Tóm lại, trong giai đoạn này, chủ đầu tư chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình duyệt hồ sơ TKKT-DT
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Huế, và những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, các cán
bộ trong Viện kỹ thuật công trình – Trường Đại học Thủy lợi
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Thủy lợi đã tận tình giảng dạy tác giả trong suốt quá trình học tại trường và xin cảm ơn anh em bạn bè đồng nghiệp trong cơ quan đã cung cấp số liệu, giúp đỡ tác giả có đủ tài liệu để thực hiện luận văn
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Minh Hà
Trang 2BẢN CAM KẾT
Họ và tên học viên: Lê Thị Minh Hà
Lớp cao học: 20QLXD11
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu hiệu quả của mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn
quản lý dự án, áp dụng cho dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội”
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn của tôi là do tôi làm Những kết quả nghiên cứu
là trung thực.Trong quá trình làm tôi có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài Các tài liệu trích dẫn rõ nguồn gốc và các tài liệu tham khảo được thống kê chi tiết Tôi không sao chép từ bất kỳ nguồn thông tin nào, nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Lê Thị Minh Hà
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1 -
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI - 1 -
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI - 2 -
3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 2 -
4 KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC - 2 -
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH - 3 - 1.1 Khái quát về dự án xây dựng công trình - 3 -
1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng - 3 -
1.1.2 Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế - 3 -
1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng - 3 -
1.1.4 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình - 4 -
1.1.5 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng - 5 -
1.2 Tổng quan về Quản lý dự án xây dựng công trình - 8 -
1.2.1 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng - 8 -
1.2.2 Người có thẩm quyền quyết định đầu tư - 9 -
1.2.3 Chủ đầu tư - 9 -
1.2.4 Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng - 10 -
1.2.5 Doanh nghiệp xây dựng - 10 -
1.2.6 Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng - 10 -
1.2.7 Mối quan hệ của chủ đầu tư đối với các chủ thể liên quan - 10 -
1.2.8 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng - 11 -
1.3 Tổng quan về các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý dự án xây dựng công trình ở Việt Nam - 16 -
1.3.1 Hệ thống văn bản pháp quyền về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình qua các thời kỳ - 16 -
1.3.2 Một số tồn tại trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng công trình - 20 -
Kết luận chương - 21 -
CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CHỦ ĐẦU TƯ THUÊ TƯ VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN - 22 -
2.1 Các hình thức quản lý dự án xây dựng công trình - 22 -
2.1.1 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Liên bang Nga - 23 -
2.1.2 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Mỹ - 24 -
2.1.3 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Singapore - 24 -
2.1.4 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Trung Quốc - 25 -
2.1.5 Đánh giá chung về các mô hình quản lý dự án trên thế giới .- 25 -
Trang 42.1.6 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam - 26 -
2.2 Các tiêu chí đánh giá đối với một mô hình quản lý dự án - 28 -
2.3 Phân tích và so sánh hiệu quả giữa các hình thức quản lý dự án xây dựng công trình ở Việt Nam dựa trên các tiêu chí đã đưa ra - 31 -
2.3.1 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án - 31 -
2.3.2 Mô hình quản lý chất lượng công trình chủ đầu tư thuê đơn vị tư vấn quản lý dự án - 32 -
2.3.3 Đánh giá hiện trạng áp dụng các mô hình quản lý dự án ở một số dự án tại Việt Nam - 33 -
Kết luận chương - 36 -
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN NẠO VÉT HỒ TÂY DƯỚI HÌNH THỨC THUÊ TƯ VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN - 37 -
3.1 Giới thiệu về dự án Nạo vét Hồ Tây - 37 -
3.1.1 Dự án Nạo vét Hồ Tây - 37 -
3.1.2 Ban quản lý Hồ Tây - 38 -
3.1.3 Đặc thù của dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội .- 39 -
3.2 Đề xuất quy trình quản lý dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội dưới hình thức thuê tư vấn quản lý dự án - 41 -
3.2.1 Các yêu cầu đối với đơn vị tư vấn quản lý dự án - 41 -
3.2.2 Các yêu cầu đối với chủ đầu tư - 43 -
3.2.3 Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình quản lý dự án - 45 -
3.2.4 Sơ đồ tổ chức của đơn vị tư vấn quản lý dự án - 47 -
3.2.5 Quy trình quản lý dự án - 49 -
3.3 Nhiệm vụ của tổ chức tư vấn quản lý dự án - 63 -
3.4 Phạm vi công việc của tổ chức tư vấn quản lý dự án - 63 -
Kết luận chương - 64 -
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 65 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 67 -
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các chủ thể tham gia quản lý dự án 8
-Hình 2.1 Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án 26
-Hình 2.2 Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án 28
-Hình 2.3 Các hoạt động của dự án cần phải được hình dung rõ và kết nối với các chi tiết quan trọng - 29 -
Hình 2.4 Quản lý dự án phải bắt buộc đúng deadline và có sự thúc giục về thời gian - 30 -
Hình 2.5 Sơ đồ tổ chức theo chức năng chuyên trách - 35 -
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức của ban quản lý hồ tây - 39 -
Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức của đơn vị tư vấn quản lý dự án theo chức năng 48
-Hình 3.3 Quy trình thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư 50
-Hình 3.4 Quy trình thực hiện giai đoạn đầu tư 51
-Hình 3.5 Quy trình thực hiện giai đoạn kết thúc dự án 52
Trang 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng được đặt lên hàng đầu Điều đó cho thấy, lĩnh vực xây dựng cơ bản sẽ ngày càng được chính phủ chú trọng, đầu tư và phát triển Song song với việc thúc đẩy sự phát triển của ngành xây dựng thì vai trò của nhà nước trong việc quản lý, định hướng lại càng quan trọng, mà hơn hết là ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn các hình thức quản lý xây dựng công trình
Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại 2 mô hình quản lý dự án cơ bản, đó là: Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý
dự án Tuy nhiên, phổ biến hơn cả ở nước ta vẫn là mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án, trong khi đó, ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh thì mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án lại được sử dụng nhiều hơn Nguyên nhân là
do các nguồn vốn đa phần đều là vốn của nhà nước, trong khi hầu hết các cơ quan quản lý của nhà nước đều có đầy đủ chức năng chuyên môn trong vấn đề quản lý dự
án Bên cạnh đó, mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án đòi hỏi đơn vị tư vấn phải có chuyên môn, có năng lực thực sự thì mới mang lại hiệu quả
Dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội được giao cho Ban quản lý Hồ Tây làm chủ đầu
tư năm 2013 Tuy nhiên, Ban quản lý Hồ Tây hiện tại chưa có đủ năng lực để trực tiếp thực hiện dự án, hơn nữa với đặc thù của dự án là một dự án nạo vét ngay trong thành phố nên vấn đề quản lý dự án có nhiều điểm khác biệt Do đó, Ban quản lý
Hồ Tây phải sử dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án nhằm thực hiện tốt dự án được giao Song, rất cần phải chỉ rõ ưu điểm của mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án và đưa ra được quy trình thực hiện cho dự án nhằm giúp Ban quản lý
Hồ Tây có cơ sở để lựa chọn mô hình này
Trước thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu hiệu quả của mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án, áp dụng cho dự án nạo vét Hồ Tây – Hà Nội” là một việc hết sức
Trang 7cần thiết nhằm đánh giá được hiệu quả của mô hình chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý
dự án và giúp nhân rộng mô hình này trong điều kiện hiện nay
Tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết (tiếp cận hệ thống)
Để thực hiện tốt đề tài thì việc tiếp cận các kết quả đã nghiên cứu về các quy trình quản lý dự án trong nước cũng như ngoài nước là rất cần thiết Bên cạnh đó, cần cập nhật thêm các văn bản pháp luật hiện hành
Tiếp cận toàn diện, đa ngành đa lĩnh vực
Xem xét đầy đủ các yếu tố phát triển khi nghiên cứu đề tài bao gồm các lĩnh vực kinh tế xã hội, môi trường sinh thái …;
2 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu liên quan: các tài liệu về dự án nạo vét Hồ Tây, tài liệu
về Ban quản lý Hồ Tây…
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi với thầy hướng dẫn và các chuyên gia có
kinh nghiệm nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất
4 KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
Đề xuất mô hình quản lý dự án phù hợp cho dự án nạo vét Hồ Tây
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Khái quát về dự án xây dựng công trình
1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng
Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cụ thể nào đó
của người sở hữu vốn (hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định1
Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những
công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
1.1.2 Vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế
Đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất
kỳ hình thức kinh tế nào Nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại; tạo ra những cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt: kinh tế, chính trị -
xã hội, an ninh - quốc phòng
Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, quản lý hiệu quả các dự
án xây dựng là cực kỳ quan trọng, nhằm tránh gây ra lãng phí, thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp
1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư (hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật) để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự
ràng buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định Thông qua việc thực hiện dự án để
1 Luật đầu tư xây dựng số 59/2005
Trang 9cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ
Theo Luật xây dựng thì dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất
có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng bao gồm 2 phần: phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
1.1.4 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài
liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công … được giải quyết Các dự án đầu tư xây dựng có một số đặc điểm sau:
* Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một cách ổn định cứng,
hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân như các tác nhân từ bên trong (nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt động sản xuất…) hay bên ngoài (như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật …) và thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội
* Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt, lại được thực
hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi
* Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu, kết
thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan Có thể ngày hoàn thành được
ấn định một cách tuỳ ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án Điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó, trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất Sự thành công của Quản lý dự án (QLDA) thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã được định trước hay không?
Quy mô của mỗi dự án là khác nhau và được thể hiện một cách rõ ràng trong mỗi
dự án vì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án
Trang 10* Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là quá
trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định Chính vì vậy, để thực hiện được điều đó, chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau Việc kết hợp hài hoà các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả dự án
1.1.5 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất kỳ dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư; Thực hiện đầu tư; Kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng Quá trình thực hiện dự án đầu tư có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Lập Báo cáo
đầu tư
Lập Dự án đầu
tư Đối với dự án quan trọng
quốc gia
Lập báo cáo Thiết kế kỹ thuật
Thiết kế Đấu thầu Thi công Nghiệm thu
dự án đầu tư
(1) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Đối với các dự án quan trọng quốc gia thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu
tư Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì Chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu
Trang 11chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận
(2) Giai đoạn thực hiện đầu tư
Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt, dự án đầu tư được chuyển sang giai đoạn tiếp theo - giai đoạn thực hiện đầu tư
Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tư vấn, phải lựa chọn được những chuyên gia
tư vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tư vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng - đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp Trong khi lựa chọn đơn vị tư vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tư vấn này phải có kinh nghiệm qua những dự án đã được họ thực hiện trước đó Một phương pháp thông thường dùng
để chọn là đòi hỏi các cơ quan tư vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu Việc lựa chọn nhà thầu tư vấn xây dựng công trình được thực hiện theo Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp, do người quyết định đầu tư quyết định
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, chủ đầu tư tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là người có thẩm
Trang 12quyền ra quyết định đầu tư) phê duyệt Trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra
dự toán thiết kế công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt Trên cơ sở kết quả thẩm định TKKT-DT người có thẩm quyền quyết định đầu tư sẽ ra quyết định phê duyệt TKKT-DT Khi đã có quyết định phê duyệt TKKT-TDT, chủ đầu tư tổ chức đấu thầu xây dựng nhằm lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư và các mục tiêu của dự án
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, chủ đầu tư tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi công xây dựng công trình với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng công trình Nội dung quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng
Tóm lại, trong giai đoạn này, chủ đầu tư chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình duyệt hồ sơ TKKT-DT; tổ chức đấu thầu; đàm phán ký kết hợp đồng, quản lý chất lượng kỹ thuật công trình trong suốt quá trình thi công và chịu trách nhiệm toàn bộ các công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai dự án
(3) Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Sau khi công trình được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, chủ đầu tư thực hiện công tác bàn giao công trình cho cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành công trình với hiệu quả cao nhất
Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ hữu cơ với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng chủ đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng
Trang 131.2 Tổng quan về Quản lý dự án xây dựng công trình
Trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, nhu cầu về đầu tư
và xây dựng là rất lớn Như vậy, đầu tư xây dựng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực đầu
tư xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này là hết sức to lớn Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá trình thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này càng mang tính cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết
1.2.1 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Khái quát mô hình các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư như sau:
Hình 1.1 Các chủ thể tham gia quản lý dự án
Trong cơ chế điều hành, quản lý dự án đầu tư và xây dựng nêu trên, mỗi cơ quan,
tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được quy định cụ thể trong Luật xây dựng Việt Nam
CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
Người có thẩm quyền Quyết định đầu tư
CHỦ ĐẦU TƯ
Nhà thầu tư vấn
Nhà thầu xây lắp
Trang 141.2.2 Người có thẩm quyền quyết định đầu tư
Là người đại diện pháp luật của tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc các doanh nghiệp tuỳ theo nguồn vốn đầu tư Người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết định đầu tư khi đã có kết quả thẩm định dự án Riêng dự án sử dụng vốn tín dụng, tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ để chấp thuận cho vay hoặc không cho vay trước khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết định đầu tư (được quy định trong Nghị định 12/2009/NĐ-CP)
1.2.3 Chủ đầu tư
Tuỳ theo đặc điểm tính chất công trình, nguồn vốn mà chủ đầu tư được quy định
cụ thể như sau: (Trích điều 3 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP)
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước cụ thể như sau:
- Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước
- Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư lựa chọn đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư, người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ cho đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư để quản lý đầu tư xây dựng công trình và tiếp nhận, quản lý, sử dụng khi công trình hoàn thành
Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là chủ đầu tư
Các dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật
Trang 15Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất
1.2.4 Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng
Là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật Tổ chức tư vấn chịu sự kiểm tra thường xuyên của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước
1.2.5 Doanh nghiệp xây dựng
Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng Doanh nghiệp xây dựng có mối quan hệ với rất nhiều đối tác khác nhau nhưng trực tiếp nhất là chủ đầu tư Doanh nghiệp chịu sự kiểm tra giám sát thường xuyên về chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư, tổ chức thiết
kế, cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý
1.2.6 Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng
Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng như: Bộ Kế hoạch Đầu tư;
Bộ Xây dựng; Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước Việt nam; các Bộ ngành khác có liên quan: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)
1.2.7 Mối quan hệ của chủ đầu tư đối với các chủ thể liên quan
Chủ đầu tư là chủ thể chịu trách nhiệm xuyên suốt trong quá trình hình thành và quản lý dự án đầu tư xây dựng, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tổ chức tham gia quản lý và chịu sự quản lý của nhiều Bộ, ngành, các cơ quan liên quan mà trực tiếp là người quyết định đầu tư
- Đối với Bộ quản lý ngành: Bộ quản lý ngành quyết định chủ đầu tư và quy định nhiệm vụ, quyền hạn và chỉ đạo chủ đầu tư trong quá trình quản lý Chủ đầu tư có trách nhiệm báo cáo với Bộ quản lý ngành về hoạt động của mình;
- Đối với tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng: Ngoài việc tuân thủ các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn của chuyên ngành, lĩnh vực mà mình đang thực hiện, tư vấn còn có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ mà chủ đầu tư giao thông qua hợp đồng;
Trang 16- Đối với doanh nghiệp xây dựng: Đây là mối quan hệ chủ đầu tư điều hành quản
lý, doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong hợp đồng đã ký kết;
- Đối với các cơ quan quản lý cấp phát vốn: chủ đầu tư chịu sự quản lý giám sát
về việc cấp phát theo kế hoạch;
1.2.8 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn của chu kỳ dự án trong khi thực hiện dự án Việc quản lý tốt các giai đoạn của dự án có ý nghĩa rất quan trọng vì nó quyết định đến chất lượng của sản phẩm xây dựng Mỗi dự án xây dựng đều có một đặc điểm riêng tạo nên sự phong phú đa dạng trong quá trình tổ chức quản lý; tuy nhiên quá trình quản lý chỉ tập trung vào một số nội dung chính như sau:
(1) Quản lý phạm vi dự án
Đó là việc quản lý nội dung công việc nhằm thực hiện mục tiêu dự án, nó bao gồm việc phân chia phạm vi, quy hoạch phạm vi và điều chỉnh phạm vi dự án
(2) Quản lý thời gian của dự án
Là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự
án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm việc xác định công việc cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ dự án
Công trình trước khi xây dựng bao giờ cũng được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó nhà thầu thi công xây dựng có nghĩa vụ lập tiến độ thi công chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất nhưng phải đảm bảo phù hợp tổng tiến độ đã được xác định của toàn dự án chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án
Trang 17(3) Quản lý chi phí dự án
Quản lý chi phí dự án là quá trình quản lý tổng mức đầu tư, tổng dự toán (dự toán); quản lý định mức dự toán và đơn giá xây dựng; quản lý thanh toán chi phí đầu tư xây dựng công trình; hay nói cách khác, quản lý chi phí dự án là quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà không vượt tổng mức đầu
tư Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí
Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng Chi phí đầu tư xây dựng công trình được lập theo từng công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế và các quy định của Nhà nước
Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả đầu tư, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng công trình, đảm bảo tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường và được quản lý theo Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/2/2009 của Chính phủ
Khi lập dự án phải xác định tổng mức đầu tư để tính toán hiệu quả đầu tư và dự trù vốn Chi phí dự án được thể hiện thông qua tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình (TMĐT) là toàn bộ chi phí dự tính để đầu tư xây dựng công trình được ghi trong quyết định đầu tư và là cơ
sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung dự án và thiết kế cơ sở; đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật, tổng mức đầu tư được xác định phù hợp với thiết kế bản vẽ thi công
(4) Quản lý định mức dự toán
Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế- kỹ thuật và định mức tỷ lệ Quản
lý định mức dự toán là việc quản lý, khống chế tiêu hao nguyên vật liệu các công việc xây dựng và là cơ sở dự trù lượng vật liệu tiêu hao trong quá trình thi công
Trang 18Bộ Xây dựng công bố suất vốn đầu tư và các định mức xây dựng: Định mức dự toán xây dựng công trình (Phần xây dựng, Phần khảo sát, Phần lắp đặt), Định mức
dự toán sửa chữa trong xây dựng công trình, Định mức vật tư trong xây dựng, Định mức chi phí quản lý dự án, Định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và các định mức xây dựng khác
Các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào phương pháp xây dựng định mức theo Thông tư số 04/2010/TT-BXD của Bộ Xây dựng để tổ chức xây dựng, công bố định mức cho các công tác xây dựng đặc thù của Bộ, địa phương chưa có trong hệ thống định mức xây dựng do Bộ Xây dựng công bố
Đối với các định mức xây dựng đã có trong hệ thống định mức xây dựng được công bố nhưng chưa phù hợp với biện pháp, điều kiện thi công hoặc yêu cầu kỹ thuật của công trình thì chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp
Đối với các định mức xây dựng chưa có trong hệ thống định mức xây dựng đã được công bố thì chủ đầu tư căn cứ theo yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và phương pháp xây dựng định mức để tổ chức xây dựng các định mức đó hoặc vận dụng các định mức xây dựng tương tự đã sử dụng ở công trình khác để quyết định
áp dụng
Chủ đầu tư quyết định việc áp dụng, vận dụng định mức xây dựng được công bố hoặc điều chỉnh để lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng xây dựng công trình Các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh định kỳ hàng năm gửi những định mức xây dựng đã công bố trong năm về Bộ Xây dựng để theo dõi, quản lý
(5) Quản lý giá xây dựng
Chủ đầu tư căn cứ tính chất, điều kiện đặc thù của công trình, hệ thống định mức
và phương pháp lập đơn giá xây dựng công trình để xây dựng và quyết định áp dụng đơn giá của công trình làm cơ sở xác định dự toán, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Chủ đầu tư xây dựng công trình được thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn chuyên môn có năng lực, kinh nghiệm thực hiện các công việc hoặc phần công việc liên quan tới việc lập đơn giá xây dựng công trình Tổ chức, cá nhân tư vấn chịu trách
Trang 19nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật trong việc đảm bảo tính hợp lý, chính xác của các đơn giá xây dựng công trình do mình lập
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng lập và công bố hệ thống đơn giá xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng, giá vật liệu, để tham khảo trong quá trình xác định giá xây dựng công trình
(6) Quản lý chỉ số giá xây dựng
Chỉ số giá xây dựng gồm: chỉ số giá tính cho một nhóm hoặc một loại công trình xây dựng; chỉ số giá theo cơ cấu chi phí; chỉ số giá theo yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công Chỉ số giá xây dựng là một trong các căn cứ để xác định tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình, dự toán xây dựng công trình, giá gói thầu và giá thanh toán theo hợp đồng xây dựng
Bộ Xây dựng công bố phương pháp xây dựng chỉ số giá xây dựng và định kỳ công bố chỉ số giá xây dựng để chủ đầu tư tham khảo áp dụng chủ đầu tư, nhà thầu cũng có thể tham khảo áp dụng chỉ số giá xây dựng do các tổ chức tư vấn có năng lực, kinh nghiệm công bố
Chủ đầu tư căn cứ xu hướng biến động giá và đặc thù công trình để quyết định chỉ số giá xây dựng cho phù hợp
(7) Quản lý chất lượng dự án
Cùng với sự phát triển không ngừng về xây dựng cơ sở hạ tầng và nền kinh tế xã hội, cơ chế quản lý xây dựng cũng được đổi mới kịp thời với yêu cầu, do đó xét về mức độ tổng thể của chất lượng dịch vụ và chất lượng công trình không ngừng đực nâng cao Chất lượng công trình xây dựng tốt hay xấu không những ảnh hưởng đến việc sử dụng mà còn liên quan đến an toàn tài sản, tính mạng của nhân dân, đến sự
Trang 20quản lý chất lượng được tiến hành từ giai đoạn khảo sát, giai đoạn thiết kế, giai đoạn thi công, giai đoạn thanh quyết toán và giai đoạn bảo hành công trình
(8) Quản lý nguồn nhân lực
Là việc quản lý nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất Nó bao gồm việc quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban dự
án
(9) Quản lý an toàn và vệ sinh môi trường
Đó là quá trình quản lý điều hành triển khai thực hiện dự án đảm bảo an toàn về con người cũng như máy móc thiết bị
Trong Nghị định 12/2009/NĐ-CP ghi rõ Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp đảm bảo về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường Đối với những công trình trong khu vực đô thị thì phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến nơi quy định Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư phải có trách nhiệm giám sát việc thực hiện bảo
vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường Trường hợp nhà thầu thi công xây dựng không tuân thủ các các quy định về bảo vệ môi trường thì chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có quyền đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp bảo vệ môi trường Người để xảy ra các hành vi làm tổn hại đến môi trường trong quá trình thi công xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra
(10) Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Là việc quản lý nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án
Trang 21(11) Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ gặp những nhân tố rủi ro mà chúng ta chưa lường trước được, quản lý rủi ro nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định cho dự án Nó bao gồm việc nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro
(12) Quản lý việc thu mua của dự án
Là việc quản lý nhằm sử dụng những hàng hoá, vật liệu thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu
1.3 Tổng quan về các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý dự án xây dựng công trình ở Việt Nam
1.3.1 Hệ thống văn bản pháp quyền về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
qua các thời kỳ
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày nay, việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật để tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, rõ ràng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng là hết sức cần thiết và cấp bách nếu như chúng ta muốn tận dụng được nguồn vốn, công nghệ hiện đại cũng như các tiềm lực khác của các nước phát triển đồng thời tiết kiệm được nguồn vốn đang rất hạn hẹp của nhà nước Việt nam
Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế đều có những quy định cụ thể về công tác quản lý đầu tư và xây dựng, nó phản ánh cơ chế quản lý kinh tế của thời kỳ đó Dưới đây là một số văn bản pháp quy về quản lý đầu tư và xây dựng qua một số thời kỳ (chỉ nêu một số văn bản pháp quy trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây) Sự ra đời của những văn bản sau là sự khắc phục những khiếm khuyết, những bất cập của các văn bản trước đó, tạo ra sự hoàn thiện dần dần môi trường pháp lý cho phù hợp với quá trình thực hiện trong thực tiễn, thuận lợi cho người thực hiện và người quản lý, mang lại hiệu quả cao hơn, điều đó cũng phù hợp với quá trình phát triển
Trang 22A./ Nghị đinh 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng
Ngày 08/7/1999 Chính phủ đã có Nghị định 52/1999/NĐ- CP ban hành Quy chế
quản lý đầu tư và xây dựng thay thế Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng 42/CP, 92/CP Quy chế này thể chế hoá quan điểm đổi mới của Đảng khoá VIII: “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực ”
B./ Nghị đinh 07/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ
Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 và Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm
2000 của Chính phủ
C./ Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
Luật xây dựng ra đời thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng và nhà nước Việt nam trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực Luật xây dựng đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư và xây dựng Luật mang tính ổn định cao, qua đó các chủ thể tham gia phát huy tối đa quyền hạn trách nhiệm của mình Tuy nhiên nó lại mang tính chất bao quát, vĩ mô, do vậy cần phải có các văn bản dưới Luật hướng dẫn thực hiện Trên thực tế các văn bản hướng dẫn dưới Luật ra đời lại chậm, thường xuyên thay đổi, tính cụ thể chưa cao,
do đó gây nhiều khó khăn cho chủ đầu tư cũng như các chủ thể tham gia vào công tác dầu tư xây dựng trong quá trình triển khai thực hiện
C.1 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình
Là văn bản dưới Luật, hướng dẫn thi hành Luật xây dựng về lập, thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; hợp đồng trong hoạt động xây dựng; điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng và giám sát xây dựng công trình Nội dung của Nghị định là khá rõ ràng và chi tiết về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của từng chủ thể tham gia
Trang 23vào hoạt động đầu tư và xây dựng, trình tự và các thủ tục cần thiết để thực hiện các công việc trong quá trình tổ chức thực hiện và quản lý dự án đầu tư
C.2 Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ
Nghị định 112/2006/NĐ-CP điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi một số Điều trong Nghị định 16/2005/NĐ-CP cho phù hợp điều kiện thực tế trong quá trình triển khai thực hiện
C.3 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ là sự thay thế Nghị định 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Trong nghị định này có nhiều điểm mới trong quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Đặc biệt chú ý là việc phân các giai đoạn đầu tư và các tên gọi của các giai đoạn của dự án (trước đây là tiền khả thi, khả thi thì được đổi thành báo cáo đầu tư và dự án đầu tư)
C.4 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Nghị định này hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng; áp dụng đối với chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản
lý và sử dụng công trình xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, với sự ra đời của nghị định
số 209/2004/NĐ-CP các chủ thể tham gia vào hoạt động quản lý chất lượng thi công công trình phát huy được tính chủ động trong công việc của mình đảm bảo đúng trình tự, thủ tục đảm bảo chất lượng và giảm thiểu các thủ tục không cần thiết
C.5 Nghị định số 15/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Nghị định này thay thế cho nghị định 209/2004/NĐ-CP, nghị định này có nhiều điểm mới, thể hiện quan điểm nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng Trong nghị định này cũng đã
Trang 24đổi mới nhiều điểm khác so với nghị định trước đây như: yêu cầu về việc công khai năng lực của các đơn vị nhà thầu, quy định về chỉ dẫn kỹ thuật, quy định về việc kiểm soát chất lượng của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tránh sự chồng chéo như trước đây và hơn hết nghị định này thể hiện cơ chế mở hơn để các chủ đầu tư có thể dễ dàng vận dụng vào điều hành dự án mà không bị gò bó, dập khuôn như trước đây
C.6 Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước (Khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn khác áp dụng)
C.7 Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ thay thế nghị định số 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình tại các dự án
sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên
D./ Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005
Luật đấu thầu ban hành ngày 29/11/2005 quy định các hoạt động đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp
Với nội dung của Luật đấu thầu, đã có Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ban hành ngày 29/9/2006 để hướng dẫn thi hành Nội dung Nghị định số 111/2006/NĐ-CP đã nêu cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục và các nội dung cần thiết trong việc mời thầu,
tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu của chủ đầu tư Với việc ban hành Nghị định
số 111/2006/NĐ-CP hướng dấn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng, công tác đấu thầu dần được đưa vào khuôn phép góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, hạn chế các chi phí và thủ tục không cần thiết trong quá trình lựa chọn nhà thầu
Trang 25Ngày 5/5/2008 Nghi định số 58/2008/NĐ-CP ra đời để thay thế nghị định số 111/2006/NĐ-CP và ngày 15/10/2009 nghị định số 85/2009/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định số 58/2008/NĐ-CP Sự thay thế một cách thường xuyên các nghị định của chính phủ trong việc hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu thể hiện sự chuyển biến trong quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, tuy nhiên điều đó lại gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện của các chủ đầu tư
1.3.2 Một số tồn tại trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành về quản lý đầu tư
xây dựng công trình
(1) Tính khả thi của một số quy định
Đã có nhiều văn bản ban hành để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các chủ thể tham gia vào công tác đầu tư xây dựng, nhưng trên thực tế tính phù hợp là chưa cao, biểu hiện của nó là việc vận dụng các văn bản còn lúng túng, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn
(2) Tính đồng bộ của các văn bản
Việc thiếu đồng bộ giữa các văn bản; ban hành chưa kịp thời, có nội dung chưa nhất quán Đây là vấn đề gây rất nhiều khó khăn cho người thực hiện, vì vậy để quản lý có hiệu quả cao, thuận tiện cho người thực hiện, thống nhất quản lý một cách đồng bộ về mặt định hướng của các văn bản là hết sức cần thiết
Có thể kể ra 1 ví dụ cụ thể đối với ngành thủy lợi như sau: năm 2002 bộ NN&PTNT ban hành TCXDVN285-2002 về các chỉ tiêu thiết kế công trình thủy lợi, trong văn bản này có phân công trình thành 5 cấp (từ cấp 1 đến cấp 5) Sau đó, nghị định 209/2004-CP ra đời phân cấp công trình là 5 cấp (từ cấp đặc biệt đến cấp 4) Tuy nhiên trong suốt nhiều năm liền không có tiêu chuẩn nào hướng dẫn thay thế TCXDVN285-2002 dẫn đến trong quá trình áp dụng còn nhiều lúng túng, gây khó khăn cho các nhà tư vấn thiết kế Đến tháng 6 năm 2013 mới ban hành QCVN 04-05/2012 thay thế cho TCXDVN285-2002 và phân cấp công trình theo nghị định 209/2004-CP Tuy nhiên, ngay sau đó nghị định 209/2004-CP lại được thay thế
Trang 26bằng nghị định 15/2013-CP Điều này cho thấy tính đồng bộ giữa các văn bản là chưa cao
(3) Tính cụ thể và chi tiết của các văn bản
Các văn bản ban hành thiếu cụ thể và chi tiết, có biên độ vận dụng lớn gây khó khăn cho chủ đầu tư khi thực hiện chức năng quản lý của mình Với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính cụ thể và chi tiết sẽ tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến tính hiệu lực và hiệu quả các văn bản là rất hạn chế và gây khó khăn cho người thực hiện cũng như người quản lý
(4) Sự thay đổi thường xuyên của các văn bản
Việc điều chỉnh sửa đổi các văn bản nhiều lần trong thời gian ngắn làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của chủ đầu tư (công tác quản lý đơn giá, định mức, quản lý chi phí, ) cũng như nhà thầu Với đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng
là có thời gian thực hiện dài, giá trị lớn trong khi tính ổn định của các văn bản hướng dẫn thực hiện thấp sẽ có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả của các
dự án đầu tư Do vậy, các nhà hoạch định chính sách khi ban hành các văn bản mới cần phải có sự phân tích, đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển một cách cụ thể, chính xác để nâng cao tính ổn định và hiệu quả của các văn bản pháp luật
Kết luận chương
Thông qua nội dung chương 1 luận văn đã đi khái quát các khái niệm cơ bản, lịch
sử hình thành của ngành quản lý xây dựng Trên cơ sở các khái niệm đã đưa ra nhằm khái quát hóa và nhìn nhận các vấn đề một cách rõ ràng, cô đọng và logic nhất Luận văn cũng đã tiến hành phân tích các hệ thống văn bản pháp lý của Việt Nam qua các thời kỳ, nêu lên ưu nhược điểm và nội dung của các văn bản để thấy
rõ tư tưởng đổi mới và quan điểm của Đảng, Nhà Nước trong việc quản lý xây dựng
cơ bản Đặc biệt luận văn đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, bất cập của các văn bản pháp lý hiện nay nhằm làm cơ sở để đề xuất các giải pháp khắc phục trong cơ chế quản lý sau này
Trang 27CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CHỦ ĐẦU TƯ THUÊ TƯ
VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN 2.1 Các hình thức quản lý dự án xây dựng công trình
Với tư cách là một ngành khoa học, quản lý dự án phát triển từ những ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, kỹ thuật và quốc phòng Ở Hoa Kỳ, hai ông tổ của quản lý dự án là Henry Gantt, được gọi là cha đẻ của kỹ thuật lập kế hoạch và kiểm soát, người đã cống hiến hiểu biết tuyệt vời của mình bằng việc sử dụng biểu đồ Gantt như là một công cụ quản lý dự án và Henri Fayol, người tìm ra
5 chức năng của quản lý, là cơ sở cho những kiến thức cốt lõi liên quan đến quản lý
đã được quản lý trên một nền tảng đặc biệt bằng cách sử dụng chủ yếu là biểu đồ Gantt (Gantt Charts), cùng các kỹ thuật và các công cụ phi chính thức Tại thời điểm đó, hai mô hình toán học để lập tiến độ của dự án đã được phát triển "Phương pháp đường găng" (tiếng Anh là Critical Path Method, viết tắt là CPM) phát triển ở liên doanh giữa công ty Dupont và công ty Remington Rand để quản lý các dự án bảo vệ thực vật và hóa dầu Và "Kỹ thuật đánh giá và xem xét chương trình (dự án)" (tiếng Anh là Program Evaluation and Review Technique hay viết tắt là PERT), được phát triển bởi hãng Booz-Allen & Hamilton thuộc thành phần của Hải quân Hoa Kỳ (hợp tác cùng với công ty Lockheed) trong chương trình chế tạo tên lửa Polaris trang bị cho tàu ngầm Những thuật toán này đã lan rộng một cách nhanh chóng sang nhiều doanh nghiệp tư nhân
Trang 28Năm 1969, viện Quản lý Dự án (PMI) đã được thành lập để phục vụ cho lợi ích của kỹ nghệ quản lý dự án Những tiền đề của viện Quản lý dự án (PMI) là những công cụ và kỹ thuật quản lý dự án được chia sẻ bằng nhau giữa các ứng dụng phổ biến trong những dự án từ ngành công nghiệp phần mềm cho tới ngành công nghiệp xây dựng Trong năm 1981, ban giám đốc viện Quản lý dự án (PMI) đã cho phép phát triển hệ lý thuyết, tạo thành cuốn sách Hướng dẫn về những kiến thức cốt lõi trong Quản lý dự án (PMBOK Guide) Cuốn sách này chứa các tiêu chuẩn và nguyên tắc chỉ đạo về thực hành được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ giới quản lý
dự án chuyên nghiệp
2.1.1 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Liên bang Nga
Ở Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay, Ủy ban Nhà nước về xây dựng thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng, giúp Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về xây dựng; thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là Tổng Cục quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Trong công cuộc đổi mới, Ủy ban nhà nước về xây dựng đã xây dựng một mô hình hoạt động với sự tham gia của các doanh nghiệp tư vấn giám sát, quản lý xây dựng chuyên nghiệp Đã xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư tư vấn giám sát thống nhất cho toàn Liên bang và cho phép 18 trường đại học, viện nghiên cứu được tổ chức đào tạo Ủy ban cũng ủy quyền cho các nước cộng hòa xét cấp giấy phép hành nghề, đăng ký kinh doanh cho các kỹ sư tư vấn giám sát và các doanh nghiệp tư vấn xây dựng Liên bang Nga coi việc xây dựng một đội ngũ kỹ sư tư vấn giám sát chuyên nghiệp cao là yếu tố quyết định của quá trình đổi mới công nghệ quản lý chất lượng công trình xây dựng Vì vậy, họ rất chặt chẽ trong việc đào tạo Các kỹ
sư xây dựng tham gia hành nghề tư vấn giám sát phải qua một khóa học với một chương trình bắt buộc, nếu thi đạt mới được cấp thẻ có giá trị trong 3 năm, hết thời gian nếu tiếp tục làm việc lại phải sát hạch lại, kỳ thi thực hiện rất nghiêm túc và khó, nếu thi trượt có thể được thi lại sau 3 tháng Nếu bị trượt tiếp thì vĩnh viễn không được thi để làm nghề tư vấn giám sát, phải chuyển ngành khác
Trang 292.1.2 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Mỹ
Trong các dự án xây dựng tại Mỹ, luôn luôn có 3 bên tham gia vào hoạt động quản lý dự án: Nghiệp chủ (chủ đầu tư), Tư vấn, Nhà thầu Trong đó, bên tư vấn thường là các công ty tư vấn xây dựng, được chủ đầu tư thuê để tư vấn cho chủ đầu
tư trong việc thực hiện dự án cũng như trong việc xây dựng công trình Ngành tư vấn xây dựng của Mỹ đã có từ đầu thế kỷ XX đến nay đã hình thành một ngành tư vấn xây dựng độc lập có trình độ phát triển cao
2.1.3 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt việc thực hiện các dự án xây dựng Ngay
từ khi lập dự án phải đảm bảo các yêu cầu về quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, đảm bảo về an toàn phòng chống cháy nổ, giao thông, môi trường mới được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Trước khi triển khai thi công, các bản vẽ thi công phải được kỹ sư tư vấn giám sát kiểm tra và xác nhận là thiết kế đúng, đảm bảo chất lượng thiết kế Một công trình được chính quyền cho phép khởi công nếu có đủ 3 điều kiện sau:
Dự án phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Bản vẽ thi công được Cục kiểm soát phê chuẩn;
Chủ đầu tư đã chọn được kỹ sư tư vấn giám sát hiện trường và phải được Cục kiểm soát chấp nhận
Trong quá trình tổ chức thi công, chính quyền không kiểm tra hiện trường mà kiểm tra tình hình qua báo cáo của chủ đầu tư Cục giám sát có quyền kiểm tra nhà thầu và kỹ sư tư vấn giám sát hiện trường Sau khi công trình xây dựng xong, Cục kiểm soát xây dựng sẽ kiểm tra sự phù hợp các yêu cầu quy định của pháp luật như: Công trình đã được nghiệm thu;
Các yêu cầu về an toàn đã được phê chuẩn;
Khi đó Cục kiểm soát sẽ cấp giấy phép cho phép sử dụng công trình Chính quyền sẽ quản lý công trình trong suốt quá trình khai thác sử dụng và kiểm tra định
kỳ công tác đảm bảo chất lượng của chủ sở hữu, 10 năm một lần đối với các công trình nhà ở, 5 năm một lần đối với các công trình khác
Trang 302.1.4 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Trung Quốc
Ngày 01/11/1997, Luật xây dựng Trung Quốc đã được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua và Chủ tịch nước đã ký lệnh ban hành ngày 03/11/1997, sau 13 năm nghiên cứu và soạn thảo
Ở Trung Quốc, ngành xây dựng phát triển rất nhanh, đã tạo ra rất nhiều công trình xây dựng làm thay đổi diện mạo các thành phố, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những mặt trái của nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp xây dựng có tư tưởng coi thường quản lý, chỉ nặng chạy theo khối lượng để lấy thành tích, ép tiến độ, chia nhỏ công trình để giao thầu, chỉ định thầu, những hành vi này đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình xây dựng, thậm chí nhiều công trình còn gây ra sự cố
hư hỏng, gây thiệt hại về kinh tế Vì vậy, Luật xây dựng đã soạn thảo rất chặt chẽ các điều mục, để có thể quản lý các hoạt động xây dựng bằng pháp luật Trung Quốc đã cử hàng trăm kỹ sư sang Mỹ và Canada để học về quản lý dự án và kỹ sư
tư vấn giám sát xây dựng Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã có một đội ngũ đông đảo các kỹ sư Quản lý dự án và kỹ sư Tư vấn giám sát, nhiều Công ty tư vấn chuyên nghiệp đủ sức quản lý các dự án lớn, nhanh chóng hội nhập với yêu cầu quốc tế
2.1.5 Đánh giá chung về các mô hình quản lý dự án trên thế giới
Qua các đánh giá, phân tích tổng quan như trên có thể thấy rằng, hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển, có kỹ thuật xây dựng tiên tiến hiện vẫn áp dụng mô hình quản lý theo hình thức thuê tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp Mô hình này được các nước áp dụng nhiều, đặc biệt là các nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Bởi lẽ, dễ dàng nhận thấy rằng đối với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì rất cần có một sự minh bạch, độc lập trong vấn đề sử dụng nguồn vốn Hơn nữa, khi thực hiện theo hình thức thuê tư vấn quản lý dự án chuyên nghiệp sẽ làm giảm chi phí phải nuôi một bộ máy cồng kềnh trong các BQL, trong khi lại mang lại hiệu quả cao hơn nhiều Vậy có thể nhận thấy, xu hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa trong lĩnh vực xây dựng sẽ là xu hướng tất yếu của tương lai
Trang 312.1.6 Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam
Trước đây, tùy theo quy mô và tính chất của dự án, năng lực của Chủ đầu tư mà
dự án sẽ được người quyết định đầu tư quyết định thực hiện theo một trong số các hình thức sau: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án; Chủ nhiệm điều hành
dự án; Hình thức chìa khoá trao tay và hình thức tự thực hiện dự án
Hiện nay, trong Nghị định số 12/NĐ-CP và quy định chỉ có hai hình thức quản lý
dự án đó là: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án:
(1) Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Trong trường hợp này Chủ đầu tư thành lập BQLDA để giúp Chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án Ban quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của Chủ đầu tư Ban quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của Chủ đầu tư
Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 1 tỷ đồng thì Chủ đầu tư có thể không lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm
để giúp quản lý thực hiện dự án
Hình 2.1 Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Trang 32Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án được áp dụng đối với các
dự án mà Chủ đầu tư có năng lực chuyên môn phù hợp và có cán bộ chuyên môn để
tổ chức quản lý thực hiện dự án theo các trường hợp sau đây:
Trường hợp Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy hiện có của mình kiêm nhiệm và cử người phụ trách (chuyên trách hoặc kiêm nhiệm) để quản lý việc thực hiện dự án
Trường hợp này áp dụng đối với dự án nhóm B,C thông thường khi Chủ đầu tư
có các phòng, ban chuyên môn về quản lý kỹ thuật, tài chính phù hợp để quản lý thực hiện dự án
Yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm đối với những người trực tiếp quản lý thực hiện dự án:
a) Người phụ trách quản lý thực hiện dự án phải có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của dự án, quản lý dự án nhóm B phải có bằng đại học trở lên, quản lý dự án nhóm C phải có bằng trung cấp trở lên, có tối thiểu hai năm làm việc chuyên môn b) Người quản lý về kỹ thuật của dự án phải có bằng trung cấp trở lên, chuyên môn phù hợp với yêu cầu của dự án, có tối thiểu hai năm làm việc chuyên môn c) Người quản lý về kinh tế - tài chính của dự án phải có chuyên môn về kinh tế, tài chính - kế toán, có bằng trung cấp trở lên, có tối thiểu hai năm làm việc chuyên môn
d) Đối với các dự án ở vùng sâu, vùng xa thì những người trực tiếp quản lý thực hiện dự án nêu trên phải có bằng trung cấp trở lên, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của dự án và có tối thiểu một năm làm việc chuyên môn
Chủ đầu tư phải có quyết định giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các phòng, ban và
cá nhân được cử kiêm nhiệm hoặc chuyên trách quản lý việc thực hiện dự án
(2) Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án
Trong trường hợp này, tổ chức tư vấn phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản
lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên Tư vấn quản
lý dự án được thuê là tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được
Trang 33Chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với Chủ đầu tư Khi áp dụng
hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, Chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên
môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực
hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án
Trình
Hợp đồng
Quản lý
Thực hiện
Hình 2.2 Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án
2.2 Các tiêu chí đánh giá đối với một mô hình quản lý dự án
Để thành công trong việc quản lý dự án thì các yếu tố quan trọng nhất có thể gây
ra những thất bại cho một dự án cần phải được quan tâm với sự chú ý và ưu tiên cao
nhất Có thể nêu ra 7 tiêu chí để đánh giá đối với một mô hình quản lý dự án như
sau:
1 Đề xuất được quy trình và mục tiêu rõ ràng
Các hoạt động của dự án cần phải được hình dung rõ và kết nối với các chi tiết
quan trọng Tóm lại, quản lý dự án và quản lý nhóm cần sự chú trọng trong việc biết
được đâu là ưu tiên và mong đợi của dự án Tránh sự miêu tả mập mờ ở tất cả các
chi phí
2 Quản lý dự án phải chú trọng được đến 3 mặt
Điều đó có nghĩa là hoàn thành tất cả các dự án đúng giờ, trong ngân sách đã
định và trong mức độ khả năng đạt được về chất lượng được sự đánh giá, nhất trí
CHỦ ĐẦU TƯ
Tư vấn quản lý dự
án
Người có thẩm quyền quyết định đầu tư
DỰ ÁN Nhà thầu
Trang 34của các nhà đầu tư Quản lý dự án phải tạo được sự chú ý của nhóm khi chú trọng đến việc đạt được những mục tiêu đã định
Hình 2.3 Các hoạt động của dự án cần phải được hình dung rõ và kết nối với
các chi tiết quan trọng
3 Quản lý dự án phải biết thiết lập những ưu tiên một cách linh động
Ngày nay, các thành viên nhóm quản lý dự án đóng vai trò tích cực trong nhiều
dự án cùng lúc là rất phổ biến Mặc dù nguồn nhân lực có giới hạn nhưng vẫn có thể hoàn thành được nếu người quản lý biết sắp xếp một cách hợp lý
Một số đơn vị đã thiết lập phòng quản lý dự án để hoạt động giống như một ngân hàng hối đoái cho những yêu cầu của dự án Phòng Dự án xem lại toàn bộ nhiệm
vụ, chiến lược của công ty, những tiêu chuẩn được thiết lập cho việc lựa chọn dự
án, kiểm tra khối lượng công việc, xác định rõ dự án nào là ưu tiên hàng đầu, tránh việc làm cùng lúc đa dự án
4 Quản lý dự án phải bắt buộc đúng deadline (thời hạn đã định) và có sự thúc giục về thời gian
Bởi vì mọi dự án đều có sự hạn chế, giới hạn về thời gian, tiền bạc và những nguồn có giá trị khác Họ phải không ngừng đảm bảo tiến độ dự án thực hiện liên
Trang 35tục Vì thế, người quản lý dự án phải luôn giữ nhân viên chú trọng đến tiến trình dự
án và hạn chót Việc thường xuyên kiểm tra hiện trạng, họp và nhắc nhở luôn luôn cần thiết và không thể làm việc mà không có chúng
5 Trách nhiệm của người quản lý dự án phải phù hợp với quyền của họ
Người quản lý dự án có quyền đánh giá để thực hiện trách nhiệm của họ khi điều hành bất kỳ dự án nào Đặc biệt nhà quản lý phải có quyền phối hợp các nguồn lực, thiết lập mong đợi, đưa ra những lời chỉ dẫn, thiết lập ưu tiên và giải quyết bất kỳ tranh cãi nào trong nhóm Anh ta cũng được ưu tiên để đưa ra các quyết định có ảnh hưởng lớn đến thành công của dự án
Hình 2.4 Quản lý dự án phải bắt buộc đúng hạn chót và có sự thúc giục về thời
gian
6 Quản lý được việc phân phối các nguồn lực:
Làm thế nào để có hiệu quả (chất lượng), rẻ (tiền bạc và các nguồn hữu hình khác) và nhanh (deadline và sự thuận lợi nhận thấy) khi phối hợp một dự án?
Mỗi nguồn lực của dự án cần phải phối hợp tương đương với tỉ lệ ngang nhau.Tỉ
lệ này đôi khi gọi là những mong đợi của dự án Nếu có bất kỳ vấn đề nào với một trong những nguồn lực trên, có thể báo cho các nhà quản lý cấp cao hơn về vấn đề sớm ngay khi có thể, đồng thời, cần gợi ý những lựa chọn khác để giải quyết vấn đề
Trang 36và hạn chế nó Những lựa chọn khác có thể đề xuất sử dụng các nguồn bổ sung cao hơn cả ngân sách hiện tại
7 Phân chia công việc hợp lý
Đây là một hoạt động nhằm tách những nhiệm vụ lớn thành các nhiệm vụ nhỏ hơn để dễ dàng quản lý Những nhiệm vụ nhỏ này được giao cho các nhóm nhân viên Theo nguyên tắc, phải chỉ ra được hoàn thành một mục tiêu như thế nào
2.3 Phân tích và so sánh hiệu quả giữa các hình thức quản lý dự án xây dựng công trình ở Việt Nam dựa trên các tiêu chí đã đưa ra
2.3.1 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Trong thực tế thì có rất nhiều chính quyền thành phố, các bộ ngành và tổng công
ty đã thành lập ra Ban quản lý dự án để tiến hành công việc thiết kế và xây dựng Các ban này có thể thực hiện toàn bộ công việc thiết kế và xây dựng bởi nhân viên của họ hoặc có thể thuê từ bên ngoài qua các tư vấn độc lập hoặc cá nhân Các dự
án triển khai bởi Ban quản lý dự án chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu của chính chủ đầu tư, chứ không phải cho các công trình đấu thầu bên ngoài Mô hình sẽ phù hợp với các dự án quy mô lớn khi có sự kết hợp giữa thiết kế và xây dựng trong thời gian dài Khi đó chủ đầu tư có thể thuê thêm nhân viên có chuyên môn tốt trong mọi lĩnh vực (thiết kế, thi công, quản lý xây dựng, giám sát ) Do ban quản lý dự án trực thuộc chủ đầu tư cho nên có thể đưa ra các quyết định phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng của công trình Như một phát triển trong kinh doanh, hiện nay ngày càng có nhiều nhà thầu xây dựng đang phát triển lên thành chủ đầu tư cho các dự án lớn, do vậy việc áp dụng mô hình này được xem là rất phù hợp
a Ưu điểm:
+ Chất lượng chuyên môn cao;
+ Giảm rủi ro cho chủ đầu tư ;
b Nhược điểm:
+ Tăng chi phí;
+ Chậm lại các thủ tục phê duyệt