1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý và chống thất thu BHXH

118 332 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Quản Lý Và Chống Thất Thu Bhxh Trên Địa Bàn Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Thị Kim Nga
Người hướng dẫn TS. Phạm Phi Yên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. HCM
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quản lý và chống thất thu BHXH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGUYỄN THỊ KIM NGA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn: TS PHẠM PHI YÊN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2007

Trang 2

Lời Cam Đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép của bất cứ ai

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ KIM NGA

Trang 3

Mục Lục

Trang

Trang phụ bìa 1

Lời cao đoan 2

Mục lục 3

Danh mục những từ viết tắt trong luận văn 7

Danh mục những bảng biểu, đồ thị, sơ đồ 8

Danh mục phụ lục 9

Mở đầu 10

1 Mục đích nghiên cứu đề tài 11

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 12

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 13

6 Kết cấu luận văn 14

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

1.1 Sơ lược về quá trình hình thành ngành BHXH 15

1.2 Một số khái niệm: 17

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm: 17

1.2.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội 18

1.2.3 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội 19

1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tổng thu BHXH: 21

1.4 Sơ lược về các chính sách chủ yếu của BHXH VN .23

1.4.1 Đối tượng thực hiện: 23

1.4.2 Các chế độ trợ cấp: 23

Trang 4

1.4.2.1 Trợ cấp ốm đau: 23

1.4.2.2 Trợ cấp thai sản: 24

1.4.2.3 Trợ cấp tai nạn lao động (TNLĐ) – bệnh nghề nghiệp (BNN): .24

1.4.2.4 Trợ cấp hưu trí: 24

1.4.2.5 Trợ cấp tử tuất: .26

1.5 Phân biệt BHXH với BH thương mại: 26

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 12 29

2.1 Tổng quan về quận 12: 29

2.1.1 Đặc điểm kinh tế, dân số của Quận 12: 29

2.1.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn quận: 29

2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế quận 12 giai đoạn 1997 – 2006: 31

2.2 Thực trạng hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 12 32

2.2.1 Tổng quan về hoạt động quản lý thu BHXH qua các giai đoạn: 32

2.2.1.1 Hoạt động quản lý thu Bảo hiểm xã hội trước năm 1995 32

2.2.1.2 Thu BHXH do Ngành Lao động -Thương binh và Xã hội quản lý 34

2.2.1.3 Thu BHXH do Liên đoàn lao động Thành phố quản lý 34

2.2.1.4 Hoạt động quản lý thu Bảo hiểm xã hội sau năm 1995 35

2.2.2 Nội dung hoạt động thu Bảo hiểm xã hội .36

2.2.2.1 Đối tượng tham gia BHXH 36

2.2.2.2 Tỷ lệ thu bảo hiểm xã hội bắt buộc: 37

2.2.3 Phân cấp và quy trình quản lý thu BHXH 39

2.2.3.1 Tổ chức phân cấp thu BHXH: 39

2.2.3.2 Quy trình thực hiện thu bảo hiểm xã hội: 41

2.2.4 Những quy định về thu bảo hiểm xã hội 42

Trang 5

2.3 Thực trạng công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Quận 12: 43

2.3.1 Tình hình tham gia BHXH bắt buộc 43

2.3.2 Tình hình thực hiện mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 45

2.4 Tình hình thực hiện thu BHXH 50

2.5 Tình hình nợ đọng thu BHXH 57

2.6 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội giai đoạn vừa qua 61

2.6.1 Những mặt đã đạt được 61

2.6.2 Những mặt còn hạn chế 62

2.7 Kết quả nghiên cứu từ kiểm tra và khảo sát các doanh nghiệp 64

2.7.1 Kết quả từ việc kiểm tra các doanh nghiệp: 64

2.7.2 Kết quả khảo sát tình hình tham gia BHXH 65

CHƯƠNG 3: NHỮNG BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU BHXH 72

3.1 Mục tiêu: 72

3.2 Quan điểm: 72

3.3 Kinh nghiệm về quản lý và chống thất thu BHXH của một số nước trên Thế giới: 73

3.3.1 Hoạt động quản lý thu BHXH ở Liên bang Mỹ 73

3.3.2 Hoạt động quản lý thu BHXH ở Thái Lan 75

3.3.3 Cộng hòa Liên Bang Đức 76

3.3.4 Bài học kinh nghiệm: 77

3.4 Biện pháp 79

3.4.1 Nhóm biện pháp về các quy định của luật pháp, chủ trương, chính sách 79

3.4.2 Nhóm biện pháp đối với các cơ quan BHXH: 82

3.4.3 Nhóm biện pháp đối với doanh nghiệp 85

Trang 6

3.4.4 Nhóm những biện pháp rút ra từ kinh nghiệm các nước: 86

3.5 Lộ trình áp dụng các biện pháp: 87

Kết luận 89

Tài liệu tham khảo 90 Phụ lục

Trang 7

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế

BNN : Bệnh nghề nghiệp

CTY TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

DN NQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

ĐĐT : Đảng đoàn thể

ĐKKD : Đăng ký kinh doanh

HCSN : Hành chính sự nghiệp

HT&TC : Hưu trí và trợ cấp

LĐTB&XH : Lao động – Thương binh và Xã hội

LĐLĐ : Liên đoàn lao động

ILO : Tổ chức lao động Thế giới

NSNN : Ngân sách Nhà nước

TNLĐ : Tai nạn lao động

Tp.HCM :Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Trang Bảng:

Bảng 1.1 So Sánh BHXH và BH thương mại 28

Bảng 2.1 : Số lao động tham gia theo khối loại hình năm 2006 46

Bảng 2.2 : Tổng hợp mức tiền lương đóng BHXH từ năm 2003 – 2005 49

Bảng 2.3 : Kết quả thu BHXH từ năm 1997 – 2006 (DN ngoài QD) 53

Bảng 2.4 : Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2003 – 2006 61

Bảng 2.5: So sánh doanh nghiệp Phường Tân Thới Nhất với doanh nghiệp trên toàn quận .70

Bảng 3.1: Mức đóng góp BHXH của Thái Lan 80

Đồ thị: Đồ thị 2.1 : Kết quả thu BHXH thực hiện từ 1997 - 2006 : (Đơn vị tính: triệu đồng) 54

Đồ thị 2.2 : So sánh tỷ lệ DN ĐKKD và DN tham gia BHXH trên địa bàn Quận 12 .56

Đồ thị 2.3 : Số lao động tham gia BHXH từ 1997 – 2006 57

Đồ thị 2.4: Tình hình nợ đọng giai đoạn 2003 – 2005 62

Sơ đồ: Sơ đồ 2.1: Mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH .42

Trang 9

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Dân số Quận 12 Phụ lục 2: Bản đồ Quận 12 Phụ lục 3: Tình hình phát triển các ngành kinh tế chủ yếu của

phường Tân Thới Nhất

Phụ lục 9: Danh sách các doanh nghiệp kiểm tra từ

2005-6/2007

Phụ lục 10: Bài viết : Sẽ “siết” doanh nghiệp “trốn” BHXH, tác

giả: Phan Công – Báo Vietnamnet ngày 08/11/2005

Trang 10

Mở đầu

Bất cứ một quốc gia nào cũng mong muốn có nền chính trị ổn định, kinh tế phát triển và bền vững Để đạt được việc này cần phải có những con người giỏi cả về trí tuệ lẫn tài đức Để con người phát huy được năng lực của bản thân mình, cần phải tạo cho họ một tâm lý vững vàng trong cuộc sống, không phải lo lắng về ốm đau, hoạn nạn, và những bất trắc có thể xảy ra cho họ và gia đình

Do vậy, kể từ khi Đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới tại Đức do Bismarck soạn thảo và ban hành năm 1883, các quy định về BHXH ngày càng được hoàn thiện hơn, là chính sách an sinh để giúp người lao động an tâm làm việc, phát huy hết năng lực để đóng góp cho xã hội

BHXH không đơn thuần chỉ là tiền mà người lao động và chủ doanh nghiệp đóng vào để giải quyết các chế độ chính sách Thông qua những chế độ, chính sách mà người lao động được hưởng, sẽ làm cho người lao động an tâm làm việc, chủ doanh nghiệp có nguồn nhân lực ổn định, có khả năng hoạch định được chính sách, chiến lược kinh doanh và phát triển, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển

Ở Việt Nam hiện nay, còn rất nhiều người lao động làm việc nhưng lại không được tham gia BHXH, BHYT, nhiều doanh nghiệp cố tình né tránh không tham gia BHXH cho lao động của mình, dẫn đến thiệt thòi quyền lợi của người lao động, không an tâm làm việc và ổn định công tác Tăng thu BHXH cũng chính là tăng số lượng doanh nghiệp tham gia BHXH hơn, tăng số lao động tham gia BHXH để góp phần giúp ngày càng nhiều lao động được hưởng các chế độ BHXH, đảm bảo pháp luật về lao động được thực thi, giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong tương lai

Trang 11

Qua thời gian công tác tại BHXH quận 12, tiếp xúc với nhiều lao động và cả chủ doanh nghiệp trên địa bàn quận, qua những kiến thức cơ bản tiếp thu từ khóa học, qua những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác và nhất là qua điều tra một số doanh nghiệp trên địa bàn quận Tôi mạnh dạn đưa ra các biện pháp nhằm quản lý hiệu quả việc thu BHXH, chống thất thu BHXH như hiện nay

Tôi hy vọng với kết quả nghiên cứu này sẽ có thể được ứng dụng trong thực tế, nhằm đạt được mục tiêu có được chế độ an sinh xã hội chất lượng cao, thúc đẩy được người lao động tích cực làm việc, ổn định chính trị và phát triển kinh tế

1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở những lý luận về BHXH, về quản lý thu BHXH; đề tài nhận diện được thực trạng về công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Quận 12 để đề xuất các biện pháp chống thất thu BHXH, nhiều lao động được hưởng các chế độ BHXH hơn, mức hưởng cao hơn, giảm được gánh nặng cho gia đình và xã hội khi có rủi ro, đau ốm, già yếu, nâng cao chất lượng an sinh xã hội Từ đó nhân rộng đến các quận, huyện khác trên địa bàn thành phố và các tỉnh thành khác trên cả nước

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Ngoài việc hệ thống những vấn đề cơ bản về công tác quản lý thu và cơ chế quản lý thu bảo hiểm xã hội ở Quận 12 Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng tình hình quản lý thu bảo hiểm xã hội qua các giai đoạn từ năm 1997 –

2006, đặc biệt là từ năm 2003, là năm thành lập BHXH quận 12, cũng là năm mà nghị định 01/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 có hiệu lực, mở rộng đối tượng thu BHXH Đồng thời tham khảo kinh nghiệm ở một số quốc gia, đề tài rút ra những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế của

Trang 12

công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội, những vướng mắc vì các chính sách, văn bản pháp luật hiện nay và đề xuất một số biện pháp chống thất thu bảo hiểm xã hội, tạo điều kiện khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy hoạt động thu của Bảo hiểm xã hội, giúp tăng thu và tăng được nguồn thụ hưởng từ các chính sách BHXH của người lao động Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng lao động, mức đóng BHXH, … từ đó đưa ra các biện pháp tăng thu, không để thất thoát, thiệt thòi cho người lao động

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích-tổng hợp, nội suy và khảo sát điều tra chọn mẫu, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại Quận

12 và đề xuất một số biện pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn Quận

Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian từ năm 1997 đến năm 2006 Đặc biệt là giai đoạn từ 2003 đến nay (tức là kể từ khi NĐ 01/2003/CP ngày 9/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung điều lệ BHXH ra đời), nhằm phân tích hoạt động quản lý thu, mở rộng đối tượng quản lý và đề ra các biện pháp chống thất thu BHXH trên địa bàn Quận 12

Trong phần đánh giá thực trạng, chúng tôi đã tiến hành các cuộc khảo sát điều tra chọn mẫu như sau:

- Kiểm tra, khảo sát một số doanh nghiệp tham gia BHXH trên địa bàn quận, sử dụng số liệu từ biên bản của đoàn kiểm tra liên ngành của quận từ năm

2005 đến tháng 6/2007 để đánh giá thực trạng tham gia BHXH, mức lương mà doanh nghiệp tham gia cho người lao động Sử dụng bảng câu hỏi về việc đánh giá về BHXH thực hiện chấp hành chính sách BHXH, pháp luật lao động để khảo sát các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Với số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn phường Tân Thới Nhất chiếm 35% số doanh nghiệp trên địa bàn Quận 12 (trong đó CTy TNHH chiếm 63%/tổng số CTY

Trang 13

TNHH, DNTN chiếm 55%/Tổng số DNTN, hộ kinh doanh cá thể chiếm 26% tổng hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Quận) Từ những cơ sở đó, chúng tôi quyết định chọn Phường Tân Thới Nhất để khảo sát và đưa ra các yếu tố làm cơ sở đánh giá, phân tích đưa ra các biện pháp chống thất thu BHXH

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Dựa trên những phân tích, đánh giá về thực trạng thu BHXH trên địa bàn quận từ năm 1997 đến năm 2006, và thực tế khi kiểm tra hơn 130 doanh nghiệp, Chúng tôi phân tích nguyên nhân chủ doanh nghiệp muốn né tránh, giảm đến mức thấp nhất mức đóng BHXH, những động cơ và mục đích để giảm mức đóng, làm thiệt thòi cho người lao động trong việc hưởng các chế độ, chính sách BHXH trong giai đoạn hiện tại và tương lai Đối với người lao động, do chưa hiểu biết về quyền lợi của mình, lại sợ mất việc làm nên chưa quan tâm đến chế độ BHXH, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục Nhờ vậy, luận văn đã đóng góp hệ thống các biện pháp khả thi mang ý nghĩa thực tiễn cao nhằm làm tăng số lao động được tham gia BHXH, tăng mức thụ hưởng từ các chế độ, chính sách BHXH của người lao động, góp phần làm tăng số thu, hoàn thiện công tác quản lý thu trên địa bàn quận

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác quản lý thu BHXH (quỹ hưu trí và trợ cấp, không nghiên cứu quỹ khám chữa bệnh, không nghiên cứu về BHXH tự nguyện và BH thất nghiệp) bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến số thu BHXH, đối tượng nộp BHXH, phương thức và mức đóng, quy trình tổ chức quản lý thu, nguyên nhân các doanh nghiệp né tránh nộp BHXH và đề xuất những biện pháp chống thất thu BHXH

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung trên địa bàn Quận 12 trong giai đoạn từ 1997 đến năm 2006

Trang 14

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội và quản lý thu Bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Quận 12

Chương 3: Đề xuất những biện pháp chống thất thu BHXH

Tôi hy vọng một số kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ góp phần làm rõ thêm các nguyên nhân làm thất thu BHXH, công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Quận 12, biện pháp chống thất thu BHXH tại Quận 12 nói riêng, BHXH thành phố Hồ Chí Minh và Bảo hiểm xã hội các tỉnh thành khác nói chung

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Sơ lược về quá trình hình thành ngành BHXH

Con người chúng ta có rất nhiều nhu cầu: ăn, ở, mặc, lao động, giải trí,

… Để thỏa mãn được những nhu cầu như vậy, cần phải làm việc, lao động Trong cuộc sống không phải mọi việc lúc nào cũng suôn sẻ, không ai có thể đoán trước được những rủi ro có thể xảy ra Rủi ro có thể khiến con người mất khả năng tạo ra thu nhập để nuôi bản thân và gia đình, và có thể còn dẫn đến đau ốm và mất cả tính mạng Những lúc như vậy, những nhu cầu thiết yếu không những không giảm mà còn tăng lên (như khi ốm cần có thuốc men để chữa trị, người chăm sóc, ăn uống để phục hồi sức khỏe, hay có thể chi phí để lo ma chay….) và gia đình sẽ rất hụt hẫng khi mất đi một người trụ cột, trở thành gánh nặng cho gia đình, … Đó là những vấn đề mà con người luôn tìm cách giải quyết sao cho thích hợp nhất

Qua các thời kỳ Chiếm hữu nô lệ rồi chế độ Phong kiến, hầu như người dân luôn nương tựa vào nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn, Ông bà ta thường nói

“bà con xa không bằng láng giềng gần”, gần nhau và giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn Kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển, khoảng thế kỷ thứ 12, Hiệp hội thủ công ở Hy Lạp đã cùng nhau thành lập quỹ để trợ cấp các trường hợp ốm đau, tai nạn Đến thế kỹ thứ 16, những người trồng nho ở thung lũng Anpe (Pháp) cũng thành lập quỹ dùng cho trường hợp ốm đau, tai nạn Tuy nhiên, những hình thức quỹ như thế chỉ có ý nghĩa giúp đỡ nhau lúc ốm đau, hoạn nạn mà không có ý nghĩa phát triển bền vững

Khi nền công nghiệp phát triển, xuất hiện thuê mướn công nhân, lúc đầu chủ trả tiền công cho thợ căn cứ vào chất lượng và số lượng lao động, nhưng khi giới thợ gặp tai nạn lao động, ốm đau không làm được việc thì họ mất đi

Trang 16

nguồn thu nhập, người lao động và gia đình gặp phải nhiều khó khăn nhưng phải tự vượt qua Cho đến khi đội ngũ công nhân phát triển, họ liên kết lại với nhau, và đòi giới chủ phải trợ cấp cho họ những lúc ốm đau, tai nạn, thai sản Những vấn đề này lúc đầu không được giải quyết, nhưng về sau do công nhân đình công có tổ chức, cuối cùng giới chủ cũng phải nhượng bộ chấp nhận trợ cấp Vào thời kỳ này, giới chủ không lường trước được những rủi ro mà công nhân có thể gặp phải nên khi cần trợ cấp, họ phải chi số tiền quá lớn làm chính họ gặp phải những khó khăn, nên họ tìm cách không trợ cấp, từ đó lại xảy ra những cuộc đình công lớn Trước tình hình trên, nhà nước ở một số nước bắt đầu can thiệp

Quốc gia có nhà nước can thiệp đầu tiên là Đức, Chính phủ là trung gian giữa

chủ và thợ, tùy theo quy mô hoạt động mà quy định hàng tháng giới chủ phải đóng vào tổ chức trung gian một số tiền nhất định để khi phát sinh nhu cầu cần trợ cấp thì tổ chức trung gian sẽ xem xét và chi trả Từ đó, Bảo hiểm xã hội ra đời, trong đó, tổ chức trung gian tương đương với cơ quan Bảo hiểm xã hội ngày nay, giới chủ là người sử dụng lao động và những người thợ là người lao động

Đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới tại Đức do Bismarck soạn thảo và ban hành năm 1883 Đến năm 1885 Bismarck lại cho ra đời đạo luật tai nạn lao động và đến năm 1888, Ông tiếp tục ban hành chế độ hưu trí Sau đó, những nước khác cũng hình thành hệ thống BHXH như Aùo, Tiệp Khắc ( 1906), Newzealand (1909), Italia (1919), Liên Xô (1922), Mỹ (1953), … hiện nay hầu hết các nước đều có cơ quan BHXH, BHXH đã trở thành chính sách xã hội của tất cả các nước, không những quỹ BHXH đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình của họ lúc hoạn nạn, mà còn góp phần bảo đảm an toàn xã hội và phát triển kinh tế, ổn định chính trị Lúc đầu chỉ có giới chủ đóng góp, về sau, BHXH phát triển hơn, người ta quy định luôn cả sự đóng góp của người lao động, điều này có ý nghĩa tiết kiệm cũng như ý nghĩa đề phòng rủi ro cho chính

Trang 17

bản thân người lao động Nguyên tắc hoạt động của BHXH là lấy số đông bù số

ít và theo thời gian tích dồn lại để lập quỹ

1.2 Một số khái niệm:

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm:

Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị [rủi ro], thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng, (trích từ Wikipedia – www.vi.wikipedia.org)(1)

Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu, ví dụ như:

- Xét về mặt xã hội, "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất

hạnh của số ít"(1)

- Xét về góc độ kinh tế, luật pháp: "Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê"(1)

- Xét góc độ kỹ thuật tính: "Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được" (1)

Theo các chuyên gia Pháp, một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng

Trang 18

cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau:

"Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê"(1)

1.2.2 Khái niệm Bảo hiểm xã hội

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì:

“Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động,

sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của người sử dụng lao động

và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” [36, tr 18]

Theo điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [33, tr 6]

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung hai khái niệm này đều thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH Cụ thể, đã nêu bật được:

- BHXH là những quy định của nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động

Trang 19

Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết

Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho chính họ

Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động, chết và thất nghiệp do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước, nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ đồng thời góp phần bảo vệ an toàn xã hội

1.2.3 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội:

Như vậy BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định Đó chính là mối quan hệ của bên tham gia BHXH

Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy

hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức,

Trang 20

triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH

Thứ hai, BHXH là một loại hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do nhà

nước cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao động do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ (một số nước trên thế giới do khu vực tư nhân quản lý và cung cấp dịch vụ) Hiện nay ở Việt Nam việc tham gia BHXH là bắt buộc, do Nhà nước quản lý và cung cấp

Thứ ba, cơ chế họat động của BHXH theo cơ chế 3 bên: cơ quan BHXH-

người sử dụng lao động - người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý nhà nước Bảo hiểm xã hội bắt buộc do nhà nước đđứng ra làm, do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt nam Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt nam thể hiện đđộc quyền: cung BHXH do Nhà nước đđộc quyền cung, cầu thì bắt buộc cầu và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đđến chất lượng dịch vụ kém

Thứ tư, thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội,

thực hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội chặt chẽ, đúng đối tượng và đúng thời hạn Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào quỹ riêng, độc lập với ngân sách Nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội

Cơ quan BHXH

Người SD lao

Trang 21

được quản lý tập trung, thống nhất và sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu-chi theo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển

Thứ năm, người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức

đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội, có chia sẻ rủi ro và thừa kế Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền công) của người lao động Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền giữa quyền và nghĩa vụ của người lao động

Tóm lại, BHXH là những chính sách, chế độ do nhà nước quy định để đảm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH dựa trên quan hệ cung –cầu trên thị trường BHXH là một hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do Nhà nước quản lý và cung cấp; hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, chia sẻ rủi ro, quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước, quản lý tập trung thống nhất

1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tổng thu BHXH:

Để có thể đề ra những biện pháp cụ thể để tăng thu BHXH, chống thất thu BHXH như hiện nay, chúng ta phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu BHXH Tổng thu BHXH chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

Thứ nhất, Các chế độ chính sách mà người lao động được thụ hưởng, họ thấy rằng việc tham gia BHXH là có ích cho họ và gia đình trong hiện tại và tương lai, từ đó, người lao động tích cực tham gia và đòi quyền lợi của mình Do đó, cần phải xác định chính xác lợi ích mà BHXH mang lại cho người lao động, và kích thích người lao động đấu tranh giành quyền lợi của mình, buộc chủ doanh nghiệp phải thực hiện trích nộp BHXH

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, cần xác định rằng họat động này là loại chính sách mà doanh nghiệp tham gia nhằm đảm bảo được tính ổn định nhân sự, sự ổn định này giúp doanh nghiệp mạnh dạn đề ra chiến lược phát triển

Trang 22

kinh doanh, mạnh dạn ký kết các hợp đồng để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Quán triệt được tư tưởng đó, sẽ làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, do đó, số doanh nghiệp tham gia BHXH càng nhiều, thì số thu BHXH sẽ càng cao Có rất nhiều doanh nghiệp hiện nay né tránh, cố tình trì hoãn tham gia trích nộp BHXH cho người lao động

Thứ ba, Nếu như tham gia BHXH bằng với thu nhập thực tế của người lao động trong thời kỳ họ còn làm việc, như vậy, mức thụ hưởng các chế độ sẽ cao, đảm bảo chi phí cho người lao động trong lúc hoạn nạn, ốm đau, thai sản, chết, … Mặt khác, khi về hưu, mức lương hưu sẽ đảm bảo chi phí sinh hoạt cho họ

Thứ tư, yếu tố tổng thu BHXH cũng phụ thuộc vào các quy định của nhà nước Nếu các quy định thích hợp, quản lý chặt chẽ và có các biện pháp chế tài cụ thể và nghiêm khắc, sẽ làm cho cả doanh nghiệp và người lao động không thể trốn nộp

Thứ năm, phương thức tính tiền đóng BHXH và mức thụ hưởng từ các chế độ, chính sách thuộc BHXH đều phụ thuộc vào mức lương trích nộp BHXH Chỉ có một số ít lao động đóng BHXH với mức lương đúng với mức thực lĩnh Còn lại người sử dụng lao động (thuộc các công ty TNHH, DNTN, Cổ phần trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ các nước Châu Aù như Hàn quốc, Đài Loan, ….) thường đóng BHXH theo mức lương tối thiểu theo từng thời kỳ do nhà nước quy định Mức lương này so với thu nhập thực tế của người lao động thì rất thấp

Cuối cùng, tỷ lệ trích nộp BHXH cũng là yếu tố quan trọng trong tổng số thu BHXH, tỷ lệ này cũng ảnh hưởng đến tâm lý của người tham gia BHXH, họ so sánh giữa mức đóng góp và mức thụ hưởng, các bên tham gia BHXH, nếu cảm thấy không phù hợp sẽ cố tình né tránh làm thất thu BHXH, doanh nghiệp

Trang 23

hiện nay đóng 15% lương cho BHXH, tuy nhiên, họ không hề nhìn thấy được lợi ích gì khi tham gia BHXH, chỉ thấy phải bỏ ra chi phí quá lớn Do đó, nếu tỷ lệ thích hợp, cân bằng giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ làm cho doanh nghiệp cảm thấy có sự công bằng, từ đó, tích cực tham gia BHXH hơn

1.4 Sơ lược về các chính sách chủ yếu của BHXH VN

1.4.1 Đối tượng thực hiện:

Đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc là người Việt Nam làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam; các tổ chức kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể; tổ chức chính trị, chính trị – xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân; các tổ chức khác có sử dụng lao động

Trước năm 2003, Nghị định 12/CP của Chính phủ quy định các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải sử dụng từ 10 lao động trở lên mới thuộc đối tượng thực hiện, nhưng kể từ tháng 01/2003, căn cứ Nghị định 01/2003/NĐ-CP thì người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, hoặc hợp đồng không xác định thời hạn ở mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đều là đối tượng bắt buộc thực hiện BHXH, bất kể họ làm việc trong cơ quan, tổ chức có sử dụng bao nhiêu lao động

1.4.2 Các chế độ trợ cấp:

1.4.2.1 Trợ cấp ốm đau:

Người lao động khi bị ốm đau phải tạm nghỉ việc được trả trợ cấp bằng 75% tiền lương trong thời gian từ 30 đến 60 ngày/năm tùy vào thời gian tham gia

Trang 24

BHXH và tính chất nặng nhọc, độc hại, khó khăn của công việc của họ Nếu là bệnh dài ngày thì được trợ cấp trong 180 ngày đầu là 75% tiền lương, quá thời

hạn trên thì mức trợ cấp sẽ là 65 - 70% tiền lương (từ 01/2007 mức hưởng tương

ứng sẽ là: 65%, 45% và 55%), tuỳ theo thời gian đóng BHXH;

Từ tháng 07/2002, nhà nước bổ sung chế độ nghỉ dưỡng sức Người lao động sau khi nghỉ vì ốm đau, thai sản, nếu sức khỏe còn yếu sẽ được nghỉ dưỡng sức thêm từ 5 đến 10 ngày nữa, với mức trợ cấp 50.000đ/ ngày, nếu là nghỉ tại

gia đình, 100.000đ/ ngày, nếu là đi nghỉ tập trung tại các nhà nghỉ (theoLuật mới

tương ứng là 25% và 40% mức lương tối thiểu chung)

1.4.2.2 Trợ cấp thai sản:

Lao động nữ khi thai sản (hoặc nhận nuôi con nuôi) được hưởng trợ cấp bằng 100% tiền lương tháng, trong thời gian từ 4 – 6 tháng, tùy theo tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của công việc, và được trợ cấp một lần bằng hai

lần lương tối thiểu chung

Ngoài ra, thời gian nghỉ việc hưởng chế đđộ thai sản, mặc dù không phải

đóng BHXH nhưng vẫn được tính là thời gian tham gia bảo hiểm xã hội

1.4.2.3 Trợ cấp tai nạn lao động (TNLĐ) – bệnh nghề nghiệp (BNN):

Người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp mà suy giảm từ 5% đến 30% khả năng lao động, được trợ cấp một lần từ 4 đến 12 tháng lương tối

thiểu (từ 01/2007 là 5 đến 17,5% tháng lương tối thiểu); bị suy giảm từ 31% đến

100% khả năng lao động, được trả trợ cấp hàng tháng suốt đời với mức từ 0,4

đến 1,6 tháng lương tối thiểu (từ 01/2007 là 0,3 đến 1,68 mức lương tối thiểu, và

được cộng thêm một khoản trợ cấp bằng 3% mức tiền lương, tiền công tính cho mỗi năm tham gia bảo hiểm xã hội)

1.4.2.4 Trợ cấp hưu trí:

Trang 25

Còn gọi là lương hưu, trả cho người lao động khi về nghỉ hưu Điều kiện hưởng là người lao động nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi, có tối thiểu 15 năm đóng BHXH Lương hưu được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương đóng BHXH hàng tháng cho 15 năm đóng BHXH đầu tiên, sau đó cứ thêm một năm đóng thì cộng thêm 2% (với nam) hoặc 3% (với nữ), nhưng tối đa là 75% Ngoài ra, cứ mỗi năm đóng BHXH vượt quá 30 năm (với nam), hoặc 25 năm (với nữ) thì được trợ cấp thêm một lần bằng nửa tháng lương bình quân Trong đó, mức bình quân tiền lương đóng BHXH đối với khu vực nhà nước được tính dựa trên mức tiền lương của 5 năm cuối, đối với các khu vực còn lại thì tính bình quân tiền lương cả quá trình đóng BHXH

Những lao động làm việc trong môi trường khó khăn, gian khổ, độc hại, nguy hiểm, hoặc có đủ 30 năm đóng BHXH, được nghỉ hưu trước tuổi quy định đến 5 năm; hoặc nếu có đủ 20 năm đóng BHXH và bị mất sức lao động từ 61% trở lên thì cũng được hưởng chế độ hưu trí mà không kể đến tuổi đời, nhưng với mức thấp hơn (trừ 1% cho mỗi năm về hưu trước tuổi)

Mức lương hưu thấp nhất cũng bằng mức tiền lương tối thiểu chung do nhà nước quy định từng thời kỳ

Từ 01/2007, phải có tối thiểu 20 năm đóng BHXH mới được hưởng chế độ hưu trí Mức bình quân tiền lương đóng BHXH làm căn cứ tính chế độ hưu trí của khu vực nhà nước dựa trên tiền lương của 5 năm, 6 năm, 8 năm hoặc 15 năm cuối cùng đóng BHXH, tùy theo thời điểm người lao động bắt đầu tham gia BHXH: trước 1995; từ 1995 đến 2000; từ 2001 đến 2006, và từ 2007 trở đi Đối với các khu vực còn lại thì vẫn tính bình quân tiền lương cả quá trình đóng BHXH

Những lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí thì được nhận trợ cấp một lần với mức: mỗi năm đóng BHXH được trợ cấp

Trang 26

một tháng rưởi (1,5) tiền lương, hoặc bảo lưu quá trình này để tiếp tục tham gia BHXH ở nơi khác, chờ đủ điều kiện thì hưởng chế độ hưu trí

1.4.2.5 Trợ cấp tử tuất:

Người lao động (hoặc người đang hưởng chế độ hưu trí) bị chết, thì thân nhân được nhận tiền mai táng phí bằng 10 tháng tiền lương tối thiểu, và trợ cấp tuất hàng tháng hoặc một lần Những thân nhân chủ yếu của người chết (cha, mẹ, vợ, chồng, con) đã quá tuổi lao động, hoặc chưa đến tuổi lao động được trợ cấp hàng tháng bằng 40% mức tiền lương tối thiểu chung Trường hợp thân nhân không còn ai thuộc diện này thì nhận trợ cấp một lần theo mức mỗi năm đóng BHXH được hưởng nửa tháng lương

1.5 Phân biệt BHXH với BH thương mại:

Hoạt động BH thương mại dựa trên các rủi ro khách quan, như thiên tai, hỏa hoạn, hoặc tai nạn của con người như bệnh, chết, … Đối tượng được bảo hiểm không nhất thiết phải là người lao động, đó có thể là con người, tài sản vật thể và phi vật thể Họ phải trả một mức phí bao gồm phí bảo hiểm, phí quản lý và có thể cả lãi suất cho cơ quan bảo hiểm Các công ty, đơn vị kinh doanh bảo hiểm hoạt động có tính chất kinh doanh rõ rệt

Bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm kinh doanh nhìn chung đều hướng về một mục đích là ổn định đời sống con người, những điểm khác nhau của hai loại bảo hiểm này được biểu hiện thông qua bảng phân tích sau đây:

Trang 27

Bảng 1.1 So Sánh BHXH và BH thương mại Nội dung Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm kinh doanh

Đối tượng - Con người (người lao động, công

chức, lực lượng vũ trang, … Là công dân nước sở tại

Con người, tài sản, …

Quan hệ BH - Lâu dài và tương đối ổn định,

tích dồn theo thời gian dự trên quan hệ lao động

- có thể dài hay ngắn tuỳ theo loại bảo hiểm

Hạch toán kinh doanh, lời ăn lỗ chịu

Mục đích chi Chi các chế độ BHXH, chi phí

quản lý và dự phòng, không phải nộp thuế

Chi cho bồi thường, chi để ngăn ngừa tai nạn có thể xảy ra, chi cho quản lý, dự phòng, nộp thuế ngân sách

Mô hình hoạt động BHXH Trung ương, BHXH địa

phương

Tập đoàn, Tổng công ty, công ty, các đại lý, chi nhánh

Trang 28

Qua bảng so sánh trên, BHXH thể hiện rõ bản chất của nó, không vì mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, BHXH mang tính nhân văn cao, mang đến cho người lao động đời sống vật chất cũng như tinh thần, thể hiện sự quan tâm của cộng đồng, của xã hội đối với người lao động

Trang 29

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 12

2.1 Tổng quan về quận 12:

2.1.1 Đặc điểm kinh tế, dân số của Quận 12:

Quận 12 là một trong những Quận mới được thành lập theo Nghị định số 03/CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 01/4/1997 theo đề nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh

Quận 12 được tách ra từ 7 xã của huyện Hóc môn cũ có truyền thống Cách mạng của quê hương 18 thôn vườn trầu, vườn cau đỏ, chiến khu Thạnh Lộc

- An Phú Đông, bao gồm 11 phường

Quận 12 nằm ở phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh về hướng Tây Ninh, Campuchia Ranh giới được xác định bởi: phía Đông giáp Quận Thủ Đức, tỉnh Bình Dương, xã Nhị Bình huyện Hóc Môn; phía Tây giáp xã Bà Điểm, xã Tân Xuân huyện Hóc Môn; phía Bắc giáp xã Đông Thạnh huyện Hóc Môn và phía Nam giáp quận Bình Thạnh, quận Gò vấp và quận Tân Bình

2.1.1.1 Sơ lược về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn quận:

* Về dân số:

Qua số liệu thể hiện trên phụ lục 1 nhận thấy dân số quận 12 tăng khá nhanh trong hai năm 1997 – 2005 Quy mô dân số từ 125.582 người năm 1997 lên 303.962 người năm 2005 Mức tăng dân số chủ yếu là tăng cơ học Tăng trưởng cơ học trong những năm qua một phần do lao động ở các khu vực lân cận đến quận 12 tìm kiếm việc làm, tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là các hộ gia

Trang 30

đình đến định cư trên địa bàn quận 12, do đó không có sự biến động nào lớn về

cơ cấu dân số theo độ tuổi

Sự gia tăng dân số trong thời gian vừa qua trên địa bàn quận 12 do chính sách giãn dân ở các quận trung tâm, từ các tỉnh, các huyện ngoại thành đến để tìm kiếm việc làm

* Ảnh hưởng sự gia tăng dân số đối với sự phát triển kinh tế của quận 12:

Dân số tăng nhanh sẽ tạo ra nguồn lao động ngày càng lớn, đây là một trong những yếu tố nội lực cơ bản, quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương

Dân số tăng nhanh trong khi hệ thống hạ tầng kỹ thuật - xã hội của Quận còn thấp kém chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu về nhà ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề của người dân

Tóm lại: Dân số quận 12 chủ yếu là dân số trẻ Phần lớn dân số nằm trong độ tuổi lao động Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 55% tổng dân số Dân số ngoài độ tuổi lao động chiếm 45%, trong đó từ 10 – 18 tuổi chiếm 17,14% Đây là lực lượng có thể bổ sung vào lực lượng lao động của quận 12 nhất là lao động trong các hộ gia đình

* Về lao động:

Lao động trên địa bàn quận 12 chủ yếu là lao động trẻ Lao động trong độ tuổi chiếm tỷ trọng lớn, năm 1997 chiếm 96,65%, năm 2005 chiếm 97% tổng số lao động và có xu hướng gia tăng

Sự phát triển kinh tế trên địa bàn quận 12 trong thời gian qua mặc dù đạt được mức tăng trưởng cao nhưng phải nhìn nhận rằng các ngành kinh tế chưa có khả năng thu hút hết lao động trên địa bàn Nhiều chỗ làm việc mới được tạo

ra nhưng còn ít so với nhu cầu tìm kiếm việc làm Mặt khác, trình độ văn hóa và

Trang 31

chuyên môn của người lao động hiện nay cũng là trở ngại đáng kể để có thể vào làm việc ở các xí nghiệp

2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế quận 12 giai đoạn 1997 – 2006:

Tình hình phát triển kinh tế quận 12 giai đoạn 1997 – 2006 được thể hiện cụ thể qua Phụ lục 3: “ Tình hình phát triển các ngành kinh tế chủ yếu Quận 12 giai đoạn 1997 – 2006”

Tình hình kinh tế quận 12 sau hơn 10 năm thành lập đã đạt được những thành tựu sau:

Cơ cấu kinh tế trên địa bàn chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng quy hoạch Ngành CN-TTCN giữ tỷ trọng ổn định (năm 1997 chiếm 38%, năm 2006 tăng lên 41%), ngành TM-DV ngày càng chiếm tỷ trọng cao (năm 1997 chiếm 51%, đến năm 2006 là 57%), tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm (năm

1997 chiếm 11%, đến năm 2006 còn 2%)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều vượt kế hoạch Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ từ 738.971 triệu đồng (năm 1997) đã tăng lên 3.336.532 triệu đồng (năm 2006), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 18,33%, trong đó, giá trị sản xuất CN-TTCN tăng 19,98% (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần II là 12 – 14%) tập trung các ngành chủ lực như: dệt, may, các sản phẩm từ kim loại … Các doanh nghiệp đã chủ động trong đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, với tổng vốn đầu tư là 1.019.870 triệu đồng đạt 203,9% so với giai đoạn 1997 – 2000 Số lượng và chất lượng sản phẩm được nâng lên, có uy tín trên thị trường

Về thương mại – dịch vụ, doanh số năm 1997 đạt 378.632 triệu đồng, đến năm 2005 đạt 1.587.778 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 19,63% (Nghị quyết Đại hội II là 12 – 14%), trong đó TM-DV ngoài quốc doanh chiếm 99,3% Một số chợ được xây dựng mới được đưa vào hoạt động phục vụ

Trang 32

nhu cầu tiêu dùng của người dân Sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tốc độ giảm bình quân hàng năm là 3,10% Nhiều mô hình sản xuất mới đáp ứng nhu cầu thị trường, nông sản phẩm hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao được thể nghiệm và đang từng bước được mở rộng như ba ba, cá sấu, hoa, cá kiểng … Hình thức sản xuất hợp tác được chú ý phát triển, đã hình thành làng nghề nuôi cá sấu và đang hình thành làng nghề hoa kiểng, cá cảnh …

2.2 Thực trạng hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn quận 12

2.2.1 Tổng quan về hoạt động quản lý thu BHXH qua các giai đoạn:

Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định 19/CP thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở trung ương và địa phương thuộc hệ thống lao động –thương binh và xã hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ chính sách BHXH theo pháp luật Nhà nước Trên cơ sở tách Huyện Hóc Môn ra thành Quận 12 và Huyện Hóc Môn năm 1997, BHXH Quận

12 ra đời và đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2003

2.2.1.1 Hoạt động quản lý thu Bảo hiểm xã hội trước năm 1995

Thời kỳ đầu chức năng thu và quản lý quỹ BHXH chưa được xác định rõ, chỉ đến khi có Nghị định số 39/CP ngày 22/3/1962 mới quy định nguồn thu và cơ quan chịu trách nhiệm Nguồn thu BHXH lúc này gồm:

- Tiền do các cơ quan, đơn vị, các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường… của Nhà nước nộp hàng tháng vào quỹ BHXH theo một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng quỹ tiền lương;

- Tiền trợ cấp hàng năm của Nhà nước cho quỹ BHXH trong những trường hợp thật cần thiết;

- Các khoản thu khác thuộc quỹ BHXH của Nhà nước

Trang 33

Cơ cấu hình thành quỹ BHXH về cơ bản là ổn định cho đến nay, chỉ có một số thay đổi đó là sau này có quy định rõ cả người lao động cũng phải tham gia BHXH và tỷ lệ đóng BHXH cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ

Quy định về quản lý thu BHXH thời kỳ trước 1995 mặc dù đã có cơ quan chịu trách nhiệm, nhưng cơ chế thực hiện lại không rõ nên đã phát sinh nhiều bất cập Cụ thể là phần quỹ do hệ thống Công đoàn thu và quản lý chỉ được phản ảnh trên sổ sách, còn thực tế là thực hiện phương thức khoán thu, khoán chi, nghĩa là đơn vị sử dụng lao động tự chi trả cho người lao động khi đủ điều kiện hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn, số còn lại mới nộp lên tổ chức công đoàn một tỷ lệ nhất định để chi hoạt động bộ máy quản lý Còn phần quỹ

do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý lại nhờ cơ quan thuế thu hộ (đối với các xí nghiệp, công, nông, lâm trường) phần đóng của đơn vị hành chính sự nghiệp thì do ngân sách nhà nước giữ lại ngay khi cấp lương cho đơn vị Còn các chế tài pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện thu, nộp BHXH gần như không có Với cơ chế và tổ chức thực hiện như vậy, cộng thêm điều kiện sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp luôn

gặp khó khăn, nên thời kỳ trước 1995 quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa

Do quản lý BHXH phân tán không tập trung, nên khi thực hiện đã phát sinh nhiều vấn đề chồng chéo, gây ách tắc làm ảnh hưởng đến hoạt động BHXH, đặc biệt là công tác thu nộp Vấn đề đặt ra trong công tác thu BHXH là không xác định được chính xác đến từng đối tượng, làm ảnh hưởng đến việc quản lý và tỷ lệ thu BHXH Và qua đó ta thấy rằng tổ chức thu và quản lý quỹ BHXH như ở trên còn chưa phù hợp với yêu cầu của công tác thu BHXH

Do đặc điểm của công tác thu BHXH trong thời kỳ này, việc thu BHXH được chia thành hai mảng: Ngành Lao động -Thương binh và xã hội quản lý thu

Trang 34

quỹ hưu trí- trợ cấp và Liên đoàn lao động thành phố quản lý thu quỹ ốm đau, thai sản

2.2.1.2 Thu BHXH do Ngành Lao động -Thương binh và Xã hội quản lý

Tỷ lệ thu BHXH trước năm 1988 là 1% trên tổng quỹ tiền lương để thực hiện chi trả các chế độ BHXH như: lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tuất Năm 1988 Chính phủ điều chỉnh tỷ lệ thu BHXH lên 10% quỹ tiền lương do cơ quan, xí nghiệp Nhà nước trích nộp trong đó trích lại 2% để chi trợ cấp khó khăn cho công nhân, viên chức, đến năm 1993 Chính phủ đã nâng mức thu BHXH từ 8% lên 15% quỹ tiền lương trong đó cơ quan, xí nghiệp phải trích nộp vào quỹ BHXH 10% quỹ tiền lương, cán bộ công nhân, viên chức phải nộp vào quỹ BHXH 5% tiền lương của bản thân mình Việc quy định người lao động phải nộp BHXH từ tiền lương của bản thân mình là một bước ngoặt trong việc đổi mới chính sách BHXH của Nhà nước để hoà nhập dần vào thông lệ chung của quốc tế quy định về hoạt động BHXH Kết quả thu BHXH trong thời kỳ 1975-1994 cho thấy tỷ lệ thu BHXH so với tỷ lệ chi BHXH là rất thấp Ngân sách Nhà nước luôn phải hỗ trợ cho việc chi các chế độ BHXH (nguồn: Sở Lao động

–Thương binh –Xã hội, Báo cáo năm 1975-2005)

2.2.1.3 Thu BHXH do Liên đoàn lao động Thành phố quản lý

Từ năm 1975 đến năm 1994 Liên đoàn lao động thành phố quản lý số tiền thu BHXH để chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, trợ cấp một lần Tỷ lệ thu BHXH bằng 5% quỹ tiền lương, quỹ BHXH không được quản lý tập trung và phương thức thu nộp BHXH là nộp phần chênh lệch sau khi chi các chế độ BHXH

Liên đoàn lao động thực hiện cơ chế khoán thu, khoán chi, tức là ủy quyền cho các đơn vị sử dụng lao động tự thu, tự chi các chế độ BHXH ngắn hạn Vì vậy, hoạt động quản lý thu BHXH do tổ chức công đoàn chịu trách

Trang 35

nhiệm chỉ được phản ảnh trên sổ sách chứng từ, còn thực tế tiền thu BHXH nằm lại đơn vị sử dụng lao động để chi trả cho người lao động Nên việc các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện việc thông báo cho tổ chức công đoàn về tình hình thu, chi BHXH các chế độ ngắn hạn của đơn vị là rất đơn giản và hoàn toàn thực hiện được Ngoài ra, trong giai đoạn 1975 – 1988, quỹ BHXH cũng được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần

Tóm lại, hoạt động BHXH trong thời kỳ này phân biệt thành 2 mảng khác nhau do hai cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau quản lý nên phương thức quản lý cứng nhắc trong việc xây dựng các chế độ nhưng lại lỏng lẻo trong việc điều hành tổ chức thực hiện, không phân biệt chức năng quản lý Nhà nước với chức năng quản lý quỹ BHXH Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều

cơ quan, đơn vị không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm BHXH Mặt khác do thực hiện cơ chế cung cấp và các ưu tiên khác đối với công nhân, viên chức Nhà nước nảy sinh tâm lý chung là mọi lao động làm việc ở các thành phần kinh tế khác, đều tìm mọi cách vào biên chế Nhà nước để được hưởng ưu đãi về chính sách BHXH Chính vì vậy công tác thu BHXH trong thời kỳ này đạt hiệu quả rất thấp, chưa xác định được đối tượng phải tham gia BHXH Hoạt động BHXH phụ thuộc nhiều vào Ngân sách Nhà nước

2.2.1.4 Hoạt động quản lý thu Bảo hiểm xã hội sau năm 1995

Từ ngày 01/7/1995 hệ thống BHXH chính thức hoạt động theo cơ chế mới, dựa trên nguyên tắc người lao động và người sử dụng lao động phải đóng BHXH để người lao động được hưởng các chế độ BHXH Có đóng BHXH mới được hưởng trợ cấp BHXH: đóng góp trước hưởng sau, người đang làm việc bù đắp cho người đã nghỉ, người khoẻ bù đắp cho người yếu Cơ chế mới này phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ

Trang 36

nghĩa Nó đã mở ra không gian rộng lớn cho tất cả người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, đều có quyền tham gia đóng và hưởng chế độ BHXH

2.2.2 Nội dung hoạt động thu Bảo hiểm xã hội

Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thu BHXH là phải thực hiện thu BHXH của tất cả đối tượng thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, do đó trong công tác thu BHXH đòi hỏi phải nắm chính xác quá trình tham gia BHXH của từng người lao động và nguồn hình thành quỹ BHXH Vì vậy hoạt động thu BHXH phải được xây dựng một cách đồng bộ có hệ thống đảm bảo các nguyên tắc và hướng đến mục tiêu phải đảm bảo việc xác định toàn bộ quá trình tham gia BHXH của từng đối tượng lao động và cơ chế hoạt động quỹ BHXH

Nội dung cơ bản của hoạt động thu BHXH bao gồm:

2.2.2.1 Đối tượng tham gia BHXH

Theo quan điểm của Tổ chức lao động Thế giới (ILO) thì đối tượng tham gia BHXH phải là những người lao động nằm trong độ tuổi được quy định trong luật định, đang làm việc, hoạt động trong một lĩnh vực nào đó để tạo ra sản phẩm xã hội và tạo ra thu nhập cho bản thân Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH sẽ được phân ra thành hai dạng:

- Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là những người lao động trong độ tuổi lao động nằm trong diện phải tham gia BHXH theo luật định Đầu tiên các nước đều thực hiện BHXH bắt buộc đối với công nhân viên chức Nhà nước, sau đó mới mở rộng dần ra cho người lao động khu vực ngoài quốc doanh, các thành phần kinh tế khác

- Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những cá nhân tự nguyện trong độ tuổi lao động thuộc lĩnh vực thành phần kinh tế khác, những người lao

Trang 37

động độc lập, nông dân, buôn bán nhỏ, thợ thủ công… do công việc nơi làm việc không ổn định, nên không được tham gia loại hình BHXH bắt buộc

BHXH tự nguyện còn là phương pháp chấp nhận được đối với những người lao động đã từng tham gia hình thức bắt buộc nhưng chưa đủ điều kiện hưởng nay muốn đóng góp vào chế độ dài hạn … người lao động trực tiếp đóng phí BHXH cho cơ quan BHXH Mục đích của loại hình này là để bảo vệ những người lao động khó có điều kiện tham gia loại hình bắt buộc, cũng như tạo ra những cơ hội lựa chọn tốt hơn cho người lao động nói chung

2.2.2.2 Tỷ lệ thu bảo hiểm xã hội bắt buộc:

Về tỷ lệ thu BHXH, không phải ngẫu nhiên mà các nhà hoạch định, xây

dựng chính sách BHXH định ra một tỷ lệ bất kỳ mà phải dựa trên các căn cứ pháp luật, trong đó có các căn cứ chủ yếu sau:

- Các chế độ và mức hưởng tối đa cho từng chế độ BHXH đã được Chính phủ quy định;

- Giá trị thực tế của mức tiền lương tối thiểu ở các thời kỳ khác nhau;

- Số người tham gia BHXH và dự kiến số tăng lên hàng năm

Trong nền kinh tế thị trường, BHXH được thực hiện theo cơ chế ba bên người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước :

- Người lao động khi tham gia BHXH phải đóng góp một phần trong tiền lương hoặc thu nhập của mình để tự bảo hiểm cho mình

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà họ thuê mướn hoặc sử dụng, thông qua đóng góp một phần trong quỹ lương trả cho người lao động

- Nhà nước với tư cách là “người sử dụng lao động” đối với đội ngũ công chức và những người hưởng lương từ ngân sách, có trách nhiệm đóng BHXH cho những đối tượng này, thông qua việc trích một phần từ quỹ tiền lương

Trang 38

(thực chất là từ ngân sách) để đóng góp BHXH Ngoài ra, với tư cách là người quản lý xã hội Nhà nước có những đóng góp gián tiếp hoặc có những hỗ trợ cho hoạt động tài chính BHXH

Trên cơ sở đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ đề xuất tỷ lệ thu cụ thể để hình thành quỹ BHXH theo cơ cấu:

+ Phần thu của người sử dụng lao động;

+ Phần thu của người lao động;

+ Phần Nhà nước đóng góp, hỗ trợ thêm;

+ Phần thu khác

Đây là cơ cấu hiện tại, còn những năm trước đây cơ cấu này không phải lúc nào cũng có đủ các nội dung trên Chẳng hạn, có thời kỳ người lao động không phải đóng BHXH, lại có thời kỳ người sử dụng lao động không phải đóng BHXH Như vậy cơ cấu này không phải là cố định mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước qua từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường tỷ lệ đóng góp của từng bên tham gia có thể có sự thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ Tiếp đến để đảm bảo các đối tượng tham gia đóng góp theo đúng tỷ lệ đã quy định thì chính sách về quản lý thu BHXH còn phải đưa

ra các quy định cụ thể để buộc các chủ thể tham gia phải thi hành nghĩa vụ đóng

BHXH theo quy định

* Nội dung cơ bản của nguồn hình thành quỹ BHXH bao gồm:

Những đóng góp của các bên tham gia BHXH nêu trên là những nguồn

cơ bản hình thành quỹ BHXH; ngoài ra quỹ BHXH còn có các nguồn thu khác như thu từ các hoạt động đầu tư; thu từ các khoản nộp phạt do chậm nộp BHXH của các cơ quan, doanh nghiệp; thu từ các hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các khoản thu khác Tổng quỹ BHXH được cơ cấu từ các nguồn thu như sau: Đóng góp của người lao động, của người sử dụng lao động, đóng góp hoặc hỗ trợ của

Trang 39

nhà nước, thu từ nộp phạt do chậm nộp BHXH của doanh nghiệp, khoản hỗ trợ quốc tế, khoản thu từ lãi đầu tư và thu khác

Mặc dù quỹ được hình thành từ nhiều nguồn nhưng chỉ có những người tham gia BHXH được hưởng thụ các nguồn tài chính đó, và cơ quan BHXH được quyền quản lý, sử dụng quỹ BHXH theo các chế độ, định mức mà Nhà nước đã ban hành, đảm bảo chính xác, trung thực, công bằng và hiệu quả

Quản lý nguồn hình thành quỹ BHXH bao gồm các nội dung sau:

-Một là: Quản lý sự đóng góp của chủ sử dụng lao động và người tham gia BHXH

-Hai là : Quản lý nguồn kinh phí do NSNN hỗ trợ

-Ba là : Quản lý nguồn lãi đầu tư tăng trưởng vào quỹ BHXH và các nguồn thu khác

Quỹ BHXH dùng để chi trả cho người được hưởng các chế độ BHXH: trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, tử tuất, chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho người lao động; khoản chi này chiếm tỷ trọng rất lớn Ngoài ra, quỹ BHXH còn chi phí để duy trì hoạt động của bộ máy cơ quan BHXH

2.2.3 Phân cấp và quy trình quản lý thu BHXH

2.2.3.1 Tổ chức phân cấp thu BHXH:

Công tác quản lý thu BHXH là cách thức tổ chức sắp xếp công tác thu BHXH do cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực BHXH quy định, nhằm hướng dẫn điều chỉnh các bộ phận trong hệ thống BHXH hoạt động theo một phương thức thống nhất

Trong công tác quản lý thu BHXH phân cấp quản lý thu BHXH sẽ đảm bảo cho công tác thu được đồng bộ, đảm bảo các yêu cầu về thông tin chỉ đạo, xử lý kịp thời các vướng mắc và chuyên môn hóa trong từng khâu Đối với việc

Trang 40

phân cấp của ngành BHXH hiện nay, công tác thu BHXH được phân thành các cấp quản lý theo mô hình

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH

Theo mô hình trên việc phân cấp quản lý được chia làm 3 cấp: trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện Trong 3 cấp quản lý này cấp BHXH tỉnh và cấp huyện trực tiếp thu BHXH của các đối tượng, cấp trung ương có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo nghiệp vụ, tổng hợp số liệu thu trong toàn quốc và nghiên cứu, xây dựng, tham mưu giúp lãnh đạo đưa ra các văn bản chỉ đạo, xử lý những vướng mắc trong công tác thu và trực tiếp chỉ đạo các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ thu BHXH

BHXH Cấp tỉnh có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo công tác thu BHXH trong địa bàn tỉnh và các quận, huyện, thu BHXH của các đơn vị có yếu tố nước ngoài, các đơn vị hành chính sự nghiệp cấp trung ương và cấp tỉnh đóng trên địa bàn, các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc các Bộ chuyên ngành, đồng thời có nhiệm vụ tổng hợp báo cáo số thu của toàn tỉnh gửi lên BHXH trung ương

BHXH Tỉnh 2 BHXH Tỉnh N

BHXH VN

BHXH Tỉnh 64

BHXH

Huyện 1.1

BHXH Huyện 1.n Huyện 64.1 BHXH

BHXH Huyện64.n BHXH Tỉnh

1

Ngày đăng: 26/03/2013, 19:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chiến lược phát triển BHXH Việt Nam đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999)
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1999
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Quyết định số 2902/1999/QĐ/BHXH ngày 23/11 về việc ban hành quy định quản lý thu bảo hiểm xã hội thuộc hệ thống BHXH Vieọt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999)
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1999
6. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Văn bản số 21/BHXH-HĐQL ngày 28/12 về việc trình thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành bảo hiểm xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000)
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2000
8. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2005), BHXH Việt Nam 10 năm xây dựng và phát trieồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2005)
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2005
9. Bảo hiểm xã hội Quận 12, Báo cáo tổng hợp thu từ năm 1996 - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội Quận 12
10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 1, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của Tổ chức Lao động Quốc tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang an sinh xã hội", tập 1, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: "Series of Manuals on Social Securirty
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1998
11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 2, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của Tổ chức Lao động Quốc tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang an sinh xã hội", tập 2, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: "Series of Manuals on Social Securirty
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1998
12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 3, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của Tổ chức Lao động Quốc tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang an sinh xã hội", tập 3, Dịch giả: Hà Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: "Series of Manuals on Social Securirty
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 1998
13. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1994), Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1994), "Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1994
14. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung), NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), "Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung)
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Bộ Tài chính – Lao động –Thương binh và Xã hội (1989), Thông tư liên bộ số 29-TT/LB ngày 16/6 sửa đổi phương pháp nộp BHXH do ngành Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính – Lao động –Thương binh và Xã hội (1989)
Tác giả: Bộ Tài chính – Lao động –Thương binh và Xã hội
Năm: 1989
20. Chính phủ (2002), Nghị định số 100/2002/NĐ-CP, ngày 6/12 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2002)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
21. Chính phủ (2003), Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 9/01/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP gày 26/1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2003)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
22. Chính phủ (2004), Nghị định số 204/ 2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2004)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
24. Cục Thống kê Quận 12 (2006), Niên giám thống kê 1997 - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê Quận 12 (2006)
Tác giả: Cục Thống kê Quận 12
Năm: 2006
25. Đỗ Văn Sinh (2004), Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, Luận văn tiến sỹ khoa học Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Sinh
Năm: 2004
26. Joseph E. Stiglitz (1995), Kinh tế công cộng, NXB Khoa Học Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế công cộng
Tác giả: Joseph E. Stiglitz
Nhà XB: NXB Khoa Học Kỹ Thuật
Năm: 1995
27. Liên đoàn lao động Tp.Hồ Chí Minh, Báo cáo thu năm 1975-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên đoàn lao động Tp.Hồ Chí Minh

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 So Sánh BHXH và BH thương mại - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 1.1 So Sánh BHXH và BH thương mại (Trang 27)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH. - quản lý và chống thất thu BHXH
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp quản lý thu BHXH (Trang 40)
Bảng 2.1 :  Số lao động tham gia theo khối loại hình năm 2006 - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 2.1 Số lao động tham gia theo khối loại hình năm 2006 (Trang 44)
Bảng 2.2 : Tổng hợp mức tiền lương đóng BHXH từ năm 2003 - 2005 - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 2.2 Tổng hợp mức tiền lương đóng BHXH từ năm 2003 - 2005 (Trang 47)
Bảng 2.3 : KẾT QUẢ THU BHXH TỪ NĂM 1997 – 2006 (DN ngoài QD) - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 2.3 KẾT QUẢ THU BHXH TỪ NĂM 1997 – 2006 (DN ngoài QD) (Trang 51)
Đồ thị 2.1 : KẾT QUẢ THU BHXH THỰC HIỆN TỪ 1997 - 2006 : - quản lý và chống thất thu BHXH
th ị 2.1 : KẾT QUẢ THU BHXH THỰC HIỆN TỪ 1997 - 2006 : (Trang 52)
Đồ thị 2.2 : So sánh tỷ lệ DN ĐKKD và DN tham gia BHXH  trên địa bàn Quận 12. - quản lý và chống thất thu BHXH
th ị 2.2 : So sánh tỷ lệ DN ĐKKD và DN tham gia BHXH trên địa bàn Quận 12 (Trang 53)
Đồ thị 2.3 : Số lao động tham gia BHXH từ 1997 – 2006. - quản lý và chống thất thu BHXH
th ị 2.3 : Số lao động tham gia BHXH từ 1997 – 2006 (Trang 54)
Bảng 2.4 : Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2003 - 2006 - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 2.4 Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2003 - 2006 (Trang 58)
ĐỒ THỊ 2.4: TÌNH HÌNH NỢ TỪ NĂM 2003-2006 2.61 - quản lý và chống thất thu BHXH
2.4 TÌNH HÌNH NỢ TỪ NĂM 2003-2006 2.61 (Trang 59)
Bảng 3.1: Mức đóng góp BHXH của Thái Lan - quản lý và chống thất thu BHXH
Bảng 3.1 Mức đóng góp BHXH của Thái Lan (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w