1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu

63 755 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu
Tác giả Nguyễn Văn Minh
Người hướng dẫn ThS. Tô Thiên Hương
Trường học Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 502,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤTNHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 3

1.1.SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỆN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 3

1.1.1Vai trò xuất nhập khẩu hàng hóa 3

1.1.2Vai trò và đặc điểm vận tải bằng đường biển 3

1.1.2.1Vai trò 3

1.1.2.2Đặc điểm 4

1.1.3 Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 5

1.2 BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 7

1.2.1 Rủi ro và tổn thất được bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 7

1.2.1.1 Các rủi ro 7

1.2.1.2 Các tổn thất 8

1.2.2 Các điều kiện bảo hiểm 12

1.2.2.2 Theo Bộ Tài Chính ban hành ngày 9/8/1990 14

1.2.3 Nội dung bảo hiểm 15

1.2.3.1 Đối tượng bảo hiểm 15

1.2.3.2 Hợp đồng bảo hiểm 16

1.2.3.3 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm 18

1.2.4 Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển 20

1.2.4.1 Giám định tổn thất 20

1.2.4.2 Bồi thường tổn thất 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM TOÀN CẦU 25

2.1GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM TOÀN CẦU 25

2.1.1Giới thiệu chung 25

2.1.2Kết quả hoạt động kinh doanh của GIC 29

2.2Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại GIC 30

2.2.1 Công tác khai thác bảo hiểm 30

Trang 2

2.2.2Công tác giám định và bồi thường tổn thất tại GIC 36

2.2.2.1Nhận yêu cầu giám định 36

2.2.2.2Tiến hành thực hiệm giám định 37

2.2.2.3Lập biên bản giám định 39

2.2.2.4Kết quả công tác giám định tổn thất BHHHXNK vận chuyển bằng đường biển tại GIC năm 2007 - 2008 40

2.2.3Công tác giải quyết khiếu nại bồi thường tổn thất đối với bảo hiểm hh xnk vận chuyển bằng đường biển tại GIC 41

2.2.3.1Giải quyết khiếu nại bồi thường 41

2.2.3.2Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại bồi thường 43

2.2.3.3Xét số tiền bồi thường 44

2.2.3.4Thanh toán bồi thường tổn thất 44

2.2.3.5Công việc sau bồi thường 44

2.2.3.6Kết quả và hiệu quả giải quyết bồi thường tổn thất BHHHXNK vận chuyển bằng đường biển tại GIC năm 2007- 2008 45

2.2.4Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại GIC năm 2007- 2008 45

CHƯƠNG III: NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM TOÀN CẦU 49

3.1NHỮNG THUẬN LỢI VÀ NHỮNG MẶT CÒN HẠN CHẾ 49

3.1.1Những thuận lợi 49

3.1.2Những mặt còn hạn chế 50

3.2 GIẢI PHÁP 52

3.2.2 Với công tác kinh doanh: 54

3.2.3Với công tác giám định 55

3.2.4Với công tác bồi thường 55

3.2.5Công tác nhân sự 56

3.3KIẾN NGHỊ 57

3.3.1Đối với nhà nước và các cơ quan chức năng 57

3.3.2Đối với hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 59

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hòa chung với xu thế toàn cầu hóa, sau nhiều nỗ lực, đến cuối năm 2006 ViệtNam đã được kết nạp là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO

Sự ra nhập đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng, giao lưu buôn bán giữanước ta và các nước trên thế giới tăng trưởng không ngừng, kim ngạch xuất nhập khẩuliên tiếp tăng lên qua từng năm Với 3260km đường bờ biển, lại nằm ở vị trí trung tâmcủa Đông Nam Á, vì vậy vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã trở thành phươngthức vận chuyển chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu Theo báo cáo của bộ giaothông vận tải năm 2003 thì hàng năm có khoảng 90% khối lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu được vận chuyển theo phương thức này, đóng góp không nhỏ vào sự phát triểncủa nên kinh tế nước ta

Như bất kì phương thức vận tải nào khác, vận tải bằng đường biển cũng khôngthể nào tránh khỏi những rủi ro bất ngờ, gây nên tổn thất lớn đối với các chủ hàng, đếnnền kinh tế quốc gia Đó là lí do mà nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển đã ra đời từ rất sớm, sự ra đời của nghiệp vụ này nhằm giúpcác chủ hàng đảm bảo được sự ổn định về mặt tài chính, dẫn đến ổn định hoạt độngsản xuất kinh doanh

Nghiệp vụ Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đãphát triển rất mạnh trên thế giới, tuy nhiên khi triển khai trong nước vẫn còn gặp khókhăn Tỷ trọng hàng nhập khẩu được bảo hiểm bởi các công ty bảo hiểm trong nướcchỉ chiếm 25%, và hàng xuất khẩu chỉ chiếm 8% Đây quả là những con số còn khákhiêm tốn

Xuất phát từ vấn đề đó, sau thời gian thực tập tại Công ty Bảo hiểm Toàn Cầu

(GIC), em đã chọn đề tài : “Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu” để làm

chuyên đề thực tập tốt nghiệp Mục đích của đề tài là nghiên cứu, phân tích đánh giáviệc thực hiện bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tạicông ty bảo hiểm Toàn Cầu trong thời gian qua, từ đó rút ra kinh nghiệm để tiếp tụchoàn thiện nghiệp vụ này trong thời gian tới đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các chủhàng khi tham gia bảo hiểm và góp phần vào sự phát triển chung của công ty

Trang 4

Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương :

Chương 1: lý luận chung về bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Chương 2: thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty bảo hiểm Toàn Cầu.

Chương 3: kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty bảo hiểm toàn cầu.

Do thời gian thực tập không nhiều, trình độ còn hạn chế cả về mặt lý luận cũngnhư kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót nhất định Em rấtmong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để hoàn thiện chuyên đề hơn nữa

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA

XUẤTNHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỆN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.1.1 Vai trò xuất nhập khẩu hàng hóa

Từ thế kỷ 15, con người đã nhận ra rằng, ngoại thương có vai trò quan trọngtrong quá trình tạo ra của cải cho nền kinh tế quốc gia Ngày nay, không có một quốcgia nào có thể phát triển nền kinh tế chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước Quá trìnhchuyên môn hóa sản xuất giúp cho mỗi quốc gia có thể phát triển được thế mạnh củamình, và xuất nhập khẩu đem lại lợi thế thương mại cho cả hai bên

Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nókhông phải là hành vi buôn bán riêng lẻ, mà là cả một hệ thống các quan hệ buôn bántrên nền thương mại có tổ chức cả trong nước và nước ngoài, nhằm thúc đẩy nền sảnxất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, từng bước nâng cao đời sống cho ngườidân, nhờ đó con người có khả năng sử dụng vượt xa khả năng sản xuất của mình.Xuất nhập khẩu là thế lực to lớn chi phối nền kinh tế thế giới mang lại giá trị sửdụng cho nền kinh tế quốc tế thông qua hoạt động mua bán, nó lam thay đổi cơ cấutích lũy và tiêu dùng của các tầng lớp dân cư khác nhau trong xã hội Đồng thời XNKgiúp cho thương mại trong nước phát triển, làm tăng tính cạnh tranh giữa các doanhnghiệp, giảm giá cả hàng hóa dịch vụ, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ…

1.1.2 Vai trò và đặc điểm vận tải bằng đường biển

1.1.2.1 Vai trò

- Trong xu hướng toàn cầu hóa, các nước luôn phải cố gắng duy trì và mở rộngthị trường trên toàn thế giới, làm cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa cácnước và các khu vực mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu, khối lượng hàng hàng hóađược lưu chuyển ngày càng lớn Hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng phát triển.Việc vận chuyển hàng hóa có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau như đườngsắt, đường bộ, đường hàng không… nhưng đến nay, vận tải bằng đường biển vẫnđóng vai trà huyết mạch quan trọng nối liền hoạt động thông thương đó Ngày nay,hơn 90% tổng khối lượng hàng hóa xuất nhâp khẩu được chuyên chở bằng đường biển

Trang 6

trên toàn thế giới, ở Việt Nam là hơn 95% tổng khối lượng HHXNK

- Vận tải bằng đường biển góp phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thôngqua các quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa, phát triển ngoại thương, thực hiện đườnglối đối ngoại của Đảng và nhà nước Đồng thời góp phần tăng thu ngoại tệ cho quốcgia

1.1.2.2 Đặc điểm

- Vận tải bằng đường biển có những ưu thế nổi bật :

 Hầu hết những tuyến giao thông đều là tự nhiên, không đòi hỏi nhiều vốn,nguyên vật lieu, sức lao động để xây dựng, duy trì, bảo quản, trừ việc xây dựng cáckênh đào, hải cảng

 Vận tải đường biển thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hóatrong thương mại quốc tế Đặc biệt thích hợp và hiệu quả là các loại hàng rời có khốilượng lớn và giá trị thấp như than đá, quặng, ngũ cốc, phốt phát và dầu mỏ

 Năng lực chuyên chở của các phương tiện vận tải biển thường rất lớn, có thểchuyên chở các loại hàng hóa siêu trường, siêu trọng mà các phương tiện khác khó cóthể đáp ứng, lại có thể chạy nhiều tàu trong cùng một thời gian trên cùng một tuyếnđường; thời gian tàu nằm chờ tại các cảng giảm nhờ sử dụng container và các phươngtiện xếp dỡ hiện đại nên khả năng thông qua của một cảng là rất lớn

 Tiêu thụ nhiên liệu trên một tấn trọng tải thấp, chỉ cao hơn vận tải đườngsông một ít

 Cước phí vận chuyển bằng đường biển thấp hơn nhiều so với các phương tiệnvận chuyển khác, chỉ cao hơn phí vận chuyển bằng đường sắt một chút Cước vậnchuyển bằng đường sắt bằng 1/6 cước vân chuyển bằng hàng không, bằng 1/3 cướcvận chuyển bằng đường bộ

 Thủ tục hải quan và kiểm dịch chỉ phải làm một lần

Tuy nhiên, hoạt động vận chuyển bằng đường biển có một số nhược điểmsau:

 Các phương tiện vận tải bằng đường biển lưu thông trên những tuyến đường

tự nhiên, do đó chịu sự tác đông rất lớn của điều kiện tự nhiên như: mưa, bão, sóngthần, thủy triều … Các rủi ro hàng hải có thể xảy ra như mắc cạn, đắm, cháy, đâm vanhau và đâm va phải đá, mất tích …

 Tốc độ tàu biển tương đối thấp, vì vậy quá trình vận chuyển thường kéo dài,tàu có thể phải dừng lại tại nhiều cảng để bốc dỡ hàng hóa có thể hàng tháng, thậmchí hàng năm, thời gian càng dài, rủi do càng cao

Trang 7

 Chuyến hành trình có thể phải đi qua nhiều quốc gia, điều đó gây ra khó khăntrong việc tuân theo các tập quán, quốc gia đó Ngoài ra, còn phải chịu môi trườngchính trị khắc nghiệt như chiến tranh, đình công, hay cướp bóc có thể gây tổn thất lớnđối với tàu và hàng.

 Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rấtlớn bao gồm cả giá trị tàu và hàng hóa trên tàu, nếu rủi ro xảy ra có thể gây tổn thất rấtlớn đối với tài sản và con người Có những chuyến hàng có thể là cả một gia tài củachủ hàng, nếu tổn thất toàn bộ xảy ra để lại hậu quả rất nặng nề

 Hàng hóa được chở trên tàu thuộc trách nhiệm của chủ hàng, tuy nhiên tráchnhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ tuy thuộc điều kiện giao hàng

và hợp đồng vận chuyển

 Ngoài ra, các chuyến vận chuyển còn có thể gặp trục trặc kỹ thuật từ nhữngcon tàu chở hàng

 Do các tàu biển hoạt động tương đối độc lập giữa vùng không gian rộng lớn,

do đó nếu xảy ra sự cố thì việc cứu hộ, cứu nạn sẽ rất khó khăn

1.1.3 Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Quá trình vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tuy có nhiều ưuđiểm vượt trội, nhưng cũng có nhiều yếu tố đe dọa đến độ an toàn của tàu và hàng,gây thiệt hại lớn đối với các thương nhân Do đó, các chủ hàng thường phải mua bảohiểm cho hàng hóa để đảm bảo sự ổn định tài chính của mình

Bảo hiểm là sự san sẻ rủi ro thông qua một quỹ tiền tệ tập chung từ sự đóng gópcủa người tham gia bảo hiểm (được gọi là phí bảo hiểm), và người bảo hiểm sẽ bồithường cho người được bảo hiểm những tổn thất của hàng hóa hay trách nhiệm liênquan do một rủi ro đã thỏa thuận gây nên

Trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, ngườitham gia bảo hiểm có thể là người xuất hoặc người nhập tùy theo từng điều kiệnthương mại và điều kiện giao hàng mà hai bên đã thỏa thuận với nhau để bảo hiểmcho hàng hóa được chuyên chở trên tàu

Vì những rủi ro có thể xảy ra gây nên thiệt hại lớn đối với tàu và hàng hóa trênbiển, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển càng khẳngđịnh được vai trò của mình:

Trang 8

Theo hợp đồng vận tải, người chuyên chở chỉ chịu chịu trách nhiệm về tổn thấtcủa hàng hóa trong một phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đơn đường biển córất nhiều rủi ro mà các hãng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm Ngay cả công ướcquốc tế cũng quy định miễn trách nhiệm rất nhiều cho người chuyên chở Vì vậy cácnhà kinh doanh phải mua bảo hiểm cho hàng hóa để đảm bảo quyền lợi khi có rủi roxảy ra

Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận tải bằng đường biển ra đời rất sớm, do

đó việc mua bán bảo hiểm xuất nhập khẩu vận tải bằng đường biển đã trở thành tậpquán quốc tế trong hoạt động ngoại thương

Như vậy, việc tham gia bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển là rất quan trọng và đã khẳng định vai trò trong thương mại quốc tế

 Bảo hiểm có tác dụng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả đề phòng, hạn chếtổn thất Các nhà bảo hiểm phối hợp với người được bảo hiểm, người vận chuyển xâydựng những phương án, những thiết bị giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất

 Hàng hóa xuất nhập khẩu thường có giá trị lớn, do đó phí bảo hiểm thu đượckhông phải là nhỏ Đó là một nguồn đầu tư lớn, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế

 Hoạt động bảo hiểm góp phần tăng nguồn vốn cho ngân sách nhà nước, vàtrực tiếp tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động

 Thông qua hoạt động bảo hiểm, tái bảo hiểm , liên doanh liên kết thiết lậpđược mối quan hệ quốc tế rộng rãi, học hởi được nhiều kinh nghiệm từ nước ngoài.Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu, và ngược lại,một quốc gia có hoạt động xuất nhập khẩu phát triển thì chắc chắn sẽ có một trình độbảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cao

1.2 BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN

Trang 9

BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1.2.1 Rủi ro và tổn thất được bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

1.2.1.1 Các rủi ro

Rủi ro trong hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây

ra, làm hư hỏng hàng hóa và các phương tiện vận chuyển Để thuận tiện trong việc xâydựng các quy tắc bảo hiểm và để hạn chế tối đa những hiện tượng tranh chấp, khiếunại trong giám định bồi thường, người ta tiến phân loại các rủi ro như sau:

a, Căn cứ vào nguyên nhân gây ra tổn thất:

- Rủi ro do thiên tai gây ra như biển động, bão lốc, sống thần, thời tiết xấu, mây,mưa gió

- Tai nạn bất ngờ trên biển như: rủi ro mắc cạn, chìm đắm, đâm va với các vậtthể không phải là nước…

- Rủi ro do hành động của con người: ăn trộm, cướp biển, bạo loạn, đình công,chiến tranh

- Tổn thất trong quá trình bốc dỡ hàng hóa lên tàu, sà lan

b, Căn cứ theo điều kiện bảo hiểm :

- Rủi ro được bảo hiểm: là rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc.

Các rủi ro phải mang tính chất bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của conngười Thông thường các rủi ro được bảo hiểm đó là:

+ Chìm đắm: là hiện tượng tàu vận chuyển bị chìm xuống biển chấm dứt cuộc

hành trình Nếu tàu chấm dứt hành trình giữa đường nhưng không chìm hẳn xuốngnước do chuyên chở các vật thể nổi như nút chai gỗ… vẫn được coi là đắm tàu đắmgây ra tổn thất toàn bộ cho hàng hóa Chìm đắm có thể do tàu thủng, bị sóng đánh…

+ Đâm va: có thể tàu đâm va vào những vật thể cố định như cầu cảng, đá ngầm,

hoặc đâm va với các phương tiện di chuyển như tàu khác, sà lan, phương tiện lai dắt…hàng hóa có thể bị thiệt hại do sự đâm va này

+ Cháy nổ: xảy ra có thể do cố ý, sự bất cẩn của con người, cháy có thể xuất

phát từ tàu, có thể từ phía hàng hóa vận chuyển Thông thường các con tàu đều có trữlượng dầu lớn, do đó, khi xảy ra cháy nổ thì thiệt hại mang tính thảm họa, khó có thểcứu chữa

+ Mắc cạn: là hiện tượng tàu sát liền với đáy biển hoặc nằm trên chướng ngại

Trang 10

vật nào đó làm tàu không chạy tiếp được, cần tác động ngoại lực để tàu tiếp tục chạy.

- Rủi ro không được bảo hiểm : là các rủi không được người bảo hiểm chấp nhận

trong bất cứ điều kiện bảo hiểm nào Đó là những rủi ro do hành vi cố ý của chủ hàng,những hàng vi sai trái của bất kỳ người nào; các hao hụt tự nhiên, tổn thất do vũ khíchiến tranh…

- Rủi ro đặc biệt: chiến tranh, đình công, bạo loạn, thông thường không được bảo

hiểm, nhưng nếu chủ hàng có yêu cầu thì nhà bảo hiểm vẫn chấp nhận bảo hiểm theođiều kiện kèm theo với các điều khoản thông thường, mà không bảo hiểm riêng mìnhnó

1.2.1.2 Các tổn thất

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

là những thiệt hại hư hỏng của hàng hóa được bảo hiểm ro rủi ro gây ra:

a, Phân loại tổn thất

Căn cứ theo mức độ tổn thất có thể chia tổn thất ra làm hai loại:

Tổn thất bộ phận: là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảohiểm bị mất mát hư hỏng, thiệt hại Tổn thất bộ phận có thể là tổn thất về số lượng,trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị hàng hóa

- Tổn thất toàn bộ là toàn bộ hàng hóa bị thiệt hại, hư hỏng biến chất, biến dạng,không còn giá trị Tổn thất toàn bộ được chia làm 2 loại:

Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn bộ đối tượng hàng hóa được bảo hiểm theo hợpđồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại, bị biến chất, biến dạng không còn nhưlúc đầu được bảo hiểm, hoặc bị mất đi, tước đoạt không lấy lại được nữa Tổn thấttoàn bộ thực tế xảy ra khi:

- Khi hàng hóa bị hủy hoại hoàn toàn Ví dụ như lô hàng gốm sứ xuất khẩu, trênđường đi gặp bão lớn làm lô hàng bị đổ vỡ toàn bộ

- Hàng hóa bị tước đoạt không lấy lại được Ví dụ hàng hóa bị cướp biển lấy đitoàn bộ

- Hàng hóa bị biến dạng, biến chất không còn là vật thể bảo hiểm nữa.Ví dụ như

Xi măng bị nước vào, toàn bộ xi măng không sử dụng được nữa

- Hàng hóa trên tàu được tuyên bố là mất tích

Tổn thất toàn bộ ước tính: là hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất, thiệt hại chưađến mức tổn thất toàn bộ thực tế, nhưng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế,hoặc nếu bỏ thêm chi phí cứu vớt có thế chi phí cứu vớt bằng hoặc lớn hơn giá trịhàng hóa Và cũng có thể là toàn bộ chi phí mà chủ hàng gửi hàng đến nơi nhận lớn

Trang 11

hơn giá trị bản thân lô hàng đó tại thời điểm nhất định Khi gặp trường hợp này, tốtnhất các chủ hàng nên tuyên bố từ bỏ hàng và người bảo hiểm sẽ phải bồi thường tổnthất toàn bộ.

Vídụ: Một lô hàng gạo được xuất từ Việt Nam sang Nam Phi, dọc đường hàng bịngấm nước và bắt đầu mốc thối, nếu cố mang sang Nam Phi thi gạo sẽ hư hỏng toàn

- Khi tổn thất toàn bộ ước tính, chủ hàng có thể từ bỏ lô hàng, rồi thông báo chonhà bảo hiểm việc từ bỏ mọi quyền lợi liên quan đến hàng hóa, đó là sự tự nguyệnchuyển quyền sở hữu hàng hóa cho nhà bảo hiểm để đòi bồi thường toàn bộ Việc từ bỏphải được thỏa mãn điều kiện:

+ Chủ hàng phải gửi thông báo từ bỏ lô hàng cho người bảo hiểm bằng văn bản.+ Chỉ từ bỏ lô hàng khi hàng hóa còn dọc đường và chưa bị tổn thất toàn bộthực sự

+ Việc từ bỏ phải được sự chấp thuận của nhà bảo hiểm Khi người bảo hiểmchấp nhận thì sẽ không thay đổi được nữa, và lô hàng sẽ thuộc quyền sở hữu của nhàbảo hiểm

 Căn cứ theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất được chia làm hai loại sau:

- Tổn thất riêng: chỉ gây thiệt hại cho một hay một số quyền lợi của các chủ hàng

và chủ tàu trên tàu Ngoài thiệt hại vật chất ra, còn phát sinh các tổn thất chi phí riêng

là các chi phí liên quan đến tổn thất riêng nhằm hạn chế những hư hại tổn thất xảy ra

Đó là những chi phí bảo quản hàng hóa để giảm bớt hư hại, hạn chế hư hại thêm baogồm chi phí xếp dỡ, gửi hàng đóng gói lại hàng, thay thế bao bì… bến khởi hành vàdọc đường

Tổn thất chung: là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách

cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu, hàng hóa và cước phí trên tàu thoát khỏi sựnguy hiểm chung thực sự đối với chúng

Muốn có tổn thất chung phải có hành động tổn thất chung Hành động được coi

là hành động tổn thất chung phải thỏa mãn điều kiện:

- Là hành động tự nguyện hữu ý của thuyền trưởng và các thuyền viên trên tàu ;

Trang 12

- Hy sinh và chi phí phải là đặc biệt, bất thường, hợp lý, và vì an toàn chung chotất cả các quyền lợi tren chuyến hành trình;

- Tai họa phải thực sự nghiêm trọng;

- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổn thấtchung;

- Xảy ra trên biển

- Tổn thất chung bao gồm hy sinh tổn thất chung và chi phí tổn thất chung: + Hy sinh tổn thất chung là những thiệt hại, hậu quả trực tiếp của hành độngtổn thất chung như: vứt hàng xuống biển cho tàu nổi, đốt hàng làm nhiên liệu, máy tàu

hư hại do làm việc quá công suất để cứu tàu ra khỏi bãi cạn

+ Chi phí tổn thất chung là những chi phí trả cho người thứ ba trong việc cứutàu cứu hàng, chi phí thoát nạn, chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình, bao gồm: chiphí cứu nạn; chi phí làm nổi tàu bị mắc cạn, chi phí thuê kéo lai dắt tàu khi bị nạn; chiphí tại cảng lánh nạn như: phí ra vào cảng lánh nạn, chi phí tái xếp lưu kho, tiền lươngcủa thuyền trưởng và thuyền viên

b, Các loại tổn thất thường gặp trong bảo hiểm hàng hóa xuát nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Tổn thất do va chạm với hàng hóa khác

Hàng hóa có thể bị lem dầu, ẩm ướt, sâu bọ … do lây lan từ hàng hóa khác Vàcần xác định rõ hư hỏng đó xảy ra trước hay sau khi xếp hàng lên tàu

Tổn thất do hao mon, rách vỡ, chảy bình thường

Hao mòn, rách vỡ, chảy là những rủi ro miễn bồi thường theo điều khoản thôngthường của hợp đồng bảo hiểm Cần phải thận trọng khi ước lượng và báo cáo vềnhững hàng hóa có thể bị tổn thất do những nguyên nhân đó, và phải ghi rõ ràng là tổnthất bộ phận hay toàn bộ là do những nguyên nhân trên

Hàng mất hay hư hòng vì hao mòn, rách vỡ, chảy đều không được bồi thường trừkhi chủ hàng mua bảo hiểm đặc biệt do “hiểm họa đường biển” gây ra Việc xếp hàngkhông đúng quy cách cũng gây nên vỡ, chảy chất lỏng trong chai lọ đều không thuộcmục “hiểm họa đường biển”, nhưng nếu hàng xếp bị đổ xuống biển do biển độngmạnh hoặc dẫn đến những hư hại tương tự thì có thể xếp vào những tổn thất đó

Tổn thất do đọng nước hấp hơi

Sự ngưng đọng hơi nước trong hầm tàu xảy ra là do sự chênh lệch nhiệt độ giữacác vị trí trong hầm và hàng được xếp trong một khoảng thời gian dài, hàng có chứathủy phần và do sự vận chuyển không khí từ nơi này đến nơi khác trong hầm tàu

Trang 13

Nguyên nhân sự chênh lệch nhiệt độ đó là: Do thay đổi vĩ tuyến, do bên cạnh nơi chứahàng có những bề mặt bằng thép được làm nóng lên hay lạnh đi, hoặc do đống hàng bịbốc cháy…

Tổn thất do côn trùng

Các dạng tổn thất:

Hư hỏng do côn trùng đục khoét gặm nhấm, chăng tơ vón cục do lẫn phân côntrùng; mất trọng lượng và bốc nóng; hư do nước; giảm giá trị do lẫn côn trùng dù làloại côn trùng không có hại

Một số loài côn trùng tiêu biểu gây hại tiêu biểu như: bọ rầy (beetles), bướm đêm(moths) và nhậy (mites), chúng chuyên gây hư hại cho một số mặt hàng lớn như lúa

mỳ, hạt cà phê Nguyên nhân là do: Sâu bọ có thể có sẵn trong hàng hóa trước khi xếphàng lên tàu, đây là loại nhiễm côn trùng từ ngoài đưa vào; hoặc hàng hóa có thể bịnhiễm côn trùng khi được đưa tới nơi; hoặc hàng tốt có thể bị nhiễm côn trùng do đểgần các kiện hàng nhiễm côn trùng xếp cùng khoang; hay côn trùng có sẵn trênkhoang trước khi đống hàng tốt được xếp lên tàu, là những côn trùng còn sống sót từchuyến hàng trước

Tổn thất do nấm mốc

Lương thực vải vóc và thực tế có rất nhiều nguyên li ệu hữu cơ có thể bị các visinh vật làm hại nếu thủy phần chúng lên cao quá mức tối thiểu nào đổn đó Các vitrùng đó có thể gây nên các tổn thất như mục gỗ, nấm gây nên thối hoa quả, mốc trêncác nguyên liệu khô bị ẩm… tổn thất do mốc gây thiệt hại kinh tế lớn hơn là do cácloại vi sinh vật khác Nguyên nhân là do: nguồn thức ăn, nhiệt độ, không khí, môitrường, độ ẩm…

Tổn thất do hao mòn tự nhiên, nội tỳ

Có một số mặt hàng có thể bị mất trọng lượng trong quá trình vận chuyển donhững nguyên nhân tự nhiên như giảm thủy phần Điều kiện làm cho hàng khô đi sẽlàm cho nó giảm hụt trọng lượng, trong khi độ ẩm tăng lên là cho nó hút thêm hơinước làm cho trọng lượng lại tăng lên

Tổn thất do rỉ sét

Rỉ là sự oxi hóa trên sắt thép chủ yếu là do hơi nước, nước ngọt, nước mặn và

mồ hôi Hàng hóa có thể bị rỉ sét do môi trường ẩm, có khí CO2 và một vài tác nhânnào đó, hoặc là do sự có mặt của các hóa chất Nếu hàng hóa được lót vật liệu chốngướt nhưng không có biện pháp thông gió tốt đã làm ngưng tụ hơi ẩm gây nên rỉ sét

Tổn thất do mất trộm và mất cắp

Trang 14

Khi kiện hàng xảy ra thiếu hụt, cần phải xem xét kỹ lưỡng tình trạng bên ngoàicủa kiện hàng Chúng có thể bị mở ra một cách tinh vi,có nhiều thời gian để ngụytrang việc mở hàng, cạy ván, rút đinh, nếu xem qua có thể không phat hiện được,trường hợp nảy xảy ra với những kiện hàng rượu vang hay rượu mạnh.

Tổn thất do không nhận được rõ ký mã hiệu

Việc xác định được thiếu ký hiệu riêng hay ký riêng bị mất có thể gặp khó khăn.Giám định viên phải cố gắng kiểm tra xem hàng có giao đúng không, hàng thiếu cólưu tại kho của chủ hàng hay kho cảng không, nếu hàng giao không đúng thì phải nêuđầy đủ trong chứng thư loại hàng thay thế đã giao và người yêu cầu giám định đã nhận

Tổn thất do hao hụt khối lượng

Hao hụt khối lượng có thể do nhiều nguyên nhân do đó lúc tham khảo giấychứng nhận khối lượng, giám định viên không nên xem kết quả ghi trong đó là hoàntoàn chính xác mà phải kiểm tra thật kỹ lưỡng để lập biên bản cho chính xác

Tổn thất do đóng hàng thiếu

Đóng gói thiếu là cách giải thích thông thường khi hàng mất mà trong kiện hangkhông có chỗ trống nào để xếp những kiện hàng đã mất Đôi khi có trường hợp một lôhàng lớn được đóng trong một số kiện hàng không phù hợp với phiếu đóng gói vàhàng thiếu ở kiện hàng này nhưng có thể tìm thấy ở kiện hàng khác Trường hợp mấtmát nghiêm trọng, giám định viên phải khuyên người nhận hàng giữ lại bao bì củakiện hàng đang giám định để người xếp hàng, người bảo hiểm hay người chuyên chở

có thể xem xét sau này Sự xem xét như vậy có thể giúp họ tránh được những máttương tự về sau

1.2.2 Các điều kiện bảo hiểm

Theo bộ điều kiện của ILU: hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa mang tính quốc

tế do đó các hoạt động thường được tuân theo quy tắc quốc tế Các điều kiện bảo hiểm

mà các quốc gia đang áp dụng đều dựa trên cơ sở của bộ điều kiện này:

a, Điều kiện bảo hiểm C

Theo điều kiện này thì những tổn thất gây ra bởi các rủi ro hay nguyên nhân đượcbảo hiểm là:

- Cháy hoặc nổ

- Đâm và xà lan bị mắc cạn, chìm đắm, hay lật úp

- Tàu đâm va vào nhau, hoặc đâm va vào xà lan, hoặc các vật thể bên ngoàikhông phải là nước

- Rủi ro xảy ra tại cảng hoặc một địa điểm lánh nạn

- Động đất, núi lửa phun, sét

Trang 15

- Hy sinh tổn thất chung

- Ném hàng xuống biển

Hợp đồng bảo hiểm theo điều kiện này còn bảo hiểm tổn thất chung và chi phícứu hộ được điều chỉnh hoặc xác định theo hợp đồng chuyên chở hay một tập quánnhất đang chi phối.Và theo điều kiện này, phần trách nhiệm của người được bảo hiểmtrong trường hợp đâm va hai bên cùng có lỗi

Loại trừ bảo hiểm đối với những trường tổn thất do:

- Tổn thất do hành vi xấu cố ý của người được bảo hiểm

- Các hao hụt tự nhiên về trọng lượng, thể tích hay các hao mòn thông thường,các khuyết tật của đối tượng bảo hiểm

- Việc đóng gói, chuẩn bị đối tượng bảo hiểm chưa đầy đủ hoặc chưa, hoặc khôngthích hợp

- Tình trạng không trả được nợ hoặc sự thiếu thốn về tài chính của chủ tàu, ngườithuê tàu, quản lý tàu

- Việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiến tranh gì dùng tới phản úng hạt nhânhoặc đốt nóng hạt nhân…

- Việc phương tiện vận chuyển không đủ khả năng đi biển, không an toàn cho việcchuyên chở đối tượng

- Do chiến tranh, nội chiến cách mạng nổi loạn khởi nghĩa hoặc xung đột đìnhcông, công nhân cấm xưởng, bế xưởng rối loạn lao động, khủng bố

- Do sự chiếm bắt giữ, hay kiếm chế hay cầm giữ ( loại trừ cướp biển ) và hậu quảcủa những sự việc đó hoặc bất kỳ sự mưu toan gì

b, Điều kiện bảo hiểm B

Điều kiện bảo hiểm B mở rộng hơn điều kiện C, ngoài những rủi ro trên, trong điềukiện này còn bảo hiểm cho những tổn thất thiệt hại, mát mát do những rủi ro sau:

- Hàng bị nước cuốn trôi khỏi tàu

- Nước biển, nước hồ hoặc nước sông xâm nhập vào tàu, sà lan, phương tiệnvận chuyển container hoặc nơi chứa hàng

- Tổn thất toàn bộ bất kỳ kiện hàng nào rơi mất khỏi tàu hoặc rơi trong khi đangxếp hàng, hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan

- Động đất núi lửa phun, sét đánh

c, Điều kiện bảo hiểm A

Đây là điều kiện bảo hiểm rộng nhất, bảo hiểm cho tất cả những hư hỏng mấtmát của hàng hóa kể cả cướp biển và còn không áp dụng mức miễn thường, trừ những

Trang 16

rủi ro loại trừ.

Rủi ro loại trừ: cơ bản giống rủi giông điều kiện B, C, trừ rủi ro “thiệt hại cố ýhoặc phá hoại” vẫn được bồi thường theo điều kiện A

d, Điều kiện bảo hiểm cho những rủi ro đặc biệt:

Đây là điều kiện bảo hiểm mở rộng theo các hợp đông bảo hiểm gốc Bao gồmđiều kiện bảo hiểm chiến tranh và điều kiện bảo hiểm đình công Nhà bảo hiểm phảibồi thường cho những tổn thất thiệt hại khi xảy ra:

Điều kiện bảo hiểm chiến tranh:

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân sựxảy ra từ sự biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch

- Chiếm đoạt, bắt giữ kiềm chế hoặc cầm giữ

- Mìn thủy lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác

- Tổn thất chung và các chi phí cứu nạn

Điều kiện bảo hiểm đình công:

- Công nhân đình công gây ra, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người gâyrối trật tự, gây rối loạn lao động và hậu quả của những hành động đó

- Hoặc gây ra bất kỳ kẻ khủng bố nào hành động vì lý do chính trị

- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn

1.2.2.2 Theo Bộ Tài Chính ban hành ngày 9/8/1990

a, Điều kiện bảo hiểm C

Ngoài những rủi ro được bảo hiểm theo bộ điều kiện của Viện ITL, người bảohiểm còn phải chịu trách nhiệm về những tổn thất và chi phí sau:

- Những chi phí và tiền công hợp lý mà người được bảo hiểm hoặc đại lý của họđã chi nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hóa được bảo hiểm haynhững chi phí kiện tụng đòi người thứ ba bồi thường

- Những chi phí cho việc lưu kho hay gửi tiếp hàng hóa tại cảng dọc đường,cảng lánh nạn, do hậu quả của một rủi ro được bảo hiểm gây ra

- Những chi phí hợp lý cho việc giám định hoặc xác định số tổn thất mà nhà bảohiểm phải bồi thường

b, Điều kiện bảo hiểm B, A

Giống điều kiện B, A của Viện ITL và thêm những điều khoản bổ sung như ởđiều kiện C

1.2.3 Nội dung bảo hiểm

1.2.3.1 Đối tượng bảo hiểm

Trang 17

Đối tượng bảo hiểm là các hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằngđường biển có chứng từ mua bán, hợp đồng vận chuyển và chứng từ giao nhận Đây là

cơ sở để phân định trách nhiệm giữa các bên có liên quan, trách nhiệm đó phụ thuộcvào điều kiện mua hàng

Theo điều kiện thương mại quốc tế “Incoterm 2000” điều kiện giao hàng gồm 13loại và được chia thành nhóm:

- Nhóm E: có một điều kiện EXW(Ex Works) là điều kiện giao hàng tại xưởng,

người bán chịu chi phí tối , giao hàng tại xưởng, tại kho của mình là hết nghĩa vụ

- Nhóm F: là nhóm điều kiện mà người bán không phải trả cước phí vận tải

chính Bao gồm ba điều kiện là FCA (giao hàng cho người vận tải tại nơi quy định ởnước xuất khẩu); FAS (giao hàng dọc mạn tàu tại cảng xếp hàng quy định); FOB (giaohàng lên tàu tại cảng xếp hàng quy định)

- Nhóm C: trong nhóm điều kiện này, người bán chịu cước phí vận tải chính, địa

điểm chuyển rủi ro về hàng hóa tai nước xuất khẩu Bao gồm 4 điều kiện: CFR(giá trịhàng hóa bao gồm tiền hàng và cước phí); CIF (giá trị hàng hóa gồm tiền hàng, phíbảo hiểm và cước vận chuyển); CPT (người bán chịu cước phí trả tới nơi quy định);CIP (cước phí, bảo hiểm tới nới đích quy định)

- Nhóm D: theo nhóm này, người bán chịu mọi chi phí để đưa hàng hóa về nơi

quy định, địa điểm chuyển rủi ro tại nước dỡ hàng Bao gồm 5 điều kiện DAF(giaohàng tại biên giới); DES ( giao hàng tại tàu ở cảng quy định); DEQ (giao hàng tại cầucảng đích); DDU (giao hàng chưa tính thuế tại nơi đích quy định); DDP (giao hàng đãtính thuế tại nơi đích quy định)

Trong xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường áp dụngđiều kiện FOB, CIF, CFR

Hiện nay, trên khoảng 80% các thương vụ, doanh nghiệp Việt Nam khi xuấtkhẩu hàng hóa thường lựa chọn điều kiện FOB và khi nhập khẩu thường lựa chọn điềukiện CFR hoặc CIF Việc lựa chọn các điều kiện thương mại này không hề có lợi choViệt Nam, sở dĩ có sự lựa chọn này do một số nguyên nhân sau:

+ Các điều kiện Incoterm không được hiểu rõ, vì vậy có một số quan điểm sailầm như: nếu theo điều kiện FOB thì rủi ro sẽ sớm chuyển sang người mua do đó nênxuất khẩu theo điều kiện này; Còn theo điều kiện CIF hay CFR thì người bán phảichịu rủi đến tận cảng nhập khẩu, nên họ thường nhập với giá CIF hoặc CFR Trongthực tế, cả 3 điều kiện FOB, CIF, CFR nơi chuyển giao rủi ro đều là lan can tàu tạicảng bốc hàng

Trang 18

+ Việc mua bán của các doanh nghiệp Việt Nam thường thực hiện qua trung giannước ngoài, thế và lực trong kinh doanh còn yếu: vốn thiếu, chất lượng hàng hóa chưacao… Đồng thời, trình độ ngoại ngữ còn ở mức thấp đã hạn chế khả năng đàm phán,lựa chọn các điều kiện thương mại.

+ Do việc không am hiểu về hàng hải, việc thuê tàu vận chuyển cũng là một khókhăn trong quá trình thu xếp vận chuyển, do đó họ để các doanh nghiệp nước ngoàithu xếp việc đó

+ Ngoài ra việc mua bảo hiểm cho hàng hóa cũng là trở ngại lớn đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam

Việc lựa chọn nhập CIF, CFR, xuất FOB khi buôn bán hàng hóa với nước ngoàicủa các doanh nghiệp Việt Nam đã không tạo điều kiện gia tăng dịch vụ đóng tàu vàngành bảo hiểm trong nước phát triển Ngoài ra, còn có một số điều không có lợi như:Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải xuất với giá rẻ, nhập với giá đắt; Bị động với cácphương tiện vận chuyển có thể làm tăng những chi phí phát sinh như lưu kho, trả lãisuất, phải chịu giá thuê tàu đắt, mất đi những khoản hoa hông được trả bỏi các hãngvận tải và nhà bảo hiểm khi thuê dịch vụ của họ…

1.2.3.2 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là sựthỏa thuận bằng văn bản giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, theo đó nhàbảo hiểm sẽ cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất, mất mát củahàng hóa hay trách nhiệm liên quan do rủi ro đã thỏa thuận gây nên còn người đượcbảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm Đây là hợp đồng bảo hiểm hàng hải, mang tínhchất là hợp đồng bồi thường, hợp đồng tín nhiệm và có thể chuyển nhượng được Cóhai loại hợp đồng:

- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm một chuyến hàng từ nơi

này đến nơi khác ghi trên hợp đồng bảo hiểm Trách nhiệm của người bảo hiểm theohợp đồng này bắt đầu và kết thúc theo điều khoản “từ kho đến kho” Loại hợp đồngnày phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có lượng hàng xuất khẩu ít, khôngthường xuyên

Hợp đồng bảo hiểm chuyến thể hiện bằng đơn bảo hiểm hoặc Giấy chứng nhậnbảo hiểm do Công ty bảo hiểm cấp

Đơn bảo hiểm chính là một hợp đồng bảo hiểm đầy đủ Nội dung gồm hai phần:mặt trước và mặt sau của Đơn bảo hiểm Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng,tàu, hành trình Mặt sau thường ghi các điều lệ hay quy tắc của Công ty bảo hiểm Nội

Trang 19

dung hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

- Ngày cấp đơn bảo hiểm

- Nơi ký kết hợp đồng bảo hiểm

- Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm

- Tên khách hàng được bảo hiểm

- Qui cách đóng gói, loại bao bì và ký mã hiệu của hàng

- Số lượng, trọng lượng của hàng

- Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển hàng

- Cách xếp hàng trên tàu

- Ngày tàu khởi hành

- Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

- Điều kiện bảo hiểm

- Phí bảo hiểm

- Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm

- Số bản đơn được phát hành

- Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường, do người được bảo hiểm chọn

- Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối Trong trường hợp nơi đến củahàng ghi trong Đơn bảo hiểm là một điểm nằm sâu trong nội địa thì phải tăng thêmphụ phí bảo hiểm vì ngoài rủi ro hàng hải còn có thêm rủi ro trên đoạn đường phụtrong toàn bộ hành trình được bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm bao: là hợp đồng bảo hiểm nhiều chuyến hàng trong

một thời gian nhất định, thường là một năm Đối với các doanh nghiệp vừa và lớn cókhối lượng lớn và ổn định, xuất nhập khẩu thường xuyên, người tham gia bảo hiểmthường ký kết loại hợp đồng này với nhà bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ cam kết bảohiểm cho tất cả các chuyến hàng xuất nhập khẩu trong năm của bên tham gia bảo hiểm.Trong hợp đồng bảo hiểm bao, hai bên chỉ thỏa thuận đến một số vấn đề nhấtđịnh như:

- Tên hàng được bảo hiểm, loại tàu chở hàng, cách tính giá trị bảo hiểm, số tiềnbảo hiểm tối đa trong một chuyến, cách thanh toán phí và tiền bồi thường, các chứngtừ có liên quan…

- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hóa sẽ được bảo hiểm:

+ Tàu phải có cấp hạng cao và nếu do 10 hãng đăng kiểm nổi tiếng trên thếgiới cấp mới được chấp nhận một cách tuyệt đối

+ Tàu phải có khả năng đi biển bình thường và tuổi tàu thấp (dưới 15 năm)

- Điều kiện về giá trị bảo hiểm: Người được bảo hiểm phải kê khai giá trị hàng

Trang 20

theo từng chuyến về số kiện, giá CIF hoặc giá FOB, số hợp đồng mua bán, số thư tíndụng (L/C), ngày mở và trị giá L/C, số vận đơn B/L

- Điều kiện về quan hệ: nếu đã mua bảo hiểm bao của người bảo hiểm nào thìtrong thời gian đó người được bảo hiểm không được phép mua bảo hiểm hàng hóa củangười bảo hiểm khác

Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm bao chủ hàng cần phải lưu ý đến các vấn đề sau:+ Mỗi chuyến hàng đều phải thông báo cho nhà bảo hiểm biết bằng văn bản

+ Nếu chủng loại hàng hóa có sự thay đổi chủ hàng cũng phải thông báo chonhà bảo hiểm biết bằng văn bản và phải thỏa thuận lại tỷ lệ phí bảo hiểm

+ Nếu chủ hàng đã ký hợp đồng bảo hiểm bao nhưng sau một khoảng thời giannào đó, vì một lý do nào đó cần phải chuyển nhượng cho người khác thì hai bên phảilàm thủ tục chuyển nhượng đúng pháp luật Và chủ hàng cũ phải ký hậu vào tất cả cácđơn bảo hiểm đã ký kết

+ Tất cả những giấy tờ, thông báo thay đổi, thỏa thuận phí, đều phải đượcđính kèm với hợp đồng bảo hiểm gốc Sau khi ký kết, nhà bảo hiểm sẽ cấp đơn bảohiểm cho chủ hàng Đơn bảo hiểm là bằng chứng chứng tỏ chủ hàng đã ký kết đầy đủ,đúng qui phạm Đơn này có thể chuyển nhượng từ người đứng tên trong đơn chongười khác được hưởng quyền lợi của đơn bảo hiểm Người chuyển nhượng cũng chỉcần ký hậu vào đơn và chuyển cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm mới

Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi cho cả hai bên, người bảo hiểm đảm bảo thu đượckhoản phí bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm vẫn được bồithường nếu tổn thất đã xảy ra nhưng chưa kịp thông báo bảo hiểm, và phí thì thấp hơnhợp đồng bảo hiểm chuyến

1.2.3.3 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm.

a, Giá trị bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm là giá trị của đối tượng lúc bắt đầu tham gia bảo hiểm, trong bảohiểm hàng hóa xuất nhập khẩu giá trị bảo hiểm thường được tính theo giá trị CIFnghĩa là bao gồm giá hàng hóa tại cảng đi C (cost), cộng phí bảo hiểm I (Insuarance),

và cước phí vận chuyển tới cảng đích F (Frieght) Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi củamình, người được bảo hiểm có thể bảo hiểm thêm cả khoản lãi dự tính cho việc xuất,nhập khẩu mang lại

Khi xuất,nhập khẩu theo điều kiện FOB hoặc CFR thì giá trị bảo hiểm được tínhtheo giá CIF của hàng hóa:

Trang 21

Hay giá trị bảo hiểm: V = CIF =

R

F C

 1

Trong đó:

V : Giá trị bảo hiểm của hàng hóa

C: Giá trị hàng hóa tại cảng đi

F: cước phí vận chuyển

I: Phí bảo hiểm

R: Tỷ lệ phí bảo hiểm, tỷ lệ này do nhà bảo hiểm đề ra tính theo % của giá trịbảo hiểm

Nếu giá trị bảo hiểm được tính thêm lãi dự kiến thì sẽ là:

V = CIF + a.CIF = (1+a).CIF = (1+a)

R

F C

 1

a là lãi dự kiến, và theo tập quán quốc tế a thường là 10%

b, Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là số tiền mà người tham gia đăng ký bảo hiểm cho hàng hóacủa mình dựa trên giá trị bảo hiểm Nó có thể là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm

do người bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm

- Nếu số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm được gọi là bảo hiểm ngang giá trịhay bảo hiểm toàn phần

- Nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì được gọi là bảo hiểm dướigiá trị Trong trường hợp này, khi tổn thất toàn bộ xảy ra , nhà bảo hiểm sẽ bồi thườngcho người được bảo hiểm số tiền lớn nhất chỉ bằng số tiền bảo hiểm Nếu xảy ra tổnthất bộ phận, nhà bảo hiểm sẽ bồi thường số tiền bằng giá trị tổn thất nhân tỷ lệ giữa

số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm

- Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm được gọi là bảo hiểm trên giá trịthì phần vượt quá đó sẽ không được tính Do vậy bảo hiểm trên giá trị là rất hiếm.Trường hợp đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng tức là cùng rủi ro cùng giátrị bảo hiểm nhưng được bảo hiểm bởi nhiều công ty bảo hiểm khác nhau thì tráchnhiệm của các công ty bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi của mình được tính theo

tỷ lệ tham gia các hợp đồng bảo hiểm của các công ty

Trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nếu số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trị

Trang 22

FOB hay CFR thì người được bảo hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trị có nghĩa là bảohiểm dưới giá trị.

c, Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho nhà bảohiểm để được bồi thường nếu không may tổn thất do các rủi ro đã thỏa thuận gây nên.Phí bảo hiểm được tính theo số tiền bảo hiểm

Thông thường các chủ hàng tham gia bảo hiểm ngang giá trị nên I=RxV Nếu chủhàng mua bảo hiểm dưới giá trị thì phí bảo hiểm I = RxA Với A là số tiền bảo hiểm Tỷ

lệ phí bảo hiểm R cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm, vào tính chất hàng hóa; cáchthức, bao bì đóng gói hàng hóa; xác xuất xảy ra rủi ro của hàng hóa… Ngoài ra R còn phụthuộc vào phương tiện vận chuyển nếu là tàu già phải cộng thêm phụ phí…

Nếu theo điều kiện FOB hay CFR thì: I = R x CIF= R x

R

F C

 1Nếu theo giá CIF thì I = R x 110%CIF = R x 110%C F R

 1

1.2.4 Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Việc giám định tổn thất nhằm xác định được tổn thất thuộc trách nhiệm của cácbên có liên quan, có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không

Ước tính chính xác mức độ tổn thất giúp nhà bảo hiểm xác định được số tiền bảohiểm, đồng thời giúp chủ hàng xác định được đầy đủ quyền lợi của mình (giám địnhtổn thất chính là cơ sở để tiến hành khiếu nại bồi thường và giải quyết khiếu nại)

Giám định tổn thất để có biện pháp xử lý và ngăn ngừa tổn thất lây lan nhằm hạn

Trang 23

1.2.4.2 Bồi thường tổn thất

a, Vai trò

Bảo hiểm là một ngành dịch vụ mà khách hàng không được nhận ngay quyền lợicủa mình khi mua sản phẩm bảo hiểm mà chỉ đến khi đối tượng được bảo hiểm gặprủi ro thuộc phạm vi hợp đồng gây tổn thất thì khách hàng mới nhận được quyền lợicủa mình Và bồi thường tổn thất chính là công tác đảm bảo quyền lợi của khách hàng,được san sẻ rủi ro, san sẻ tài chính, đảm bảo sự ổn định sản xuất kinh doanh

Khi tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm sẽ được nhận số tiền bồi thường đượctính toán dựa trên mức độ tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và STBH

Trang 24

b, Nội dung

Sau khi tiến hành giám định và lập biên bản giám định, người bảo hiểmthực hiệnbồi thường tổn thất Đây là công đoạn nhạy cảm ví nó liên quan tới cả quyền lợi ngườiđược bảo hiểm và người bảo hiểm:

 Các công ty Bảo hiểm Việt Nam tính toán và bồi thường trên cơ sở các nguyên tắcsau:

Bồi thường bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật, đồng tiền bồi thường làđồng tiền đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếu không thỏa thuận nộp phí bằng đồng tiềnnào thì bồi thường bằng đồng tiền đó

Về nguyên tắc trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm chỉ nằm trong phạm vi

số tiền bảo hiểm, tuy nhiên khi cộng tiền tổn thất và các chi phí cứ hôk, phí cứu hộ,chiphí giám định, đánh giá và bán hàng hóa bị tổn thất, chi phí đòi người thứ ba bồithường, tiền đóng góp tổn thất chung thì có vượt quá số tiền bảo hiểm, người bảo hiểmvẫn phải bồi thường

Khi thanh toán tiền bồi thường, người bảo hiểm có thể khấu trừ những khảon thunhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng hóa và đòi người thứ ba

 Cách tính toán bồi thường tổn thất:

o Tổn thất toàn bộ

- Tổn thất toàn bộ thực tế (actual total loss): Người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn

bộ STBH hoặc GTBH Số tiền bồi thường P=V (Giá trị bảo hiểm) hoặc P=A (số tiềnbảo hiểm) nếu STBH < GTBH

- Tổn thất toàn bộ ước tính (cosntructive total loss): có hai trường hợp xảy ra:+ Nếu người được bảo hiểm có thông báo từ bỏ lô hàng và được người bảohiểm chấp nhận thì người được bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ

+ Nếu người bảo hiểm không từ bỏ lô hàng hoặc từ bỏ nhưng không đượcngười bảo hiểm chấp nhận thì chỉ được bồi thường như tổn thất bộ phận

V1: Giá trị của hàng hóa khi còn nguyên vẹn tại cảng dỡ hàng

V2: Giá trị hàng hóa khi đã bị tổn thất tại cảng dỡ hàng

A: nếu STBH =GTBH

Trang 25

A/V: nếu STBH < GTBH

Việc tính toán số tiền bảo hiểm theo công thức này mới đảm bảo bồi thường thậtchính xác trong trường hợp giá cả hàng hóa biến động lớn, kể từ lúc bảo hiểm cho đếnkhi hàng cập bến

Tuy nhiên trong thực tế, các Công ty Bảo hiểm ở Việt Nam hầu như không tínhtoán đến yếu tố biến động giá cả trên thị trường, tức là coi giá cả không biến động từ lúcbảo hiểm cho tới khi tính toán tổn thất, mà thường tính toán theo các trường hợp sau:

- Bồi thường tổn thất do đổ vỡ, hư hỏng, thiếu hụt, giảm phẩm chất… có biên

bản chứng minh thuộc phạm vi bảo hiểm Số tiền bảo hiểm được xác định P= A × m

(với m: tỷ lệ tổn thất tức là mức độ giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giámđịnh)

Nếu biên bản không ghi mức độ giảm giá trị thương mại mà chỉ ghi số lượng,trọng lượng hàng hóa thiếu hụt thì tiền bồi thường được tính như sau:

P = T T12 × A Trong đó: T2 là trọng lượng hàng hóa bị thiếu hụt

T1 là trọng lượng hoặc số hàng hóa theo hợp đồng

A là số tiền bảo hiểm

- Bồi thường mất nguyên kiện xảy ra trong các trường hợp như tàu giao hàngthiếu, tàu không giao hàng, tàu mất tích, các kiện hàng bị tổn thất toàn bộ khi xếp dỡhàng hóa… Trường hợp này nếu hàng có đơn giá thì số tiền bồi thường bằng số kiệnhàng bị mất nhân với đơn giá Nếu các kiện hàng tổn thất không có đơn giá thì bồithường như trường hợp tổn thất về trọng lượng, số lượng

Trong các trường hợp nhập bằng nhập khẩu theo điều kiện FOB hay CFR, nếuhợp đồng không ghi rõ STBH thì phải coi STBH bằng GTBH tức A = V = giá CIF =

+ Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm

o Bồi thường tổn thất chung :

Trang 26

- Hy sinh tổn thất chung: Nếu toàn bộ hay một phần hàng hóa phải hy sinh đểcứu tàu và được công nhận là tổn thất chung thì người bảo hiểm phải bồi thường giátrị đã hy sinh.

- Đóng góp tổn thất chung: trên cơ sở bảng phân bố tổn thất chung do chuyênviên tính toán lập nên, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần đóng góp của chủ hàng vàotổn thất chung dù hàng hóa có hy sinh hay không, dù bảo hiểm theo điều kiện gì

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM TOÀN CẦU

2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM TOÀN CẦU

2.1.1 Giới thiệu chung

Công ty Cổ Phần Bảo Hiểm Toàn Cầu thành lập ngày 19/6/2006 theo giấy phép

thành lập 37/GP/KDBH và giầy phép điều chỉnh số 37/GPĐC1/KDBH do Bộ TàiChính cấp

Tên tiếng Anh của công ty: Global Insurance Company (GIC)

Vốn điều lệ ban đầu: 80 tỷ VNĐ, thực góp năm 2007: 300 tỷ VNĐ Dự tínhđến trước 2010: 1000 tỷ VNĐ, đến năm 2015: 1500 tỷ VNĐ

Công ty Cổ Phần Bảo Hiểm Toàn Cầu được thành lập với sự góp vốn của các

cổ đông:

- Tập đoàn điện lực Việt Nam ( EVN) nắm giữ 30% vốn điều lệ

- Công ty bay dịch vụ Miền Nam (SFC)

- Tổng công ty CP Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE)

- Ngân Hàng Thương mại Cổ Phần Đông Á (DONGA BANK)

- Công ty Cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà(SUDICO)

Biểu đồ 1: Thành phần và các cổ đông

Trang 28

 Lĩnh vực hoạt động chính: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảohiểm phi nhân thọ; Đầu tư tài chính; Các dịch vụ tài chính khác.

- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: cung cấp hơn 20 nhóm sảnphẩm bảo hiểm thương mại cho kỹ thuật, tài sản, trách nhiệm con người, xe cơ giới,hàng không, hàng hải, hàng hóa vận chuyển

- Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: đây là một công cụ quản lýrủi ro đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăngdoanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từ nhượng tái bảo hiểm GIC đãxây dựng được mối quan hệ hợp tác với hầu hết công ty tái bảo hiểm có uy tín trêntoàn thế giới, như Swiss Re, Murich re, Lububan Re,và Vinare…

- Đầu tư tài chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty, điều hòanguồn vốn sử dụng và sử dụng tối đâ hợp lý nguồn vốn nhàn rỗi, nhằm nâng caonăng lực tài chính, hỗ trợ khả năng khai thác Như đầu tư bất động sản, đầu tưchứng khoán…

 Khách hàng tiêu biểu của công ty là: Tập đoàn điện lực Việt Nam (BH tàisản của các tập đoàn, các công trình xây dựng, lắp đặt thủy điện, nhiệt điện); Hệthống kho bạc tên toàn quốc; Công ty bay dịch vụ miền Bắc; Công ty bay dịch vụmiền Nam; Cụm cảng hàng không miền Nam; Công ty vận tải dầu khí Palcon… vàcác khách hàng lớn khác

Cơ cấu tổ chức

Trang 29

Sơ đồ1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Công ty Bảo Hiểm Toàn Cầu

Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:

- Bộ phận hàng hải: có chức năng và nhiệm vụ như sau:

+ Trực tiếp kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải Về bảo hiểm tàu: bảohiểm thân tàu; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu Về bảo hiểm hàng hóa: hàngbảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa; bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu

CN

Hà Tây

CN Bà Rịa Vũng Tàu

CN Đắk Lắk

CN Cần Thơ

CN Nghệ An

CN Hải Phòng

CN Quảng Ninh

CN Sơn La

Hội Sở phía Bắc

HCTH P.KD

TSKT HGĐ

Hàng hải

Phi hàng hải

CÔNG TY CỔ BẢO HIỂM

TOÀN CẦU

Trang 30

+ Hỗ trợ các phòng khác kinh doanh các loại hình bảo hiểm khác có liên quanđến nghiệp vụ hàng hải.

+ Tham mưu cho ban giám đốc các vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ hàng hải

- Bộ phận phi hàng hải

+ Trực tiếp kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải: bảo hiểm xe cơgiới; bảo hiểm toàn diện học sinh, bảo hiểm du lịch…

+ Hỗ trợ các phòng khác kinh doanh các loại hình bảo hiểm khác có liên quanđến nghiệp vụ phi hàng hải

+ Tham mưu cho Ban Giám Đốc các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểmphi hàng hải

+ Là đầu mối liên lạc với các Phòng ban chức năng thuộc công ty và các cơ quanliên quan khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm phi hànghải

+ Phát triển và quản lý hệ thống đại lý hoạt động thuộc bộ phận phi hàng hảiquản lý

- Bộ phận TS-KT:

+ Trực tiếp khai thác nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm tài sản và kỹ thuật như: bảohiểm tài sản, bảo hiểm cháy nổ; bảo hiểm xây dựng lắp đặt…

+ Hỗ trợ các loại hình bảo hiểm có liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản và

Kỹ thuật, đối với các phòng ban của công ty, các chi nhánh theo phân cấp và phâncông

+ Tham mưu cho ban lãnh đạo công ty để tổ chức thực hiện, triển khai các kếhoạch của Công ty đối với nghiệp vụ Tài sản và Kỹ thuật

+ Quản lý tài chính của công ty, kế toán thống kê hoạt động của công ty

+ Tham mưu cho ban giám đốc về vấn đề tài chính của công ty Thực hiện báocáo kết quả kinh doanh, để lãnh đạo đưa ra các phương hướng chỉ đạo cụ thể

Trang 31

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của GIC

Sau hơn một năm đi vào hoạt động, GIC đã dần ổn định, từng bước phát triển

và đạt được những kết quả đáng kể sau:

Bảng 1: Kết quả kinh doanh của GIC

Đơn vị: tỷ đồng

BT thuộc trách nhiệm giữ lại 0,465 10,949 45,861

( Nguồn GIC )

Từ bảng biểu trên cho ta thấy:

- Năm 2006, do công ty mới được thành lập từ tháng 6, và chính thức đi vào hoạt

động tháng 8 nên các hoạt chưa đáng kể

- Năm 2007, là năm đầu tiên GIC chính thức đi vào hoạt động, tuy nhiên GIC đã

tỏ ra là một doanh nghiệp có tiềm lực với doanh thu phí bảo hiểm đạt 112,818 tỷ Phí giữ lại đạt 55,024 tỷ đồng chiếm 48,77% doanh thu phí, đây là một tỷ lệ lớn

- Năm 2008, doanh thu phí công ty đạt 385,810 tỷ đồng, đạt 341,98% so với cùng

kỳ năm trước, trong đó doanh thu của EVN chiếm 5% tổng doanh thu

Tổng số tiền bồi thường là 45,861 tỷ đồng, chiếm 22,8% doanh thu Tình hìnhbồi thường toàn công ty nhìn chung là tốt, tuy nhiên ở một số nghiệp vụ như Bảo hiểmHàng hóa, Xe cơ giới, Tai nạn con người có tỷ lệ bồi thường khá cao, trong đó bảohiểm hàng hóa vận chuyển là 42% doanh thu phí đạt được

Tổng chi phí quản lý là 65,196 tỷ đồng, chiếm 16,9% doanh thu Chi phí quản lýCông ty giảm về mặt tương đối so với năm trước là 7%, nguyên nhân chủ yếu theo đánh

Ngày đăng: 26/03/2013, 17:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Công ty Bảo Hiểm Toàn Cầu - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu
Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Công ty Bảo Hiểm Toàn Cầu (Trang 28)
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của GIC - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu
Bảng 1 Kết quả kinh doanh của GIC (Trang 30)
Bảng 2: Chi giám định và bồi thường tổn thất hàng hóa trong BHHHXNK vận  chuyển bằng đường biển tại GIC năm 2007 - 2008 - Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu
Bảng 2 Chi giám định và bồi thường tổn thất hàng hóa trong BHHHXNK vận chuyển bằng đường biển tại GIC năm 2007 - 2008 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w