Với mục tiêu cụ thể làgóp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện Chương trìnhxây dựng nông thôn mới và đánh giá về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình;Đán
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi với sự giúp đỡ tậntình của cô giáo hướng dẫn, của tập thể trong và ngoài trường
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được sửdụng Các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc và tôi xin chịu trách nhiệm vềnhững số liệu trong bài luận văn này
Hà Nội, ngày 3 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Lê Vũ Nguyệt Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong KhoaKinh tế và PTNT, Bộ môn Phát triển nông thôn cùng toàn thể các thầy cô giáo trườngĐại học Nông Nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như hoànthành khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến ThS Trần Mạnh Hải, người thầy đãtrực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tốtnghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn UBND, HTXDVTH xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm,thành phố Hà Nội và các hộ nông dân trên địa bàn xã Đa Tốn đã giúp đỡ, tạo mọi điềukiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tại địa phương
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè
đã luôn bên em trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tuy có nhiều cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sótnhất định khi thực hiện đề tài Kính mong thầy, cô giáo tiếp tục giúp đỡ, chỉ bảo emhoàn thiện và phát triển đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Lê Vũ Nguyệt Anh
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là một chương trình tổng thểphát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở các địa phương Xây dựngNTM là cốt lõi của việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 26 về nông nghiệp, nôngthôn và nông dân, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước để phát triểnkhu vực nông thôn Là một trong 15 xã điểm được thành phố Hà Nội chọn để thựchiện Chương trình xây dựng NTM, xã Đa Tốn đã hoàn thiện 19 tiêu chí theo bộ tiêuchí quốc gia về xây dựng NTM do Thủ tường Chính phủ ban hành Xét trên thực tếtình hình tổ chức thực hiện xây dựng NTM tại xã Đa Tốn, tôi tiến hành nghiên cứu đềtài “Đánh giá của người dân về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựngnông thôn mới trên địa bàn xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” Với mụctiêu đánh giá về tình hình tổ chức thực hiện nông thôn mới trên cơ sở góc nhìn củangười dân từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất những giải pháp, nhằmtăng cường và thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địabàn xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội thời gian tới Với mục tiêu cụ thể làgóp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện Chương trìnhxây dựng nông thôn mới và đánh giá về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình;Đánh giá tình hình tổ chức thực hiện Chương trình nông thôn mới từ phía người dân
xã Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội; Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiệnChương trình nông thôn mới của xã; Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường và thựchiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương thời gian tới.Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến tổ chức thực hiện Chươngtrình xây dựng nông thôn mới, đánh giá của người dân về việc tổ chức thực hiệnChương trình nông thôn mới Đối tượng khảo sát tập trung vào người dân, ngoài ra đềtài còn tiến hành phỏng vấn cán bộ thực hiện, một số tổ chức, cơ quan, đoàn thể
Phần cơ sở lý luận đưa ra một số khái niệm cơ bản như sau: nông thôn, pháttriển nông thôn, nông thôn mới…; sự cần thiết phải xây dựng NTM; nguyên tắc xâydựng NTM Bên cạnh cơ sở lý luận, tôi đưa ra một số cơ sở thực tiễn sau: Kinh
Trang 4nghiệm của một số nước về xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới; xây dựngNTM ở nước ta; Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan.
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu đó là:phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý
và tổng hợp dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu Để thực hiện nghiên cứu tôi tiếnhành điều tra 60 hộ nông dân trên địa bàn xã Đa Tốn và Ban quản lý xây dựng NTM
Phần kết quả nghiên cứu đã nêu khái quát Chương trình xây dựng NTM trên địabàn xã Đa Tốn; Đánh giá của người dân về tình hình tổ chức thực hiện Chương trìnhxây dựng NTM trên địa bàn xã Từ đó nêu ra những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chứcthực hiện CHương trình xây dựng NTM và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện cóhiệu quả Chương trình trên địa bàn xã
Trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM, xã Đa Tốn đãđạt được rất nhiều thành tựu, nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của nhân dân trong
xã Tuy nhiên quá trình tổ chức thực hiện Chương trình của xã còn nhiều nội dungthực hiện chưa tốt Bằng cách phân tích những điểm mạnh yếu từ những ý kiến đánhgiá của người dân, đề tài đã đưa ra những kiến nghị và đề xuất với các cấp lãnh đạo vànhân dân trong xã nhằm tăng cường thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựngNTM tại xã Đa Tốn trong thời gian tới
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới 6
2.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 10
2.1.4 Nội dung tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 12
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 23
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn mới 23
2.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở nước ta 30
2.3 Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan 38
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng NTM 52
3.2 Phương pháp nghiên cứu 54
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra 54
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 55
3.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích thông tin 57
Trang 63.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 57
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1 Khái quát Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Đa Tốn 59
4.2 Đánh giá của người dân về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã 61
4.2.1 Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện Chương trình 61
4.2.2 Công tác tuyên truyền, vận động 64
4.2.3 Huy động đóng góp nguồn lực 69
4.2.4 Thực hiện những nội dung xây dựng nông thôn mới 73
4.2.5 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình 82
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM 84
4.3.1 Cơ chế chính sách 84
4.3.2 Các yếu tố nguồn lực 85
4.3.3 Sự tham gia của các tác nhân trong quá trình xây dựng NTM trên địa bàn 86
4.4 Những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã 87
4.4.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về xây dựng NTM đến toàn dân 87
4.4.2 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 88
4.4.3 Tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 88
4.4.4 Kết hợp xây dựng NTM với phong trào xây dựng làng văn hóa; gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường 89
4.4.5 Huy động nguồn lực cho xây dựng NTM 90
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
5.1 Kết luận 91
5.2 Kiến nghị 92
5.2.1 Với Nhà nước 92
5.2.2 Với chính quyền địa phương các cấp 92
5.2.3 Với hộ gia đình, doanh nghiệp 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7UBND Ủy ban nhân dân
VNVN Văn hóa văn nghệ
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn thể hiện sự quantâm của Đảng và Nhà nước đối với nông thôn và nông dân Đây là mục tiêu và cũng làyêu cầu của sự phát triển bền vững mang tầm chiến lược trong giai đoạn hiện nay Chủchương xây dựng nông thôn mới đã và đang được Đảng, Nhà nước và toàn dân quantâm hiện nay với mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới có kinh tế phát triển, thunhập của cư dân nông thôn ở mức cao và không ngừng được nâng cao, có đời sống vănhóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có cơ sở hạ tầng cho giáo dục, y tế, chăm sóc sứckhỏe và phục vụ sinh hoạt đồng bộ, hiện đại, môi trường cảnh quan được đảm bảo,tình hình chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội được duy trì và đặc biệt là khoảngcách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị được rút ngắn
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảngkhóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thônnhằm thực hiện mục tiêu quốc gia về triển khai một bước chương trình xây dựng nôngthôn mới Nghị quyết này đã tạo ra bước đi vững chắc giúp Việt Nam vượt qua cơnkhủng hoảng năm 2008 và giữ được mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2006 -
2010 đạt 3,36%/năm, vượt mục tiêu đại hội Đảng X đề ra Cơ cấu kinh tế nông thôn cóbước chuyển dịch tích cực Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn tiếp tục đượcnâng cấp và phát triển đồng bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển, nhất là
về thủy lợi, giao thông, điện, thông tin truyền thông, hạ tầng ý tế, giáo dục, thươngmại, nước sinh hoạt, văn hóa thể thao Xây dựng nông thôn mới được tích cực triểnkhai, đã trở thành phong trào rộng khắp cả nước (Thông báo số 179/TB - VPCP ngày
29 tháng 7 năm 2011)
Xây dựng nông thôn mới liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và là mộtvấn đề mới được triển khai trên phạm vi cả nước nhưng lại chưa có tiền lệ, chưa cóquy trình cụ thể, hoàn chỉnh nên trong tổ chức, thực hiện gặp nhiều khó khăn vừa làmvừa rút kinh nghiệm Vì thế, tuy quá trình triển khai chương trình này đã đạt được một
số kết quả bước đầu quan trọng, nhưng việc thực hiện chương trình này ở nhiều nơivẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi
Trang 9Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò chủ thể của người dân trong việc tham giaxây dựng Chương trình là rất quan trọng Đảm bảo phương châm “Dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng” Chúng ta không thể có nông thôn mới nếukhông đề cao vai trò chủ thể của người dân và người dân không nhiệt tình, tâm huyếtcùng với Đảng và Nhà nước trong cả quá trình xây dựng nông thôn mới Vì vậy,những đánh giá, nhìn nhận của người dân cần được quan tâm và xem xét để có nhữnghướng điều chỉnh phù hợp trong thời gian tới.
Đa Tốn là một xã thuộc huyện Gia Lâm, là một trong số các xã được lựa chọnthực hiện thí điểm và thành công về xây dựng mô hình nông thôn mới của thành phố
Hà Nội Cho đến nay, về cơ bản xã đã đạt được hầu hết các tiêu chí của mô hình nôngthôn mới Do đó, việc xem xét đánh giá tình hình tổ chức thực hiện Chương trình nôngthôn mới hiện nay ở xã Đa Tốn đang như thế nào? Có đúng như những gì đã xây dựng
và những kỳ vọng của chúng ta về Chương trình xây dựng nông thôn mới ở địaphương và đặc biệt là người dân trong xã – nơi mà về cơ bản đã đạt và xây dựng thànhcông Chương trình này đánh giá, nhìn nhận như thế nào về những mặt đạt được, mặthạn chế và cần phải làm gì trong thời gian tiếp theo là những vấn đề đặt ra hiện nay ởđịa phương
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá của người dân về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá về tình hình tổ chức thực hiện nông thôn mới trên cơ sở góc nhìn củangười dân từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất những giải pháp, nhằmtăng cường và thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địabàn xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 10- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiệnChương trình xây dựng nông thôn mới và đánh giá về tình hình tổ chức thực hiệnChương trình;
- Đánh giá tình hình tổ chức thực hiện Chương trình nông thôn mới từ phíangười dân xã Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội;
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Chương trình nôngthôn mới của xã;
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường và thực hiện có hiệu quả Chươngtrình xây dựng nông thôn mới tại địa phương thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát của đề tài tập trung vào: người dân, cán bộ thực hiện, 1
số tổ chức, cơ quan, đoàn thể
Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ năm 2010-2014
Số liệu sơ cấp được thu thập: 1/2014 - 5/2014
Các giải pháp đề xuất áp dụng: 2015 - 2020
Trang 11PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Nông thôn
Chủ thể nông thôn là một tập hợp dân cư với nhiều thành phần, trong đó chủyếu là nông dân Tập hợp dân cư này tồn tại dưới các hình thái: cá nhân, gia đình,dòng họ, cộng đồng…
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nôngthôn và còn nhiều quan điểm khác nhau Khi khái niệm về nông thôn người ta thường
so sánh nông thôn với đô thị Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối,thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc giatrên thế giới
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thểhiều: “Nông thôn là vùng sinh sống của một tập hợp dân cư (gắn với những điều kiện
về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù) Tập hợp dân cư này tham gia vào cáchoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhấtđịnh và chịu ảnh hưởng bởi các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Quan điểm về phát triển nông thôn ra đời và những năm 1970, trong bối cảnhquan điểm phát triển nông thôn gắn liền với phát triển nông nghiệp nảy sinh nhiều mặthạn chế đặc biệt là đời sống của người dân nông thôn không được cải thiện và môitrường bị đe dọa Do đó, nội dung của phát triển nông thôn là bên cạnh việc ưu tiênđầu tư thúc đẩy phát triển nông nghiệp thì chính phủ các nước có những can thiệp vàchỉ đạo nhằm thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, văn hóa, giáo dục và mội trường
ở vùng nông thôn
Trong điều kiện của Việt Nam, có thể hiểu “Phát triển nông thôn là một quátrình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường,
Trang 12nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cựccủa Nhà nước và các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
2.1.1.3 Nông thôn mới
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về nông thôn mới Nông thôn mới là nôngthôn có “diện mạo mới, sức sống mới”; “diện mạo mới, nông nghiệp mới, nông giamới”; “nông nghiệp phát triển, nông thôn văn minh, nông dân khá giả”; “sản xuất pháttriển, cuộc sống sung túc, môi trường sạch sẽ, làng văn minh, quản lý dân chủ” Kháiniệm NTM mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau Nhìn chung, mô hìnhNTM là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, dân chủ hóa, văn minh hóa Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu
về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thunhững thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa củangười Việt Nam
Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển; Có
sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; Đạt hiệu quả cao nhất trêntất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Tiến bộ hơn so với mô hình cũ; Chứađựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạođộng lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện chính sách vìnông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, vănhóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị Đây là quá trìnhlâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần lãnh đạo, chỉ đạo trongđường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trướcmắt cũng như lâu dài
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ cấukinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanhcông nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắcvăn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thốngchính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố
Trang 13liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vữngchắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhhướng XHCN Như vậy, hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hìnhnông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệphiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị
Do đó, có thể quan niệm: “NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thànhmột kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nôngthôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nôngthôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt” (Phan Xuân Sơn và cộng sự, 2009)
2.1.1.4 Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả vềnông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa
đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với cácchính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắcphục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộngđồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang,sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếpsống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vậtchất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệpcách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới khôngchỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp Xây dựng nôngthôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡnhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Có thể quan niệm: “Xây dựng nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấutrúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt
ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn mới được xây dựng sovới mô hình nông thôn cũ truyền thống, đã có tính tiên tiến về mọi mặt”
2.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Trang 14Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quantrọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm anninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinhthái của đất nước
Sau hơn 20 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nôngnghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn.Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; cáchình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăngcường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân
cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạtkết quả to lớn Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ
cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Vị thếchính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.Tuy nhiên, những thành tựuđạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Quátrình phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thách thức:
• Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát
- Thiếu quy hoạch sản xuất Nông nghiệp – TTCN - Dịch vụ
- Không có quy chế quản lý phát triển theo quy hoạch
- Nông thôn xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê pha tạp, lộn xộn,môi trường ô nhiễm, nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống bị huỷ hoại hoặc mai một
• Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầuphát triển lâu dài
- Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ kênhmương đã được kiên cố hóa do xã quản lý còn thấp Giao thông chất lượng thấp,không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụtốt cho sản xuất, lưu chuyển hàng hóa Hệ thống lưới điện hạ thế chất lượng còn thấp,quản lý mạng lưới điện ở nông thôn còn yếu, hao tổn điện năng lớn
Trang 15- Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học ở nông thôn có tỷ lệ đạtchuẩn còn thấp Hầu hết các thôn không có nhà văn hóa, khu thể thao quy định.
• Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống nhân dân còn ở mức thấp
- Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu nhưng quy mô nhỏ
- Kinh tế trang trại (hình thức sản xuất hiệu quả nhất trong nông nghiệp hiệnnay) còn rất hạn chế
- Đa số HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu
- Doanh nghiệp nông nghiệp không đáng kể
- Liên kết tổ chức sản xuất hàng hoá yếu
- Đời sống người dân nông thôn còn ở mức thấp
• Các vấn đề văn hóa – môi trường – giáo dục – y tế
- Giáo dục mầm non: 45,5% thôn không có lớp mẫu giáo, 84% không có nhàtrẻ
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 16,8%, chất lượng rất thấp, nhất là ở vùng sâu,vùng xa
- Tệ nạn xã hội tăng, hủ tục lạc hậu còn dai dẳng
- Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển
- Môi trường sống ô nhiễm
• Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ năng lực và điều hành)
Do yêu cầu nâng cao mức thụ hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới đối vớigiai cấp nông dân (giai cấp đã cùng với giai cấp công nhân đi suốt chiều dài lịch sửcủa Đảng Cộng sản Việt Nam) Trong cuộc kháng chiến, giai cấp nông dân là đội quânchủ lực của cách mạng nước ta đã đóng góp hi sinh nhiều nhất sức người, sức của chocông cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người” Trong hòa bình, giai cấp nông dân là lực lượng đi đầu trong
sự nghiệp đổi mới và ngay trong thời kì suy giảm kinh tế (năm 2008) nông nghiệp
Trang 16cũng trụ đỡ giúp cho nền kinh tế nước ta vượt qua khủng hoảng Như vậy, với hơn70% dân số , nông dân nước ta là lực lượng cốt yếu giữ cho đất nước ổn định nhưngtrên thực tế giai cấp nông dân bị thiệt thòi nhiều nhất, được thụ hưởng thành quả củacông cuộc đổ mới thấp nhất: Cơ sở hạ tầng hạn chế, điều kiện sản xuất, sinh hoạt khókhăn, thu nhập thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ thấp, chất lượng cuộc sống thấp,người dân phải đóng góp nhiều… vì vậy cần xây dựng nông thôn mới để nhà nướcquan tâm hỗ trợ nhiều hơn cho nông dân Do yêu cầu giảm sự chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn Thu nhập bình quân của người nông dân cả nước chỉ bằng 1/2 bìnhquân chung, nhiều nơi còn thấp hơn, chỉ từ 200 – 300 USD.
Thực trạng nông thôn hiện nay, người dân không muốn ở nông thôn khá phổbiến Tình trạng nữ hóa lao động, già hóa nông dân diễn ra ngày càng mạnh mẽ Tìnhtrạng chung là “ngành nông nghiệp ít người muốn vào, nông thôn ít người muốn ở,nông dân ít người muốn làm” Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Để công nghiệp hóa cần 3 yếu tố chính: Đất đai, vốn và lao động kỹ thuật cả
3 yếu tố này đều thuộc về nông nghiệp và nông dân, qua xây dựng nông thôn mới sẽquy hoạch lại ruộng đất, đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằmđưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo chiều sâu, hình thành một số vùng sản xuấtchuyên canh tập trung; nhiều mặt hàng nông sản đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.Kết cấu hạ tầng nông thôn ngày một hoàn thiện, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi,điện, thông tin liên lạc, trường học, trạm y tế… đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầuchăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.Thương mại, dịch vụ vùng nông thôn không ngừng phát triển, góp phần quan trọng tạoviệc làm, tăng thu nhập cho người dân vùng nông thôn, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực, tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp giảmdần, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thônđược củng cố; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộikhu vực nông thôn ổn định
Trang 17Bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều lĩnh vực thì trong nôngnghiệp và nông thôn cũng còn nhiều bất cập như: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơcấu lao động còn chậm; nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng chưa cao, năng lựccạnh tranh thấp Tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nôngnghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa Về xây dựng quan hệ sảnxuất trong nông nghiệp, nông thôn còn mang tính phong trào chưa phù hợp với tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất Mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới chưa đủ sứcthuyết phục, thu hút nông dân tham gia, dù xu thế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp
là một tất yếu khách quan Một số chính sách xã hội được triển khai thực hiện ở nôngthôn còn chậm và chưa đồng bộ Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưabền vững An ninh nông thôn nhiều nơi còn diễn biến phức tạp Khoảng cách chênhlệch thu nhập giữa dân cư thành thị với dân cư nông thôn ngày càng giãn ra…
Mặt khác, mục tiêu mà Đảng và Chính phủ đặt ra đến năm 2020 nước ta cơ bảntrở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp thì không thể có nền nôngnghiệp, vùng nông thôn lạc hậu và những người nông dân nghèo khó Từ đó, việc xâydựng nông thôn mới là hết sức cần thiết, nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thônlên vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bềnvững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Góp phần phát triển kinh tế - xãhội nông thôn mang tính bền vững, tăng thu nhập và nâng cao mức sống người dânnông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
2.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Theo thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC, ngày 13tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ Kế hoạch và đầu
tư và bộ Tài chính) hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTGngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục
Trang 18tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 đã đề ra 6 nguyên tắctrong xây dựng nông thôn mới như sau:
- Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tớimục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tạiQuyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ (sauđây gọi chung là Bộ tiêu chí quốc gia NTM)
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhànước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗtrợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồngngười dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ
có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyhoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phâncấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án củaChương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng,thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát,đánh giá
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủyđảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề
án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hộivận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
2.1.4 Nội dung tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương, các lợi thế cũng như nănglực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân mà từ đó xác định nội dung xây dựng
Trang 19nông thôn mới cho phù hợp Xét trên khía cạnh tổng thể thì nội dung chủ yếu trongxây dựng nông thôn mới bao gồm:
2.1.4.1 Thành lập bộ máy quản lý, thực hiện
Cấp xã, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo Chươngtrình xây dựng NTM của tỉnh, thành phố (gọi chung là Ban Chỉ đạo tỉnh):
a) Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhândân tỉnh - Trưởng Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh làmTrưởng ban, Phó Trưởng ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 PhóTrưởng ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BanChỉ đạo là lãnh đạo các sở, ban ngành liên quan Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnhgồm Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xâydựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính;
Ban Chỉ đạo tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành việc thực hiện cácnội dung của Chương trình xây dựng NTM trên phạm vi địa bàn
b) Ban Chỉ đạo tỉnh thành lập Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựngNTM đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giúp Ban Chỉ đạo tỉnh thực hiệnChương trình trên địa bàn Số lượng cán bộ của Văn phòng Điều phối do Trưởng Banchỉ đạo tỉnh quyết định, trong đó có cán bộ hoạt động chuyên trách, chủ yếu là cán bộChi cục Phát triển nông thôn và cán bộ hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm là cán bộcấp phòng của các Sở, Ngành liên quan cử đến Chánh Văn phòng Điều phối là Lãnhđạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Chánh văn phòng Điều phối nên doChi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn đảm nhiệm
Cấp huyện, thị xã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM củahuyện, thị xã (gọi chung là Ban Chỉ đạo huyện)
a) Ban Chỉ đạo huyện do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịchUBND huyện là Phó Trưởng ban Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liênquan của huyện;
Trang 20Ban Chỉ đạo huyện có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành việc thực hiệncác nội dung của Chương trình NTM trên phạm vi địa bàn:
- Hướng dẫn, hỗ trợ xã rà soát, đánh giá thực trạng nông thôn; tổng hợp chungbáo cáo Ban Chỉ đạo tỉnh;
- Hướng dẫn, hỗ trợ xã xây dựng đề án xây dựng NTM; giúp UBND huyện tổchức thẩm định và phê duyệt đề án theo đề nghị của UBND xã
- Giúp UBND huyện quyết định đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật cáccông trình được ngân sách nhà nước hỗ trợ trên 03 tỷ đồng trong tổng giá trị của côngtrình;
- Tổng hợp kế hoạch thực hiện các nội dung của Chương trình xây dựng NTMtrên địa bàn hàng năm và 5 năm báo cáo Ban Chỉ đạo tỉnh
b) Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ quanthường trực điều phối, giúp Ban Chỉ đạo huyện thực hiện Chương trình xây dựngNTM trên địa bàn
Cấp xã:
a) Căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyếtđịnh việc thành lập hoặc không thành lập Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã.Trường hợp thành lập, thành phần Ban chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã do Ủy bannhân dân cấp tỉnh quyết định
b) Thành lập Ban quản lý xây dựng NTM xã do Ủy ban nhân dân xã quyết địnhthành lập Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởngban Thành viên là một số công chức xã, đại diện một số ban, ngành, đoàn thể chính trị
xã và trưởng thôn Thành viên Ban quản lý xã chủ yếu hoạt động theo chế độ kiêmnhiệm
- Ban quản lý xã trực thuộc UBND xã, có tư cách pháp nhân, được mở tàikhoản và sử dụng con dấu của UBND xã trong hoạt động giao dịch với các tổ chức, cánhân liên quan theo quy định của pháp luật
- Ban quản lý xã có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây:
Trang 21+ Ban quản lý xã là chủ đầu tư các dự án, nội dung xây dựng nông thôn mớitrên địa bàn xã UBND tỉnh và UBND huyện có trách nhiệm hướng dẫn và tăng cườngcán bộ chuyên môn giúp các Ban quản lý xã thực hiện nhiệm vụ được giao.
+ Tổ chức xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch tổng thể và kế hoạch đầu tưhàng năm xây dựng NTM của xã, lấy ý kiến các cộng đồng dân cư trong toàn xã vàtrình cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện, giám sát các hoạtđộng thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã
+ Quản lý và triển khai thực hiện các dự án, nội dung bao gồm việc thực hiệncác bước từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, nghiệm thu bàn giao và đưa dự án vàokhai thác, sử dụng
+ Được ký các hợp đồng kinh tế với các đơn vị có tư cách pháp nhân, cộngđồng hoặc cá nhân cung cấp các hàng hóa, xây lắp và dịch vụ để thực hiện các côngtrình, dự án đầu tư
Trong trường hợp, đối với các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi cótrình độ chuyên môn mà Ban quản lý xã không đủ năng lực và không nhận làm chủđầu tư, UBND xã có thể thuê một đơn vị/tổ chức có đủ năng lực quản lý để hỗ trợ hoặcchuyển cho UBND huyện làm chủ đầu tư, có sự tham gia của lãnh đạo Ban quản lý xã.Việc thuê đơn vị/tổ chức có đủ năng lực thực hiện theo các quy định hiện hành củaNhà nước
Cấp thôn, bản, ấp (gọi chung là thôn): Thành lập Ban phát triển thôn, thànhviên là những người có uy tín, trách nhiệm và năng lực tổ chức triển khai do cộngđồng thôn trực tiếp bầu và Chủ tịch UBND xã có quyết định công nhận (gồm ngườiđại diện lãnh đạo thôn, đại diện các đoàn thể chính trị và hội ở thôn và một số người
có năng lực chuyên môn khác liên quan đến xây dựng NTM)
Ban phát triển thôn có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây:
a) Tổ chức họp dân để tuyên truyền, phổ biến cho người dân hiểu rõ về chủtrương, cơ chế chính sách, phương pháp; các quyền lợi và nghĩa vụ của người dân,
Trang 22cộng đồng thôn trong quá trình xây dựng NTM Triệu tập các cuộc họp, tập huấn đốivới người dân theo đề nghị của các cơ quan tư vấn, tổ chức hỗ trợ nâng cao năng lựccủa người dân và cộng đồng về phát triển nông thôn.
b) Tổ chức lấy ý kiến của người dân trong thôn tham gia góp ý vào bản quyhoạch, bản đề án xây dựng NTM chung của xã theo yêu cầu của Ban quản lý xã
c) Tổ chức xây dựng các công trình hạ tầng do Ban quản lý xã giao nằm trênđịa bàn thôn (đường giao thông, đường điện liên xóm, liên gia; xây dựng trường mầmnon, nhà văn hóa thôn)
d) Tổ chức vận động nhân dân tham gia phong trào thi đua giữa các xóm, các
hộ tập trung cải tạo ao, vườn, chỉnh trang cổng ngõ, tường rào để có cảnh quan đẹp Tổchức hướng dẫn và quản lý vệ sinh môi trường trong thôn; cải tạo hệ thống tiêu, thoátnước; cải tạo, khôi phục các ao hồ sinh thái; trồng cây xanh nơi công cộng, xử lý rácthải
e) Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, chống các hủ tục lạc hậu, xâydựng nếp sống văn hóa trong phạm vi thôn và tham gia các phong trào thi đua do xãphát động
g) Tổ chức các hoạt động hỗ trợ các hộ nghèo và giúp đỡ nhau phát triển kinh tếtăng thu nhập, giảm nghèo
h) Tự giám sát cộng đồng các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn thôn.Thành lập các nhóm quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng các công trình sau khinghiệm thu bàn giao
i) Đảm bảo an ninh, trật tự thôn xóm; Xây dựng và tổ chức thực hiện hươngước, nội quy phát triển thôn
2.1.4.2 Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nội dung này được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện, trong đóban chỉ đạo các cấp tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu các chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước, xây dựng chuyên mục về xây dựng NTM trên các
Trang 23phương tiện thông tin đại chúng của địa phương trong suốt quá trình thực hiện Chươngtrình xây dựng NTM.
Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khudân cư” gắn với xây dựng NTM theo hướng dẫn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
2.1.4.3 Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Mục đích: Làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung, kế hoạch thực hiện đề ánnông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia NTM
Yêu cầu và tổ chức thực hiện:
a) Thành lập tổ khảo sát đánh giá: Thành phần gồm đại diện lãnh đạo UBND
xã, cán bộ chuyên môn, đại diện một số thôn trong xã; mỗi thôn thành lập nhóm khảosát (khoảng 5 - 6 người) để hỗ trợ cho tổ khảo sát xã thực hiện nhiệm vụ khảo sát,đánh giá thực trạng tại thôn đó
b) Tổ chức nghiên cứu các văn bản hướng dẫn về đánh giá thực trạng nôngthôn, lập kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ của tổ khảo sát đánh giá
c) Tiến hành đánh giá thực trạng: Tổ khảo sát phối hợp với các nhóm ở cácthôn, bản tiến hành đo đạc, ước tính hoặc tính toán từng nội dung các tiêu chí
d) Tổng hợp kết quả và xác định rõ thực trạng của xã so với yêu cầu của Bộ tiêuchí quốc gia NTM như: Số tiêu chí đạt, mức đạt; những tiêu chí chưa đạt, mức đạt cụthể từng chỉ tiêu của tiêu chí
2.1.4.4 Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Nội dung quy hoạch NTM gồm:
a) Quy hoạch sử dụng đất bố trí dân cư và hạ tầng công cộng theo chuẩn NTM.b) Quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (bao gồm: Trồng trọt, chănnuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp), đất cho sản xuất công nghiệp - dịch vụ và hạ tầng phục
vụ sản xuất kèm theo
2.1.4.5 Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Trang 24Đề án xây dựng NTM của xã phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
a) Kết quả khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêuchí quốc gia NTM, quy hoạch NTM của xã, …
b) Mục tiêu đề án: Đạt được các tiêu chí quốc gia của xã NTM
c) Danh mục các công trình, dự án nhằm đạt được từng tiêu chí quốc gia xãNTM, thứ tự ưu tiên thực hiện Các công trình, dự án trong đề án phải nằm trongkhuôn khổ các nội dung xây dựng NTM nêu trong Quyết định số 800/QĐ-TTg và thựchiện theo các thông tư, văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành theo phân công của Thủtướng Chính phủ tại Quyết định số 800/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn cụ thể củađịa phương
d) Tổng dự toán ngân sách thực hiện đề án, trong đó làm rõ nhu cầu vốn từ cácnguồn cho từng công trình, dự án theo quy định trong Quyết định số 800/QĐ-TTg
e) Kế hoạch tổng thể và lộ trình thực hiện đề án (xác định cho từng công trình,
dự án và nhu cầu vốn theo từng nguồn):
- Trong kế hoạch cần phân rõ loại công việc do xã tổ chức quản lý; loại côngtrình, công việc giao cho thôn; loại công việc giao cho hộ tự lo; loại công việc giao chocác đoàn thể chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp đảm nhận
- Làm rõ các công việc cần kêu gọi đầu tư của tư nhân, doanh nghiệp hoặc kêugọi tài trợ bên ngoài
- Kế hoạch của xã phải phù hợp quy hoạch, kế hoạch chung của huyện, khảnăng của xã và được cộng đồng người dân trong xã tham gia ý kiến (có ít nhất 80% số
hộ dân đồng thuận)
g) Các giải pháp thực hiện đề án: Các giải pháp về vốn, về nguồn nhân lực, về
kỹ thuật, về bảo vệ môi trường …
Sau khi Ban quản lý xã dự thảo xong đề án (bao gồm cả danh mục các côngtrình, dự án và kế hoạch tổng thể thực hiện), bản dự thảo đề án được công bố côngkhai tại trụ sở UBND xã và được chuyển cho các trưởng thôn để chủ trì tổ chức họpvới tất cả các hộ dân trong thôn, có sự tham gia của các đoàn thể xã hội để thảo luận
Trang 25lấy ý kiến đóng góp Các ý kiến đóng góp của nhân dân được ghi thành biên bản vàđược chuyển tới Ban quản lý xã và Hội đồng Nhân dân xã Trong vòng 15 ngày saukhi bản dự thảo đề án được công bố công khai và sau khi đã họp lấy ý kiến nhân dân,Hội đồng Nhân dân xã tổ chức cuộc họp nghe ý kiến đại diện các thôn, ý kiến giảitrình, tiếp thu của Ban quản lý xã, trên cơ sở đó ban hành Nghị quyết thông qua đề ánhoặc yêu cầu Ban quản lý xã chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp.
Đề án xây dựng NTM sau khi được UBND huyện phê duyệt phải được công bốcông khai cho nhân dân trong xã biết để thực hiện
2.1.4.6 Tổ chức thực hiện đề án
Để thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới sẽ căn cứ theo:
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/82009 của bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thônmới
Các tiêu chí được chia thành 5 nhóm:
- Quy hoạch (1 tiêu chí)
- Hạ tầng kinh tế xã hội (8 tiêu chí)
- Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí)
- Văn hóa – xã hội và môi trường (4 tiêu chí)
- Hệ thống chính trị (2 tiêu chí)
19 tiêu chí của Chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung nhưsau:
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Trang 26 Giảm nghèo và an sinh xã hội
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nôngthôn
Phát triển giáo dục đào tạo
Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hộitrên địa bàn
Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
2.1.4.7 Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình.
Ban Chỉ đạo tỉnh chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về chất lượng, tiến độ,hiệu quả Chương trình trên địa bàn tỉnh Căn cứ mục tiêu của Chương trình xây dựngNTM giai đoạn 2010 - 2020 và điều kiện thực tế của tỉnh, chỉ đạo Ban Chỉ đạo cáchuyện xây dựng các chỉ tiêu đạt được theo tiến độ từng năm, từng giai đoạn và kết thúcChương trình để làm cơ sở giám sát đánh giá kết quả Chương trình trên địa bàn toàntỉnh
Ban Chỉ đạo tỉnh chỉ đạo các đơn vị, Ban Chỉ đạo các huyện thường xuyên tổchức kiểm tra thực hiện Chương trình; tổng hợp, báo cáo kết quả đánh giá về Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn
Ban Chỉ đạo tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành, các huyện, các đơn vị liên quantạo điều kiện để Hội đồng Nhân dân các cấp địa phương, Mặt trận Tổ quốc và cơ quanđoàn thể xã hội các cấp, cộng đồng tham gia giám sát và phối hợp giám sát thực hiệnChương trình
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
Trang 27- Chủ trì phối hợp các Bộ, ngành liên quan đề xuất kế hoạch và tổ chức kiểmtra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình hàng năm, giữa kỳ và khi kếtthúc Chương trình;
- Phối hợp với Kiểm toán Nhà nước xây dựng kế hoạch kiểm toán thực hiệnChương trình hàng năm trình Chính phủ quyết định
2.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
2.1.5.1 Cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quyết tâm trong xây dựng NTM thông quacác mục tiêu phấn đấu trong quá trình xây dựng NTM là xây dựng nông thôn có kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chứcsản xuất hợp lý, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng caotheo định hướng xã hội chủ nghĩa Để xây dựng NTM, Đảng và Nhà nước đã ban hànhcác cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoàn thiện xây dựng Các cơ chế, chính sách này
có ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện trong xây dựng NTM của các địa phương
Nó đem lại các tác động về kinh tế, xã hội và môi trường ở nơi thực hiện xây dựngNTM Quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của
mô hình Cách thức tiến hành đúng tiến độ, thời điểm tạo động lực đẩy mạnh hoànthiện, tuy nhiên nếu chủ quan, nóng vội sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của mô hình
2.1.5.2 Trình độ và năng lực của cán bộ thực hiện
Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng, đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệuquả của công tác thực hiện xây dựng NTM “Cán bộ là gốc của mọi việc”, do đó nănglực quản lý, điều hành thực hiện xây dựng NTM cũng như năng lực chuyên môn củatừng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện các tiêu chí Cán bộ có năng lựctốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạođộng lực phấn đấu hoàn thiện các tiêu chí và ngược lại sẽ làm mất lòng tin của nhândân
2.1.5.3 Nhận thức và sự tham gia của người dân
Trang 28Sự tham gia của quần chúng là yếu tố chủ yếu, là một trong những thành tốchính của sự phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây Sự tham gia của quầnchúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và tậndụng năng lực, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển Nó giúp xácđịnh nhu cầu của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứngnhững nhu cầu này Hơn nữa, quần chúng là đối tượng hưởng lợi chính, trực tiếp của
mô hình NTM
Trình độ học vấn, chuyên môn của hộ, sự phát triển của kinh tế hộ, sự nhậnthức về vai trò, ý nghĩa của chương trình đối với địa phương ảnh hưởng trực tiếp đếncác hình thức tham gia và mức độ tham gia xây dựng NTM của địa phương Các hìnhthức tham gia là: Có quyền được biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liênquan mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ Được tham dự các buổi họp, tự dophát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề trong xây dựng NTM.Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề ưu tiên; Cùngđóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn Ngườidân cùng được lập kế hoạch dự án và quản lý điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giácác chương trình dự án phát triển cộng đồng Mức độ tham gia vào xây dựng NTMcòn ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện các tiêu chí Xây dựng NTM là quá trìnhphát triển, xây dựng nông thôn hiện đại có dựa vào năng lực của cộng đồng, do vậy,năng lực của người dân, sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả của mô hình do người dân là đối tượng hưởng lợi trực tiếp
2.1.5.4 Điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương
Cơ cấu đất đai: ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách dồn điền đổi thửa,công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng gây ảnh hưởng tới công tác quy hoạch, gây ảnhhưởng đồng bộ tới việc hoàn thiện các tiêu chí xây dựng NTM
Nguồn lao động: có vai trò lớn trong quá trình thực hiện xây dựng NTM Gópphần đẩy nhanh hoàn thành tiêu chí Địa phương có nguồn lao động dồi dào tham giavào xây dựng NTM thì sẽ tiết kiệm được nguồn kinh phí do không phải thuê từ bênngoài, hơn nữa tạo nên sự đoàn kết trong dân, cùng nhau đóng góp xây dựng NTM
Trang 29Nguồn vốn: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự thành công của mô hình.Nguồn vốn đáp ứng được cho công tác thực hiện xây dựng góp phần hoàn thiện cáctiêu chí do đây là yếu tố tiên quyết Nguồn kinh phí này được đầu tư từ nhiều nguồnnhư ngân sách của nhà nước, của thành phố, huyện và của xã; sự đóng góp của cácdoanh nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn và đặc biệt là nguồn huy động từ trong dân.Nguồn vốn tự lực của địa phương thường là nguồn thu từ các hoạt động đấu giá đất,cho thuê đất trên địa bàn hay bán đất giãn dân Để xây dựng NTM có hiệu quả và đúngtiến độ thì cần các cơ chế đặc thù đẩy mạnh sự tham gia, đóng góp của nhân dân vàcác tổ chức, doanh nghiệp, tăng cường nguồn vốn ngân sách, giải ngân hợp lý.
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn mới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc, từ một nước thuộc địa đến tận cuối thế kỷ XIX, đã đi lên từ vị trígiữa những nước nghèo nhất thế giới nay trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ 12 trênthế giới, Hàn Quốc đã cho thấy sức mạnh và tiềm năng khổng lồ của mình Nền tảng
cơ bản cho sự vươn mình nỗ lực đó chính là Saemaul Undong - mô hình phát triểnlàng mới mang đặc sắc riêng Hàn Quốc
Tháng 4/1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động “ Phong trào nông thôn mới”với cách thức hoạt động chủ yếu là “ Chính phủ là chủ đạo, cung cấp nguyên liệu, tàiliệu Hội nông dân tổ chức cho nông dân thực thi cụ thể” Tinh thần Seamaul Undongđược xây dựng với ba trụ cột “chuyên cần - tự giác - hợp tác” Ba trụ cột đó là nhữnggiá trị xuyên suốt trong quá trình phát triển nông thôn nói riêng và phát triển xã hộiHàn Quốc nói chung, được công nhận đã góp công đưa GNP bình quân từ 85USD lên20.000USD sau 30 năm phát triển Tới nay, thông qua phong trào NTM, Hàn Quốc đãphổ cập được hạ tầng cơ sở nông thôn khá đồng bộ và hiện đại, thu hẹp khoảng cáchgiữa thành thị và nông thôn, nâng cao trình độ tổ chức của nông dân, chấn hưng tinhthần quốc dân, cuộc sống của người nông dân cũng đạt đến mức khá giả, nông thônHàn Quốc cũng đã bắt kịp tiến trình hiện đại hóa của đất nước, đồng thời đưa thu nhập
Trang 30của Hàn Quốc đạt chỉ tiêu của một quốc gia phát triển (Tintucxalo.vn Phát triển nông thôn - Từ điểm nhìn Hàn Quốc)
2.2.1.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thônchiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nôngnghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: tăng cường vai trò của cá nhân vàcác tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nângcao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt độngchuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm
xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro
và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranhvới các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công táctiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đógóp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi nhữngkhu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đếnviệc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canhtác
Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước có chiến lược xây dựng và phân bốhợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảmtưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa vàcác loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nôngthôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cảnước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trungvào các nội dung sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn,đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nộilực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầutiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Trang 31Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nôngnghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nôngsản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy,những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sởphát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này,
có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc CNH - HĐH thành công nôngnghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình CNH - HĐH đất nước
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản trong phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Oita là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam Nhật Bản, cách Thủ đô Tokyo khoảng
500 km Cuối những năm 70, khi Nhật Bản đã cơ bản thực hiện xong công cuộc côngnghiệp hóa đất nước, các ngành công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở khuvực thành phố tạo nên sự thu hút mạnh mẽ về lao động từ các vùng nông thôn, trong
đó có Oita Thế hệ trẻ sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đềukhông muốn trở về vùng nông thôn nơi họ đã được sinh ra và lớn lên mà muốn ở lạicác thành phố và trung tâm công nghiệp Điều này đã dẫn đến tình trạng hoang tàn vàgiảm dân số nghiêm trọng ở vùng nông thôn nói chung và Oita nói riêng – hầu như chỉcòn người già và con trẻ ở những khu vực này
Đứng trước tình hình đó, ngay sau khi được bổ nhiệm làm người đứng đầu tỉnhOita, ngài Morihiko Hiramatsu đã đề xuất một loạt sáng kiến để khôi phục lại kinh tếcủa Oita, trong đó có Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Hợp tác xã nông nghiệp Oyama được trưng bày riêng một khu vực gọi là
“Konohana Garten” và bán với hình thức đưa hàng đến giao hàng ngày cho hệ thốngcác siêu thị trên toàn đất nước là một giải pháp thị trường mang tính sáng tạo cao Chấtlượng chính là yếu tố thành công của phong trào, yếu tố này không chỉ thể hiện ở bảnthân chất lượng của hàng hóa được kết tinh ở công nghệ chế biến và bảo quản đã đượcgiám định kỹ lưỡng bởi các cơ quan chức năng cũng như bởi ý thức sản xuất hàng hóachất lượng cao trong hành vi của người Nhật Bản mà còn thể hiện rất rõ ở nghệ thuậtbao bì, đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện cho việc vận chuyển, sử dụng của người
Trang 32tiêu dùng Ngoài hệ thống cửa hàng tại các siêu thị, các sản phẩm của Hợp tác xã nôngnghiệp Oyama còn được bán ở hệ thống các trạm nghỉ dọc đường (tiếng Nhật là:Michi-no-Eki).
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng, Phong tràocũng đề cao vai trò của việc nghiên cứu phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Vì đâychính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển một cách bền vững Và một yếu tố khác khiếncho Phong trào OVOP thành công tại Nhật Bản đến như vậy là vì Phong trào đã hìnhthành nên cho người sản xuất tinh thần lao động với ý thức rất cao về sản phẩm củamình làm ra
Năm 2003, thu nhập bình quân đầu người của người dân Oita đạt 22.800USD/người/năm, cao gấp 2 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai Phong trào Giá trịsản phẩm nông nghiệp bình quân đầu người cũng cao gấp đôi Trong đó sản phẩmchanh Kabosu của tỉnh này vươn lên chiếm 100% thị phần trong nước Phong trào đãnhanh chóng lan ra nhiều nước ở châu Á, châu Phi như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn
Độ, Tuynidi
Có 3 nguyên tắc cơ bản để phát triển Phong trào OVOP:
Hành động địa phương nhưng tư duy toàn cầu
Tự tin sáng tạo
Phát triển nguồn nhân lực
Mỗi địa phương, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ranhững sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu
tố thành công chủ yếu của Phong trào OVOP là việc nhận biết những nguồn lực chưađược sử dụng tại địa phương trước khi vận dụng nguồn lực một cách sáng tạo để cungcấp trên thị trường Trong Phong trào ở Oita, người ta có thể tìm ra những sản phẩmrất bình dị trong cuộc sống như nấm Shitake và các sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mỹnghệ ở thị trấn Yufuin, cam, cá khô ở làng Yonouzu, chè và măng tre ở làngNatkatsu…Trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, Phong trào "Mỗi làng một sản phẩm"
Trang 33đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên/năm (trên 1.1 tỷ USDhay 19.000 tỷ đồng Việt Nam).
Tổng kết bài học kinh nghiệm trong phát triển nông thôn của các quốc giaPhát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiệnnay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thếgiới Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho ViệtNam Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy,những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sởphát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này,
có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóathành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước
Từ kinh nghiệm trong PTNT ở các nước cho thấy: Dù đây là các quốc gia đitrước trong vấn đề hiện đại hóa trong tiến trình hiện đại hóa, họ đều tương đối chútrọng vào công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn Các cách làm này chủ yếu baogồm: Kịp thời điều chỉnh mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn, quan hệ giữa côngnghiệp và nông nghiệp; Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hiện đại; Cố gắng nâng caothu nhập cho nông dân; Nâng cao trình độ tổ chức cho người nông dân; Thúc đẩy đổimới kỹ thuật, bồi dưỡng nông dân theo mô hình mới
Bất luận tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế nào, cácnước có đa phần dân số làm nghề nông cũng buộc phải chấp nhận một thực tế: Vàichục năm, thậm chí hàng trăm năm nữa, số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để mưusinh vẫn là số lớn Bởi vậy, PTNT không phải là một quy hoạch kinh tế ngắn hạn, mà
là một quốc sách lâu dài
2.2.2 Xây dựng nông thôn mới ở nước ta
2.2.2.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước
Mô hình nông thôn mới không phải bây giờ chúng ta mới đặt ra Có thể nói,phát triển nông thôn Việt nam đã trải qua nhiều năm luôn gắn liền với giai đoạn phát
Trang 34triển của đất nước Trong thời kì bao cấp vừa kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miềnNam, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở niềm Bắc, ta cũng đã đầu tư xây dựng một số môhình Song do nguồn lực khó khăn và tư duy bao cấp lúc bấy giờ nên hiệu quả manglại rất hạn chế.
Trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển nông thôn, ban Kinh tế Trungương cùng với bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có văn bản số 185/KTTW-BNN ngày 7 tháng 5 năm 2001 về việc ban hành Đề cương đề án xây dựng mô hìnhphát triển nông thôn (cấp xã) theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa
và dân chủ hóa
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã banhành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4năm 2009 Tiếp đó ban Bí thư TW Đảng có thông báo số 238-TB/TW tháng 4 năm
2009 về việc xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới Mục đích của việc làm thíđiểm là xác định rõ hơn nội dung, phạm vi, nguyên tắc, phương pháp, cách thức xâydựng nông thôn mới, quan hệ trách nhiệm trong chỉ đạo xây dựng nông thôn mới củacác cấp, các ngành; có được mô hình thực tế về các xã nông thôn mới của thời kì côngnghiệp hóa – hiện đại hóa để nhân dân học tập làm theo Chương trình được thí điểmtại 11 xã thuộc 11 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa của cả nước Thời gianthí điểm trong 2 năm (từ 6/2009 – 6/2011) sau đó sẽ tổng kết và bổ khuyết cho việctriển khai chương trình nông thôn mới
Sau hơn 2 năm triển khai những kinh nghiệm rút ra tử chỉ đạo điểm đã giúp choChính phủ quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010
và phát động phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”.
2.2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương.
Xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình
Nói về kinh nghiệm trong quá trình triển khai xây dựng NTM ở Thái Bình,trước hết, đội ngũ cán bộ phải thực sự có năng lực, tâm huyết với công việc, có sựđoàn kết nhất trí cao từ xã đến thôn Trong mọi phong trào, cán bộ luôn gương mẫu,
Trang 35tiên phong đi đầu, đúng với tinh thần “cán bộ đi trước, làng nước theo sau” có nhưvậy mới tạo sự đồng thuận, nhất trí, tin tưởng cao trong nhân dân Tuyên truyền cũng
là một trong những yếu tố tiên quyết làm nên thành công trong xây dựng NTM ở địaphương Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động: qua Đài truyền thanh xã, cácpanô, khẩu hiệu, các hội nghị… quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy tối đa cùngvới phương châm “công khai, dân biết, dân bàn, dân làm” nên tư tưởng, nhận thức củangười dân được nâng cao Từ đó tạo ra sự đồng tình, hưởng ứng và tích cực tham giathực hiện các tiêu chí
Bên cạnh chính sách, cơ chế hỗ trợ của trung ương và tỉnh, các xã triển khai xâydựng nông thôn mới của Thái Bình đã dồn điền đổi thửa thành công, vận động nhândân hiến đất làm đường giao thông nông thôn, đóng góp tiền của, công sức, hiến kếxây dựng nông thôn mới Điều đó khẳng định sự đồng thuận cao của nhân dân khi thựchiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới là vì nông nghiệp- nông dân, nông thôn, làmcho kinh tế phát triển, nhân dân là chủ thể, đời sống nông dân sung túc, bộ mặt nôngthôn đổi mới, các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy
Với vai trò lãnh đạo, Đảng ủy các xã đã cụ thể hóa các mục tiêu trong tiến trìnhxây dựng NTM bằng các nghị quyết chuyên đề, chọn ra các nhiệm vụ trọng tâm,nhiệm vụ mang tính đột phá, ảnh hưởng đến lợi ích của toàn dân để lãnh đạo thựchiện Với mỗi tiêu chí, đặc biệt là các tiêu chí cần huy động nguồn kinh phí lớn, xãluôn xây dựng một định mức cụ thể, thống nhất và công khai trong toàn xã, trong đó
ưu tiên xã hội hóa trong việc kiến thiết các công trình Bên cạnh đó, xác định vai tròchủ thể của người dân trong tiến trình xây dựng NTM, tỉnh Thái Bình luôn chủ động,khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ cấp trên Hàng năm, xây dựng quỹNTM do xã quản lý việc sử dụng, việc khai thác nguồn thu giao cho các thôn phụtrách, vừa tạo tính chủ động, vừa huy động tối đa nguồn thu Trong quá trình triển khaixây dựng, các xã cũng luôn chú trọng việc tuyên truyền, nêu gương các điển hình tiêntiến có đóng góp với phong trào chung nhờ đó khích lệ, cổ vũ nhân dân hăng háichung tay xây dựng Phát huy tối đa nội lực, tạo sự đồng thuận, tập hợp và huy độngđược sức dân, thể hiện được vai trò cộng đồng là chủ thể cùng sự gương mẫu đi đầu
Trang 36của mỗi cán bộ, đảng viên chính là chìa khóa thành công trong xây dựng NTM màThái Bình đã làm được.
Xây dựng nông thôn mới ở xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà TĩnhTrong sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ, chính quyền vànhân dân xã Gia Phố đã đoàn kết, phấn đấu, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, gắnvới tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn ngày càng vững mạnh.Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Ban Chấp hành Đảng
bộ Huyện đã ra Nghị quyết 03-NQ/HU “Về lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng NTM giaiđoạn 2012 - 2015”; UBND Huyện có Kế hoạch số 175/KH-UB để tổ chức thực hiện;đồng thời, thành lập Ban Chỉ đạo, xác định đơn vị điểm, phân khai nguồn kinh phí hỗtrợ các xã Nhằm phát huy lợi thế của địa phương trong xây dựng NTM, Huyện ủy raNghị quyết chuyên đề về phát triển chăn nuôi; phê duyệt danh mục hàng hóa sản phẩmchủ lực; ban hành các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn Huyện chỉ đạo việc thực hiện Chương trình mục tiêu xây dựng NTM trên địa bàn phảiđược tiến hành đồng bộ, bền vững, công khai, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ; khắcphục biểu hiện nóng vội, làm không đến nơi, đến chốn, gây thất thoát, lãng phí ngânsách, tài sản của Nhà nước và nhân dân
Xã đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệmcủa các lực lượng tham gia trong quá trình thực hiện chương trình Nội dung tuyêntruyền tập trung làm rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu đạt được của Chương trình mụctiêu Quốc gia xây dựng NTM Hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, phù hợpvới đặc điểm của từng vùng; gắn tuyên truyền, giáo dục chung (thông qua Website củaHuyện, hệ thống phát thanh, truyền hình, sinh hoạt thôn, bản…) với tuyên truyền đếntừng cơ quan, doanh nghiệp, hộ dân trên địa bàn Nhờ đó, nhận thức, trách nhiệm củacấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện Chương trình mục tiêuQuốc gia xây dựng NTM được nâng lên; sự đồng thuận xã hội được tăng cường; vaitrò của Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân Huyện đượcphát huy
Trang 37Nhiều hộ nông dân đã tích cực tham gia xây dựng NTM bằng những việc làm
cụ thể, như: hiến kế, hiến đất, hiến vườn, tham gia lao công ích xây dựng các côngtrình giao thông, thủy lợi, vệ sinh môi trường, xây dựng đời sống văn hóa mới ở khudân cư Với chức năng, nhiệm vụ của mình, các phòng, ban của Huyện đã tham mưuđắc lực cho Huyện ủy, UBND Huyện và tập trung chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở phát huynội lực, thực hiện tốt nội dung, chương trình xây dựng NTM; từng bước tháo gỡ khókhăn, vướng mắc; tăng cường đoàn kết nội bộ, chung sức, chung lòng, phấn đấu vì sựgiàu, đẹp của quê hương Đồng thời, khắc phục nhận thức cho rằng chương trình xâydựng NTM chỉ là “dự án” xây dựng cơ sở hạ tầng, do cấp trên đầu tư kinh phí, nên có
tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện
2.3 Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan
1 Trong nghiên cứu của Đào Xuân Anh (2011) có tên “Xây dựng nông thônmới ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh hải Dương” Bằng các phương pháp chọn điểm nghiên cứu
và điều tra; phương pháp thu thập số liệu; phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin, sốliệu, phương pháp so sánh, cân đối, chuyên gia chuyên khảo, đề tài đã nêu lên đượctình hình xây dựng NTM trên địa bàn; vai trò của một số tổ chức đoàn thể trong xâydựng NTM; mức độ hoàn thiện các tiêu chí và nêu lên được tác động của chủ trươngxây dựng NTM tại địa bàn Qua đó đề tài đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện xâydựng NTM
2 Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiệu (2011) có tên “Sự tham gia củangười dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình NTM ở xã Hải Đường, huyệnHải Hậu, tỉnh Nam Định” Qua việc đưa các phương pháp chọn điểm nghiên cứu, thuthập, phân tích và xử lí thông tin, các phương pháp chuyên gia chuyên khảo vào quátrình nghiên cứu đề tài tại xã Hải Đường, tác giả đã nêu lên được vai trò của người dân
và các tổ chức xã hội trong quá trình thực hiện xây dựng NTM Nghiên cứu cũng chothấy, xây dựng NTM trong thời điểm phát triển kinh tế xã hội, phát triển đất nước nhưhiện nay là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhận được sự đồng thuậncủa cán bộ và nhân dân địa phương Sự tham gia của người dân được bắt đầu từ côngtác tuyên truyền, họp bàn, đưa ra ý kiến, tham gia xây dựng, đóng góp và kiểm tra chất
Trang 38lượng của các hoạt động trong xây dựng NTM Qua đây tác giả cũng đề xuất các giảipháp nhằm tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội, góp phần thúcđẩy xây dựng thành công NTM trên địa bàn.
Qua nghiên cứu tìm hiểu về tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đềtài, ta thấy rằng có rất nhiều tài liệu đã nghiên cứu về NTM cũng như xây dựng môhình NTM Ngoài cơ sở lý luận chặt chẽ và sâu sắc còn có kinh nghiệm của các nướctrong việc xây dựng NTM, đưa đất nước đi lên từ nông nghiệp Từ kinh nghiệm củaHàn Quốc trong mô hình làng mới, hay kinh nghiệm của Thái Lan từ mỗi địa phươngmột sản phẩm, Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều, điển hình như ở nghiên cứu xâydựng mô hình đô thị làng quê ở Quảng Nam, hay xây dựng các vùng chuyên canh ởnhững địa phương có sản phẩm đặc thù, cùng với sự đồng lòng của nhân dân để xâydựng thành công mô hình NTM
Trang 39PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý
Xã Đa Tốn nằm ở phần đất phía Nam của huyện Gia Lâm, sau nhiều lần hợpnhất và chia tách, tới năm 1966 thì được chính thức thành lập với tên là xã Đại Hưngsau này đổi tên là xã Đa Tốn hiện nay Xã Đa Tốn phía Bắc giáp Thị trấn Trâu Quỳ vàTrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, phía Đông giáp Kiêu Kỵ, phía Tây giáp xãĐông Dư và Bát Tràng, phía Nam giáp 2 xã Cửu Cao và Phụng Công (thuộc huyện
Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).(Báo cáo tóm tắt quy hoạch nông thôn mới xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm giai đoạn 2006- 2010)
b Đặc điểm địa hình
Đặc điểm nổi bật của địa hình ở Đa Tốn là tương đối bằng phẳng, độ cao trungbình so với mặt nước biển khoảng 3.0 – 3.5 m Độ dốc địa hình chính từ Đông Bắcxuống Tây Nam Khu vực Đông Bắc có độ cao lớn hơn (bình quân 3.5 – 3.8 m), khuvực Tây Nam cao trung bình 3.0 – 3.5m; các khu dân cư cao trung bình 4.0 – 5.0 m
Với đặc điểm địa hình của xã như trên cho phép xây dựng các khu sản xuấthàng hóa tập trung quy mô thích hợp đối với nhiều loại cây trồng, vật nuôi trong sảnxuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong địa bàn xã không có các sông, hồ tựnhiên lớn Do đó, việc xây dựng các công trình là rất thuận lợi
c Khí hậu, thủy văn
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên khí hậu của xã Đa Tốn cũng chịuảnh hưởng bởi nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình của Việt Nam, đó là kiểu khíhậu có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 cho tới tháng 10, đặc trưng là nống ẩm, mưanhiều và mùa đông lạnh, đầu mùa khô hanh, cuối mùa ẩm ướt do mưa phùn kéo dài (từtháng 11 tới tháng 4 năm sau) Sự phân hóa theo mùa rõ rệt mang tính biến động mạnh
mẽ và chịu ảnh hưởng của biển Sự phân hóa nhiệt độ liên quan đến phương vỹ tuyến
Trang 40và khoảng cách với biển, thể hiện rõ qua sự ảnh hưởng của gió đất và gió biển Trênphạm vi toàn toàn vùng đồng bằng sông Hồng, hướng gió thổi từ đất liền và từ biểnthường trùng với hướng gió mùa và hướng các thung lũng rộng, nên gió biển thổi vàođất liền khá sâu, tạo nên sự đồng nhất tương đối về nhiệt độ trên toàn vùng Nhiệt độkhông khí trung bình hàng năm vào khoảng 23,60C Lạnh nhất vào tháng 1 nhiệt độthấp nhất là 80C, những tháng nóng nhất trong năm tập trung vào tháng 6 – 7 với nhiệt
Hằng năm khu vực chịu ảnh hưởng của khoảng 5 – 7 cơn bão Bão mạnh nhấtlên đến cấp 9, cấp 10 làm đổ cây cối, nhà cửa và gây thiệt hại lơn cho mùa màng, bãothường trùng với mùa nước sông Hồng lên cao đe dọa đến đời sống và sản xuất củanhân dân các vùng ven sông cũng như làm trở ngại cho một số hoạt động của nhân dântoàn vùng
Xã Đa Tốn chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn của các sông: sông Hồng lưuthượng trung bình hằng năm là 2.710 m3/s mực nước lũ thường cao 9 – 12 m, sôngCầu Bây mực nước cao 3 m, sông Bắc Hưng Hải độ cao mực nước sông là +1,97 m,mực nước lũ là +7,00 m
Như vậy, khí hậu xã Đa Tốn nhìn chung là tương đối thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp, đặc biệt là đối với sự sinh trưởng và phát triển cây ăn quả
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đất đai
Đất đai của xã Đa Tốn chủ yếu là đất phù sa không được bồi hằng năm của hệthống sông Hồng Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ; đất ít chua,dinh dưỡng trong đất tương đối khá, nghèo lân, giàu kali