Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”.. Với mục tiêu chung l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội” được thực hiện
từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiềunguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, có một sốthông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp
và xử lý
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănnày là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì luận văn nàokhác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm Sinh viên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn, em đã nhận được sựgiúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quí báu của các thầy giáo, cô giáotrường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Lê Khắc Bộ là người đãtận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn UBND phường Thạch Bàn, phòng kinh tế,phòng thống kê, các phòng ban và các hộ dân đã giúp đỡ và tạo điều kiệnthuận lợi cho em trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện luận văn
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, tạođiều kiện và động viên của em trong suốt quá trình học tập của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Việt Nam đang đi trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa vớimục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp.Khắp nơi trên mọi miền đất nước đều đang chuyển mình theo con đường màĐảng, Nhà nước và Chính phủ đã chọn Vì vậy, đô thị hóa là xu thế tất yếutrên con đường phát triển của Việt Nam
Không nằm ngoài sự phát triển chung đó, tiến trình đô thị hóa cũngđang diễn ra nhanh chóng ở phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố
Hà Nội Quá trình đô thị hóa ở Thạch Bàn đã và đang ảnh hưởng to lớn đếnđời sống của người dân nơi đây Nhiều vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống
đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Thạch Bàn Hàng loạt các câu hỏi đangcần có sự tư vấn như:
- Thực trạng đô thị hóa ở Thạch Bàn như thế nào?
- Mức sống của người dân ở phường Thạch Bàn thay đổi như thế nào?
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư phường Thạch Bànnhư thế nào?
- Giải pháp nào để nâng cao mức sống cho người dân địa phương?
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
Với mục tiêu chung là khảo sát thực trạng đô thị hóa và mức sống dân
cư, phân tích các yếu tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mức sống củangười dân phường Thạch Bàn, từ đó có cơ sở khoa học đề xuất giải pháp nângcao mức sống của người dân trên địa bàn phường trong quá trình đô thị hóa.Mục tiêu cụ thể của đề tài: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn
về đô thị hóa, quá trình đô thị hóa, mức sống của người dân và các vấn đềkinh tế - xã hội có hiệu quả Đánh giá thực trạng đô thị hóa và mức sống dân
Trang 4cư ở Thạch Bàn trong những năm vừa qua Phân tích ảnh hưởng của quá trình đôthị hóa đến mức sống của người dân phường Thạch Bàn Đề xuất giải pháp nângcao mức sống của người dân trên địa bàn phường trong quá trình đô thị hóa
Bài khóa luận được phân tích dựa trên cơ sở cơ sở lí luận và cơ sở thựctiễn về mức sống dân cư trong quá trình đô thị hóa Trong cơ sở lí luận tôi đưacác vấn đề chung về đô thị, đô thị hóa, mức sống dân cư bao gồm khái niệm,đặc điểm, vai trò và phân loại Từ những nội dung đó rút ra được tính tất yếucủa đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống của người dân Cơ
sở thực tiễn chúng tôi đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm về xây dựng phát triển
đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư ở một số nướctrên thế giới sau đó đánh giá tình hình đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóađến mức sống dân cư ở Việt Nam
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu như chọn địa điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu sơcấp và thứ cấp, phương pháp xử lí thông tin, phương pháp thống kê mô tả,phương pháp so sánh, phương pháp kiểm định phi tham số - Kiểm định Chi –square Trong bài còn sử dụng các chỉ tiêu nghiên cứu, bao gồm: hệ thống chỉtiêu phản ánh mức độ đô thị hóa, chỉ tiêu mức sống dân cư, chỉ tiêu phản ánhmối quan hệ giữa đô thị hóa với mức sống dân cư
Ở phần kết quả nghiên cứu, đầu tiên chúng tôi trình bày thực trạng đôthị hóa ở phường Thạch Bàn về qui hoạch xây dựng, cơ sở hạ tầng vật chất,văn hóa, xã hội, chính trị, môi trường trên địa bàn Sau đó chúng tôi đánh giámức sống dân cư, thu nhập, chi tiêu, tiếu kiệm, phúc lợi xã hội của các hộ dântrước và sau khi Thạch Bàn trở thành phường của Quận Long Biên Từ kếtquả đánh giá đó chúng tôi phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sốngdân cư phường Thạch Bàn qua phương pháp kiểm định Chi – square bao gồmảnh hưởng đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Trang 5Sau khi phân tích thực trạng địa bàn và phân tích ảnh hưởng của quátrình đô thị hóa đến mức sông người dân, chúng tôi đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao mức sống dân cư phường Thạch Bàn như: giải pháp về kinh
tế, y tế, giáo dục đào tạo, nhà ở, điện, nước sạch, thể dục thể thao, giải trí,phát triển môi trường bền vững, an sinh xã hội, công bằng trong đóng góp vàhưởng lợi, dịch vụ công, giải pháp xử lý ngoại ứng tiêu cực
Phát triển kinh tế với tốc độ cao, đời sống người dân không ngừng đượccải thiện là vấn đề cơ bản được đặt ra cho chính quyền phường Thạch Bàntrong quá trình ĐTH đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay Để đạt được những mụctiêu trên, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước, với thành phố,quận Long Biên và các hộ nông dân trên địa bàn phường Thạch Bàn nhằmnâng cao mức sống người dân trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Trang 61.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu3
Phần II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC SỐNG DÂN CƯ
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.1 Những vấn đề lí luận chung 4
2.1.2 Tính tất yếu của đô thị hóa 15
2.1.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống của người dân 15
Trang 7Phần III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu31
3.2.2 Thu thập số liệu 32
3.2.3 Phương pháp xử lí thông tin 33
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 33
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 35
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Thực trạng đô thị hóa ở phường Thạch Bàn 39
4.1.1 Qui hoạch và thực hiện 39
4.1.2 Hạ tầng cơ sở vật chất 42
4.1.3 Văn hóa, xã hội, chính trị, môi trường 44
4.2 Đánh giá mức sống dân cư trước và sau khi Thạch Bàn trở thành phường
của Quận Long Biên 45
4.2.1 Đánh giá mức sống của các hộ dân 45
4.2.2 Đánh giá thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ dân 47
4.2.3 Đánh giá chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của các hộ dân 51
4.2.4 Đánh giá tiết kiệm của các hộ dân 53
Trang 84.2.5 Đánh giá về tuổi thọ bình quân, chỉ số phát triển con người và phúc lợi
xã hội 54
4.3 Phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư phường Thạch
Bàn qua phương pháp kiểm định Chi- square55
4.4.3 Giải pháp về giáo dục đào tạo 65
4.4.4 Giải pháp về nhà ở, điện, nước sạch 65
4.4.5 Giải pháp thể dục, thể thao, giải trí 66
4.4.6 Giải pháp về phát triển môi trường bền vững 67
4.4.7 Giải pháp an sinh xã hội 68
4.4.8 Giải pháp về công bằng trong đóng góp và hưởng lợi 68
5.2.1 Đối với nhà nước và cơ quan liên quan 72
5.2.2 Đối với người dân 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76
Trang 9Bảng 4.2 Vật dụng gia đình của hộ điều tra 47
Bảng 4.3 Thu nhập bình quân đầu người của hộ điều tra 48
Bảng 4.4 Thu nhập trung bình của các hộ điều tra 49
Bảng 4.5 Một số khoản chi của hộ điều tra trước và sau ĐTH 51
Bảng 4.6 Một số khoản tiết kiệm bình quân của hộ điều tra 54
Bảng 4.7 So sánh các chi tiêu phản ánh HDI 55
Bảng 4.8 Đánh giá của hộ về sự thay đổi thu nhập sau đô thị hóa 56Bảng 4.9 Cảm nhận sự thay đổi cơ cấu hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ điều tra 57
Bảng 4.10 Ý kiến về tình hình an ninh trật tự sau khi ĐTH 59
Bảng 4.11 Ý kiến của cán bộ phường về sự thay đổi đời sống của người dân sau ĐTH 59
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ phường Thạch Bàn Quận Long Biên Hà Nội 24
Hình 4.1 Qui hoạch đất phường Thạch Bàn 40
Hình 4.2 Bản đồ vị trí dự án đường Cầu Bây - Thạch Bàn 42
Biểu đồ 4.1 So sánh tài sản hộ trước độ thị hóa và sau đô thị hóa 46Biểu đồ 4.2 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra trước ĐTH 50
Biểu đồ 4.3 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra sau ĐTH 50
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu chi tiêu của hộ điều tra trước ĐTH 53
Biểu đồ 4.5 Cơ cấu chi tiêu của hộ điều tra sau ĐTH 53
Trang 11(Gross Domestic Product)
Trang 12Phần I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang đi trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa vớimục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp.Khắp nơi trên mọi miền đất nước đều đang chuyển mình theo con đường màĐảng, Nhà nước và Chính phủ đã chọn Vì vậy, đô thị hóa là xu thế tất yếutrên con đường phát triển của Việt Nam
Bộ mặt quốc gia đang đổi mới từng ngày, từng giờ nhờ sự hình thànhnhanh chóng của các thành phố lớn hiện đại và sự mở rộng của các đô thị cũ
và đặc biệt ở nước ta quá trình đó đang diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết Sựhình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất
đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới,nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, côngnghệ Đô thị hóa kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạohơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất,kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống củangười lao động được cải thiện đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của
Trang 13Quá trình đô thị hóa ở Thạch Bàn đã và đang ảnh hưởng to lớn đến đờisống của người dân nơi đây Trước đây, người dân đa số sản xuất nôngnghiệp, cuộc sống gắn liền với ruộng đất, thu nhập chủ yếu dựa vào cây trồng,vật nuôi Hiện nay, do xây dựng các khu công nghiệp, khu nhà ở nên diệntích sản xuất nông nghiệp giảm
Nhiều vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống đô thị hóa đang diễn ramạnh mẽ ở Thạch Bàn Hàng loạt các câu hỏi đang cần có sự tư vấn như thựctrạng đô thị hóa ở Thạch Bàn? Mức sống của người dân ở phường Thạch Bànthay đổi như thế nào? Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cưphường Thạch Bàn? Giải pháp nâng cao mức sống cho người dân địa phương,
vv Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Khảo sát thực trạng đô thị hóa và mức sống dân cư, phân tích các yếu
tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mức sống của người dân phườngThạch Bàn, từ đó có cơ sở khoa học đề xuất giải pháp nâng cao mức sống củangười dân trên địa bàn phường trong quá trình đô thị hóa
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về đô thị hóa, quátrình đô thị hóa, mức sống của người dân và các vấn đề kinh tế - xã hội cóhiệu quả;
- Đánh giá thực trạng đô thị hóa và mức sống dân cư ở Thạch Bàn trongnhững năm vừa qua;
- Phân tích ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mức sống của ngườidân phường Thạch Bàn;
Trang 14- Đề xuất giải pháp nâng cao mức sống của người dân trên địa bànphường trong quá trình đô thị hóa;
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là đô thị hóa, quá trình
đô thị hóa, mức sống của người dân trên địa bàn phường Thạch Bàn
Đối tượng điều tra: Các hộ dân trên địa bàn phường Thạch Bàn, quậnLong Biên, thành phố Hà Nội Ngoài ra phỏng vấn cán bộ phường về ảnhhưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư trên địa bàn nghiên cứu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của
đô thị hóa đến mức sống dân cư phường Thạch Bàn Đó là ảnh hưởng của đôthị hóa đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương Đề tàigiới hạn nghiên cứu các nội dung của mức sống dân cư về thu nhập và chitiêu, tiết kiệm thực tế, tuổi thọ bình quân, chỉ số phát triển con người, phúc lợi
xã hội của người dân phường Thạch Bàn trong quá trình đô thị hóa
* Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn phườngThạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
* Phạm vi thời gian: Tài liệu thứ cấp được thu thập ở hai thời điểmtrước và sau khi Thạch Bàn trở thành phường của quận Long Biên
- Tài liệu sơ cấp thu thập về mức sống của người dân địa phương năm
2013
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 - 5/2014
Trang 15Phần II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC SỐNG DÂN
CƯ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Những vấn đề lí luận chung
* Các vấn đề lí luận về đô thị
- Khái niệm đô thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là dân cư phinông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâmchuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, củamột miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnhhoặc trong huyện
Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác biệt về trình độ kinh
tế xã hội và hệ thống dân cư của mỗi quốc gia Mỗi nước có quy định riêngtùy theo yêu cầu và khả năng quản lí của mình Song phần nhiều đều thốngnhất lấy 2 tiêu chuẩn cơ bản:
+ Quy mô và mật độ dân số: quy mô trên 2000 người sống tập trung,mật độ trên 3000 người/km2 Đây là những chỉ tiêu phản ánh mức độ tậptrung dân cư của một đô thị được xác định trên cơ sở dân số nội thị và diệntích xây dựng trong giới hạn nội thị của đô thị
+ Cơ cấu lao động: trên 60% lao động là lao động phi nông nghiệp
- Đặc điểm của đô thị
Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủquy định rằng đô thị ở nước ta là các điểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụthể sau:
+ Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
+ Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4000 người
Trang 16+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lêntrong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất, dịch vụ, thươngmại phát triển
+ Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểuphải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định đối với từng loại đôthị (ít nhất là bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạ tầng kỹthuật cơ bản)
+ Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất vàđặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2 trở lên
- Vai trò của đô thị
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế- xã hội của cả nước Đô thị được giới hạn về mặt hànhchính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối, song ảnh hưởng của nó cótính lan truyền mạnh mẽ Các thành tựu khoa học kỹ thuật trong các ngànhkinh tế được nghiên cứu tại các trung tâm khoa học kỹ thuật ở các thành phốđược ứng dụng rộng rãi trong cả nước đã mang lại hiệu quả cho nền kinh tếquốc dân
+ Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia,
là một sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹthuật và văn hóa
+ Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cảnước
* Các vấn đề lí luận về đô thị hóa
- Khái niệm đô thị hóa
+ Trên quan điểm một vùng: đô thị hóa là một quá trình hình thành,phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị
+ Trên quan điểm kinh tế quốc dân: đô thị hóa là một quá trình biếnđổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân
Trang 17cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thịhiện có theo chiều sâu
+ Đô thị hóa là quá trình từ hình thức sống nông thôn lên hình thứcsống đô thị của các nhóm dân cư
+ Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật là quátrình phát triển nông thôn và biến lối sống thành phố cho nông thôn
+ Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi củathành phố do kết quả phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tạo ra cáccụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn
+ Đô thị hóa giả tạo là sự phát triển thành phố do tắng quá mức dân cư
đô thị và do dân cư từ vùng khác đến, đặc biệt là nông thôn dẫn đến tìnhtrạng thất nghiệp, giảm chất lượng cuộc sống
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hìnhthức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theochiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa khoa học kỹ thuật và tăng quy mô dân số
- Đặc điểm của đô thị hóa
Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, sốlượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các hệ thống
đô thị
Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựngdịch vụ…do vậy đô thị hóa gắn liền với chế độ kinh tế xã hội
Ở các nước phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển của cácnhân tố chiều sâu (điều tiết và khai thác tối đa các lợi ích, hạn chế bất lợi củaquá trình đô thị hóa) Đô thị hóa nâng cao điều kiện sống và làm việc, nângcao dân chủ và công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách thành thị và nôngthôn
Trang 18Ở các nước đang phát triển, đô thị hóa tượng trưng cho sự bùng nổ vềdân số và sự phát triển công nghiệp Cùng với sự yếu kém của công tác quản
lí đô thị thì đô thị hóa ở các nước đang hoặc kém phát triển là sự gia tăng dân
số không dựa trên cơ sở phát triển kinh tế Những vấn đề đô thị như giaothông, môi trường nảy sinh và không thể giải quyết một sớm một chiều Mâuthuẩn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc hơn do sự mất cân đối, dođộc quyền kinh tế…
Quá trình đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ côngnghiệp, sau đó là cách mạng công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp đãtập trung hóa lực lượng sản xuất ở mức độ cao hơn dẫn đến hình thành đô thịmới, mở rộng quy mô đô thị cũ Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹthuật mà tượng trưng cho nó là những cỗ máy vi tính và những siêu xa lộthông tin, điện thoại di động… thì đô thị hóa có tiền đề vững chắc hơn và tốc
độ đô thị hóa đã và sẽ mạnh hơn bao giờ hết
Như vậy, về bản chất, đô thị hóa là quá trình phát triển lực lượng sảnxuất và sự đổi mới về quan hệ sản xuất mà nguồn gốc là sự phát triển khoahọc kỹ thuật
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
+ Điều kiện tự nhiên: những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có nhiềukhoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cưmạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, qui mô lớn hơn Ngược lạinhững vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, qui mô nhỏ hơn
+ Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thịtương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó.Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sựphát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đạihóa và là tiền đề cho đô thị hóa
Trang 19+ Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình vànền văn hóa đó ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nóichung và các hình thái đô thị nói riêng.
+ Trình độ phát triển kinh tế: kinh tế phát triển là yếu tố có tính quyết địnhtrong quá trình đô thị hóa Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Đểxây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn
+ Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau 1975, tốc độ đô thị hóa ngàycàng cao, các đô thị mọc lên nhanh chóng Đặc biệt trong thời kì đổi mới, vớicác chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc
- Phân loại đô thị hóa
+ Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn rangay chính trong đô thị Ở đây cũng có sự di dân nhưng từ trung tâm ra ngoạithành hoặc vùng ven đô Đô thị hoá thường vẫn mang tính chủ quan thôngqua quy hoạch Quy hoạch đô thị cho phép con người tạo ra những đô thị tối
ưu theo ý muốn Tuy nhiên, đô thị được quy hoạch là tối ưu đến mấy vẫn chắcchắn lạc hậu trong tương lai Do cư dân tăng lên, kết cấu hạ tầng, kiến trúc đôthị lần lượt lạc hậu Đặc biệt các công trình công nghiệp, dịch vụ theo thờigian trở nên lạc hậu và gây ô nhiễm nặng nề, phải di dởi xa thành phố
Đô thị hoá thay thế được quan niệm ở đây bao gồm cả sự mở rộngkhông gian đô thị ấy bằng cách phát triển đô thị ra vùng ven và ngoại thành
Để dễ hình dung ta có thể xem đô thị hoá có hai phần, một là, đô thị hoá ngaytrong đô thị đã có và đô thị hoá mở rộng ra vùng ven Đô thị hoá nhằm đápứng chức năng đô thị trong từng thời kỳ Quá trình đô thị hoá luôn luôn xảy
ra, song hành cùng lịch sử Nó có thể kết thúc khi mọi nhu cầu con ngườiđược đáp ứng Điều này có thể nói là không thể Vì nhu cầu con người luônluôn mở rộng, điều kiện thành phố luôn bị "già" đi phải có sự thay thế nhấtđịnh Đô thị hoá êm dịu hơn, khi dân số, không gian đô thị đi vào ổn định
Trang 20+ Đô thị hóa cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư
từ nông thôn về thành thị, lý do ngoài kinh tế, tức là không phải trước hết tìmviệc làm hay tìm dịch vụ tốt hơn Quá trình cưỡng bức xảy ra có thể nông dânchạy vào thành phố chủ yếu là lánh nạn Trong quy hoạch thiết kế ban đầu,không tính đến khả năng này Do vậy khi dân số tăng lên không phải do yêucầu phát triển của đô thị, đứng về phía đô thị là cưỡng bức, đối với người dân
chạy vào đô thị là tự bắt buộc Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là không gian
kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao Cácnhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng Đô thị trở nên quá tải, nhữngtiêu cực do đô thị hoá cưỡng bức mang lại ngày một nặng nề Khả năng khắcphục là chưa thể
+ Đô thị hóa ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớnsang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn Thông thường ở giai đoạnđầu công nghiệp hoá, kinh tế - xã hội đang phát triển, đô thị luôn luôn là nơitạo ra nhiều việc làm và các dịch vụ tốt hơn thu hút hướng di dân từ nôngthôn trở về thành thị Sự bổ sung một lực lượng lao động trẻ, nam nhiều hơn nữ,góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị Quá trình đô thị hoá kết thúc, tức làgiai đoạn ổn định của đô thị, đô thị trở nên đất chật, người đông, vấn đề chấtlượng sống phụ thuộc nhiều vào môi trường sống cả tự nhiên và xã hội, so vớinông thôn lại có những hạn chế nhất định Một mặt do sự phát triển kinh tế - xãhội và các dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển, đến lượt nó lại thu hút luồng di cưtrở lại Mặt khác, nông thôn lại chứa đựng sự phong phú của văn hoá dân tộc, vănhoá cội nguồn, sự yên tĩnh và đặc biệt môi trường trong sạch
Quá trình đô thị hoá, di dân từ nông thôn ra thành thị đã góp phần làmcho nông thôn bị "già" nhanh và mất cân đối dân số Quá trình phát triển đếnmột lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnhhướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằngkhoảng cách và chất lượng sống thành thị - nông thôn Đô thị hoá ngược như
Trang 21một chỉ báo tổng hợp về sự phát triển rất cao của một đô thị, một quốc gia.Khi đô thị hoá ngược xảy ra, con người đã ở một trình độ văn minh cao Vấn
đề quan trọng nhất, không còn kinh tế mà là chất lượng sống Người ta quantâm đến an ninh, môi trường tự nhiên và xã hội, giáo dục, y tế Trước hết khichọn nơi ở , đời sống vật chất đã đầy đủ, chỉ có đời sống tinh thần mới thật sự
là đích tìm kiếm của con người Đời sống tinh thần sẽ trở nên vô cùng, trong
sự cách mạng của nó đối với con người
* Các vấn đề lí luận và mức sống của người dân
Theo đại từ điển Tiếng Việt năm 1999 cho rằng: Mức sống là mức đạtđược trong chi dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam năm 2006: Mức sống là điều kiện caohay thấp của sự sinh hoạt hàng ngày
Theo Các Mác: “Mức sống không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầucủa đời sống vật chất mà cả các nhu cầu nhất định được sản sinh ra bởi chínhnhững điều kiện mà trong đó con người đang sống và trưởng thành”
Tổng hợp những khái niệm trên, chúng ta có thể quan niệm về mứcsống là sự thỏa mãn những nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người, mứcsống càng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn việc phát triển
cá nhân và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội tạo ra
Trang 22- Ý nghĩa
Mức sống có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động sống của con người,vấn đề nâng cao mức sống của người dân trên cơ sở tăng thêm hiệu quả sảnxuất bằng mọi cách được xem là nhiệm vụ chủ yếu hiện nay
Nhu cầu không tồn tại độc lập, chung chung, trừu tượng, bất biến Nóđược sản sinh, tồn tại và được thực hiện trong những phương thức sản xuất xãhội nhất định Qui mô và tính chất của nhu cầu bị giới hạn bởi những quan hệkinh tế nhất định Nhu cầu hình thành và phát triển không phải do tâm lý vàsinh lý con người hoặc những nguyên nhân tự nhiên hay sinh học nào khácquyết định Yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của nhu cầu chính làđiều kiện kinh tế xã hội, trong đó sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết địnhnhất đối với sự hình thành và phát triển của nhu cầu Bởi vì sản xuất tạo ranhững điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết cần thiết để thỏa mãn nhu cầu.Nhu cầu đến lượt nó lại tác động trở lại đối với sản xuất, định hướng cho sảnxuất phát triển Tăng nhanh nhu cầu là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú, không ngừng biếnđổi và phát triển, thỏa mãn nhu cầu này là phương tiện phát triển, là điều kiện,
là động lực, kích thích để nhu cầu mới này sinh Có thể nói cùng với sự pháttriển của sản xuất xã hội, nhu cầu của con người thường xuyên thay đổi
Mức sống và nhu cầu liên quan trực tiếp và gắn bó chặt chẽ với nhau.Thỏa mãn nhu cầu thực tế trong quá trình tồn tại và phát triển con người, thựcchất là mức sống của họ
Trang 23Nhu cầu của con người được thỏa mãn đến đâu lại phụ thuộc vào sựtiêu dùng của họ Không có tiêu dùng, nhu cầu sẽ không được thực hiện vàmức sống cũng không được thể hiện Mức độ thỏa mãn nhu cầu được biểuhiện và được đánh giá thông qua mức độ tiêu dùng Một khối lượng của cảivật chất và tinh thần được sử dụng cho tiêu dùng càng nhiều bao nhiêu thì nhucầu càng được thỏa mãn, càng đầy đủ bấy nhiêu và mức sống dân cư càng caobấy nhiêu Do vậy trong thực tế khi xác định mức sống người ta thườngkhông đo lường và tính toán nó bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu, mà lại tínhbằng số lượng và chất lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng trong năm Cùngmột chất lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng không đổi, khi số lượng sảnphẩm và các dạng dịch vụ tiêu dùng bình quân trên đầu người càng cao baonhiêu thì mức sống của dân cư nước đó càng cao bấy nhiêu so với nước khác
Khi nhu cầu vật chất và tinh thần cũng như sản phẩm và dịch vụ tiêudùng cần thiết, bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu đó tăng lên, thì mức sốngdân cư cũng tăng theo Do đó quá trình nâng cao mức sống có thể được đặctrưng bằng quá trình thay đổi cơ cấu nhu cầu, mở rộng và tăng quy mô, mức độcủa các nhu cầu, bảo đảm các phương tiện và điều kiện để thỏa mãn đầy đủ vàtối ưu các nhu cầu truyền thống, nhu cầu hiện tại và nhu cầu mới nảy sinh
Nghiên cứu mức sống cần đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lạivới sản xuất, nhu cầu và tiêu dùng cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn, đầy
đủ hơn về phạm trù này Từ đó chúng ta có thể nói rằng: nâng cao mức sốngkhông phải chỉ là quá trình tăng về quy mô tiêu dùng, mà phải được xem như
là yếu tố để thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội
Mức sống suy cho cùng được biểu hiện và đánh giá thông qua hiệu quảcủa quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người.Mức sống cao hay thấp được phản ánh ở khả năng, mức độ và kết quả của quátrình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người
Trang 24Quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người
là quá trình tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau Cùng một sốlượng, chất lượng, cơ cấu sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng như nhau, nếu mức
độ sử dụng chúng khác nhau, cho ta kết quả khác trong tiêu dùng, khác nhau
cả về số lượng, chất lượng sức lao động tái tạo ra Sự khác nhau trong kết quảtiêu dùng càng lớn, nếu như chúng ta thay đổi cơ cấu sản phẩm và dịch vụtiêu dùng, chẳng hạn như tăng tỷ trọng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng có lợicho sức khỏe và cho các hoạt động có ích khác của con người, và giảm tỷtrọng dịch vụ và tiêu dùng có hại cho sức khỏe thì kết quả tiêu dùng sẽ tăng lên
và mức sống của dân cư cũng tăng theo Nói cách khác: với một lượng sản phẩm
và dịch vụ tiêu dùng như nhau, nếu mức độ sử dụng có ích của các sản phẩm vàdịch vụ càng cao bao nhiêu thì mức sống của dân cư càng cao bấy nhiêu
Mức độ sử dụng có ích của các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng phản ánh
về mặt chất lượng của tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất sức lao động vàtái sản xuất cuộc sống con người Chất lượng tiêu dùng là mức độ sử dụng cóích của các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng được đánh giá thông qua các chỉtiêu như sau:
- Giá trị sử dụng có ích của sức lao động, trong một thời điểm nào đó (sức sản xuất của lao động hay năng suất lao động).
- Thời gian trung bình mà một người có thể tham gia hoạt động lao động có ích cho xã hội
- Tuổi thọ trung bình của dân cư
Khi phân tích, đánh giá mức sống dân cư không những chỉ so sánh xem baonhiêu số lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng bình quân đầu người (mặt lượngcủa tiêu dùng), mà còn phải đánh giá cả mức độ sử dụng có ích (mặt chất lượngcủa tiêu dùng) của các loại sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng đó nữa Bởi vì chấtlượng tiêu dùng phản ánh một mặt cơ bản của phạm trù mức sống dân cư
Trang 25Nâng cao mức sống không phải chỉ là quá trình tăng về quy mô tiêudùng, mà có thể thay đổi cả tổng cơ cấu tiêu dùng, thể hiện phân phối sảnphẩm và các dạng dịch vụ tiêu dùng hợp lý, bảo đảm sử dụng có ích cho cuộcsống và cho hoạt động lao động của con người
Tiêu dùng: Khi nói đến phạm trù mức sống, không thể không gắn bóvới phạm trù tiêu dùng Bởi vì tiêu dùng và mức sống có liên quan chặt chẽ vàgắn bó mật thiết với mức sống Làm rõ sự khác nhau và trong mối liên quangiữa chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lý luận cũng như sự khácnhau trong thực tiễn Bởi vì trong thực tế khi so sánh mức sống giữa thời kỳnày với thời kỳ khác, giữa nước này với nước khác, người ta không dùng chỉtiêu mức sống mà dùng các chỉ tiêu đặc trưng cho sự tiêu dùng để đánh giá
Bởi vì mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân (tức
là mức sống) thường xuyên thay đổi và khó có thể lượng hóa được
Phạm trù tiêu dùng bao gồm tất cả những gì có liên quan đến quá trìnhhoạt động có tính chất tiêu dùng của con người Nó thể hiện bản chất củanhững quá trình kinh tế diễn ra trong một thời điểm nhất định của quá trình táisản xuất xã hội mà thôi
Phạm trù mức sống lại bao gồm tất cả những gì có liên quan đến việcthỏa mãn nhu cầu vật chất, nhu cầu xã hội, nhu cầu văn hóa và tinh thần củadân cư Do đó nó có thể liên quan tới tất cả các giai đoạn, các khâu của quátrình tái sản xuất xã hội Trong phạm trù mức sống, không chỉ bao gồm nhữngkết quả lao động hiện tại, mà còn chứa đựng cả những kết quả của lao độngquá khứ, biểu hiện dưới hình thức tài sản Quốc gia Ngoài ra phạm trù mứcsống còn chứa đựng một yếu tố quan trọng khác mà phạm trù tiêu dùng không
có đó là điều kiện lao động
Mức sống không chỉ là tiêu dùng Ngoài tiêu dùng là thành phần cốt lõinhất thì mức sống còn bao gồm nhiều yếu tố, thành phần khác nữa
Trang 26- Phân loại mức sống của người dân
+ Phân loại theo điều kiện lao động
+ Phân loại theo mức tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội
+ Phân loại theo điều kiện sinh hoạt văn hóa, tinh thần và đảm bảo sức khỏe
2.1.2 Tính tất yếu của đô thị hóa
- Sự phát triển kinh tế của mỗi nước gắn liền với sự hình thành và phát triểncủa hệ thống ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Sự phát triểncủa hệ thống các ngành này thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn và đô
thị hóa lại tác động ngược trở lại sự phát triển của các ngành này
- Qui mô dân số ngày càng tăng, đòi hỏi phải đáp ứng cả về mặt vậtchất và tinh thần như: nâng cao thu nhập, cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí gópphần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa
- Nhu cầu vật chất ngày càng tăng lên tỷ lệ với mức tăng thu nhập, đòihỏi cơ sở hạ tầng phải đáp ứng đủ Từ đó nảy sinh nhu cầu đô thị hóa, pháttriển kinh tế đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người
- Quá trình phát triển kinh tế mỗi nước là quá trình phát triển lực lượngsản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu nhập và tích lũy Quá trình
đó tạo ra những điều kiện vật chất thúc đẩy và thực hiện nhanh quá trình đôthị hóa Đó cũng là xu thế vận động mang tính khách quan Quá trình này dẫntới sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân từ nông nghiệp là chủ yếusang công nghiệp là chủ yếu và cả sự biến đổi ngay trong khu vực côngnghiệp Kéo theo đó là tập trung dân cư tại các khu công nghiệp, các vùngkinh tế để đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu sản xuất, sự phát triển kinh tế, từ đóhình thành nên các khu công nghiệp, đô thị lớn
2.1.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống của người dân
- Ảnh hưởng đến đời sống vật chất
Đời sống con người là một trong lĩnh vực xã hội có phạm vi nội dungtương đối rộng Khi xem xét lĩnh vực này, có thể thấy đời sống con người ảnh
Trang 27hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội và cũng chịu sự chi phối củarất nhiều yếu tố Đặc biệt khi xem xét ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đếnđời sống con người, một hệ thống các yếu tố có liên quan được xác định trongmối quan hệ giữa đô thị hóa và đời sống con người và các yếu tố này không tồntại độc lập mà đươc đặt trong mối quan hệ tương tác, hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
- Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng – kỹ thuật
Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự tích tụ dân cư và tập trung quá trìnhsản xuất trong các đô thị Điều này nhanh chóng làm cho lưu lượng hàng hóa,
sự di chuyển và những nhu cầu thiết yếu của người dân ngày càng nhiều Đểthực hiện chủ trương công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước thì phải đầu tưnâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của sựphát triển KT – XH
Đô thị hóa làm thay đổi chất lượng cuộc sống và lối sống của ngườidân Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi chất lượng sống của con người Nếulập bảng so sánh có thể nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quá trình đô thịhóa thể hiện qua tỉ lệ dân số đô thị với các chỉ số phát triển con người (HDI)
và GDP/người Ở những nước và khu vực phát triển có tỉ lệ dân thành thị caothường là những nước có chỉ số HDI và GDP bình quân đầu người cao
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống
dân cư ở một số nước trên thế giới
* Mỹ
Mỹ là một siêu cường quốc về kinh tế, có trình độ công nghiệp hóa cao,
tỉ lệ dân cư đô thị chiếm tới 795 dân số toàn quốc các thành phố lớn tập trungthành một dãi từ Boston đến Oasinton, dãi đô thị này tập trung đến 45 triệudân kéo dài trên 750 km, rộng từ 100 đến 200 km Các thành phố lớn của Mỹchủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc và khu vực quanh ngủ hồ Đó cũng lànhững trung tâm công nghiệp nổi tiếng của Mỹ
Trang 28Sự tập trung của dân số và các hoạt động đô thị cũng đòi hỏi phải cócác chức năng bổ trợ Được tổ chức và điều hành theo lối truyền thống thànhnhững ngành khác nhau của chính quyền thành phố, những chức năng dịch vụcông cộng này theo một nghĩa kinh tế thì chỉ mang tính chất sản xuất giántiếp, nhưng chúng lại không thể thiếu được cho sự phát triển thương mại vàcông nghiệp
Ngoài những dịch vụ như điện, nước, thu gom rác và chất thải, cácthành phố còn cung cấp cảnh sát và cứu hoả, xây dựng và bảo dưỡng các côngtrình giao thông công cộng, y tế, các cơ sở giáo dục và các tài liệu như những
số liệu thống kê quan trọng về dân số, cùng nhiều dịch vụ khác nữa
Những dịch vụ này đầy ắp trong các thành phố lớn, đến mức những cơcấu chính quyền đồ sộ đã phát triển để quản lý chúng Một trường hợp cựcđoan là tại vùng đô thị của New York năm 1982 có hơn 1550 cơ quan hànhchính Hầu hết các khu đô thị lớn đã phát triển đều là nơi có các mạng lướigiao thông nối liền với nhau Tương đối phổ biến là sự phối kết hợp giữa cảđường bộ và đường thuỷ Một số trung tâm đô thị nằm trên các vùng bờ biểnhoặc cửa sông lớn Một số khác nằm trên các đường thủy tự nhiên Cũng cónhững đô thị có đường thủy nhân tạo là các kênh đào hoặc các con sông tựnhiên đã bị điều chỉnh dòng chảy Đương nhiên còn có nhiều nhân tố khácphải tính đến: chất lượng vùng đất cảng, sự gần với các phương tiện giaothông thay thế, vấn đề an ninh và thậm chí là tính lành mạnh của môi trườngđịa phương Tuy nhiên, tại những nơi người và hàng hóa phải chuyển từ mộtloại hình phương tiện giao thông này sang một loại hình phương tiện giaothông khác, những hoạt động như chế biến, trao đổi, chế tạo, đóng gói lại, bán
và mua hàng hoá, lại có cơ hội phát triển
Do đó quá trình đô thị hóa luôn mang đến cho người dân các dịch vụ,điều kiện tốt nhất để mức sống ngày càng được nâng cao
Trang 29* Trung Quốc
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh và tốc độ pháttriển nhanh Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dânkhoảng 54 triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005dân số đô thị nước này đạt tới 800 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỷ lệbằng 37% Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050 tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75%.Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người ở nông thôn vào sinh sống ở đô thị
Như vậy, một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vùng nông thônlạc hậu và kém hiệu quả sang các thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn,năng suất lao động cao và hiệu quả hơn Không những bản chất người laođộng có mức sống khá hơn mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sảnxuất nông ngiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sảnxuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt Tuy nhiên, mặt trái củavấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thànhmâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc Nhiều hậu quả kinh tế -
xã hội nghiêm trọng đang thách đố khả năng quản lý của nhà nước như thiếunhà ở cho người nghèo, sự phân hóa xã hội, việc sinh đẻ không thể kiểm soát,trật tự trị an kém, môi trường ô nhiễm, kết cấu hạ tầng thiếu thốn
Mặt khác, trước đây ở Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệphương trấn phấn bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn mộtcách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng và mất đi đặc điểm và ưu thế của nông thôn
Để đối phó với tình hình trên, Nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếptục giữ vững nguyên tắc phát triển hài hòa, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào
ạt các đô thị lớn, làn sóng nhân công lưu động tràn vào các thành phố quá lớn, làmxáo trộn hoạt động kinh tế Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc hiện naylà: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loạivừa, phát triển có lựa chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn
Trang 30Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xâydựng xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ, phântán trong phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp, thực hiệnkhẩu hiệu “ Ly điền bất ly hương”, “ Ly hương bất ly điền”, dần dần tiến tớiphân công lao động theo chiều sâu Nhà nước cũng chủ trương phải có chínhsách giảm bớt bạn đồng hành của việc phát triển các đô thị nhỏ, đó là sự tụthậu về văn hóa, giáo dục, trình độ quản lý, ô nhiễm môi trường, lấn chiếmnhiều đất canh tác.
* Philippin
Philippines là quốc gia đông dân thứ bảy tại châu Á và đứng thứ 12trên thế giới Nền kinh tế quốc gia của Philippines lớn thứ 41 thế giới, theoước tính, GDP danh nghĩa vào năm 2013 là 272.207 triệu đô la Mỹ Mức tăngdân số tự nhiên cao, dân số nông thôn di chuyển lên đô thị với số lượng lớn
Từ năm 1991 Chính phủ Philipin thực hiện phân quyền mạnh cho cácchính quyền địa phương Một số chính quyền địa phương đã lớn mạnh thực
sự đến mức có thể chủ động được cả công việc lẫn nơi ăn chốn ở độc lập chongười lao động trong khu vưc Chính quyền ở nhiều địa phương của Philipin
đã thành công trong việc trang bị đẩy đủ các yếu tố cho người lao động trongphạm vi quyền lực của mình: đào tạo kỹ thuật, giải quyết vấn đề nhà ở, lập kếhoạch sử dụng đất, nâng cấp cơ sở hạ tầng và giao thông… Mặc dù vậy, vẫncòn một số điểm họ chưa làm được, ví dụ như vẫn bị chia rẽ nhỏ lẻ theo cácđảng phái chính trị, chưa tạo thành một khối đoàn kết sâu rộng, xây dựng môitrường vùng một cách hiệu quả hơn để thu hút thêm các nhà đầu tư cũng nhưngười lao động
Chính quyền địa phương hỗ trợ mạnh và một số tập đoàn phát triển bấtđộng sản đổ vốn vào đầu tư đã lấp được chỗ trống về đầu tư của Chính quyềnTrung ương Tập đoàn Ayala lớn mạnh tới mức họ có khả năng thành lập mộttiểu thành phố trong Manila (như Makati) hay đầu tư xây dựng cả một vùng
Trang 31đô thị ngoại vi Họ còn sở hữu cả những vùng đất lớn, nơi đang có kế hoạchxây dựng khu trung tâm tổng hợp hay cảng biển, v v Mô hình hoạt động củaAyala Land Corporation cũng như các tập đoàn lớn khác của Philipin là xâydựng các khu công nghiệp, sau đó thành lập hiệp hội các chủ đầu tư, từngbước bán lại nhà xưởng, khu công nghiệp cho chủ đầu tư, rồi tiếp tục đầu tưvào các khu khác Hiệp hội các chủ đầu tư thường có mối quan hệ chặt chẽvới chính quyền địa phương và các tập đoàn khác trong khu vực, rất có tráchnhiệm với việc nâng cao mức sống trong vùng, đặc biệt nâng cao điều kiệnsống và làm việc cho công nhân của họ
Tại Philippin, hiệp hội các chủ đầu tư tuy đóng vai trò quan trọngnhưng chính quyền địa phương cũng góp một vai trò đáng kể Với khả năng
và sức mạnh của mình, chính quyền địa phương cũng đã dành ngân sách đểxây dựng hệ thống giáo duc, chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngay trong địaphương mình Tiếp tục vòng quay đó, đời sống kinh tế, văn hóa trong khu vực
sẽ được cải thiện, văn minh đô thị sẽ hình thành ngay trong khu vực
* Thái Lan
Từ những năm 1960 đến nay kinh tế Thái Lan phát triển rất nhanh,được coi là một “con rồng nhỏ” Đông Á, đứng vào hàng các nước có mức thunhập trung bình, hơn nữa tỉ lệ đói nghèo giảm đi đáng kể, nhưng dưới thể chếchính trị tinh hoa truyền thống, Thái Lan đã thực hiện chính sách kinh tế “coitrọng thành thị, xem nhẹ nông thôn” trong thời gian dài, tầng lớp nông dânkhông được chia sẻ lợi tức phát triển về kinh tế-xã hội của đất nước, dẫn tớikhoảng cách giàu nghèo ở trong nước, ở thành thị và các khu vực ngày càngcách xa Đồng thời về chính trị, tầng lớp nông dân cũng bị vứt bỏ ngoài thểchế chính trị tinh hoa thời gian dài, vừa không có bất cứ quyền phát ngôn nào
về chính trị, vừa không có ý thức và đòi hỏi chính trị rõ ràng, tầng lớp nôngdân chiếm gần 70% dân số Thái Lan trở thành “đa số thầm lặng”
Trang 32Eastern Seaboard (ESB) là vùng đô thị ngoại vi nổi tiếng ở Thái Lan,nằm trên 3 tỉnh Chachoengsao, Chonburi và Rayong với tổng số dân khoảnggần 3 triệu ESB được coi là khu công nghiệp trung tâm của Đông Nam Á.Trong những năm 90 (từ 1992-1998), dân số của ESB tăng khoảng 2%/năm.Đây là mức tăng tương đối thấp so với các vùng đô thị ngoại vi của một sốnơi củaTrung Quốc hay Philippin Nguyên nhân chính là do:
- Mức tăng dân số tự nhiên thấp;
- Mức độ đô thị hóa ở vùng ngoại vi Bangkok diễn ra chậm kể từ saukhủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997;
- ESB là khu tập trung vốn và kỹ thuật cao với các ngành công nghiệpchế tạo máy tự động, hóa dầu, sản xuất hàng điện tử… vốn không tập trungnhiều lao động Mặc dù vậy, 2% vẫn là tỷ lệ tăng dân số cao so với các vùngkhác của Thái Lan trong cùng thời kỳ (tỷ lệ ở Bangkok là 0,56%)
Một trong những điểm thú vị nhất trong quá trình phát triển vùng đô thịngoại vi của Thái Lan là người lao động, bao gồm cả công nhân, cán bộ kỹthuật, người quản lý… đều không sống gần nơi làm việc, có khi cách xa tới70km Như đã phân tích ở trên, do lĩnh vực dịch vụ sinh hoạt và môi trường trongESB hoạt động yếu kém, những người làm việc ở đây thường sống ở các đô thịhoặc khu vực xa hơn nhưng tiện nghi hơn, có trường học tốt cho con em Cán bộquản lý, nhân viên kỹ thuật đi làm bằng phương tiện riêng của mình, công nhânthường đi xe buýt hoặc xe đưa đón chung để đến nơi làm việc Cả nhà đầu tư vàngười làm đều rất thích mô hình này Tuy mất thêm chi phí xăng dầu, nhưng nhàđầu tư quản lý được thời gian làm việc và hiệu quả của công nhân, còn côngnhân được sống ở những vùng tiện nghi hơn
Thực tế trên dẫn đến hậu quả là không có sự gắn kết giữa công việc vàsinh hoạt trong ESB Sự yếu kém của các cấp chính quyền dẫn đến hiện tượngtuy có rất nhiều khu công nghiệp và hoạt động hiệu quả song các hoạt độngdịch vụ nông thôn trong vùng vẫn không có nhiều thay đổi, không mang lại
Trang 33lợi về công ăn việc làm cũng như ích kinh tế rõ rệt cho địa phương Như vậy,hoạt động công nghiệp là điều kiện thuận lợi song chưa đảm bảo dẫn đến đôthị hoá sẽ diễn ra nhanh mạnh được.
Kinh nghiệm gần đây của Thái Lan cho thấy quy hoạch đô thị hóa tồi
là một nguồn gốc tiềm tàng của bất ổn chính trị và xã hội Người ta ai cũngcần có nhà cửa ổn định, môi trường sống tương đối sạch sẽ, dịch vụ giáo dục
và y tế chất lượng cho các thành viên trong gia đình dù là ở thành thị haynông thôn Đô thị hóa không được bó hẹp trong phạm vi đô thị mà phải baogồm cả địa bàn nông thôn Chính sách chủ động, đầu tư hiệu quả và kịp thời
là những biện pháp cần thiết để tránh nạn đông đúc, ùn tắc, và đô thị hóakhông lành mạnh, vốn là những trở ngại cho quá trình tăng trưởng của nềnkinh tế
2.2.2 Tình hình đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân
cư ở Việt Nam
* Quá trình đô thị hóa diễn ra chậm chạp, trình độ đô thị hóa thấp
Tỉ lệ dân thành thị nước ta có xu hướng tăng, nhưng tăng chậm và vẫncòn thấp hơn mức trung bình thế giới Hiện nay tỉ lệ dân thành thị thế giới là52%, các nước đang phát triển là khoảng 48 %, các nước phát triển là hơn81% trong khi chúng ta mới chỉ đạt 30,11% (2011) và 32% (2012), nghĩa là tỉ
lệ dân thành thị nước ta còn quá thấp, thấp hơn trung bình của thế giới và củacác nước đang phát triển và kém xa các nước phát triển
- Mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp trong cả nước
Nước ta có mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp trong cả nướcnhưng phần lớn là các đô thị nhỏ và trung bình Mạng lưới đô thị này đượcliên kết lại bằng hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc, đang gópphần tích cực vào sự phát triển KT - XH của các vùng lãnh thổ, là các trungtâm phát triển của các huyện, tỉnh, vùng và cả nước
Trang 34* Quá trình đô thị hóa diễn ra không đều giữa các vùng lãnh thổ
Ở vùng núi và cao nguyên quá trình ĐTH nói chung gặp nhiều khókhăn hơn Ngay ở Đồng bằng sông Hồng, mạng lưới đô thị dày đặc nhưng lạichủ yếu là các thị trấn nhỏ, nên tỉ lệ dân số đô thị vẫn thấp Vùng Đông Nam
Bộ, nơi có thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ dân số đô thị cao nhất cả nước Đồngbằng sông Cửu Long chủ yếu là các thị xã, thị trấn nhỏ, phân bố rải rác Ở đây
có đô thị lớn là thành phố Cần Thơ Dọc duyên hải miền Trung có nhiềuthành phố, thị xã, trong đó Đà Nẵng là đô thị lớn, Huế là cố đô cổ kính
* Chất lượng nguồn nhân lực ở các đô thị mặc dù cao hơn nông thôn nhưng nhìn chung vẫn còn thấp
Tính chung toàn quốc, có đến 86,7% dân số từ 15 tuổi trở lên không cótrình độ chuyên môn kỹ thuật Tỷ lệ được đào tạo với các trình độ khác nhaurất thấp, 2,6% có trình độ sơ cấp, 4,7% có trình độ trung cấp, 1,6% có trình độcao đẳng và 4,4% có trình độ đại học trở lên
Tóm lại: Quá trình đô thị hóa là đặc trưng nổi bật của thời đại ngày nay,thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội hiện đại Tuy nhiên, quá trình đôthị hóa đang xảy ra với trình độ khác nhau giữa các khu vực quốc gia trên thếgiới Việt Nam mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa với trình
độ đô thị hóa còn thấp so với các nước khác trên thế giới
Quá trình đô thi hóa đã và đang ảnh hưởng đến đời sống KT – XH củanước ta cả ở 2 mặt tích cực và tiêu cực
Trang 35Phần III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Hình 3.1: Bản đồ phường Thạch Bàn Quận Long Biên Hà Nội
Phường Thạch Bàn nằm phía Đông Nam quận Long Biên, có hệ thốngđường giao thông quan trọng nằm trên trục tam giác kinh tế phía Bắc Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh và hành lang kinh tế Hà Nội - Lạng Sơn Phường
có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội Kể từ khi chuyển đổi
mô hình quản lý lên phường Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường ThạchBàn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và giúp đỡ, đầu tưrất lớn của Quận ủy, HĐND, UBND, các ban ngành đoàn thể của Quận Sựủng hộ đồng thuận của các cán bộ, đảng viên và nhân dân phường Thạch Bàn
Trang 363.1.2 Điều kiện tự nhiên
* Đất đai tự nhiên
Tổng diện tích đất tự nhiên: 520,0 ha
Trong đó:
Đất dùng sản xuất nông nghiệp 150 ha
+ Đất trồng cây hàng năm: 52,879 ha;
+ Đất trồng cây lâu năm: 58,129 ha (Trong đó diện tích đất hai lúachiếm 30 ha, đất 1 lúa, đất trồng màu chiếm 28 ha);
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 38,992 ha
Đất phi nông nghiệp: 370 ha
Trong đó đất đô thị 259,458 ha, đất chuyên dùng: 110,542 ha
Loại đất nông nghiệp: đất nông nghiệp của phường Thạch Bàn đượcchia làm 4 loại đất chính, trong đó đất cát và đất thịt nhẹ là cơ bản, đất cátchiếm 62,36 ha (38,65%), đất thịt nhẹ chiếm 101 ha (47,026%), phần còn lại
là đất thịt và đất pha cát 27,988 ha (14,32%)
Hệ số sử dụng ruộng đất đạt 2,34 lần/năm Nhìn chung đất đai củaThạch Bàn thuộc loại đất tốt phù hợp với nhiều loại cây trồng
* Thủy lợi: Phường Thạch Bàn - quận Long Biên nằm giữa hai con
sông là sông Hồng và sông Đuống nên chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văncủa hai con sông trên Lưu lượng bình quân hàng năm là 2710 m3/s, mực nước
lũ thường cao từ 9 - 12m (độ cao trung bình mặt đê là 14 - 14,5 m)
* Thời tiết khí hậu
Thạch Bàn nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ mang sắc thái đặc trưng củakhí hậu vùng nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ,nóng ẩm, mưa nhiều Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông lạnh, thời kỳđầu thường hanh khô, đến cuối mùa đông thời tiết thường ẩm ướt, mùa xuân mưaphùn, có sương muối vào buổi sáng Tháng nóng nhất là tháng 6, 7 hàng năm vớinhiệt độ xấp sỉ 36 - 380C Nhiệt độ trung bình là mùa đông là 170C, tháng lạnh
Trang 37nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình khoảng 13 0C biên độ nhiệt độ giao động banngày trong năm là 12 - 140 C; ban đêm là 6 - 70C.
Nhiệt độ trung bình năm đạt tới 23 - 240C Tổng nhiệt độ hàng năm là8.500 - 8.700 0C Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 82% và cũng ítthay đổi theo các tháng, thường chỉ giao động trong khoảng 78 - 87% Lượngmưa trung bình hàng năm khoảng 1600 - 1800 mm nhưng phân bố không đồngđều qua các tháng trong năm, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Số ngày mưatrong năm khoảng 140 ngày
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào hai tháng 7, 8với tổng lượng mưa đạt 1.530 mm chiếm 85% tổng lượng mưa trong năm.Mùa hạ phần lớn là mưa dông, cường độ mưa lớn, tập trung trong thời gianngắn gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
Mặt khác Thạch Bàn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên chịunhiều ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, mưa dông, bão gây những trở ngạinhất định trong phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân
* Đánh giá lợi thế và hạn chế
+ Những thuận lợi: Phường Thạch Bàn, quận Long Biên nằm ở vị trímắt xích trong vùng kinh tế động lực Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng nhất đốivới quá trình giao lưu và hợp tác kinh tế của Hà Nội với hai trung tâm kinh tếkhác của vùng là Hải Phòng và Quảng Ninh, với các tuyến giao thong quantrọng từ Hà Nội đi các tỉnh phía Bắc và cảng Hải Phòng, phường Thạch Bàn
có lợi thế trong phát triển kinh tế
Điều kiện thời tiết khí hậu và thổ nhưỡng tương đối thuận lợi cho pháttriển nông nghiệp đô thị sinh thái gắn với du lịch
Thạch Bàn còn khá nhiều quĩ đất phát triển đô thị Hệ thống cơ sở hạtầng, kỹ thuật đang tiếp tục đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại Tiềm năng đótạo thế mạnh cho việc phát triển các khu công nghiệp công nghệ cao
Trang 38Phường có nguồn nhân lực lao động khấ dồi dào, có thể tham gia hoạtđộng kinh tế trên địa bàn lẫn các khu vực nội, ngoại thành và các tỉnh lân cận.
+ Những khó khăn còn tồn tại: Do xuất phát điểm hoàn toàn từ một xãvới phần lớn dân cư chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, phường còn gặpnhiều khó khan về tâm lý, tập quán sản xuất, kinh doanh trong việc phát triểncông nghiệp hiện đại và dịch vụ cao cấp
Do sức hút của quá trình phát triển kinh tế, với tốc độ đô thị hóa cao,phường Thạch Bàn sẽ phải đương đầu với một dòng di cư tự do từ các quậnhuyện và các tỉnh gây ra nhiều vấn đề xã hội, gay quá tải cho hệ thống hạ tầng
kỹ thuật và xã hội trên địa bàn phường
Cơ sở hạ tầng chắp vá chưa đồng bộ, phường vẫn còn gặp nhiều khókhan trong việc cải tạo các công trình kỹ thuật và hạ tầng xã hội do dân cư tậptrung đông tại một số điểm, nhiều công trình đã không còn phù hợp với tiêuchí của một phường thuộc quận nội thành
3.1.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng
Hệ thống đường giao thông: hệ thống giao thông của phường đã được
bê tông hóa và thảm nhựa Trên địa bàn phường có các tuyến đường huyếtmạch chính như đường Thạch Bàn được mở rộng 23 m, đường 40 m nối cầuVĩnh Tuy, đường vành đai III cầu Thanh Trì, đường đê sông Hồng và các
Trang 39đường liên tổ dân phố tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế thương mại dịch
cụ của phường
Hệ thống nước sạch, điện lưới được cung cấp đến 100% hộ gia đình
Hệ thống chợ: chợ Thạch Bàn, chợ Ngã Ba là hai chợ buôn bán lớnnhất của phường, ngoài ra còn các dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ tại các tổ dân phố
Trên địa bàn phường có rất nhiều hệ thống siêu thị mini với các mặthàng đa dạng phục phụ cho nhu cầu của người dân
3.1.5 Giáo dục - Y tế
Trạm y tế phường Thạch Bàn đã được đầu tư xây dựng với 12 phòng vàcác trang thiết bị đáp ứng phục vụ khám tư vấn, chăm sóc sức khoẻ cho nhândân trên địa bàn phường Phường Thạch Bàn được công nhận chuẩn Quốc gia
về y tế cơ sở năm 2005 và phường tiên tiến về y học cổ truyền năm 2006 vàđến nay liên tục giữ vững phường chuẩn quốc gia về y tế cơ sở
Hệ thống trường học gồm có trường mầm non Thạch Bàn, mầm nonHoa Mai, tiểu học Thạch Bàn, trung học cơ sở Thạch Bàn và trung học phổthông Thạch Bàn được đầu tư khang trang về cớ ở vật chất, trang thiết bị phục
vụ cho việc giảng dậy và học tập.
3.1.6 Văn hóa - TDTT
Phường Thạch Bàn có 16/17 tổ dân phố có trụ sở nhà văn hóa là nơisinh hoạt cộng đồng dân cư Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thê thaođược tổ chức thường xuyên, hàng năm 100% số hộ đăng ký xây dựng gia đìnhvăn hóa và có trên 91,3% số hộ đạt danh hiệu Tính đến cuối năm 2013,Thạch Bàn có 15/17 Tổ dân phố đề nghị UBND Quận công nhận Tổ dân phốvăn hóa Phường luôn tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua, công táctuyên truyền, tổ chức các hoạt động thiết thực kỷ niệm 10 năm thành lậpQuận và 10 năm chuyển từ xã thành phường Nhiều bộ phận liên tục dẫn đầuthi đua của Quận như văn phòng cấp ủy, tuyên giáo, kiểm tra giám sát, tưpháp, tài chính kế toán, BCH quân sự
Trang 403.1.7 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Kinh tế của phường Thạch Bàn đã có nhiều chuyển biến tích cực Thựchiện Nghị quyết của Quận uỷ, HĐND, UBND quận Long Biên, Đảng uỷ,HĐND phường Thạch Bàn đã có Nghị Quyết, kế hoạch công tác số08-KH/ĐU ngày 3/11/2012 về việc thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâmtrong phát triển kinh tế của phường giai đoạn 2011 – 2015 Trên cơ sở đóUBND, HTX dịch vụ tổng hợp Thạch Bàn đã tập trung xây dựng kế hoạch tổchức triển khai thực hiện Tổ chức khảo sát đánh giá và phân loại các khu vựccần tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Xây dựng kế hoạch tiến
độ vận động nhân dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế tập trung theohướng sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập cho hộ người dân, phù hợp với khảnăng và trình độ thâm canh của từng hộ, phù hợp với chất đất canh tác và nhucầu tiêu dùng của nhân dân
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp của Thạch Bàn (2011 – 2013)
114,72 9,5 39,5 51,0
113,97 6,2 35,9 57,9
(Nguồn: Niên giám thống kê phường Thạch Bàn)
Kết quả phân tích tại bảng cho thấy, với tốc độ phát triển kinh tế 13
-14 %/năm đã tạo điều kiện cho kinh tế xã hội của phường phát triển và đã tạo
đà cho sự phát triển về xây dựng kết cấu hạ tầng, ổn định đời sống xã hội,nâng cao mức sống của nhân dân và góp phần giải quyết các vấn đề xã hộinhư: giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, từ đó góp phần