Đánh giá thực tế hoạt động tái bảo hiểm thiết bị điện tử ở Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, thoả mãn nhu cầu mọi mặt của khách hàng Tại Việt Nam, thị trường BH trước đây chỉ có duy nhất một công ty BH Nhà nước (Bảo Việt) nhưng nay đã có đủ các loại hình công ty (liên doanh, 100% vốn nước ngoài, cổ phần) làm cho thị trường BH Việt Nam ngày càng trở lên sôi động, vấn
đề khai thác càng khó khăn, cạnh tranh ngày càng mãnh liệt
Muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh như vậy, cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng tham gia BH đồng thời vẫn ổn định được tài chính, các công ty
BH sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Marketing, đầu tư vốn nhàn rỗi, huy động thêm vốn đầu tư, … trong đó, phương pháp tái BH được coi là phương pháp đầu tiên mà một doanh nghiệp BH phải thực hiện vì bản chất phân tán rủi ro của nó có liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh BH
Vì hoạt động tái BH có quan hệ chặt chẽ, qua lại với hoạt động BH gốc nên có thể nói, sự phát triển của BH gốc càng mạnh mẽ thì càng làm cho hoạt động tái BH thêm sôi động Ngược lại, khi hoạt động tái BH được công ty tiến hành hợp lý, nó sẽ mang lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động BH gốc bằng cách giảm bớt phần trách nhiệm mà công
ty không thể đảm đương hết, tới mức phù hợp
Hoạt động tái BH ở Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (gọi tắt là PTI) cũng không nằm ngoài quy luật trên Với đặc thù là một công ty cổ phần, PTI có lợi thề nhiều
về các nguồn dịch vụ từ phía các cổ đông cũng như sự trợ giúp về mặt kỹ thuật của họ, đặc biệt là trong nghiệp vụ BH thiết bị điện tử – nghiệp vụ mà PTI đang dẫn đầu trên thị trường BH phi nhân thọ Việt Nam xét cả về doanh thu phí, giám định kỹ thuật lẫn việc giải quyết bồi thường, khắc phục hậu quả cho khách hàng BH Hàng năm, doanh thu phí
BH từ nghiệp vụ này đều chiếm gần 60% tổng doanh thu phí BH gốc với giá trị hàng chục tỷ đồng (ví dụ như, năm 2002, doanh thu phí BH TBĐT của PTI là 70.361 triệu đồng, chiếm 58,5% tổng doanh thu phí BH gốc toàn công ty, trong đó đa phần có được
là do việc nhận BH cho các thiết bị của VNPT – cổ đông lớn nhất và cũng là khách hàng
Trang 2lớn nhất của PTI với giá trị tài sản hàng nghìn tỷ đồng được BH bởi PTI Hoạt động BH TBĐT phát triển như vậy đòi hỏi công tác tái BH nghiệp vụ này ngày càng phải hoàn thiện để tương xứng với nó Thực tế, trong những năm vừa qua, công tác tái BH đã thể hiện được vai trò của mình, đóng góp một phần vào sự phát triển chung và ổn định tài chính cho PTI.
Chính sự phát triển của nghiệp vụ BH TBĐT – nghiệp vụ mới nhất trên thị trường
BH phi nhân thọ - thể hiện được đặc thù của PTI và sự thành công trong công tác tái BH
TBĐT trong những năm vừa qua của PTI đã khiến em lựa chọn đề tài “Đánh giá thực tế
hoạt động tái bảo hiểm thiết bị điện tử ở Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện” nhằm
vận dụng kiến thức về chuyên ngành BH đã được học ở Bộ môn Bảo hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân để tìm hiểu thực tế triển khai hoạt động tái BH TBĐT của PTI Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị đối với hoạt động này
Nội dung của Đề tài được chia thành 4 chương sau:
Chương I: Lý luận chung về tái bảo hiểm
Chương II: Một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm thiết bị điện tử
Chương III: thực tế hoạt động tái BH TBĐT ở PTI
Chương IV: Một số kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ tái BH TBĐT của PTIVới khả năng hạn chế của một sinh viên, mặc dù đã hết sức cố gắng song bài viết này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thày giáo, cô giáo, của các cán bộ trong ngành để bài viết của em thêm hoàn thiện
Luận văn này được hoàn thành với sự chỉ bảo tận tình của cô giáo Nguyễn Ngọc Hương cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ phòng tái bảo hiểm – công ty PTI, nơi em thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các thày cô giáo, ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công ty PTI
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁI BẢO HIỂM
I TÁI BẢO HIỂM – SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN
1 Đặt vấn đề
Người được BH tham gia BH bởi họ muốn chuyển giao rủi ro cho người khác, tức
là chuyển giao hàng loạt những điều không chắc chắn cho công ty BH (người BH) Những điều không chắc chắn ở đây là: liệu có tổn thất hay không và nếu có thì tổn thất
đó lớn tới mức nào? Sau khi đã chấp nhận rủi ro mà người được BH chuyển sang, công
ty BH thực sự ở vào vị trí của người được BH và phải đối mặt với những khó khăn mà người được BH có thể sẽ gặp phải, cả những điều không chắc chắn nêu trên
Không hoàn toàn giống với người được BH, công ty BH có được sự bảo vệ vì nó nhận một số lượng lớn các rủi ro tương tự và không phải rủi ro nào cũng dẫn tới tổn thất hay khiếu nại Mặc dù vậy, công ty BH cũng không thể hoàn toàn tin tưởng vào sự bảo
vệ này bởi vì chính họ cũng không thể lường trước các tổn thất có thể xảy ra nhiều hơn
dự kiến Họ chỉ thu phí từ người tham gia BH ở mức đã được hai bên thoả thuận trước
và mức này không được thay đổi cho dù tổn thất thực tế xảy ra lớn tới mức nào
2 Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống con người ngày càng được nâng cao kéo theo đó là nhu cầu về BH ngày càng lớn Mặc dù có được lợi thế đem lại do việc chấp nhận nhiều rủi ro cùng loại cũng như có nhiều kinh nghiệm đối với những vấn đề liên quan tới rủi ro song các công ty BH vẫn gặp phải những khó khăn và đe doạ bởi một
Trang 4thực tế là các công ty BH cũng giống như các công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập với một lượng vốn nhất định, khi xảy ra tổn thất quá lớn thuộc phạm vi BH, công ty
BH sẽ không có khả năng chi trả Kết quả là đã có nhiều công ty BH bị phá sản
Muốn tồn tại và duy trì dịch vụ, các công ty BH đã lựa chọn phương thức hoạt động mới là hợp tác với các công ty BH khác dưới hình thức phân tán rủi ro gọi là tái bảo hiểm
Những tác dụng cơ bản của tái BH là:
- Phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài chính cho công ty BH gốc, đặc biệt là trong những trương hợp xảy ra các sự cố thảm họa hay tích luỹ rủi ro;
- Tăng cường khả năng nhận BH của công ty BH gốc đối với những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của nó;
- Góp phần ổn định thu chi của ngân sách Nhà nước và tăng thu ngoại tệ cho Nhà nước;
- Giúp các công ty BH nhỏ, mới thành lập ổn định và phát triển nhờ tư vấn về nghiệp vụ từ các công ty tái BH;
- Giúp các công ty BH sửa chữa tính bất thường, đột biến của rủi ro – khả năng sai lệch giữa thực tế và dự đoán mà mà người BH có được nhờ số liệu thống kê từ quá khứ;
- Góp phần thúc đẩy, phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước bởi tái BH
là hoạt động mang tính chất quốc tế;
- Gián tiếp bảo vệ quyền lợi cho người tham gia BH bằng sự ổn định tài chính của công ty BH gốc;
- Đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên làm việc trong các công ty BH gốc, góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động xã hội (tạo chỗ làm tại các công ty
BH, tái BH, công ty môi giới tái BH,…);
- Tạo điều kiện cho công ty BH khi muốn rút lui khỏi thị trường nào đó (khi nhận thấy không còn đủ khả năng để thực hiện một nghiệp vụ BH nào đó hoặc khi muốn tập trung vào các nghiệp vụ khác mà công ty có thế mạnh…, công ty BH này có thể nhượng tái BH các đơn BH thuộc loại nghiệp vụ này cho các công ty khác)
Trang 5II LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TÁI BẢO HIỂM – THỊ TRƯƠNG TÁI BẢO HIỂM
1 Lịch sử phát triển của tái bảo hiểm
Thực tế cho thấy, ngành BH nói chung và tái BH nói riêng đều ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Lịch sử phát triển của tái BH có thể tóm tắt thành các giai đoạn sau:
1.1 Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm
Do nhu cầu vận chuyển hàng hoá bằng đường biển nên nghiệp vụ BH và tái BH đầu tiên là các nghiệp vụ liên quan đến hàng hải Italia là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời và phát triển của tái BH Bản giao ước cổ nhất được biết đến có tính chất pháp lý như một hợp đồng tái BH được ký kết vào năm 1370 tại thành phố Genes Đó là hợp đồng tái BH hàng hải, liên quan tới chuyến hành trình bằng đường biển từ Cadiz (Tây Ban Nha) đến Sluys (Hà Lan) Sau này, với sự phát triển rộng rãi của những quan hệ thương mại giữa các thành phố của Italia cũng như các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh, dịch vụ tái BH cũng phát triển theo Tuy nhiên, sau khi có sự xuất hiện của những
vụ lạm dụng có tính chất con buôn gây ra nhiều phản ứng chống lại bản chất của tái BH
đã dẫn đến việc ra đời của đạo luật cấm các hoạt động tái BH hàng hải ở nước Anh Trong một thời gian dài (1746-1864), đạo luật này vô hình chung đã tạo điều kiện cho tổ chức LLOYD’S phát huy ảnh hưởng của mình bằng đồng BH Sau năm1864, nó trở thành thị trường tái BH quan trọng nhất trên thế giới Thời gian này cũng đã chứng kiến
sự xuất hiện của các nghiệp vụ tái BH khác như tái BH cháy,… Hình thức tái BH duy nhất được áp dụng trong thời kỳ này là tái BH tuỳ ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng biệt
1.2 Giai đoạn từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
Trong giai đoạn này, nhờ ứng dụng những thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nền kinh tế của các nước TBCN đã có những bước tiến nhảy vọt, quan hệ giao lưu hàng hoá giữa các nước được mở rộng và ngày càng phát triển mạnh Đây chính là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các công ty tái BH chuyên nghiệp
Năm 1843, công ty tái BH nội bộ đầu tiên ra đời là Weceler Re (Đức) Tuy nhiên,
nó chỉ là công ty con của một công ty BH địa phương, chủ yếu nhận các phần dôi của công ty mẹ
Trang 6Năm 1852, công ty tái BH độc lập đầu tiên được thành lập mang tên Cologe Re Sau đó là sự ra đời của một số công ty tái BH chuyên nghiệp có tên tuổi đến nay vẫn hoạt động là:
- Swiss Re - công ty tái BH đầu tiên của Thuỵ Sỹ, thành lập năm 1863;
- London Gurantee Reinsurance Co.Ltd (Luân Đôn) – 1869;
- Munich Re (Đức), thành lập năm 1880
Ở Anh, công ty tái BH đầu tiên là The Reinsurance Company Ltd, thành lập năm
1867 và vào thời gian đó, trên thế giới mới chỉ tồn tại 10 công ty tái BH Tuy nhiên, công ty này đã đóng cửa vì phá sản vào năm 1871 Một số công ty tái BH khác đã được thành lập nhưng không tồn tại được lâu Năm 1907, công ty tái BH Vương quốc Anh thành lập, mang tên Mercantile & General Reinsurance Một năm sau, năm 1908, công
ty tái BH Bristish & European ra đời
Ở Mỹ, công ty tái BH đầu tiên được thành lập năm 1912 với tên The First Reinsurance Company of Hartford khi mà các công ty tái BH nước ngoài đã hoạt động tại Mỹ một số năm trước đó
Vào những năm 1920, người ta cũng chứng kiến sự ra đời của các tập đoàn tái BH địa phương như Uruguay, Chile, Banco del Estado,… Ban đầu, những công ty này không tìm kiếm dịch vụ ngoài những dịch vụ của địa phương bị bắy buộc nhượng cho họ
Nói chung, trong giai đoạn này đã có nhiều hình thức và phương pháp tái BH được xây dựng Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ II đã làm tổn hại đến sự phát triển của ngành BH nói chung và tái BH nói riêng Bị tổn thất nhiều nhất là các công ty BH Đức, các công ty ở những nước không có chiến tranh đe doạ đã vươn lên nắm lấy thị trường tái BH quốc tế
1.3 Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ II
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc năm 1945 với thắng lợi của Hồng quân Liên
Xô và phe đồng minh đánh bọn Phát xít tới tận gốc rễ Sự kiện lịch sử này đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của loài người cũng như của nền kinh tế và ngành BH-tái BH Thị trường tái BH thế giới được chia thành 2 mảng lớn:
Trang 7- Mảng thứ nhất ở các nước XHCN Do cơ chế kế hoạch hoá điều tiết toàn bộ nền kinh tế nên toàn bộ lĩnh vực BH và tái BH chỉ phục vụ cho hai nghiệp vụ mang tính chất đối ngoại là BH hàng hoá nhập khẩu và BH thân tàu thuỷ.
- Mảng thứ hai ở các nước TBCN Tại các nước này, rất nhiều công ty tái BH mới được thành lập và ngày càng có nhiều công ty BH tiến hành đồng thời dịch vụ tái BH cho nên cuộc cạnh tranh giữa họ ngày càng gay gắt và dưới nhiều hình thức khác nhau
Vào những năm 1970-1980 các tập đoàn tái BH vùng ra đời Quan trọng nhất cho tới nay là Tập đoàn tái BH Châu Phi, Tập đoàn tái BH Châu Á, tập đoàn tái BH Asean Các tập đoàn này vận hành dựa trên cơ sở nhượng bắt buộc hay tự nguyện với nhau giữa các thành viên
Năm 2001, với thảm họa khủng bố giáng xuống nước Mỹ ngày 11/9, các công ty
BH, tái BH phải gánh chịu những khoản tổn thất nặng nề chưa từng có với tổng tổn thất được BH lên tới 40,2 tỷ USD Theo kết quả được công bố từ tổ chức chuyên xếp hạng mức tín nhiệm S & P thì ngay cả các công ty tái BH hàng đầu thế giới cũng bị tụt hạng sau sự kiện này (Hannover Reinsurance từ AA+ xuống AA, Swiss Reinsurance từ AAA xuống AA+,…
Năm 2002 chứng kiến sự rút lui của công ty tái BH lớn thứ 6 thế giới là Gerling Global Reinsurance sau nhiều tháng tìm kiếm nhà đầu tư
2 Thị trường tái bảo hiểm
Việc nghiên cứu thị trường BH và tái BH là một việclàm có tầm quan trọng lớn đối với hoạt động kinh doanh của các công ty BH và tái BH Nhiệm vụ của việc nghiên cứu này là tìm hiểu các quy luật của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng tới nó và chiều hướng phát triển của nó để từ đó đề ra các biện pháp và chính sách phù hợp nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường và thực hiện có hiệu quả các chức năng của BH và tái BH
Không giống như các thị trường hàng hoá nói chung, thị trường tái BH không thể hiện mối quan hệ của quá trình lưu thông hàng hoá mà là quá trình phân phối lại vì trên thị trường tái BH không có quá trình chuyển thể từ tiền tệ thanh hàng hoá và ngược lại Quá trình phân phối này được diễn ra giữa các thành viên tham gia thị trường tái BH Về
Trang 8cơ bản thì các thành viên bao gồm: các công ty BH gốc, các công ty tái BH, các công ty môi giới.
2.1 Các công ty BH gốc (hay còn gọi là các công ty nhượng)
Các công ty này xuất hiện trên thị trường tái BH dưới danh nghĩa là các nhà chào tái BH Họ chính những người “mua”dịch vụ tái BH thông qua hợp đồng tái BH với các công ty nhận tái BH Các công ty BH gốc có thể làcông ty độc lập hay phụ thuộc (công
ty BH chuyên ngành), hoặc các nghiệp đoàn của LLOYD’S
2.2 Các công ty tái BH
Trên thị trường, họ là những người “bán” dịch vụ tái BH và ký hợp đồng với các ctbh gốc nhằm BH lại các rủi ro đã được BH Các công ty này có thể chia thành hai nhóm là:
- Các công ty tái BH chuyên nghiệp: đây là những công ty chỉ tiến hành các nghiệp vụ tái BH;
- Các công ty tái BH không chuyên: đây là các công ty BH gốc nhưng tiến hành
cả nghiệp vụ tái BH Trong thực tế, các công ty tái BH không chuyên bao gồm: các công
ty BH độc lập, các công ty BH chuyên ngành (phục vụ cho công ty mẹ), các quỹ chung (do các tổ chức có rủi ro giống nhau lập ra, ví dụ như: người vận hành các dàn khoan lọc dầu hoặc những người chịu các rủi ro thiên nhiên cá biệt mà ở đó mức độ rủi ro rất cao,
ví dụ như động đất,…), và các nghiệp đoàn của LLOYD’S
2.3 Các công ty môi giới tái BH
Môi giới trong tái BH là những công ty hoạt động độc lập nhằm thiết lập những
mối quan hệ hợp đồng giữa công ty tái BH và các công ty BH Họ là những người có chuyên môn về tái BH và các thị trường tái BH trên thế giới Nhiệm vụ chính của họ là: vận động tuyên truyền và khai thác dịch vụ tái BH; phân chia rủi ro; ký hợp đồng và theo dõi hợp đồng tái BH,…
Thị trường tái BH là một tổng thể gồm nhiều mối quan hệ BH và tài chính Các mối quan hệ này phụ thuộc vào bản chất của phương thức sản xuất xã hội và quyết định
cơ cấu bên trong của thị trường Các mối quan hệ chính trên thị trường tái BH gồm có:
- Quan hệ giữa các công ty BH và các công ty tái BH thông qua hợp đồng tái BH
Trang 9- Quan hệ giữa các công ty tái BH với nhau trên cơ sở cạnh tranh và hợp tác nhằm mục đích kiếm nhiều lợi nhuận nhất
- Quan hệ giữa môi giới và các thành viên chính trong thị trường
Các mối quan hệ này cũng như thị trường tái BH đều chịu ảnh hưởng từ các yếu
tố của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội bởi vì ngành BH là một bộ phận của nền tài chính và là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Có thể kể ra các yếu tố tác động sau:
- Tác động của sự phát triển lực lượng sản xuất theo hướng:
+ Nhiều công cụ lao động và đối tượng lao động mới xuất hiện dẫn đến khả năng xảy ra tổn thất chưa được biết đến ngày càng nhiều (ví dụ như việc sử dụng máy tính điện tử, Robot, năng lượng nguyên tử,…)
+ Tác động của những rủi ro gây tổn thất ngày càng lớn lên theo sự phát triển của lực lượng sản xuất (ví dụ như: mức độ tổn thất, xác suất xảy ra tổn thất, hậu quả của tổn thất,…)
- Tác động của sự phát triển quan hệ sản xuất Tác động của sự phát triển của quan hệ sản xuất đối với thị trường tái BH thể hiện rõ nét thông qua các quy luật kinh tế
mà quy luật có ảnh hưởng lớn nhất là quy luật cạnh tranh Nó được thể hiện dưới hình thức sau:
+ Cạnh tranh trong nội bộ các tập đoàn và công ty tái BH;
+ Cạnh tranh giữa các công ty tái BH với nhau;
+ Cạnh tranh giữa các công ty tái BH và công ty BH;
Ngoài ra, các yếu tố như khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp,… đều có ảnh hưởng đến thị trường tái BH
- Sự chi phối và quản lý của Nhà nước Yếu tố này được xác định thông qua vai trò ngày càng tăng của nhà nước trong lĩnh vực chính trị và kinh tế ảnh hưởng của Nhà nước đối với thị trường tái BH thông qua hai con đường:
+ Trực tiếp: Nhà nước thành lập các uỷ ban giám sát và quản lý hoạt động của các công ty BH
Trang 10+ Gián tiếp: thông qua chính sách thuế đối với các công ty BH, công ty tái
BH, chính sách kinh tế đối ngoại,…
- Tác động của sự phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và của nền kinh tế, các mối quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng Nó được thể hiện thông qua việc quốc tế hoá các nền kinh tế quốc dân và có ý nghĩa đối với một số nước Sự phát triển này ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường tái BH thông qua:
+ Nhu cầu BH tăng;
+ Rủi ro gây tổn thất trong giao lưu hàng hoá tăng;
+ Sự gia tăng hậu quả của tổn thất;
Nói tóm lại, các yếu tố trên tạo nên một vỏ bọc khép kín bên ngoài thị trường tái
BH và chi phối các hoạt động của thị trường theo nhiều hướng khác nhau
III CÁC HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM
1 Các hình thức tái bảo hiểm
Theo lịch sử phát triển, tái BH có các hình thức cơ bản sau:
- Tái BH tạm thời (tái BH tuỳ ý lựa chọn);
- Tái BH bắt buộc;
- Tái BH kết hợp tuỳ ý lựa chọn – bắt buộc;
1.1 Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (Facultative)
Đây là hình thức tái BH cơ bản và cổ điển nhất Theo hình thức này, công ty nhượng toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái đi và công ty nhận (nhà tái BH) có quyền nhận hay từ chối rủi ro đó
Quy trình để thực hiện tái BH tuỳ ý lựa chọn gồm có các bước:
- Công ty nhượng thông báo cho nhà tái BH một dịch vụ nào đó mà họ cần tái đi dưới hình thức một để nghị, trong đó ghi rõ các đặc điểm chính của rủi ro được tái BH chẳng hạn như:
+ Tên và địa chỉ của người được BH;
Trang 11+ Tính chất của rủi ro được BH;
+ Ngày bắt đầu và ngày chấm dứt;
+ Số tiền BH, phí BH, phần giữ lại của công ty nhượng;
+ Thủ tục phí tái BH,…
+ …
- Sau khi nhận được đề nghị, nhà tái BH có quyền lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay một số tiền cố định trên cơ sở rủi ro được đề nghị Nhà tái BH xác nhận phần tham gia của mình vào một phiếu đề nghị và gửi lại cho công ty nhượng đồng thời, nhà tái BH có thể yêu cầu cung cấp thêm thông tin cần thiết Chỉ khi được thông báo chấp nhận, dịch vụ tái BH tuỳ ý lựa chọn mới có hiệu lực và cũng tự động chấm dứt vào ngày đến hạn nếu không có bổ sung thêm
Ưu điểm và nhược điểm của hình thức này là:
- Ưu điểm:
+ Giúp các công ty nhượng đặc biệt là các công ty mới thành lập còn ít kinh nghiệm có thể hoàn thành việc nhận BH cho những đơn vị rủi ro ở địa phương mà có giá trị lớn, vượt quá khả năng tài chính của họ bằng việc sử dụng chuyên môn và khả năng của thị trường tái BH quốc tế;
+ Giúp công ty nhượng có điều kiện loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thất thuộc đơn vị này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mình trong năm nghiệp vụ BH riêng biệt nào đó;
+ Giúp cho công ty nhượng có thể chủ động trong việc chấp nhận BH phục
vụ nhu cầu của người được BH về những loại rủi ro mà có thể không được chấp nhận trong các hợp đồng BH bắt buộc truyền thống của mình, chẳng hạn như: rủi ro động đất, ngập lụt, đình công, bạo loạn, chiến tranh hoặc những rủi ro tương tự khác;
+ Tạo điều kiện cho công ty nhượng cải thiện sự thăng bằng của các hình thức tái BH bắt buộc, cải thiện vận may rủi trong việc đạt được những lợi ích tối đa theo các điều kiện quy định trong các hợp đồng tái BH đó của họ (ví dụ: điều kiện về chia lãi, thủ tục phí tái BH theo thang luỹ tiến, thủ tục phí tái BH theo lãi,…)
- Nhược điểm:
Trang 12+ Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ, chi tiết về nghiệp vụ BH gốc dẫn đến có thể bị tiết lộ thông tin có lợi cho đối thủ cạnh tranh trong thị trường BH gốc;
+ Không đảm bảo thời gian trong việc phân tán rủi ro tái BH do đó có thể
sẽ mất cơ hội tranh thủ BH hoặc không có khả năng để nhận BH cho rủi ro có giá trị lớn, hay ít nhất cũng làm cho công ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được BH;
+ Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém do đó làm giảm thu nhập kinh doanh, ít lãi;
+ Thường xuyên phải đàm phán tái lập lại hợp đồng tái BH trước khi quyết định ký kết hợp đồng BH gốc với khách hàng mà trong nhiều trường hợp đáng lẽ không cần thiết phải thay đổi hay huỷ bỏ hợp đồng đã ký;
+ Trong trường hợp khi khả năng nhận của thị trường tái BH quốc tế đã đạt gần tới mức tối đa, hoặc khi phí BH gốc quá thấp so với phí trung bình của thị trường thì hình thức tái BH này chỉ có thể được thức hiện được với một mức phí cao hơn của mức phí BH gốc hoặc buộc phải giảm bớt mức thủ tục phí tái BH Trong trường hợp này, mức sai biệt đó sẽ do công ty nhượng buộc phải giảm bớt phần trách nhiệm mà mình đã cam kết trong hợp đồng BH gốc
1.2 Tái bảo hiểm bắt buộc (Obligatory)
Tái BH bắt buộc là sự thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà tái BH trong đó công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái BH tất cả các đơn vị rủi ro gốc ma hai bên đã thoả thuận từ trước Ngược lại, nhà tái BH cũng buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó Ở đây, công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận BH gốc, định phí,… mà không phải thông qua ý kiến của nhà tái BH Công ty nhượng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên quan đến những rủi ro được BH với mục đích bảo vệ quyền lợi chung của công ty nhượng và nhà tái BH Ngược lại, nhà tái BH chia sẻ rủi ro với công ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn thất thuộc phạm vi hợp đồng tái BH
đã thoả thuận mà công ty nhượng thay mặt họ giải quyết
Như vậy, hình thức tái BH bắt buộc là thoả thuận ràng buộc các bên với nhau một cách chặt chẽ hơn là hình thức tái BH tuỳ ý lựa chọn
Ưu điểm và nhược điểm của hình thức này là:
Trang 13+ Đây là hình thức rất chặt chẽ bởi vì mọi thoả thuận đã được thảo luận từ trước khi ký kết hợp đồng, vì vậy phí BH mà các bên thu được cũng cao nhất;
- Nhược điểm:
+ Đối với những nghiệp vụ BH mới triển khai, các nhà tái BH không lường hết được mức độ rủi ro cũng như xác suất rủi ro vì vậy, việc ký kết hợp đồng ít nhiều còn mang tính mạo hiểm;
+ Vì mọi rủi ro đều phải tái đi cho nên, đứng về phía công ty nhượng, những đơn vị rủi ro có số tiền BH nhỏ vẫn phải đem đi tái trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có thể đảm đương được;
1.3 Tái bảo hiểm kết hợp tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc (Facultative – Obligatory)
Đây là hình thức tái BH mà công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các dịch vụ mà mình nhận BH nhưng công ty nhận bắt buộc phải nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả thuận này với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung điều khoản đã quy ước của hợp đồng tái BH thoả thuận Như vậy, so với hình thức tái BH tuỳ ý lựa chọn, nhà tái BH bất lợi hơn vì không có quyền từ chối những rủi ro mà họ không muốn nhận
Để bù đắp lại thiệt thòi nói trên, trong hình thức tái BH này, công ty tái BH có điều kiện thu nhập nguồn phí tái BH lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với hình thức tái BH tuỳ ý lựa chọn Ở đây, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức này
để lựa chọn tái đi những rủi ro có khả năng xảy ra tổn thất lớn với mục đích đẩy phần bất lợi cho nhà tái BH Để đề phòng trường hợp này xảy ra, công ty nhận phải nắm vững
ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà công ty nhượng đem tái BH và thường xuyên phải canh chừng diễn biến của thoả ước mà mình đã ký kết Sử dụng hình thức tái BH này, công ty nhượng có điều kiện để đem chào tái BH từng phần trách
Trang 14nhiệm thặng dư của khả năng tự giữ lại của mình cho một hay một số ít các nhà tái BH
mà họ lựa chọn, thay cho việc phải đem tất chia tất cả các phần thặng dư cho các nhà tái
BH nếu đem tái theo hình thức bắt buộc Tuy nhiên, cách tái BH như thế thường chỉ có các công ty nhận có tiềm lực thật lớn vì họ là những người có khả năng nhận các rủi ro
có giá trị BH cao và như vậy sẽ không đòi hỏi phân tán cho quá nhiều nhà tái BH, đỡ tốn kém chi phí
Trong trường hợp công ty nhượng có quá nhiều đơn vị rủi ro cần phải đem tái thì chi phí hành chính cho việc áp dụng hình thức tái BH này sẽ rất tốn kém vì những rủi ro cần tái BH đó thường đòi hỏi các điều kiện tái BH khác nhau, công tác tính toán phí và
sổ sách kế toán sẽ phức tạp và khó khăn hơn
2 Các phương pháp tái bảo hiểm
Để có thể tiến hành hoạt động tái BH thì các công ty tham gia vào quá trình này phải xác định cách thức phân chia trách nhiệm về số tiền BH, chuyển nhượng phí BH cũng như phân chia số tiền bồi thường giữa người nhượng và người nhận tái BH Công việc này chính là việc xác định phương pháp tái BH
Thực tế có các phương pháp tái BH sau:
2.1 Tái bảo hiểm tỷ lệ (tái bảo hiểm theo số tiền bảo hiểm)
* Định nghĩa: tái BH theo số tiền BH là một phương pháp tái BH trong đó, trách nhiệm của công ty nhượng và nhà tái BH đối với đơn vị rủi ro được BH được phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền BH Chính vì lý do này mà tái BH theo
số tiền BH được gọi là tái BH theo tỷ lệ
Phương pháp tái BH theo tỷ lệ lại được chia thành hai dạng chính là “tái BH mức dôi” hay còn gọi là “tái BH thặng dư vốn”, và tái BH số thành hay còn gọi là “tái BH phân ngạch thuần” hay “tái BH tham gia”
2.2.1 Tái bảo hiểm số thành (Quota Share)
Theo phương pháp này, công ty nhượng giữ lại cho mình một tỷ lệ nhất định (so với số tiền BH), phần còn lại được tái đi Do đó, phí BH và số tiền bồi thường cũng được phân chia theo tỷ lệ tương ứng
Trang 15Tái bảo hiểm số thành được sử dụng nhiều hơn cả là trong các nghiệp vụ BH trách nhiệm dân sự, BH ôtô, BH mưa đá, giông bão, BH vận chuyển hàng hoá Phương pháp này thường được dùng kết hợp với một dạng tái BH vượt mức bồi thường (tức là tái BH phi tỷ lệ) Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, người ta cũng có thể kết hợp cả hai dạng tái BH tỷ lệ (số thành và mức dôi),
Trong tái bảo hiểm số thành, chúng tôi nhượng và công ty nhận cùng có nghĩa vụ trước tất cả các rủi ro được BH bởi vì tỷ lệ giữ lại và tỷ lệ tái đi đều là số tương đối (tức
là tỷ lệ %) áp dụng như nhau cho mọi đơn vị rủi ro BH gốc
Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp tái bảo hiểm số thành:
+ Thủ tục phí tái BH của dạng này cao nhất; ngoài ra, điều kiện về phí tạm giữ phí tái BH cũng có tỷ lệ cao, nhờ vậy ma công ty nhượng có điều kiện để sử dụng vốn nhàn rỗi để đầu tư vào các việc khác
- Nhược điểm:
+ Công ty nhượng phải đem tái BH toàn bộ các đơn vị rủi ro BH gốc theo một tỷ lệ định trước, kể cả những rủi ro nhỏ mà bản thân công ty nhượng có đủ khả năng
và điều kiện để giữ lại được;
+ Mặc dù khi áp dụng phương pháp này, công ty nhượng có thuận lợi hơn dạng tái BH mức dôi trong việc thực hiện BH với khả năng phân tán rủi ro tốt và linh hoạt nhưng công ty nhượng không chủ động được trong việc khống chế tỷ lệ bồi thường đối với mức giữ lại của mình, đồng thời không có khả năng để giảm hệ số biến thiên của phần tổn thất thuộc mức giữ lại;
Trang 16Từ những ưu, nhược điểm trên, phương pháp tái BH số thành được ứng dụng trong các trường hợp sau:
- Khi công ty nhượng mới bắt đầu triển khai một nghiệp vụ BH mới mà họ chưa
có kinh nghiệm và thiếu tư liệu thống kê, phân tích khả năng tiến triển của loại nghiệp
vụ đó Nó cũng rất phù hợp khi áp dụng cho các công ty BH còn non trẻ;
- Khi công ty nhượng có ý định thu xếp tái BH dưới hình thức trao đổi dịch vụ giữa các công ty với nhau;
- Đối với những loại nghiệp vụ mà công ty nhượng có khó khăn trong việc phân định thế nào là một rủi ro đơn (ví dụ như trong BH mùa màng, BH cây trồng,…)
- Nhằm mục đích giảm nhẹ khả năng nguy hiểm của công ty nhượng đối với các hợp đồng BH về rủi ro thiên tai;
- Đối với các loại nghiệp vụ mà phạm vi tác động và quy mô của tổn thất không chắc chắn, mặc dù các hợp đồng BH loại này có thể có giới hạn trách nhiệm (ví dụ như các dịch vụ BH về trách nhiệm);
- Thường được áp dụng trong các “nhóm liên doanh” (pools) các công ty BH hoặc dưới hình thức “chuyển nhượng tái BH” (retrocession).
Ví dụ minh hoạ về tái BH số thành:
Mức giữ lại: $ 400.000 (40%)Tái BH số thành: $ 600.000 (60%) cho các nhà tái BH:
Nhà tái BH A: 10 %Nhà tái BH B: 20 %Nhà tái BH C: 30 %Chẳng hạn có 3 đơn vị rủi ro và cả 3 đều xảy ra tổn thất Phân chia STBH, STBT như sau:
Trang 1740 40 16
20.000 80.000 100.000
10 10 10
40.000 160.000 200.000
20 20 20
60.000 240.00 0 300.00 0
30 30 30
- 240.000
-2.1.2 Tái bảo hiểm mức dôi (surplus)
Tái BH mức dôi là phơng pháp tái BH có từ lâu đời nhất và phổ biến nhất Thông ờng phơng pháp này đợc sử dụng khi khối lợng dịch vụ gồm nhiều rủi ro có những số tiền chênh lệch rất lớn đợc bảo hiểm đặc trng của phơng pháp tái BH này là công ty nhợng ấn
th-định mức dữ lại, số dôi ra tái đi
u nhợc điểm của phơng pháp này là:
Trang 18VÝ dô minh ho¹ vÒ t¸i BH møc d«i:
Møc gi÷ l¹i: 100.000$, møc tr¸ch nhiÖm: 1.000.000$
Trang 19100 10 4
100.000 100.000
10 4
300.00 0 300.00 0
30 12
500.000 500.000
50 20
- 1.500.000
-
100 10 4
80.000 40.00 0
240.00 0 120.000
30 12
30 12
400.00 0 200.000
50 20
- 600.00
- 60
-Riêng rủi ro 3 còn phần d thừa là 1.500.000$( STBH) có thể công ty bảo hiểm gốc đảm nhận hoặc tiếp tục tái đi theo phơng pháp khác
2.2 tái BH không theo tỷ lệ (tái BH theo mức bồi thờng).
* Định nghĩa: tái BH không theo tỷ lệ là phơng pháp tái BH dựa trên cơ sở số tiền bồi ờng ở đây việc phân chia trách nhiệm theo số tiền bảo hiểm không đợc quan tâm còn phí tái BH và phân bổ số tiền bồi thờng không bị ràng buộc cùng tỷ lệ
th-Tái BH không theo tỷ lệ có hai loại cơ bản: tái BH vợt mức bồi thờng và tái BH vợt tỷ lệ bồi thờng
2.2.1 Tái bảo hiểm vợt mức bồi thờng (Excess of loss).
Phơng pháp tái BH vợt mức bồi thờng là phơng pháp mà theo đó công ty nhợng sẽ thanh toán số tiền cố định đầu tiên của các tổn thất phát sinh từ một sự cố và công ty nhận
sẽ thanh toán số tiền cố định vợt quá mức giữ lại
Trang 20Xem lại
Tái BH vợt mức bồi thờng lại chia thành hai dạng:
+ Tái BH vợt mức bồi thờng đảm bảo nghiệp vụ
+ Tái BH vợt mức bồi thờng đảm bảo tai nạn khốc liệt
2.2.1.1 tái BH v ợt mức bồi th ờng đảm bảo nghiệp vụ (Working Excess of loss – XOL).Theo phơng pháp XOL, công ty nhận tái BH sẽ thanh toán bất cứ tổn thất nào đối với từng rủi ro riêng biệt vợt quá phần giữ lại trên mỗi tổn thất của công ty nhợng Phần giữ lại này phải đợc sử dụng thay thế mức dôi
2.2.1.2 Tái BH v ợt mức bồi th ờng đảm bảo tai hoạ khốc liệt
Hợp đồng tái BH vợt mức bồi thờng đảm bảo tai hoạ khốc liệt (catastrophe Excess
of loss – catxol) đa ra sự bảo vệ chống lại nhiều tổn thất gây ra bởi một sự cố hoặc sự kiện, chẳng hạn nh một trận động đất, một cơn bão, loại bảo vệ này cho phép công ty…nhợng tích tụ các tổn thất sinh ra từ một sự cố đơn lẻ và nhận lại tất cả các khoản tiền vợt quá phân giữ lại của nó Do đó, phơng pháp này đợc đánh giá cao mặc dù công ty nhợng phải lu ý về rất nhiều tổn thất thuộc về một vài rủi ro, tổn thất giữ lại của nó đợc giới hạn
ở mức giữ lại thoả thuận trớc Toàn bộ số tiền bồi thờng vợt quá giới hạn trong hợp đồng
đợc nhận lại từ các nhà tái bảo hiểm giới hạn và phần giữ lại đợc xác định vào thời điểm bắt đầu hợp đồng
Bổ sung cho 2.2.1
Trách nhiệm bồi thờng của các bên đợc xác định theo các quy tắc sau:
+ Công ty nhợng giữ lại mức tự bồi thờng bằng một khoản tiền nhất định (priority) Phần thiệt hại phải bồi thờng vợt quá mức đó sẽ thuộc về trách nhiệm của công ty nhận+ Trách nhiệm của ngời nhận tái có thể có giới hạn hoặc không
+ Trờng hợp có nhiều ngời nhận tái tham gia hợp đồng thì trách nhiệm của họ đợc xếp thành các lớp (layer) Các lớp đó không nhất thiết phải bằng nhau và đợc ấn định bằng các ngỡng giới hạn( sàn và trần) để xác định khi nào ngời nhận tái lớp đó phải bồi thờng và trách nhiệm bồi thờng tối đa là bao nhiêu
Trang 21+ Bồi thờng của ngời nhận và nhợng tái đợc xác định theo thứ tự: khi có thiệt hại, ngời nhợng chịu trách nhiệm cho tới ngỡng của mức tự bồi thờng và từng ngời nhận tái sẽ bồi thờng khi thiệt hại đã vợt quá “trần” của lớp trớc.
Với giả định phát sinh 4 tổn thất với số tiền bồi thờng (bảng sau)
Phân bổ số tiền bồi thờng
2
3
1.250 4.150 9.200
1.250 2.500 2.500
1.650 2.500
- 4.200
- -
Trang 22-4 15.350 2.500 2.500 5.000 5.350
Cộng 29.950 8.750 6.650 9.200 5.350
2.2.2 Tái BH vợt tỷ lệ bồi thờng (Excess of loss ratio).
Tái BH vợt tỷ lệ bồi thờng, còn đợc gọi là tái BH chặn đứng tổn thất ( stop loss), bảo vệ công ty nhợng khỏi tổn thất lớn hơn một phần nhất định của một loại nghiệp vụ nào
đó trong một khoản thời gian nhất định (đợc gọi là phần giữ lại) Phần giữ lại này đợc
ấn định sau khi công ty nhợng xem xét phí bảo hiểm, hoa hông bảo hiểm và các chi phí hàng năm cũng nh kinh nghiệm về tổn thất của mình đối với loại nghiệp vụ cần tái đi và thờng đợc diễn tả dới một tỷ lệ phần trăm nào đó của Gross Net Premium Income (GNPI) Ngời nhận tái BH sẽ chỉ có trách nhiệm thanh toán khi tỷ lệ tổn thất, tình theo năm, của loại nghiệp vụ đó, vợt quá tỷ lệ % thoả thuận trớc Thông thờng sẽ
có một giới hạn cao nhất định đợc ấn định và nó cũng thờng đợc diễn tả dới một dạng
tỷ lệ % so với GNPI mà thực ra có quan hệ tới giới hạn về tiền ( phải thanh toán cho tổn thất)
Mục đớch của phương phỏp này là làm cõn bằng những tỷ lệ tổn thất khụng bỡnh thường và hay được sử dụng trong bảo hiểm mựa màng, mưa đỏ…
Tỷ lệ bồi thường được tớnh toỏn trờn cơ sở số tiền bồi thường trong năm nghiệp vụ
so với số phớ gốc thu được:
Cụng thức
vớ dụ minh hoạ: hợp đồng bảo hiểm tỏi BH vượt tỷ lệ bồi thường quy định cụng ty nhượng sẽ giữ lại 90% giỏ trị tổn thất cũn người nhận tỏi là 60% vượt quỏ 90% Giả sử, tổng phớ gốc thu được là 1.000.000 USD Cú cỏc trường hợp sau xảy ra:
+ Trường hợp thứ nhất: tổng tổn thất bồi thường là 600.000USD tỷ lệ bồi thường là 60% trỏch nhiệm hoàn toàn thuộc về cụng ty nhượng
+ Trường hợp thứ hai: tổng số tổn thất phải bồi thường là 1.000.000USD tỷ lệ bồi thường là 100% Do đú, người nhượng phải chịu trỏch nhiệm 90% tức là: 1.000.000 ì90% = 900.000USD cũn người nhận tỏi là 100.000USD
Trang 23+ Trường hợp thứ ba: tổng tổn thất là 1.700.000USD tỷ lệ bồi thường là 170% Khi
đó, công ty nhượng bồi thường (90% + 20%)×1.000.000(USD) = 1.100.000 (USD); người nhận tái bồi thường 60% ×1.000.000 = 600.000(USD)
Bổ sung cho 2.2.1.2
Ví dụ minh hoạ cho phương pháp Cat xol
Với các giả thiết tương tự như trong ví dụ của 2.2.1.1 và các sự cố thảm hoạ xác định là A,B,C,D có thiệt hại như trong bảng
đơn vị :1000USD
24
500250500
1.250
6
1.7502.400
4.150
768
5002.5003.5002.700
9.200
10
9.1006.250
Trang 24Ví dụ minh hoạ cho phương pháp tái BH kết hợp số thành – mức dôi:
Hạn mức trách nhiệm: 1.200.000 có 3 đơn vị rủi ro liên quan:
Đơn vị rủi ro 1: STBH: 700.000 USD, không có tổn thất
Đơn vị rủi ro 2: STBH: 1.800.000 USD, tổn thất 540.000 USD
Đơn vị rủi ro 3: STBH: 2.400.000 USD, không có tổn thất
Việc phân bổ trách nhiệm và số tiền bồi thường cho các công ty được tiến hành như trong bảng sau;
Mức dôi Giữ lại Tái đi
420.000 480.000 480.000
1.000.000 1.200.000
- 400.000
96.000 -
144.000 -
300.000 -
Trang 252.3.2 Kết hợp số thành- vợt mức bồi thờng.
Theo phơng pháp này, trách nhiệm trớc hết đợc tính cho hợp đồng tái BH số thành khi tổn thất xảy ra, công ty nhận tái BH vợt mức bồi thờng sẽ bảo vệ công ty nhợng hoặc công ty nhận tái BH số thành với mức khống chế nhất định
Ví dụ minh hoạ cho phơng pháp tái BH kết hợp số thành – vợt mức bồi thờng ;
Có 3 đơn vị rủi ro liên quan:
Rủi ro 1: STBH 400.000 USD, tổn thất 200.000 USD
STBH 1.500.000 USD, tổn thất không STBH 70.000.000 USD, tổn thất 350.000 USD
Việc phân bổ trách nhiệm( STBH) và số tiền bồi thờng nh sau:
Rủi ro STBH Phõn bổ trỏch nhiệm STBT Phõn bổ STBT
Cty nhượng
Nhận ST Cty
nhượng
Nhận st Vượt mức
BT 1
240.000 900.000 4.200.000
200.000 - 350.000
80.000 - 140.000
100.000 - 100.000
20.000 - 110.000 Tổng 8.900.000 3.560.000 5.340.000 550.000 220.000 200.000 430.000
Trong rủi ro 1 đáng lẽ công ty nhận số thành phải bồi thờng là
000 200 000
Trang 26nhưng do được công ty nhận tái BH vượt mức bồi thường bảo vệ nên phải bồi thường 100.000 còn lại (20.000) do công ty nhận tái BH vượt mức bồi thường đảm nhận.
Tương tự như vậy đối với rủi ro 3
2.3.3 Kết hợp mức dôi – Vượt mức bồi thường.
Theo phương pháp này, việc phân chia trách nhiệm ban đầu cũng được tiến hành theo hợp đông tái BH mức dôi nhưng khi tổn thất xảy ra, công ty nhận tái BH vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty nhận tái BH mức dôi
Ví dụ minh hoạ cho tái BH kết hợp mức dôi – vượt mức bồi thường
Hợp đồng tái BH mức dôi giữ lại: 1.200.000$ / 1RR
Nhận tái MD
đư thừa Cty
4.800.000 8.000.000
- 2.800.000
-40.000 400.000 900.000
10.000 10.000 10.000
30.000 70.000 80.000
320.000 600.000
- 210.000
Trang 27-CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
I SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
Nếu như so với các nghiệp vụ phi nhân thọ khác như BH hàng hải, BH cháy… thì
BH TBĐT là một nghiệp vụ ra đời muộn nhất và cho đến nay còn khá mới mẻ, đặc biệt
là đối với các nước đang phát triển, khi mà TBĐT được ứng dụng chưa lâu và BH TBĐT mới được triển khai như Việt Nam
Hợp đồng BH TBĐT đầu tiên trên thế giới xuất hiện vào những năm đầu tiên của thế kỷ XX Ban đầu, nó được coi là phân bổ sung cho các hợp đồng thuê và bảo trì TBĐT Công ty chuyên BH TBĐT đầu tiên trên thế giới được chính thức thành lập vào năm 1921
Tại Đức, vào những năm 20 của thế kỷ XX, loại hình BH chuyên biệt cho thiết bị điện thoại đã hình thành với cái tên là “bảo hiểm điện áp thấp” với mục đích là bảo vệ các công ty cho thuê bao điện thoại chống lại áp lực tài chính do những tổn thất đối với thiết bị điện thoại gây ra
Sau đó, vào những năm 30 cùng thế kỷ đó, người ta đã mở rộng phạm vi các thiết
bị được BH bao gồm cả các hệ thống tín hiệu ánh sáng (như hệ thống đèn biển), hệ thống loa chuyên dùng và hệ thống báo cháy, các thiết bị viễn thông (điện thoai, điện báo…) rồi đến các máy tính điện tử
Cũng tại Đức, vào năm 1941, công nghệ máy tính đã phát triển và hoàn chỉnh bởi KONZADZNSE Vào thời gian đó, tại Mỹ cũng đã hình thành chuỗi máy tính điêu khiển tự động, bước tiếp theo là sử dụng hệ thống các ống điện tử cho việc tính toán ENIAC, một máy tính khổng lồ sử dụng 18.000 ống điện tử, 15.000 thiết bị ngoại vi khác và tiêu thụ với công suất 150KW được hoàn thành Sau đó là một chương trình ghi nhớ được phát triển bởi nhà toán học John Newman trong năm 1948
Vào những năm 1950, người ta đã phát minh ra thiết bị bán dẫn và từ đây có sự thay thế trandiot và diot cho các ống điện tử này Đến năm 1960, một bước ngoặt đáng
Trang 28kể cho sự phát triển của ngành điện tử đó là sáng kiến về vi mạch điện tử Sáng kiến này
đã thực sự mở đường cho “Cách mạng công nghiệp” lần thứ III
Kể từ đó, nhiều rủi ro mới đã xuất hiện và nhu cầu cho loại hình BH TBĐT ngày càng lớn Hợp đồng BH TBĐT trở thành hợp đồng BH được yêu cầu nhiều nhất trong lĩnh vực BH kỹ thuật vào những năm 80 của thế kỷ XX
Riêng tại Đức, vào năm 1992, BH TBĐT đã tạo ra doanh thu phí hơn 450.000.000 USD, chiếm gần 33% tổng doanh thu phí BH kỹ thuật
Sang thế kỷ XXI, với sự bùng nổ thông tin cũng như công nghệ thông tin; hệ thống máy tính được sử dụng rộng rãi không chỉ trong các công sở, cơ quan, các công ty
mà ngay tại gia đình; các thiết bị cũng như nhu cầu Viễn thông tăng mạnh mẽ… thị trườngbh TBĐT được giới chuyên gia đánh giá là thị trường còn đầy tiềm năng
Tại Việt Nam, BH TBĐT là một loại hình BH phi nhân thọ mới nhất và còn khá mới mẻ đối với cả các công ty BH lẫn khách hàng BH Nghiệp vụ này mới được Tổng công ty BH Việt Nam (Bảo Việt) nghiên cứu, triển khai từ cuối năm 1996, đầu năm
1997 Thị phần lớn nhất đối với nghiệp vụ này vào thời gian đó là các công ty: Bảo Việt, Bảo Minh,Pjico Tuy nhiên, sau đó, vào năm 1998, PTI- công ty cổ phần BH với cổ đông lớn nhất là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNTP)- ra đời, với ưu thế lớn là kinh nghiệm cũng như là nguồn dịch vụ về TBĐT hết sức dồi dào nhận được
từ VNPT, đã nhanh chóng chiếm được vị trí số 1 về nghiệp vụ BH TBĐT
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
1 Sự cần thiết của bảo hiểm thiết bị điện tử
TBĐT là các loại thiết bị có chứa linh kiện bán dẫn và các mạch điện tử Chúng không phải thực hiện bất cứ một hoạt động cơ học nào mà hoạt động của chúng chỉa thực hiện qua các linh kiện điện tử, các mạch và vi mạch… như truyền và lưu trữ thông tin, điều khiển, thử nghiệm, thẩm định hay báo động…TBĐT có thể được nối với các thiết bị cơ học khác để thực hiện các hoạt động cơ học
TBĐT có khả năng thực hiện công việc cực nhanh và chính xác bởi tốc độ lan truyền tín hiệu qua các linh kiện điện tử là tốc độ của các hạt điện tử Hơn thế nữa, nó còn có ưu điểm rất lớn nữa là kích cỡ của các linh kiện điện tử là rất nhỏ, thậm chí là siêu nhỏ Người ta từng biết đến những Robot có khả năng “thám hiểm” cơ thể người để
Trang 29tìm ra các mầm bệnh bằng cách chuyển động cùng dòng máu lưu thông trong cơ thể Ngày nay,với sự phát triển của ngành Bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình, y
tế, khoa học về vũ trụ… những ngành cần rất nhiều TBĐT hiện đại, và bản thân ngành điện tử với việc cải tiến, thu nhỏ kích cỡ của TBĐT mà vai trò của TBĐT ngày càng trở lên quan trọng trong cuộc sống hiện đại
Không chỉ quan trọng đối với các ngành khoa học, chúng còn giúp cho cuộc sống hàng ngày của con người thêm dễ chịu và năng động hơn Ngồi ở nhà, bên cạnh một máy tính điện tử được nối mạng, chúng ta có thể biết được tình hình kinh tế – xã hội của một nơi trên thế giới cách ta nửa vòng trái đất, hoặc có thể mua bán, trao đổi thư từ thông qua mạng Ta cũng có thể chỉ cần mở TV và tuỳ ý lựa chọn chương trình giải trí hay đón nhận tin tức thời sự ma mình thích hoặc có thể nghe được tiếng nói thậm chí nhìn thấy hình ảnh của người mình đang nói chuyện cùng qua điện thoại truyền hình… Tất cả những tiện dụng này đều có được nhờ vào các TBĐT
TBĐT cũng giúp tăng năng suất lao động Một người công nhân giờ đây có thể chỉ huy được một giàn máy cồng kềnh mà trước đây có thể phải cần đến ba, bốn người Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng có thể được thực hiện hoàn toàn tự động bằng TBĐT, vừa nhanh, vừa chính xác
TBĐT rất đa dạng và phong phú, mỗi một loại lại phục vụ cho một nhu cầu hay một lĩnh vực khác nhau Người ta chia chúng ra thành các loại sau:
- Các thiết bị EDP (Electronic Data Processing) và các TBĐT dùng trong văn phòng (máy vi tính, máy in, máy chiếu, máy Fax, máy photocopy…)
- Các thiết bị viễn thông: thiết bị thu, nhận tín hiệu, thiết bị chụp ảnh từ xa, máy sao bản từ xa, các thiết bị liên quan tới tín hiệu điện thoại…
- Thiết bị truyền dẫn và phát tín hiệu: các hệ thống báo động, hệ thống đồnh hồ
đo, hệ thống dò tìm và các hệ thống liên lạc bên trong
- Thiết bị y tế: thiết bị tia X dùng trong chẩn đoán bệnh, thiết bị bức xạ đẳng hướng dùng để trị liệu, thiết bị phân tích thử nghiệm dùng trong các phòng thí nghiệm y học
- Thiết bị thu phát thanh, truyền hình, điện ảnh, các thiết bị dùng trong phòng thu
Trang 30- Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải: đèn chiếu, đèn pha, hải đăng, đèn huỳnh quang, các hệ thống vô tuyền điện thoại, thiết bị hàng hải bằng điện tử khác.
Nhu cầu gia tăng đối với TBĐT cũng như sự phát triển của nó dẫn tới một nhu cầu khác rất cần thiết đó là nhu cầu đảm bảo sự vận hành an toàn, liên tục của TBĐT
Có nhiều phương pháp bảo đảm song BH TBĐT được coi là biện pháp hiệu quả hơn cả Nguyên nhân là:
- Các TBĐT đều liên quan đến việc lưu trữ hay truyền dữ liệu Xã hội càng văn minh, cuộc sống càng hiện đại thì thông tin lưu trữ và truyền đi ngày càng nhiều và quan trọng Do đó, một khi có sự hỏng hóc đối với TBĐT thì sẽ gây ảnh hưởng lớn tới người
- Để có thể tự chủ về mặt tài chính trong cơ chế thị trường, mỗi một doanh nghiệp phải có cách khắc phục những tổn thất xảy ra Mỗi một sự cố xảy ra đối với TBĐT đều dẫn đến những tổn thất lớn cho doanh nghiệp bởi giá trị rất lớn của cả TBĐT lẫn dữ liệu chứa trong nó Bằng cách đóng một sô phí nhỏ cho công ty BH, doanh nghiệp có thể yên tâm sản xuất kinh doanh và có thể tự chủ tài chính khi có sự cố xảy ra
- Do TBĐT là loại thiết bị có hàm lượng công nghệ cao nên nó đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ cao về khoa học kỹ thuật cũng như tính cẩn thận Trong thực tế,
Trang 31không phải người sử dụng nào cũng đáp ứng được yêu câu này nếu như không có sự tư vấn của các nhân viên của công ty BH Vì vậy, việc tham gia BH TBĐT lại càng trở nên cần thiết hơn Khi tham gia BH TBĐT, người được BH sẽ được tư vấn các biện pháp đề phòng rủi ro cũng như ngăn ngừa tổn thất xảy ra thêm, từ đó mà nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn cho công việc của mình.
2 Đặc điểm của BH TBĐT
Do những đặc điểm riêng của TBĐT như đã nêu trong phần 1 về sự cần thiết của
BH TBĐT mà BH TBĐT cũng có những đặc điểm riêng khác biệt ngoài những đặc điểm chung của các loại hình BH tài sản là: hình thức tự nguyện, áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp,… Dưới đây là các đặc điểm riêng đó
- Một là, đơn BH TBĐT có phạm vi rất rộng, thông thường là dạng đơn BH “mọi rủi ro” Dựa trên đơn BH mọi rủi ro với rất ít các điều kiện loại trừ, nó bảo đảm việc bồi thường sau khi có tổn thất xảy ra thậm chí cả trong các trường hợp không đáng quan tâm hoặc không quan trọng đối với các tài sản khác, ví dụ như: việc vận hành thiếu chuyên môn, dao động điện áp, ám khói, ẩm ướt và nổ đèn chân không Tuy nhiên, các hiểm hoạ
ấy đã gây ra một rủi ro rất lớn, nghiêm trọng cho TBĐT có độ nhạy cảm cao cả về tần số cũng như tính khốc liệt Tương tự như vậy, một nguyên nhân tương đối nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng lớn về tài chính do sự đình trệ trong kinh doanh bởi vì hoạt động này có thể hoàn toàn phụ thuộc vào tình trạng của TBĐT
- Hai là, điều khoản chuẩn trong đơn BH TBĐT có đưa ra điều khoản hoàn trả tiền trên cơ sở giá trị thay thế mới Điều này đặt người được BH vào vị trí có sẵn nguồn tiền đầy đủ để thay thế ngay lập tức mà không có sự khấu trừ nào theo điều kiện “mới thay thế cũ”
- Ba là, trong BH TBĐT không nhận BH dưới giá trị thay thế mới đầy đủ của nó
và người được BH phải điểu chỉnh lại số tiền BH trong trường hợp có bất kỳ biến động lớn nào về tiền lương hoặc giá cả
- Bốn là, BH TBĐT mở rộng cả với thiệt hại đối với mọi lĩnh vực phần mềm và
sự ứng dụng của nó Ngày nay, dữ liệu gốc và dữ liệu giao dịch được lưu trữ vào máy tính là nguồn thông tin chủ yếu của mỗi công ty Do đó, cả phần mềm dữ liệu là tài sản
có giá trị lớn đối với mọi doanh nghiệp Sự tồn tại và tính chính xác của chúng bị đe doạ
Trang 32bởi rất nhiều rủi ro và hiểm hoạ, các hoạt động có thể bị gián đoạn cho tới khi việc khôi phục đầy đủ thông tin được hoàn thành.
- Năm là, do đặc tính kỹ thuật nhỏ gọn, trong một đơn vị diện tích có thể tập trung nhiều TBĐT có giá trị lớn, khi xảy ra tổn thất thì hậu quả sẽ nghiêm trọng
3 Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm thiết bị điện tử
Đối tượng BH TBĐT được chia thành các loại thiết bị sau:
- Hệ thống và thiết bị xử lý dữ liệu điện tử như: các hệ thống EDP, các thiết bị ngoại vi, các máy tính xử lý, bộ đếm, máy đếm thời gian dùng trong các cuộc thi thể thao
- Thiết bị thu phát thanh, truyền hình, điện ảnh, và thiết bị thu phát âm bao gồm: thiết bị thu phát (như các hệ thống phát vô tuyến định hướng, thiết bị Rađa, trạm vệ tinh mặt đất, Anten ngoài trời, Anten khối, các bộ phận kính thiên văn, bộ phản xạ vô tuyến); thiết bị phát thanh như: thiết bị ghi và tạo âm, phòng phát âm, thiết bị phát âm tại các trường học và các trung tâm hội họp bao gồm các phương tiện thu và phân phối; thiết bị truyền hình như: Camera, thiết bị ghi hình, phòng quay truyền hình, phòng ghi và sao Video, thiết bị sao, ghi và kiểm tra truyền hình…; thiết bị điện ảnh; thiết bị dùng trong các xe phát thanh lưu động
- Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải: thiết bị chiếu sáng, các hệ thống tín hiệu, các
hệ thống vô tuyến điện thoại và thiết bị hàng hải bằng điện tử
- Thiết bị nghiên cứu và thử vật liệu: các hệ thống nghiên cứu loại lớn như máy gia tốc hạt…, thiết bị thử vật liệu, thiết bị quang điện, thiết bị thí nghiệm
- Thiết bị viễn thông bao gồm thiết bị điện thoại, thiết bị truyền xa, thiết bị chụp ảnh từ
xa, máy sao bản từ xa
- Thiết bị y tế bằng điện tử: thiết bị tia X dùng tron chẩn đoán bệnh, thiết bị bức xạ đẳng hướng dùng để trị liệu, thiết bị y tế sử dụng hạt nhân, thiết bị phân tích dùng trong y học, thiết bị y học vật lý và các thiết bị y tế điện tử khác
- Các bộ truyền dẫn tín hiệu: các hệ thống báo động, các hệ thống đồng hồ đo, máy dò tìm nhân viên và các hệ thống liên lạc bên trong
- Máy móc thiết bị dùng trong văn phòng, các bộ phận vẽ và sao chép dữ liệu: thiết bị tạo khuôn in tự động để minh hoạ, thiết bị điện, điện tử dùng trong văn phòng
Trang 33- Bộ ghi và kiểm tra: hệ thống đo lường và điều khiển, hệ thống thử động cơ, thiết bị tự động hoá bằng máy tính, máy ghi bằng tín hiệu điện.
4 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi BH TBĐT được quy định cho 3 phần Người tham gia BH có thể tham gia một hoặc cả ba phần này, và khi đó, mức phí và quyền lợi của người được BH sẽ phụ thuộc tương ứng vào cách lựa chọn các phần này
Phần I: Tổn thất vật chất đối với TBĐT
Công ty BH sẽ bồi thường cho người được BH những thiệt hại vật chất bất ngờ không lường trước xảy ra đối với TBĐT do các nguyên nhân như: cháy, sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, đoản mạch, nước, sơ suất của người sử dụng và các sự cố ngẫu nhiên khác không bị loại trừ theo các điều kiện của đơn BH
Nếu các TBĐT đã được BH theo phần I nói trên thì người được BH có thể mua thêm cho các phần II và III như đề cập dưới đây:
Phần II: phương tiện lưu trữ bên ngoài
Công ty BH sẽ bồi thường cho người được BH những chi phí để sửa chữa hoặc thay thế các phương tiện lưu trữ bên ngoài trong trường hợp chúng bị tổn thất do các rủi
ro được BH như quy định ở phần I gây ra và các chi phí để khôi phục lại những thông tin đã mất Phần II chỉ có hiệu lực khi người được BH tham gia cả phần i của đơn BH này
Phần III: chi phí gia tăng
Nếu hệ thống xử lý dữ liệu (EDP) bị tổn thất thuộc phạm vi BH I, công ty BH sẽ bồi thường cho người được BH các chi phí cho việc tạm thời thuê mướn các thiết bị thay thế cũng như các chi phí về nhân viên và các chi phí gia tăng khác theo quy định của đơn BH nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của người được
BH không bị gián đoạn khi tổn thất xảy ra
5 Những điểm loại trừ
Nếu như phạm vi BH quy định các rủi ro có thể được BH thì ngược lại, những điểm loại trừ lại quy định các rủi ro mà khi xảy ra, công ty BH sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường
Trang 34BH TBĐT có quy định những điểm loại trừ chung và các điểm loại trừ riêng áp dụng tương ứng cho 3 phần nêu trên.
5.1 Điểm loại trừ chung:
Công ty BH không bồi thường những thiệt hại là hậu quả trực tiếp của sự hao mòn hay hư hỏng dần theo thời gian, chiến tranh, bạo lực, hành động ác ý hoặc có chủ ý của người được BH, phản ứng hạt nhân và nhiễm phóng xạ, lập trình sai, các chi phí để thực hiện công tác bảo dưỡng nhằm mục đích hạn chế và ngăn ngừa tổn thất và đảm bảo cho các TBĐT hoạt động an toàn
5.2 Các điểm loại trừ riêng
5.2.1 Đối với tổn thất vật chất của TBĐT
Công ty BH sẽ không chịu trách nhiệm với:
- Mức khấu trừ theo quy định trong bản tóm tắt điều kiện BH mà người được BH phải chịu trong mọi sự cố Tuy nhiên, nếu trong một sự cố có từ hai hạng mục trở lên thì người được BH chỉ phải chịu mức khấu trừ cao nhất trong các mức khấu trừ áp dụng cho các hạng mục bị tổn thất đó
- Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp gây nên bởi núi lửa hay động đất, sóng thần, gió xoáy và bão mạnh từ cấp 8 trở lên
- Tổn thất mà hậu quả của nó là tác động của sự hao mòn, nứt vỡ, ăn mòn kim loại, mài mòn, đóng cặn, hư hỏng theo thời gian do các yếu tố bên ngoài tác động
- Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các dịch vụ hoặc nguồn cung cấp, ví dụ: điện, nước, khí ga bị hỏng,…
- Tổn thất do sư sai sót trong đơn BH tại thời điểm có hiệu lực mà người được BH nhận ra điều đó cho dù công ty BH có nhận ra hay không
- Tổn thất thuộc trách nhiệm của các nhà chế tạo hoặc các nhà cung cấp các hạng mục thiết bị được BH theo quy định của pháp luật hoặc theo hợp đồng
- Bất cứ khoản phát sinh nào có liên quan đến việc bảo dưỡng cho các hạng mục được BH
Trang 35- Bất cứ các chi phí nào bỏ ra có liên quan tới việc khắc phục những trục trặc về các chức năng hoạt động trừ khi các hạng mục đó là do một tổn thất có thể được bồi thường theo đơn BH đó gây ra.
- Tổn thất đối với các thiết bị cho thuê hay được thuê mà người chủ các thiết bị đó phải có trách nhiệm theo luật định hoặc theo một thoả thuận thuê mướn, bảo dưỡng nào đó
- Tất cả các tổn thất có tính chất hậu quả
- Tổn thất đối với các bộ phận như: bóng đèn, đèn điện tử, ống điện tử, ruy băng, cầu chì, vòng điện kín, dây đai, dây dẫn hoặc dây thép, xích, lốp cao su, các dụng cụ có thể thay đổi được, xilanh, các vật bằng thuỷ tinh, gốm,sứ, lưới lọc hoặc lưới thép hay bất
kỳ chất liệu sử dụng nào (ví dụ như dầu bôi trơn, nhiên liệu, các loại hoá chất)
- Các khuyết tật ảnh hưởng tới thẩm mỹ như: các vết tì xước trên bề mặt đã được đánh bóng, sơn hoặc tráng men
5.2.2 Đối với phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty BH sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường đối với:
- Mức khấu trừ quy định trong bảng tóm tắt điều kiện BH mà người được BH phái chịu trong mọi sự cố (giống như được quy định trong 5.2.1.)
- Các chi phí phát sinh do lập chương trình, đục lỗ ghi nhãn hoặc chèn thông tin sai, xoá thông tin do nhầm lẫn hoặc loại bỏ (không dùng) các phương tiện chứa dữ liệu hoặc mất thông tin do tác động của từ trường
- Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào
5.2.3 Đối với chi phí gia tăng
Công ty BH sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho bất cứ chi phí gi tăng nào phát sinh do:
- Có những quy định về hạn chế, do các nhà chức trách ban hành, liên quan đến việc thiết kế, chế tạo lại thiết bị EDP được BH hoặc hoạt động của các thiết bị đó
- Người được BH không có sẵn các quỹ cần thiết nhằm đáp ứng kịp thời việc sửa chữa hoặc thay thế các thiết bị hư hại hay phá huỷ
Trang 36CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TÁI BẢO HIỂM THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ TẠI PTI
I VÀI NÉT VỀ CÔNG TY PTI
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty PTI
1.1 Sự ra đời
Được sự đồng ý của cơ quan chức năng và Bộ Tài Chính, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện đã chính thức thành lập vào ngày 01/08/1998, gọi tắt là PTI (Posts & Telecommunications Joint – Stock Insurance Company), và đi vào hoạt động ngày 01/09/1998 theo quyết định thành lập: Số 3633/GP – UB ngày 01/08/1998 của UBND Thành phố Hà Nội
Giấy chứng nhận kinh doanh: Số 055051 ngày 12/08/1998 của Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
Vốn điều lệ: 70.000.000.000 VND
Trụ sở chính:134 Thái Hà, quận Đống Đa, Hà Nội
Các cổ đông chính của PTI là:
- Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT);
- Công ty tái BH Quốc gia Việt Nam (Vina Re);
- Công ty BH thành phố Hồ Chí Minh;
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam;
- Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam;
- Tổng Công ty xây dựng Hà Nội;
- Công ty vật tư Bưu điện I;
Trang 37Sự kết hợp hài hoà giữa các tổng công ty có dịchvụ dồi dào với các doanh nghiệp
có kinh nghiệm về BH, tái BH trong và ngoài nước đã tạođiều kiện vững chắc cho hoạt động của PTI
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty PTI:
Các chi nhánh và văn phòng đại diện
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng kinh tế
kế hoạch
PhòngTáibảohiểm
Phong Bảo hiểm Hàng hoá
Phòng Tổng hợp
Giám đốcHội đồng quản trị