đến hợp tác xã bậc thấp (1960), hợp tác xã cấp cao (1968), hợp tác xã toàn xã (1974)

Phương pháp hoạt động khuyến nông chủ yếu: cán bộ truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước hay tiến bộ kỹ thuật thông qua Ban quản trị hợp tác xã rồi từ đó đến người nông dân Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở trung ương, cấp tỉnh, huyện về chỉ đạo sản xuất ở cơ sở

Thời kỳ 1976 - 1988: Nông nghiệp Việt Nam được thống nhất thành một mối tiềm năng và thế mạnh của hai miền Nam Bắc được bổ sung cho nhau và cùng nhau phát triển theo một đường lối chung là hợp tác hoá nông nghiệp Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan

Trang 38

hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý, kế hoạch hoá tập trung Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất ( Phạm Thị Diễm, 2006).

Trước thực trạng suy thoái kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng vào những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80, ngày 13/1/1981 Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) với mục đích phát triển sản xuất

và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn mọi người hăng hái lao động Đây là sự đột phá đầu tiên về cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy khoán 100 được xem là “chìa khoá vàng” để mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam (Phạm Thị Diễm, 2006)

Tiến bộ lớn nhất sau khoán 100 là sản xuất lương thực Lần đầu tiên kể

từ khi nông nghiệp tập thể hoá (1958), Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng sản lượng lương thực cao hơn tốc độ tăng dân số (lương thực 5%, dân số tăng 2,3%), chăn nuôi phát triển Song những kết quả đạt được của khoán 100 không bền vững Từ năm 1986, sản xuất nông nghiệp bắt đầu dừng lại và giảm sút, sản lượng lương thực năm 1986 đạt 18,37 triệu tấn, năm 1987 giảm còn 17,5 triệu tấn, trong khi đó dân số tăng gần 1,5 triệu người (Phạm Thị Diễm, 2006)

Tháng 12 năm 1986, Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” ra đời nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên

là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Chính sách mới này được gọi tắt là khoán 10

Trang 39

Sau năm 1993

Ngày 2/3/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ trung ương đến địa phương Kết quả đạt được của nông nghiệp từ sau khi có đường lối đổi mới là rất rõ nét Nếu như trước năm 1988 trở về trước, Việt Nam là một nước thiếu lương thực trầm trọng hàng năm phải nhận viện trợ hoặc nhập khẩu gạo, thì đến năm 1989 đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 1,6 triệu tấn, năm

1992 1,9 triệu tấn, năm 1994 2 triệu tấn và từ những năm 1996 - 2003 xuất khẩu trên 3 triệu tấn mỗi năm (Phạm Thị Diễm, 2006)

Ngày 26/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông - khuyến ngư Đây là những văn bản pháp quy quan trọng đối với công tác khuyến nông nói chung và tổ chức khuyến nông nói riêng (Trạm khuyến nông quốc gia, 2008)

Ngày 03 tháng 01 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2008/NĐ - CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN & PTNT, sau khi sát nhập Bộ NN & PTNT và Bộ Thủy sản Tại Nghị định này, Chính phủ cho phép thành lập Trạm KN - KN Quốc gia Ngày 28 tháng 01 năm 2008, Bộ trưởng Bộ NN & PTNT ký Quyết định số 236/QĐ - BNN - TCCB, thành lập Trạm KN - KN Quốc gia trên cơ sở hợp nhất hai trung tâm: Trạm Khuyến nông Quốc gia và Trạm Khuyến ngư Quốc gia (Trạm khuyến nông quốc gia, 2008)

Điều 9 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Khuyến nông ký ngày 08 tháng 01 năm 2010 quy định tổ chức khuyến nông Trung ương đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ NN & PTNT với tên gọi là Trạm Khuyến nông Quốc gia Ngày 28/6/2010, Bộ NN & PTNT đã có Quyết định

số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

của Trạm Khuyến nông Quốc gia (Trạm khuyến nông quốc gia, 2010)

Trạm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ yếu là tham gia đề xuất và ban hành các chính sách, cơ chế về khuyến nông, khuyến ngư; các định mức kinh tế - kỹ thuật; chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn

Trang 40

thực hiện công tác chuyển giao TBKT thông qua xây dựng mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư

Ngay từ khi Nghị định số 13/CP của Chính phủ ra đời, được sự hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan, ở các địa phương (tỉnh, huyện, xã) đã thành lập các cơ quan, các đơn vị làm công tác khuyến nông, khuyến ngư, dần dần hình thành hệ thống khuyến nông, khuyến ngư từ trung ương đến cơ sở và trên phạm vi toàn quốc

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam

(Trạm khuyến nông quốc gia, 2010)

Bộ NN & PTNT Trung tâm KNQG

Sở NN & PTNT Trung tâm KN tỉnh

Ngày đăng: 18/10/2014, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quốc Hưng (1997), Kỷ yếu quốc gia về công tác khuyến nông, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu quốc gia về công tác khuyến nông
Tác giả: Lê Quốc Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1997
4. A. W. VandenBan & H. S. Hawkins (1998), khuyến nông, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: khuyến nông
Tác giả: A. W. VandenBan & H. S. Hawkins
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
5. Trung tâm khuyến nông quốc gia(2007), Tài liệu tập huấn phương pháp khuyến nông, Nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn phương pháp khuyến nông
Tác giả: Trung tâm khuyến nông quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2007
6. Falaconer, J - Forestry, A Review of Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O.D.I, LondonII. Các bài báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Falaconer, J - Forestry, A Review of Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O.D.I, London
7. Ngô Thị Nhuận (2003), Thực trạng công tác khuyến nông Việt Nam, Tạp chí NN & PTNT, Số 3/2003, Bộ NN & PTNT.III. Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác khuyến nông Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Nhuận
Năm: 2003
8. Nguyễn Thị Hà (2008) : “ Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Quế Võ – Bắc Ninh” Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Quế Võ – Bắc Ninh”
9. Nguyễn Thị Yến Nga (2011): “ Đánh giá thực trạng và nhu cầu khuyến nông của người dân ở huyện Đức Thọ - Hà tĩnh" Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại Học Vinh.IV. Báo cáo, nghị định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và nhu cầu khuyến nông của người dân ở huyện Đức Thọ - Hà tĩnh
Tác giả: Nguyễn Thị Yến Nga
Năm: 2011
3. Phạm Thị Diễm (2006), Đánh giá thực trạng công tác khuyến nông của huyện Phù Cử - Hưng Yên Khác
10.Trạm khuyến nông quốc gia (2010), Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông năm 2010 và triển khai kế hoạch khuyến nông năm 2011 Khác
11.Trạm khuyến nông quốc gia (2013), báo cáo tổng kết hoạt động khuyến nông năm 201 Khác
12. Trạm khuyến nông quốc gia, Khuyến nông Việt Nam số 37+38/2010 Khác
13. Trung tâm khuyến nông quốc gia, Báo cáo tổng kết hoạt động khuyến nông - khuyến ngư giai đoạn 1993 - 2008 và định hướng hoạt động giai đoạn 2009 – 2020 Khác
14. Nghị định 56/CP – ND ngày 26 tháng 04 năm 2005 về khuyến nông khuyến ngư Khác
15. Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc (2011), Báo cáo công tác khuyến nông – khuyến ngư năm 2011; phương hướng nhiệm vụ khuyến nông – khuyến ngư năm 2012 Khác
16. Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc (2012), Báo cáo công tác khuyến nông – khuyến ngư năm 2012; phương hướng nhiệm vụ khuyến nông – khuyến ngư năm 2013 Khác
17. Trạm khuyến nông huyện Gia Lộc (2013), Báo cáo công tác khuyến nông – khuyến ngư năm 2013; phương hướng nhiệm vụ khuyến nông – khuyến ngư năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 – Vai trò khuyến nông Cầu nối nông dân với Nhà nước - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.1 – Vai trò khuyến nông Cầu nối nông dân với Nhà nước (Trang 17)
Sơ đồ 2.2: Liên kết “4 nhà” trong công tác khuyến nông - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.2 Liên kết “4 nhà” trong công tác khuyến nông (Trang 21)
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam (Trang 40)
Sơ đồ 4.1: Cấu trúc hệ thống hoạt động mạng lưới khuyến nông huyện - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.1 Cấu trúc hệ thống hoạt động mạng lưới khuyến nông huyện (Trang 54)
Bảng 4.1: Nguồn nhân lực cán bộ khuyến nông của Trạm khuyến nông - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Nguồn nhân lực cán bộ khuyến nông của Trạm khuyến nông (Trang 55)
Bảng 4.2: Cơ cấu cán bộ  KNVCS năm 2013. - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.2 Cơ cấu cán bộ KNVCS năm 2013 (Trang 56)
Bảng 4.3: Công tác tuyên truyền, giao ban và hội thảo đầu bờ trong các - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.3 Công tác tuyên truyền, giao ban và hội thảo đầu bờ trong các (Trang 58)
Bảng 4.4: Mức độ theo dõi thông tin khuyến nông. - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.4 Mức độ theo dõi thông tin khuyến nông (Trang 59)
Bảng 4.8: Thành phần tham gia các lớp tập huấn theo vai trò trong sản xuất - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Thành phần tham gia các lớp tập huấn theo vai trò trong sản xuất (Trang 64)
Bảng 4.10: Mức độ tham gia các lớp tập huấn khuyến nông - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.10 Mức độ tham gia các lớp tập huấn khuyến nông (Trang 66)
Bảng 4.11: Nhu cầu tham quan và hội thảo đầu bờ - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.11 Nhu cầu tham quan và hội thảo đầu bờ (Trang 67)
Bảng 4.12: Kết quả xây dựng mô hình Trồng trọt, Chăn nuôi, Thuỷ sản - Đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông tại trạm khuyến nông huyện gia lộc – tỉnh hải dương
Bảng 4.12 Kết quả xây dựng mô hình Trồng trọt, Chăn nuôi, Thuỷ sản (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w