đề lý luận và thực tiễn liên quan tới việc nuôi rắn ở làng Lệ Mật, các loại rắnđược nuôi, số lượng, các hộ gia đình nuôi rắn, các nhà hàng ẩm thực rắn, hiệuquả mà nó đem lại.+ Các cơ sở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi rắn ở làng LệMật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Tên sinh viên: Trần Ngọc NgàChuyên ngành đào tạo: Kinh tế Nông nghiệp
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
1) Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và các kết quả nghiên cứu của bài khóaluận tốt nghiệp là trung thực và chưa được sử dụng trong các bài luạn văn khác
2) Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để tôi hoàn thành bài khóa luậnnày đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong bài luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả khóa luận
Trần Ngọc Ngà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau gần 4 năm học tâp tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nôi, từ năm
2010 tới năm 2014 Em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức, cả về chuyênmôn lẫn các lĩnh vực khác, để áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn đờisống và công việc, được phép của nhà trường, khoa Kinh tế và Phát triểnnông thôn, bộ môn Phân tích định lượng, em tiến hành thực hiện đề tài
“ Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi rắn của ở làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.”
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, cácthầy cô giáo trong bộ môn Phân tích định lượng đã giúp đỡ em hoàn thành ănkhóa luận này
- Thầy giáo Tiến sĩ Lê Ngọc Hướng, người trực tiếp hướng dẫn, giúp
đỡ, góp ý để em hoàn thành khóa luận này
- Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố HàNội, các cán bộ phường, đã tạo điều kiện hết sức để em tìm hiểu và điều tracác thông tin, số liệu cần thiếu trong quá trình làm khóa luận
- Các hộ dân nuôi rắn và các nhà hàng ẩm thực ở làng Lệ Mật, phườngViệt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và cungcấp số liệu trong quá trình điều tra để hoàn thành khóa luận
- Cuối cùng, em xin cảm ơn, bố mẹ, những người thân trong gia đình,bạn bè và mọi người đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ để em hoàn thành khóaluận tốt nghiệp này
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
I Nội dung khóa luận
-Với tính cấp thiết của đề tài đó là sự phát triển của kinh tế, sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực,nhưng bên cạnh đó vẫn có những điều đáng lo ngại, như tình trạng mất đấtnông nghiệp, thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo Khi người dân bị mất đấtnông nghiệp thì họ sẽ chuyển sang các ngành nghề khác, một số thì chuyểnsang chăn nuôi các động vật hoang dã, vốn đem lại lợi nhuận cao Các môhình nuôi rắn là một điển hình, đã phát triển và đem lại hiệu quả ở nhiều nơi,trong đó có làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố HàNội Với truyền thống nuôi rắn lâu đời của làng nghề, chi phí đầu tư khôngcao, mô hình nuôi rắn ở đây đã đem lại hiệu quả cao cả về mặt kinh tế và xãhội, xong bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế nhất định Có nhiều địaphương muốn học tập và làm theo mô hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật, vì vậy,cần phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá những hiệu quả cũng như hạn chếcủa mô hình này để đem áp dụng cho các địa phương khác một cách hiệu quảnhất
- Để nghiên cứu đề tài này, mục tiêu chủ yếu là tập trung vào việc phântích và đánh giá những hiệu quả những hiệu quả mô hình nuôi rắn mang lại,nêu ra một số hạn chế và phương pháp cải thiện Đề tài này nghiên cứu trongphạm vi những hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi rắn tại làng Lệ Mật,phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội trong khoảng thờigian từ năm 2010 tới năm 2012 Đề tài nghiên cứu các đối tượng như các vấn
Trang 5đề lý luận và thực tiễn liên quan tới việc nuôi rắn ở làng Lệ Mật, các loại rắnđược nuôi, số lượng, các hộ gia đình nuôi rắn, các nhà hàng ẩm thực rắn, hiệuquả mà nó đem lại.
+ Các cơ sở lí luận có liên quan tới nuôi rắn bao gồm:
Khái niệm, nội dung của hiệu quả kinh tế, trong nội dung củahiệu quả có ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh; bản chất của hiệu quảkinh tế; tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; sự cầnthiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; phân loại hiệu quả sảnxuất kinh doanh; các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh
Kinh tế hộ bao gồm các nội dung: hộ; hộ nông dân; kinh tế nônghộ; kinh tế trang trại; các yếu tố nguồn lực cơ bản của hộ; vai trò của kinh tế
hộ trong quá trình phát triển
Một số nội dung về chăn nuôi
Một số nội dung về chi phí
Các chỉ tiêu tài chính
Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nuôi rắn như chuồng trại; chọngiống; vệ sinh phòng bệnh; kỹ thuật chăm sóc rắn vào các mùa
+ Cơ sở thực tiễn liên quan tới nuôi rắn bao gồm:
Những chính sách, chiến lược có ảnh hưởng tới việc phát triểnkinh tế hộ, kinh tế trang trại và đặc biệt là phát triển nghề nuôi rắn
Sự đa dạng các loài rắn ở Việt Nam
Các mô hình nuôi rắn hiệu quả trên cả nước
Trang 6Đề tài có tiến hành tìm hiểu đặc điểm địa bàn nghiên cứu vị trí địa lí;đặc điểm địa hình; tài nguyên đất; đặc điểm khí hậu thủy văn; đặc điểm kinh
tế xã hội; quá trình phát triển của làng nghề nuôi rắn Lệ Mật
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp chọnđiểm nghiên cứu; phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu và hệ thống các chỉtiêu nghiên cứu
II) Kết quả khóa luận
Qua quá trình nghiên cứu, khóa luận đã có được những kết quả cụ thểnhư sau:
+ Rắn nuôi chủ yếu ở làng Lệ Mật là rắn giáo và rắn hổ mang thường,đặc biệt là hổ mang thường
+ Qua 3 năm 2010; 2011; 2012, số lượng các hộ dân nuôi rắn ở làng
Lệ Mật ít có sự thay đổi, vì 3 năm đó là 3 năm trong quá trình phát triển củarắn, từ rắn non thành rắn thương phẩm Đa số các hộ dân nuôi với số lượngdưới 100 con, số hộ nuôi trên 100 con là ít
+ Số lượng rắn mà các hộ dân trong làng Lệ Mật nuôi lúc đầu có sựkhác biệt so với số lượng rắn bán ra, sự thay đổi số lượng rắn qua 3 năm2010; 2011; 2012 là do trong quá trình nuôi rắn bị chết, các hộ dân nhập thêmrắn Số lượng rắn bán ra tập trung chủ yếu vào năm 2012 do đó là thời điểmrắn có sự phát triển hoàn thiện nhất, khối lượng rắn đạt yêu cầu và chất lượngrắn thì cao, nên bán được giá và doanh thu lớn
+ Giá bán rắn của làng Lệ Mật có sự thay đổi qua 3 năm 2010; 2011;
2012, giá bán tăng qua mỗi năm, do khối lượng rắn cũng tăng theo, khốilượng rắn càng cao thì giá bán rắn càng lớn Doanh thu từ việc bán rắn kháthấp vào năm 2010, chỉ có sự tăng lên nhanh chóng trong năm 2011 và năm
2012 khi mà rắn đã đạt được những yêu cầu về khối lượng và chất lượng
Trang 7+ Chi phí trong quá trình chăn nuôi rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012chủ yếu tập trung vào chi phí mua con giống và chi phí thức ăn, trong đó lớnnhất là chi phí thức ăn, chi phí con giống xếp thứ 2 và xếp sau là những chiphí khác.
+ Doanh thu và lợi nhuận đem lại từ rắn qua 3 năm là khá cao, ngoạitrừ năm 2010, do phải bỏ vốn mua con giống, nên doanh thu và lợi nhuậnthấp, 2 năm tiếp theo, 2011; 2012 thì giá bán , số lượng rắn bán ra thị trườngtăng lên làm cho doanh thu và lợi nhuận đạt được cũng tăng theo và tăng vớimức cao
+ Các nhà hàng kinh doanh ẩm thực rắn là nơi tạo ra nhiều công ăn việclàm và có nhiều lơi nhuận, doanh thu
+ Nghề nuôi rắn của làng Lệ Mật đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, thuhút một số lượng khá lao động trong và ngoài địa phương
+ Về thực trạng của các hộ dân nghiên cứu:
Đa phần các chủ hộ nuôi rắn đều có tuổi đời, kinh nghiệm cũngnhư trình độ văn hóa, chuyên môn cao, điều này tạo điều kiện thuận lợi trongquá trình nuôi rắn
Các hộ dân có sự tích cực trong việc trau dồi, tìm tòi thêm cáckiến thức về chăn nuôi rắn và luôn sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau
Đa phần các hộ dân đều có số nhân khẩu tham gia nuôi rắn lớn
và gần như không phải thuê thêm lao động ngoài
Các hộ dân có xu hướng nuôi rắn trong các kiểu chuồng khácnhau và nuôi rắn trong những khoảng thời gian giống nhau
+ Khóa luận đã nhận định được những thuận lợi, khó khăn trong quátrình nuôi rắn, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển nghề rắn có hiệu quả
Trang 8+ Khóa luận đã đưa ra những kết luận và trình bày một số kiến nghị với nhà nước, cơ quan; chính quyền địa phương, người dân, để phát triển nghề rắn theo hướng ngày càng có hiệu quả
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt khóa luậ iii
Mục lục vii
Danh mục chữ viết tắt x
Danh mục các bảng và đồ thị xi
Danh mục các đồ thị xii
Phần I Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần II Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Hiệu qủa kinh tế 4
2.1.2 Kinh tế hộ 8
2.1.3 Một số nội dung về chăn nuôi 15
2.1.4 Chi phí 15
2.1.5 Các chỉ tiêu tài chính 17
Trang 92.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nuôi rắn 17
2.1.7 Tác dụng của rắn 21
2.2 Cơ sở thực tiễn 22
2.2.1 Các chỉ thị 22
2.2.2 Các chiến lược 22
2.2.3 Sự đa dạng các loài rắn ở Việ Nam 26
2.2.4 Một số mô hình nuôi rắn hiệu quả ở nước ta 28
Phần III Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của địa bàn nghiên cứu 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 34
3.1.3 Quá trình phát triển nghề nuôi rắn ở làng Lệ Mật 35
3.1.4 Một số kết quả đạt được 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu nhập dữ liệu 37
3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 38
3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 38
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
Phần IV Kết quả nghiên cứu 40
4.1 Thực trạng nuôi rắn của làng Lệ Mật 40
4.1.1 Số lượng các hộ nuôi rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 40
4.1.2 Sự thay đổi về số lượng rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 42
4.1.3 Giá bán rắn và doanh thu từ rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 44
4.1.4 Chi phí nuôi rắn của các hộ dân qua 3 năm 2010; 2011;2012 45
4.1.5 Lợi nhuận của các hộ nuôi rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 47
4.1.6 Một số nội dung của các nhà hàng ẩm thực 48
Trang 104.1.7 Số lao động tham gia nghề rắn của làng Lệ Mật qua 3 năm 2010;
2011; 2012 51
4.2 Thực trạng các hộ điều tra 54
4.2.1 Tình hình chung của hộ điều tra 54
4.2.2 Thực trạng các vấn đề nghiên cứu của hộ 60
4.3 Đánh giá chung 67
4.3.1 Kết quả và đánh giá 67
4.3.2 Những thuận lợi của quá trình nuôi rắn của làng Lệ Mật 70
4.3.3 Khó khăn và nguyên nhân 72
4.4 Định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển nghề nuôi rắn ở làng Lệ Mật 76
4.4.1 Định hướng 76
4.4.2 Một số giải pháp 76
Phần V Kết luận và kiến nghị 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị 81
5.2.1 Đối với nhà nước 81
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 82
5.2.3 Đối với người dân 82
Tài liệu tham khảo .84
Trang 11KLTB : khối lượng trung bình
KTTT: kinh tế trang trại
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Số hộ nuôi rắn phân theo số lượng nuôi làng qua 3 năm 2010;
2011; 2012 .40
Bảng 4.2 Sự thay đổi số lượng rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 42
Bảng 4.3 Giá bán rắn và doanh thu từ rắn 3 năm 2010; 2011; 2012 của các hộ dân 44
Bảng 4.4 Chi phí nuôi rắn của các hộ dân qua 3 năm 2010; 2011; 2012 45
Bảng 4.5 Phân tích lợi nhuận của các hộ nuôi rắn 47
Bảng 4.6 Số liệu về các nhà hàng kinh doanh các sản phẩm về rắn của làng Lệ Mật qua 3 năm 2010, 2011, 2012 49
Bảng 4.7 Cơ cấu lao động tham gia nghề rắn của làng Lệ Mật năm 2010; 2011; 2012 52
Bảng 4.8 Trình độ văn hóa của các chủ hộ nuôi rắn 54
Bảng 4.9 Số nhân khẩu tham gia nuôi rắn của hộ 55
Bảng 4.10 Chuyên môn được đào tạo của các chủ hộ nuôi rắn 57
Bảng 4.11 Độ tuổi và kinh nghiệm nuôi rắn của các chủ hộ 59
Bảng 4.12 Nguồn thông tin tiếp cận về kỹ thuật nuôi rắn 60
Bảng 4.13 Các kiểu chuồng nuôi rắn của các hộ 61
Bảng 4.14 Nguồn rắn giống mà các hộ dân mua 65
Trang 13DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
4.1 So sánh số hộ nuôi phân theo số lượng nuôi trong 3 năm 2010, 2011,
2012 41
4.2 Sự thay đổi các chi phí nuôi rắn qua 3 năm 2010, 2011, 2012 46
4.3 Tỷ lệ các chủ hộ nuôi rắn phân theo trình độ văn hóa 54
4.4 Tỷ lệ số nhân khẩu tham gia nuôi rắn của các hộ dân năm 2012 56
4.5 Tỷ lệ chuyên môn được đào tạo của các chủ hộ dân nuôi rắn 58
4.6 Tỷ lệ các kiểu chuồng nuôi rắn của các hộ dân trong làng Lệ Mật năm 2012 62
Trang 14PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở nước ta, kinh tế đang có những bước phát triển vượt bậc, cả
về nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đời sống vật chất và tinh thần củangười dân càng ngày được nâng cao, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp đang dần được hoàn thành Tuy nhiên, doquá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa rất nhanh như vậy, đã làm cho khoảngcách giàu nghèo trở lên lớn hơn, kéo theo đó là làn sóng di cư từ nông thôn rathành thị, gây nên áp lực lớn đối với việc quản lí kinh tế, xã hội Trong khi đó,
ở nông thôn nơi chiếm đến gần 80 % dân số cả nước, thì nông nghiệp lại đóngvai trò rất quan trọng, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã lấy đi rất nhiềuđất Vì vậy, khi người dân bị mất đất, họ sẽ không thể làm nông nghiệp, dẫntới tình trạng thất nghiệp và tệ nạn xã hội gia tăng Do đó, cần phải có những
mô hình phát triển kinh tế mới để giúp cho người dân có thể kiếm được việclàm, nâng cao thu nhập và giảm bớt tệ nạn xã hội
Một trong những mô hình phát triển kinh tế đang mới nổi hiện nay, đó
là mô hình nuôi các loại động vật hoang dã, vì khi nuôi các động vật hoang dãthì cần ít diện tích, ít vốn, công chăm sóc lại không nhiều, đem lại hiệu quảcao trong đó phải kể đến là các mô hình nuôi rắn ở các làng, xã.Mô hìnhnuôi rắn đem lại công ăn, việc làm, thu nhập cao cho người lao động, do rắn
là một loại thực phẩm đa chức năng, được dùng làm thực phẩm, rượu,thuốc Mô hình nuôi rắn là một mô hình dễ áp dụng ở nhiều địa phương, docần ít vốn, không cần diện tích rộng, có thể nuôi trong gia đình, đem lại hiệuquả kinh tế cao Muốn áp dụng mô hình nuôi rắn này tại nhiều nơi khác nhau,thì cần phải có những nghiên cứu, đánh giá toàn diện về những hiệu quả mà
nó đem lại, đồng thời đưa ra những vấn đề khó khăn cần phải giải quyết
Trang 15Áp dụng mô hình nuôi rắn thàng công, sẽ đem lại hiệu quả kinh tế, xãhội to lớn, không chỉ với hộ gia đình, mà cả với xã, phường, huyện Muốn ápdụng thành công mô hình này, cần phải đưa ra được những nhận định, đánhgiá, xem xét toàn diện và đầy đủ ở những nơi có mô hình nuôi rắn khác Từ
đó tìm ra những điểm tốt cần phải áp dụng triệt để và những điểm hạn chế cầnkhắc phục
Để đánh giá hiệu quả kinh tế mà mô hình nuôi rắn, có thể lấy một vài ví
dụ điển hình, trong đó phải nói tới mô hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật, phườngViệt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội Được sự khuyến khích của cơquan khuyến nông nên các hộ dân nơi đây đã mạnh dạn đầu tư, tiến hành nuôinhiều loại rắn khác nhau Trong vài năm qua đã đem lại những hiệu quả hếtsức to lớn, tạo ra công ăn, việc làm, phát triển kinh tế và hạn chế các tệ nạn xãhội Giờ đây, làng Lệ Mật đã trở lên nổi tiếng với nghề nuôi rắn, hàng nămcung cấp một lượng lớn rắn cho các nhà hàng, công ty và là mô hình nuôirắn được nhiều địa phương khác tìm hiểu, học tập và áp dụng Tuy nhiên chưa
có một sự đánh giá đầy đủ về hiệu quả kinh tế mà mô hình nuôi rắn ở làng LệMật đem lại, do đó em quyết định lựa chọn đề tài
“Đánh giá hiệu qủa kinh tế của mô hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
Sau đây sẽ là những nội dung nghiên cứu của đề tài về đánh giá môhình nuôi rắn ở làng Lệ Mật Hy vọng với những thông tin của bài nghiên cứunày sẽ giúp chúng ta có thể đạt được mức tối đa hiệu quả của mô hình vàđồng thời có thể áp dụng được mô hình nuôi rắn ở nhiều địa phương khácnhau
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 16Tìm hiểu và đánh giá những hiệu quả kinh tế từ một mô hình phát triểnkinh tế mới, mô hình nuôi rắn của các hộ dân ở làng Lệ Mật, phường ViệtHưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận và thực tiến liên quan tới nuôi rắn.
- Các loại rắn được nuôi ở các trang trại trong làng Lệ Mật, phườngViệt Hưng, quận Long Biên
- Các nhà hàng kinh doanh ẩm thực rắn
- Các hộ gia đình đã và đang nuôi rắn
- Những kết quả của mô hình nuôi rắn đem lại
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung: Những hiệu quả từ mô hình nuôi rắn đem lại.+ Phạm vi không gian: phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội.+ Phạm vi thời gian của số liệu: năm 2010 - 2012
+ Thời gian nghiên cứu đề tài: từ ngày 07/01/2014 đến ngày26/04/2014
Trang 17PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định Từ khái niệm khái quát này,
có thể hình thành công thức biễu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:
H = K/C (1)
Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi
tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.[4]
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.[4]
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.[4]
Trang 182.1.1.2 Nội dung của hiệu quả kinh tế
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế củahoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quảkinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng củacác hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (laođộng, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mụctiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp –mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.[4]
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệmhiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Hiểu kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạtđược sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng làmục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như
số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, và cũng cóthể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất địnhtính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, Như thế, kếtquả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó, công thức (1)lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sửdụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) đểđánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong lý thuyết và thực tế quản trịkinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằngđơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xácđịnh hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra”không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luônđưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ Vấn đềđược đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh
Trang 19doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế,nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trongnhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết
“khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.[4]
Có 3 khái niệm về hiệu quả cần phải phân biệt rõ, theo các tác giả ĐỗKim Chung, Phạm Vân Đình thì 3 khái niệm đó bao gồm:
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đồngchi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào trong điều kiện cụ thể về kỹ thuậthay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổbiến trong kinh tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệuquả này thường được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất.Hiệu quả kỹthuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất Nó chỉ ra rằng 2 đơn vịnguồn lực dung vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹthuật của việc sử dụng các nguồn lực đầu vào với nhau và giữa các sản phẩmkhi nông dân ra quyết định sản xuất Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc vào bảnchất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng củangười sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuậtđược áp dụng
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn
vị chi phí tăng thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu quả phân
bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá củađầu ra Vì thế, nó còn được gọi là hiệu quả về giá Việc xác định hiệu quả nàygiống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận, cónghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sửdụng vào sản xuất
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệuquả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật
Trang 20và giá trị phải tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nôngnghiệp Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.[11]
Ngoài ra, còn có một khái niệm hiệu quả nữa đó là hiệu quả xã hộiHiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạtđược các mục tiêu xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giảiquyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế ;giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thầncho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nângcao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệtrong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môitrường; Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quangiữa các kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện laođộng, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm )
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Thông thường các mục tiêu kinh
tế-xã hội phải được chú ý giải quyết trên giác độ vĩ mô nên hiệu quả tế-xã hội cũngthường được quan tâm nghiên cứu ở phạm vi quản lý vĩ mô.[4]
2.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Theo phạm vi và đối tượng xem xét, có thể phân loại như sau:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộnền sản xuất xã hội
+ Hiệu quả kinh tế ngành: là hiệu quả tính riêng từng ngành sản xuấtvật chất như ở ngành nôn nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Trong nôn nghiệpđược chia thành hiệu quả kinh tế của cây nông nghiệp, hiệu quả kinh tế củacây lương thực, hiệu quả kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm
+ Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: là tính riêng đối với từng vùng,từng khu vực và từng địa phương
Trang 21+ Hiệu quả kinh tế của từng quy mô sản xuất-kinh doanh như hộ giađình, hợp tác xã, nông trường quốc doanh, công ty và tập đoàn sản xuất.
+ Hiệu quả kinh tế của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu
tư vào sản xuất như biện pháp về giống, chi phí phân bón, chi phí bảo vệ thựcvật
Theo từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất :
+ Hiệu quả sử dụng đất
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả ứng dụng công nghệ mới
+ Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật[12]
2.1.2.3 Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuấtchủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích củaloại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (khôngphải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán).[5]
Đặc điểm cơ bản của kinh tế nông hộ[5]
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung,
Trang 22mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất nhưvốn, đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau
và được chi phối bởi quan hệ huyết thống Thông thường chủ hộ thường làngười quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất Với đặc điểm này,việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thốngnhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản
- Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy động
hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khẳ năng thích nghi và tựđiều chỉnh tốt Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồnlực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình Trong hoàncảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất giảnđơn
- Quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hoá và đặc biệt là lợi ích kinh tế
chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hếtsức đa dạng và phức tạp, song chúng cùng tác động tạo nên sự đồng tâm, hiệplực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế màkhông cần đến thưởng phạt Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác
- Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường.
Chính vì thế, trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực củamình như: đất đai, sức lao động ,với thị trường đầu ra, nông hộ chỉ muanhững gì mà họ không có khả năng tự túc như: quần áo, thuốc men hay các đồgia dụng khác
- Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của mình là chủyếu Chỉ khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt độngmua bán hay đi thuê mới diễn ra
2.1.2.4 Kinh tế trang trại
Trang 23Kinh tế trang trại cũng là một hình thức của kinh tế hộ gia đình, nhưngquy mô và tính chất sản xuất hoàn toàn khác hẳn Tính chất sản xuất chủ yếucủa trang trại chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất nhằm mục đích đểđáp ứng nhu cầu của thị trường Cũng chính vì vậy mà quy mô sản xuất củatrang trại thường lớn hơn nhiều so với kinh tế hộ.[5]
2.1.2.5 Các yếu tố nguồn lực cơ bản của hộ
Chúng ta hay nói nông dân chúng ta thường chưa sử dụng hết nguồnlực của hộ vào sản xuất kinh doanh như vậy các nguồn lực của hộ là gì?
Nguồn lực cơ bản của hộ là những yếu tố sản xuất cơ bản mà hộ có như:
- Lao động (nhiều hay ít)
- Đất đai (nhiều hay ít, mấy thửa, tốt hay xấu)
- Vốn sản xuất (nhiều hay ít)
- Kỹ thuật tay nghề (bằng cấp được đào tạo, nghề truyền thống hoặcgia
truyền )
+ Lao động gia đình của nông hộ
Lao động của gia đình là nguồn lực cơ sở của các hộ gia đình và nôngtrại, là yếu tố cơ bản nhằm phân biệt kinh tế hộ gia đình với các doanhnghiệp, công ty
Lao động gia đình của nông hộ được xác định là tất cả những ngườitrong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động sản xuấtsản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để cung cấp cho gia đình và xã hội Lao độnggia đình của nông hộ gồm những người trong độ tuổi lao động và cả nhữngngười ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần thiết Lao độngcủa gia đình không loại trừ lao động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đilàm thuê vào thời vụ lao động như thời điểm làm đất, thu hoạch [5]
Xác định lao động gia đình của hộ nông dân cần chú ý đến trình độ lao
Trang 24động, tay nghề lao động, đặc biệt là lao động tiềm năng, tức những ngườiđang học nghề, hoặc chưa đến tuổi lao động còn đi học [5]
+ Đất đai
Bất kỳ hộ nông dân nào cũng đều có quyền sở hữu đất đai hoặc đượcnhà nước phân chia đất đai để sản xuất Việc phân chia đất đai cho ngườinông dân không theo một tiêu chung thị trường nhất định, đây là thuộc tínhquan trọng đối với mọi nông dân Đặc điểm này phân biệt người nông dân vớingười lao động không có đất đai hoặc công nhân đô thị.[5]
Sự cần thiết đối với hộ nông dân là phải hiểu rõ từng loại ruộng đất cụthể, diện tích, chất đất; vị trí địa lý; địa hình; điều kiện các yếu tố phục vụ nhưthuỷ lợi; giao thông; thời tiết khí hậu; quản lý Xác định rõ từng thửa đất mà
hộ nông dân đang và sẽ sử dụng là rất quan trọng trong việc bố trí sản xuấtkinh doanh của hộ.[5]
+Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh là một trong 3yếu tố nguồn lực quan trọng trong sản xuất kinh doanh của nông hộ Tuynhiên, đối với các hộ nông dân, việc phân biệt rõ ràng lượng tiền vốn và trangthiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh và phục vụ tiêu dùng gia đình là rất khó,đặc biệt là việc xác định lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh của các hộ giađình do sự khó xác định công lao động của gia đình bỏ vào sản xuất kinhdoanh Đây là một đặc điểm nữa để phân biệt hộ nông dân với các doanhnghiệp hoặc công ty Cần phải xác định rõ lượng tiền vốn và trang thiết bịphục vụ sản xuất kinh doanh của hộ Trên cơ sở đó, xác định chính xác và đầy
đủ các yếu tố nguồn lực phục vụ sản xuất, từ đó xây dựng được kế hoạch sảnxuất kinh doanh chính xác và hợp lý[5]
2.1.2.6 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển
Trang 25Kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông hộ của Việt Nam có vai tròhết sức quan trọng Mặc dù ở nước ta, kinh tế nông hộ còn ở quy mô nhỏ vàphân tán nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập vàcải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng,toàn Dân
+Kinh tế hộ sản xuất với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nôngthôn
Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng vàvới cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn.Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hútlao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta cònrất hạn chế
Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và làđộng lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồnnhân lực vẫn đang ở mức thấp
Hiện nay ở nước ta còn khoảng 10 triệu lao động chưa được sửdụng, chiếm khoảng 25% lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian của người laođộng ở nông thôn là được sử dụng Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệuquả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn
Kinh tế hộ sản xuất có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặcbiệt là trong nông nghiệp, kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy:
- Vốn đầu tư cho một hộ gia đình: 1,3 triệu đồng/1 lao động/ 1 việc làm
- Vốn đầu tư cho một xí nghiệp tư nhân: 3 triệu/ 1 lao động / 1 việc làm
- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 12 triệu/1 lao động/ 1việc làm (Đâychỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động)
Trang 26Như vậy, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây làmột điều kiệnthuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ Mặtkhác, là kinh tế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồng thời vừa
là laođộng chính, vừa là lao động phụ thực hiện những công việc không nặngnhọc nhưng tất yếu phải làm.Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sảnxuất trong sản xuất nông nghiệp để cókhả năng cao, khai thác được mọi tiềmnăng của đất đai ở các nước tiên tiến, thâm canhlà quá trình cải tiến lao độngsống, chuyển dịch lao động vào các ngành nghề hiện đạihoá nông nghiệp.Còn ở Việt Nam do trang bị kỹ thuật cho lao động cho nên thâm canh là quátrình thu hút thêm lao động sống, tạo thêm công ăn việc làm từ những khâuhầu như còn làm thủ công: cày bừa, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ [6]
Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâudài đất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm vàkhoa học, không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tàinguyên vì họ hiểu đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sởhữu Mặt khác, đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hoá cũng đượckhuyến khích tăng cường thông qua việc tính toán chi li từng loạicây trồngvật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế ở nông thôn, nâng cao đời sốngnông dân.[6]
Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu tráchnhiệm về kếtquả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và cáccông cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức,biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâudài Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọitiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩmcho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội.[6]
+ Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩysản xuất hàng hoá phát triển
Trang 27Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn
vị kinh tế độc lập,các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất
và quá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ
có thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thânmình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất màkhông phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ hộ sảnxuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không cònkhả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần
mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định.[6]
Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhậpvới thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đãtừng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theođuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiệnchế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuấtđến một hình thức phát triển cao hơn.Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khảnăng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đápứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội Hộ sản xuất cũng là lực lượngthúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn.[6]
+Đóng góp của hộ sản xuất đối với xã hội
Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trongsản xuất kinhdoanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sựphát triển của nền kinhtế.Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từnăm 1988 đến nay trung bình hàngnăm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lươngthực Gần 70% rau quả, thịt trứng, cá, 20% đến30% quỹ lương thực và mộtphần hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu là do lực lượng kinh tếhộ sản xuất nôngnghiệp tạo ra Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nayđã làmột trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đócũngthuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp.Bên cạnh sản xuất lương
Trang 28thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng có bước phát triển,đã hình thànhmột số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè, cà phê, cao su,dâutằm Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuấthàng hoá (thịt, sữatươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giátrị nông nghiệp.[6]
Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộsản xuất có vai tròhết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụngđất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụngnguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứngvới thị trường ngày càng thể hiện rõ nét Người lao động cótoàn quyền tổchức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả laođộngsản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.ởmột khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật
tự, ổnđịnh chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn
cư vi bất thiện"gây ra
2.1.3 Một số nội dung về chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, chănnuôi cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao.Chăn nuôi còn là ngành cung cấp nhiều sản phẩm nguyên liệu quý cho côngnghiệp chế biến Phát triển chăn nuôi còn có mối quan hệ khăng khít thúc đẩyphát triển ngành trồng trọt, tạo nên một nền nông nghiệp cân đối bền vững Chăn nuôi là ngành sản xuất có đối tượng tác động là cơ thể sống đòi hỏiphải có đầu tư duy trì thường xuyên Chăn nuôi có thể phát triển theo phươngthức di động phân tán theo phương thức tự nhiên, song cũng có thể phát triểntập trung tĩnh tại theo phương thức công nghiệp, sản phẩm của ngành chănnuôi rất đa dạng có sản phẩm chính và sản phẩm phụ có giá trị kinh tế cao [7]
2.1.5 Chi phí
Trang 29Chi phí là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh vớimong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quảkinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sẳn xuất củanông hộ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợinhuận.
Chi phí nuôi rắn là tất cả những chi phí bỏ ra để thu được các sản phẩm vềrắn như thịt, trứng, da Chi phí nuôi bao gồm chi phí con giống, chi phí thức
ăn, chi phí chuồng trại, chi phí thuốc thú y, chi phí lãi vay ngân hàng
Có 3 loại chi phí:
+ Chi phí khả biến: là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng lên, giảm
đi theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của chi phí khả biến sẽtăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên nếu tính trên mộtđơn vị của mức độ hoạt động thì chi phí khả biến lại không đổi trong phạm viphù hợp Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động
Trong nuôi rắn, chi phí khả biến bao gồm chi phí con giống, chi phíthức ăn, chi phí thuốc thú y, chi phí điện nước
+ Chi phí bất biến: là những chi phí có tổng số của nó không thay đổikhi có mức độ hoạt động thay đổi Chi phí bất biến có thể chia thành hai loại:chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc
Trong nuôi rắn,chi phí bất biến là các chi phí chuồng trại, chi phí lồngnuôi, chi phí công cụ, dụng cụ
+ Chi phí hỗn hợp : là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tốbất biến và yếu tố khả biến
Ngoài ra có chi phí cơ hội Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là: mọi đầuvào hay yếu tố sản xuất đều có một cách sử dụng thay thế ngay cả khi nókhông được sử dụng Khi một đầu vào được sử dụng cho mục đích cụ thể đó,thì nó không thể sẵn sàng để sử dụng cho bất kỳ một phương án nào khác và
Trang 30thu nhập từ phương án thay thế này sẽ mất di Chi phí cơ hội có thể được địnhnghĩa theo cách:
- Chi phí cơ hội là giá trị của sản phẩm không được sản xuất vì một đầuvào đã được sử dụng cho một mục đích khác
- Chi phí cơ hội là thu nhập sẽ nhận được nếu nguồn lực đầu vào nàyđược sủ dụng cho phương án khác và đem lại lợi nhuận cao nhất
-Lợi nhuận/Chi phí đo lường lợi nhuận của hộ khi bỏ ra một đồng chiphí đầu tư
-Lơi nhuận/doanh thu đo lường trong một đồng doanh thu có bao nhiêuđồng lợi nhuận
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nuôi rắn
2.1.6.1 Chuồng trại
Có nhiều loại chuồng nuôi rắn, phù hợp với điều kiện của từng gia đình
và trang trại
+ Chuồng lưới gỗ
Trang 31Vị trí: có thể tận dụng các không gian thừa như nhà sau, nhà bếp, đầusong, mái hiên, sân nhà, vườn cây…để làm chuồng.
- Kích thước: chuồng nuôi rắn con: chiều ngang 0,6 mét, chiều dài 1mét, chiều cao 0,4 mét, chân cách mặt đất 0,3 mét
Chuồng nuôi rắn lứa: chiều ngang 1 mét, chiều dài 1,5 mét, chiều cao0,8 mét, chân cách mặt đất 0,3 mét
Chuồng nuôi rắn sinh sản: chiều ngang 1,5 mét, chiều dài 2 mét, chiềucao 0,8 mét, chân cách mặt đất 0,3 mét
- Vật liệu: lưới sắt loại 5 ly dùng cho chuồng nuôi rắn con, loại 12 lydùng cho chuồng rắn trưởng thành, kết hợp các thanh gỗ làm khung và nẹplưới
- Mật độ nuôi nhốt: với quy cách như trên có thể nuôi nhốt từ 20-30 rắncon và rắn lứa trong một chuồng Tuy nhiên, mật độ này có thể giảm xuốngtheo tỷ lệ tăng dần của trọng lượng rắn nuôi Ngoài ra, cần chú ý thêm về khảnăng giành mồi dẫn đến cắn, nuốt nhau khi nuôi nhốt với mật độ nhiều
- Mật độ nuôi nhốt: mỗi hộc gỗ chỉ nuôi nhốt 1 cá thể rắn
+ Chuồng xi măng
- Vị trí: chọn nơi cao ráo, có bóng râm mát, cách biệt khu dân cư
- Kích thước: chiều rộng 1 mét, chiều cao 1,2 mét, chiều dài 2 mét
Trang 32- Vật liệu: lợp mái bằng lá hay bằng tôn mát, chuồng xây bằng xi măng
sẽ mang tính kiên cố, vững chắc và giữ được độ ẩm hơn các loại chuồng khác.Chuồng lợp mái tôn hay mái lá đều được, chỉ cần đảm bảo sao cho mát vềmùa hè, ấm về mùa đông
- Mật độ nuôi: mỗi chuồng có kích thước như trên có thể nuôi nhốt từ10-20 rắn trưởng thành
+ Chuồng bán hoang dã
- Vị trí: đây là mô hình nuôi rắn thả lan trong diện tích rộng nên cầnphải chọn nơi cao, thoáng, có ánh nắng mặt trời, điều kiện sống càng gần vớimôi trường sinh thái tự nhiên càng tốt
- Kích thước: nên có không gian rộng, thoáng, không bị che khuất, diệntích sử dụng lớn nhỏ sẽ quyết định số lượng rắn thả nuôi trong đó
- Vật liệu: chuồng phải được xây tường bao quanh với chiều cao từ 2mét trở lên Nền phải trán kín, không để khe hở để tránh rắn đào hang thoát rangoài Không gian bên trong chuồng nên tạo những nhiều đường rãnh, hầmhoặc ngăn tối để rắn trú ẩn Bên trên nên có mái che, tránh để rắn bị ướt mưa,sương lạnh Đồng thời phải đảm bảo hệ thống thoát nước tốt cho chuồng nuôi
- Mật độ nuôi: trung bình nên thả nuôi với mật độ là 5 con/m2 đối vớirắn lứa.[8]
2.1.6.2 Chọn giống
Việc đầu tiên trong khâu chọn con giống là nên mua con giống tạinhững trại gây nuôi có uy tín, có giấy vận chuyển đặc biệt có xác nhận của cơquan kiểm lâm địa phương, có như vậy mới đủ điều kiện đăng ký thủ tục gâynuôi theo pháp luật Giống rắn thuộc nhóm có nguồn gốc từ rắn thuần chủngthường rất hiền, ăn mạnh, sinh trưởng nhanh, trọng lượng lớn
Điều đặc biệt chú ý trong việc chọn giống là nên tránh việc chọn muarắn con từ các điểm thu mua rắn săn bắt ngoài tự nhiên, hoặc mua rắn lứa, rắn
bố mẹ từ những người chuyên câu, bẫy lưới rắn Vì rắn săn bắt ngoài tự nhiên
Trang 33sẽ không thích hợp với môi trường nuôi nhốt, thông thường rắn sẽ không ăn
và sẽ chết
2.1.6.3 Vệ sinh, phòng bệnh
- Vệ sinh chuồng trại, thường ngày phải dọn phân trong chuồng, sốphân hàng ngày thải ra không nhiều, phân thường khô, ít mùi hôi Phân cómùi hôi hoặc phân lỏng có dịch nhày: rắn đã nhiễm bệnh
- Rắn rất ít bệnh Tuy nhiên, biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho rắn làbiện pháp tốt nhất: chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảmbảo thành phần và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ, không lầy lội,không nóng quá, lạnh quá, tránh ruồi nhặng và các loại côn trùng khác gâyhại
2.1.6.4 Kỹ thuật chăm sóc rắn vào các mùa
Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, nhưng phân bố thành 3vùng khí hậu riêng biệt theo phân loại khí hậu
Khu vực làng Lệ Mật, có khí hậu nhiệt đới ẩm ấm, kiểu khí hậu này cóthể khô và lạnh hơn, và mùa hè rất ẩm ướt do ảnh hưởng của gió mùa
+ Thời tiết lạnh hoặc nhiệt độ thay đổi đột ngột ảnh hưởng không tố tớicác loài động vật Rắn là loài chịu nóng, vì vậy nuôi và chăm sóc rắn chịu ảnhhưởng theo từng vùng và nhiệt độ, rắn thường bị nhiễm bệnh và thay đổi tậptính theo thời tiết như sau
- Mùa nóng: rắn ăn uống bình thường và hay phơi nắng để tạo hiệu ứng
từ nhiệt nhằm thay đổi nhiệt độ cơ thể để hỗ trợ quá trình chuyển hóa thức ăn
và khử trùng trên da Đồng thời bổ sung thêm nguồn vitamin dưới tác dụngcủa ánh nắng mặt trời Rắn cần phơi nắng khoảng 10 phút để tự tổng hợpvitamin D Vitamin D có vai trò trung gian trong quá trình tổng hợp và tăngcanxi máu, photpho máu, tăng thải canxin niệu và tác dụng chủ yếu trên các
cơ quan chính Hiệu ứng từ nhiệt thực chất là sự chuyển hóa năng lượng Vì
Trang 34vậy nên cho rắn thường xuyên tắm nắng để kích thích rắn ăn nhiều và nângcao khả năng phòng bệnh.
- Mùa lạnh : rắn thường giảm ăn và bỏ ăn, da khô, không chỉ tạo tácđộng từ bên ngoài, nên bổ sung dưỡng chất như đạm và đầu các, chúng lanhững loại dưỡng chất nhiều chất béo sẽ giúp da hấp thụ thêm dưỡng ẩm vàtích nước vùa đủ Thông thường rắn ăn mồi chết giảm ăn hơn rắn ăn mồisống, vì mồi chết được nhúng qua nước nóng, rắn cảm nhận thân nhiệt sẽ bò
2.1.7 Tác dụng của rắn
Rắn là một loại vật nuôi có rất nhiều tác dụng, chính vì thế, hiệu quả
mà rắn đem lại sẽ rất cao, nó giải thích vì sao nhiều hộ lại nuôi rắn đến vậy.Sau đây là một số công dụng của rắn
- Rắn cung cấp cho con người một loại thực phẩm độc đáo, có giá trịdinh dưỡng cao Thịt rắn có thể chế biến thành các món ăn khác nhau, nhưxào, luộc, nướng, làm nem Thị rắn được bán ở các nhà hàng chuyên bán cácloại đồ ăn về rắn, hoặc được chế biến, làm khô, rồi sau đó đem đóng gói đểvận chuyển sang các vùng khác, hoặc xuất khẩu ra nước ngoài
Từ lâu, thịt rắn đã được công nhận là một vị thuốc quý với tên là xànhục Thịt rắn có vị ngọt, mặn, mùi tanh, tính ấm, vào kinh can, có tác dụngkhử phong, giảm đau, trừ thấp, tiêu độc chữa các bệnh thần kinh đau nhức,bán thân bất toại, khớp xương sưng đau, chân tay tê mỏi, kinh phong, nhọtđộc, lở loét, giang mai, tràng nhạc
Trang 35Trong dân gian, người ta thường dùng thịt rắn (bỏ da) dưới dạng món
ăn - vị thuốc như rim, làm ruốc hoặc băm với lá lốt, mùi tàu và xương sôngrồi nướng ăn trong đó có nhũng loại cần thiết cho cơ thể như leucin, lysin,arginin, valin, chất mỡ và chất saponosid Từ thịt rắn có thể chế biến thànhnhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, và các tác dụng chữa bệnh
Thịt rắn được xếp vào hàng những món ăn cao cấp và bổ dưỡng Mỗiloại rắn có vị hơi khác nhau nhưng chúng đều là món ăn bài thuốc chống đaunhức khớp, chữa bệnh phong thấp và tăng cường sức khỏe
Từ rắn có thể chế biến thành trên dưới 10 món ăn khác nhau như thịtrắn xúc bánh đa, rắn xé phay, xào lăn, chả rắn, rắn hầm xả, rắn tiềm thuốcbắc, cháo rắn đấu xanh, rắn nhồi thịt… Trong đó, rắn tiềm thuốc bắc là món
bổ nhất trong các món rắn, có công dụng chống đau nhức và mát gan
- Rắn được dùng làm thuốc hoặc ngâm rượu Các bộ phận như da rắn,nọc rắn, mật rắn, được chế biến thành các loại thuốc, có tác dụng giảm đau
- Các sản phẩm của rắn, đặc biệt là da rắn, có thể dung để chế tạo racác đồ dung như ví da rắn, thắt lưng da rắn, túi xách, cặp…
Trang 36dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Kinh tế gia đình nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nông nghiệp ở nôngthôn được thực hiện quyền tự chủ và được quan tâm, khuyến khích phát triểndưới hình thức hợp tác xã và các hình thức liên kết khác Ngoài các chínhsách bảo hộ quyền và nghĩa vụ, Nhà nước còn có các chính sách khác hướngtới việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật; phổ biến, ứng dụng công nghệ mới cho sản xuất chế biến; cung cấpdịch vụ vật tư; hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chokinh tế hộ gia đình và trang trại
- Kinh tế gia đình là một hình thức sản xuất có sớm, xuất hiện từ khi giađình được hình thành Ngày nay hình thức sản xuất này đang chịu nhiều tácđộng và cũng đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của
xã hội phát triển - xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp Vì lẽ đó,cần tìm hiểu quyền tồn tại để nhận diện vị trí và vai trò của nó trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiếtcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp hàngthế kỷ nay, nhưng tiến trình diễn ra rất chậm chạp và sự chuyển tiếp là việcthực hiện nền kinh tế kế hoạch tập trung theo cơ chế bao cấp kéo dài suốt mấychục năm qua Cách mạng giải phóng dân tộc với hai cuộc kháng chiếntrường kỳ tiến tới thống nhất tổ quốc cũng là một nguyên nhân góp phần làmgiảm phát triển kinh tế đất nước Chỉ tới thập niên cuối thế kỷ XX, khi bắt tayvào thực hiện công cuộc Đổi mới, chúng ta mới thực sự tiến hành từng bướcchuyển sang nền kinh tế thị trường
- Do những đặc điểm địa lý tự nhiên và thiếu trình độ, kiến thức, kinhnghiệm quản lý nền kinh tế thị trường nên mặc dù trong những năm qua kinh
Trang 37tế đất nước tuy có tăng trưởng, nhưng phát triển không đồng đều giữa cácvùng Bên cạnh sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá đang diễn ra ở các đôthị và các tỉnh đồng bằng, vẫn tồn tại các hình thức sản xuất còn biểu hiện củanền kinh tế tự cung tự cấp (kinh tế tự nhiên) ở các vùng núi cao, vùng sâu,vùng xa.
- Thực chất sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường không chỉ là sự thay
đổ hình thức kinh tế vĩ mô mà còn thay đổi cả hệ thống kinh tế vi mô Đó là
sự thay đổi phương thức hoạt động, thay đổi hình thức tổ chức của các đơn vịkinh tế, trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất của xã hội
- Trước đây, các tổ chức kinh tế mang các tên gọi khác nhau: nhà máy, xínghiệp, công ty, cửa hàng, hợp tác xã, cá thể, tư nhân, v.v… Ngày nay trong
cơ chế thị trường, các đơn vị tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đềuđược thống nhất chung với tên gọi là Việt Nam Hiện nay ở nước ta có cácloại hình doanh nghiệp với các thành phần chủ sở hữu như sau: cá nhân,nhóm kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty (công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phẩn), hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ gia đình
- Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và đượcphát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việcphát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đìnhlại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần hoạt động theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80% dân sốđang sinh sống ở nông thôn và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hànhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuấtnông nghiệp, quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
- Mặc dù không phải là một thành phần kinh tế nhưng kinh tế hộ gia đình
là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Mộttrong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt
Trang 38động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất
và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh
và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộgia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đìnhnông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp Hiện nay, tại một
số địa phương đã hình thành các trang trại gia đình có quy mô sản xuất vàkinh doanh tương đối lớn Xu hướng này đang có chiều hướng phát triển và
mở rộng ra trên phạm vi toàn quốc
- Như trên đã phân tích, kinh tế hộ gia đình tập trung chủ yếu ở khu vựcsản xuất nông nghiệp và chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Vì vậy,chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước
ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sảnxuất và kinh doanh trong nông nghiệp Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng khu vực, từng địa bàn, cần phânloại các hộ gia đình theo trình độ sản xuất hàng hoá, khả năng tự chủ trongkinh doanh, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh tế để có những biện pháp hỗtrợ thích hợp Hộ gia đình có nhiều ưu thế, nhưng cũng có nhiều khó khăn,hạn chế về nhiều mặt Việc tác động của Nhà nước, kết hợp với sự liên kết hỗtrợ hướng dẫn của các doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã… là rất cầnthiết.[1]
- Xem xét đến vấn đề kinh tế nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nói riêngkhông thể không đề cập đến vấn đề tiêu dùng Tiêu dùng là hành vi tất yếu vàthường xuyên của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinhthần của cá nhân, cộng đồng, của toàn xã hội Tiêu dùng vừa là mục tiêu vừa
là tiền đề của sản xuất và tái sản xuất xã hội Mức độ tiêu dùng có thước đo
và được chi phối bởi yếu tố thu nhập thực tế tính theo đầu người Các nướcphương Tây có nền kinh tế phát triển, tích lũy tư bản, phúc lợi xã hội và thu
Trang 39nhập cá nhân cho phép đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội pháttriển cao.[1]
- Do kết quả của sự chi phối, giao lưu kinh tế quốc tế trong việc thực hiệnchính sách mở cửa, những năm qua nền kinh tế thị trường đa thành phần ởnước ta có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng đồng thời cũng kéo theo
sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng cả về vật chất lẫn tinh thần Sự gia tăng về nhucầu tiêu dùng là quy luật tự nhiên và đáng khuyến khích Tuy nhiên, trongtrường hợp kinh tế kém phát triển như ở nước ta, chưa thể có mức tiêu dùngbình quân cao được.[1]
Hiện nay, có hiện tượng một bộ phận hộ gia đình thu nhập cao, tập trung ởthành thị, mức sống và nhu cầu tiêu dùng chênh lệch cao gấp nhiều lần so vớinhững hộ dân sống ở nông thôn Đây là vấn đề cần được quan tâm giải quyết
để thực hiện tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Xóa đói giảm nghèo, tình trạng thất nghiệp, phân công laođộng và giải quyết việc làm, thực tế hộ gia đình cũng là những vấn đề cầnđược đề cập trong nghiên cứu về các chính sách liên quan tới lĩnh vực Giađình.[1]
2.2.3 Sự đa dạng các loài rắn ở Việt Nam
Việt Nam được biết đến là một đất nước có đa dạng sinh học phongphú và mang tính đặc hữu cao, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái Các loàirắn độc của Việt Nam không chỉ phổ biến trong việc sử dụng làm thuốc cổtruyền mà còn được coi là nhóm bò sát có tính đa dạng về thành phần loài.Cho đến nay Việt Nam hiện biết là nơi cư ngụ của 193 loài rắn thuộc 69giống, 8 họ Trong số đó ghi nhận tổng số 53 loài rắn độc gồm 35 loài (15giống) thuộc họ rắn hổ Elapidae và 18 loài (8 giống) thuộc họ rắn lụcViperidae
Bên cạnh đó, sự phân bố theo vùng địa lý của các loài rắn độc cũngkhác nhau: 12 loài chỉ ghi nhận ở miền Bắc, 19 loài chỉ ghi nhận ở miền Nam
Trang 40và 22 loài ghi nhận ở cả hai miền đất nước Có 5 loài hiện được coi là đặc hữu
của Việt Nam gồm: rắn cạp nia slowinski Bungarus slowinskii, Đẻn xanh
lơ Hydrophis parviceps, rắn lục Hòn Sơn Cryptelytrops honsonensis, rắn lục Trùng Khánh Protobothrops trungkhanhensis và rắn lục Trường Sơn
Viridovipera truongsonensis Đáng chú ý là sau công bố của Wuester et al.
(1995), loài rắn hổ mang trước đây có tên là Naja naja hiện đã được tách thành 3 loài riêng biệt: loài rắn hổ mang Trung Quốc N atra phân bố ở miền Bắc, hai loài rắn hổ mang một mắt kính N kouthia và rắn hổ mang xiêm N.
siamensis ghi nhận ở miền Nam Chưa có đánh giá chi tiết nào về việc sử
dụng các loài rắn ở Việt Nam, tuy nhiên, rắn được thu thập để làm thực phẩm,lấy nọc độc, làm thuốc cổ truyền và dùng trong kỹ nghệ da Các loài rắn độc
phổ biến dùng ngâm rượu là các loài rắn cạp nia (Bungarus spp.), rắn hổ mang (Naja spp.), và hổ chúa Ophiophagus hannah Rắn biển đôi khi được
dùng ngâm rượu nhưng chúng thường được dùng để làm thực phẩm ở các khuvực ven biển Do việc nuôi giữ rắn độc để làm cảnh có thể gây nguy hiểm vớicon người nhưng một số loài có màu sắc đẹp, có khả năng nuôi làm cảnh
như: rắn lá khô đầu hình V Sinomicrurus kellogi, rắn lá khô thường S.
macclellandi, rắn lục đầu bạc Azemiops feae, Viridovipera vogeli rắn lục
von-gen
Việt Nam đã thành lập nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
để bảo vệ cảnh quan và tài nguyên sinh vật Theo số liệu của Tổ chức Bảo tồnchim quốc tế, đến năm 2010 Việt Nam có 208 khu bảo tồn hiện có và đề xuất.Các khu bảo tồn này đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ và gìn giữsinh cảnh sống của các loài động vật hoang dã trong đó có các loài rắn Bên
cạnh 4 loài rắn độc gồm 3 loài thuộc giống rắn hổ mang (Naja) và loài rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah) được ghi trong Phụ lục II của Công ước CITES
(có hiệu lực từ ngày 1/7/2008); có 8 loài được luật pháp Việt Nam bảo vệ
gồm: hổ chúa Ophiophagus hannahghi trong nhóm IB (nghiêm cấm khai