1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng

73 445 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng
Tác giả Nguyễn Trọng Trường
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hồ Sĩ Sà
Trường học Bảo Việt Hà Nội
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 390,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng

Trang 1

Sau hơn 10 năm đổi mới, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn trongtất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội – khoa học kỹ thuật đời sống của nhân dânngày càng được nâng cao Cùng vơí chuyển biến trên, ngành bảo hiểm Việt Namcũng không ngừng lớn mạnh và phát triển Rất nhiều chế độ và nghiệp vụ bảohiểm ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong xãhội Chế độ bảo hiểm xã hội được Nhà nước triển khai từ khá lâu song phạm vibảo hiểm và số người bảo hiểm xã hội rất hạn hẹp, chỉ có công chức nhà nước mớiđược tham gia bảo hiểm Trong khi có một thực tế đang diễn ra là có một bộ phậndân cư có thu nhập thấp và không thuộc quyền lợi bảo hiểm như những người laođộng làm công ăn lương Họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi gặp rủi ro tainạn, ốm đau, bệnh tật Bảo hiểm con người do Bảo Việt triển khai đã đáp ứngđược nhu cầu bảo hiểm cho các thành viên trong xã hội, đảm bảo tính ổn định củaquá trình sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân Tuy vậy bảo hiểm con ngườivẫn chưa đến được với người nghèo, những người mà chính họ cần được bảo hiểmhơn ai hết Trong quá trình triển khai với những đối tượng trên, chắc chắn sẽ gặpnhiều khó khăn nhưng không phải là không làm được.

Xuất phát từ những suy nghĩ trên và qua tìm hiểu thực tế về bảo hiểm conngười tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng thuộc Bảo Việt Hà Nội, với sự hướng dẫnnhiệt tình của thầy giáo Hồ Sĩ Sà, em đã lựa chọn đề tài “Tình hình triển khainghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng” giaiđoạn 1996-2000 để viết chuyên đề thực tập

Nội dung chính của chuyên đề thực tập bao gồm:

Phần 1: Một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm kết hợp con người

Phần 2: Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòngbảo hiểm Hai Bà Trưng

Phần 3: Một số giải pháp nhăm nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ bảo hiểm kếthợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng

Trang 2

Phần 1

Một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm kết hợp con người

I sự cần thiết khách quan của bảo hiểm kết hợp con người

1.Sự cần thiết của bảo hiểm con người

ở mỗi quốc gia, trong mọi thời kỳ, con người luôn được coi là lực lưọng sảnxuất chủ yếu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội Con người là vốnquý cho sự phát triển xã hội Một xã hội muốn phát triển thì đời sống của conngười phải được đảm bảo về mọi mặt, vật chất cũng như văn hoá tinh thần.Đâychính là mục tiêu mà mỗi quốc gia cần vươn tới nhằm phát huy sức mạnh nhân tốcon người Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong lao động sản xuất,dù conngười có hết sức chú ý đề phòng nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra, gây thiệthại lớn về tài sản và tính mạng Những rủi ro này có thể do thiên nhiên, do sự pháttriển của lực lượng sản xuất, do tiến bộ khoa học kĩ thuật,do môi trường xã hội…

Vì thế để đối phó với những rủi ro trên , con người cần phải có những sự chuẩn bịcần thiết về mặt tài chính nhằm trang trải những chí phí phát sinh khi có rủi ro bấtngờ xảy ra Khi gặp rủi ro , bản thân người bị tai nạn về tính mạng hoặc thân thể ,thậm chí là tính mạng thương tật suốt đời Gia đình người bị nạn phải gánh chịunỗi đau khi nhìn thấy con, em mình trở thành thương tật tàn phế … Đó là nhữngmất mát không gì và không ai có thể bù đắp được Nhưng ngoài những mất mát

đó, người bị nạn và gia đình họ còn phải gặp những tổn thất về tài chính Người bịnạn sẽ giảm thu nhập ( trong một thời gian hoặc thậm chí vĩnh viễn ),còn gia đình

họ phải trang trải những chi phí nhằm phục hồi sức khoẻ cho người bị nạn như :tiền thuốc men ,viện phí, tiền phẫu thuật …hoặc các chí phí khác cho việc maitáng, tang lễ

Những chí phí này dù lớn hay nhỏ song trong điều kiện thu nhập của đại đa sốnhân dân lao động còn thấp, đã thực sự trở thành mối quan tâm lo lắng và gây ranhững khó khăn nhất định đối với việc khắc phục hậu quả, phục hồi sức khoẻ chonạn nhân

Trang 3

Vì vậy nhu cầu về tài chính dự trữ với mục đính đảm bảo ổn định cuộc sống

là rất cần thiết cho mọi người.Để có được nguồn tài chính đó, họ có thể làm bằnghình thức tiết kiệm hoặc tham gia bảo hiểm Mục đích của tiết kiệm là thu đượcmột khoản tiền lớn hơn trong khoảng một thời gian nhất định so với số tiền banđầu và dùng khoản tiền đó để bù đắp cho các chí phí phát sinh Biện pháp này cóyếu tố tích cực song còn tồn tại những những nhược điểm không đáp ứng đượctính bất ngờ của sự cố, tức là trường hợp số tiền tiết kiệm chưa đủ lớn đã gặp phảirủi ro bất ngờ Bảo hiểm ra đời có thể coi là biện pháp tối ưu để khắc phục hậuquả

Theo khái niệm chung nhất, ta có thể hiểu: “Bảo hiểm là hoạt động mà ngườibảo hiểm đứng ra cam kết bồi thường theo nguyên tắc số đông bù số ít cho ngườitham gia bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm với điều kiệnngười được bảo hiểm phải nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứba”.Như vậy thiệt của một người sẽ được phân tán cho nhiều người trong cộngđồng Điều này dẫn tới việc một tổn thất tưởng như vượt qua sức chịu đựng củamột người lại có thể được chia nhỏ ra, phù hợp với khả năng gánh vác của nhiềungười Tham gia bảo hiểm con người chính là người được bảo hiểm đánh đổi mộtphần tài chính nhỏ để lấy một sự an toàn trong cuộc sống Họ sẽ giảm bớt đượcgánh nặng mà nếu không tham gia bảo hiểm , họ sẽ phải tự trang trải tất cả chi phí

đó

Bảo hiểm con người là hợp đồng bảo hiểm rằng buộc trách nhiệm của ngườitham gia bảo hiểm , người được bảo hiểm và người bảo hiểm nhằm đảm bảo ổnđịnh đời sống con người được bảo hiểm trước rủi ro , tai nạn hoặc những sự cố bấtngờ xảy ra Theo hợp đồng bảo hiểm ,người bảo hiểm cam kết trả cho người đượcbảo hiểm hoặc cá nhân những người khác như người được uỷ quyền ,người thừa

kế hợp pháp theo pháp luật số tiền bảo hiểm đã được ấn định trước phù hợp với rủi

ro ,tai nạn theo các điều kiện cam kết xảy ra Số tiền bảo hiểm được chi trả khôngphụ thuộc vào số tiền bảo hiểm xã hội và đảm bảo xã hội cũng như số tiền chi trảhợp đồng bảo hiểm khác cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm với cùng một

Trang 4

rủi ro tai nạn xảy ra.Người tham gia cam kết đóng phí đầy đủ và đúng thời hạnquy định

như đã ghi trong hợp đồng Trong đại bộ phận các nghiệp vụ bảo hiểm con người,

số tiền bảo hiểm, các khoản trợ cấp được ấn định trước trên hợp đồng bảohiểm Những khoản tiền này được xác định dựa trên sự lựa chọn của người thamgia bảo hiểm –người duy nhất có thể ước tính được số tiền mà anh ta hoặc nhữngngười thân thích của anh có nhu cầu Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, các khoản trợcấp, số tiền bảo hiểm được người bảo hiểm thanh toán không nhằm mục đích bồithường thiệt hại, đây là số tiền bảo hiểm mang tính chất khoán Do không ai có thểđịnh giá được con người và không có công ty bảo hiểm nào có thể cung cấp mộtcon người “như cũ” khi anh ta đã thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi hay bất kỳrủi ro gây thiệt hại khác, các công ty bảo hiểm chỉ có thể chi trả một lượng tiềnkhông lớn hơn số tiền bảo hiểm mà người đó tham gia trong trường hợp anh ta gặprủi ro

Việt Nam đã và đang xây dựng một nhà nước của dân do dân và vì dân Đạihội VII đã khẳng định: “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của conngười và lấy phục vụ con người là cao nhất”.Để thực hiện mục tiêu này,Đảng vàNhà nước đã có những chính sách khác nhau nhằm bảo vệ con người không mayrủi ro

Về bảo hiểm xã hội : Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Nhà nước tổ chứcquản lý và bảo hộ Việc lập quỹ tiền tệ do sự đóng góp dần dần theo theo thời giancủa người lao động dựa trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ xã hội để đảm bảocho người lao động có phần thu nhập, trang trải cho nhu cầu thiết yếu khi bị suygiảm hoặc mất khả năng lao động Đối tượng của bảo hiểm xã hội là người laođộng mà trước hết là công nhân viên làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp thuộcthành phần kinh tế nhà nước, người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có từ 10 lao động trở lên, lao động trongcác lực lượng vũ trang do Nhà nước tổ chức.Quỹ bảo hiểm do sự đóng góp củangười lao động, người sử dụng lao động và một phần bù thiếu của Nhà nước (Do

Trang 5

đó phí bảo hiểm không dựa trên tỷ lệ phí với quyền lợi của họ được hưởng).Người tham gia bảo hiểm được hưởng quyền lợi trong các trường hợp: ốm đau,thai sản, tai nạn lao

động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí,tử tuất Quyền lợi này phụ thuộc vào thời gianđóng góp bảo hiểm xã hội và mức đóng phí bảo hiểm xã hội.Tuy nhiên đối tượngcủa bảo hiểm xã hội không phải là toàn bộ người lao động cũng không phải là toàn

bộ nhân dân

Bảo hiểm y tế: Mục đích của bảo hiểm y tế Việt Nam được Nhà nước tổ chứcquản lý và bảo hộ, viêc lập quỹ là để có thêm nguồn tài chính tăng cường chấtlượng khám chữa bệnh cho nhân dân Đối tượng của bảo hiểm xã hội bao gồm cảbắt buộc và tự nguyện nhưng chủ yếu là chế độ quy định bắt buộc của Nhà nướcđối với công nhân viên hành chính sự nghiệp, cán bộ hưởng lương làm việc trongcác nhà máy, xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, người lao động trongcác doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có từ 10 laođộng trở lên Tuy nhiên với sự phát triển của xã hội, đối tượng tham gia bảo hiểm

y tế ngày càng nhiều, phải kể đến đầu tiên là nông dân, đây là đối tượng chiếm tỷ

lệ đông đảo trong toàn bộ dân số, kế tiếp là người buôn bán nhỏ ở nông thôn vàthành thị Phí bảo hiểm không thống nhất cho mọi đối tượng tuỳ thuộc vào mứclương và đối tượng tham gia( khối hành chính sự nghiệp, sản xuất kinh doanhhoặc cá nhân) Quyền lợi mà người đóng bảo hiểm được hưởng là dich vụ y tếkhám chữa bệnh trong bệnh viện theo phác đồ của Bộ y tế Theo quyết định mớicủa bảo hiểm y tế Việt Nam thì người tham gia trả 20% chi phí điều trị còn 80%chi phí khám chữa bệnh do bảo hiểm trực tiếp trả cho bệnh viện

Trên đây là một số chính sách hỗ trợ của Nhà nước, xã hội cho con người.Song đối tượng của chính sách này cũng chỉ giới hạn trong phạm vi nhất định,không đáp ứng được nhu cầu được bảo vệ của mọi thành viên trong xã hội, đòi hỏimỗi thành viên tự tìm cho mình một hình thức bảo vệ mình khi gặp rủi ro gây thiệt

Trang 6

hại xảy ra Nhìn chung bản thân mỗi con người đều phải có những khoản dự trữnhất định, không phải lúc nào các khoản dự trữ này cũng đảm bảo thoả mãn đượcnhu cầu khi bất trắc xảy ra Vì vậy hình thức dự trữ có hiệu quả nhất và có tácdụng thiết thức nhất trong việc khắc phuc rủi ro là tham gia bảo hiểm.

Bảo hiểm con người là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm thương mại hay

có thể gọi là bảo hiểm thương mại về con người Hiện nay trên thế giới có 8nghiệp vụ về bảo hiểm con người:

- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

- Bảo hiểm tai nạn chết người và mất khả năng lao động

- Bảo hiểm cá nhân do tai nạn bất ngờ

- Bảo hiểm công nhân viên chức do cơ quan xí nghiệp đài thọ phí

- Bảo hiểm trẻ em

- Bảo hiểm tai nạn hành khách

- Bảo hiểm du du lịch

- Bảo hiểm tiền hưu

Ngoài ra còn có bảo hiểm cưới xin và bảo hiểm cácbộ phận trên thân thể conngười Tuy nhiên ở Việt Nam, triển khai bảo hiểm thương mại về con người cócác nghiệp vụ sau:

- Bảo hiểm hành khách, triển khai, năm 1981

- Bảo hiểm tai nạn lao động năm, 1987

- Bảo hiểm du lịch

- Bảo hiểm sinh mạng cá nhân, năm 1990

- Bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật, năm 1994

- Bảo hiểm kết hợp con người, năm 1994

- Bảo hiểm tai nạn học sinh, năm 1985

- Bảo hiểm nhân thọ, năm 1996

Mục đích: bảo hiểm toàn bộ thân thể người được bảo hiểm là một hình thức bổ

sung cho bảo hiểm cho bảo hiểm xã hội nhằm ổn định đời sống cho mọi thànhviên trong xã hội trước những rủi ro về thân thể, tính mạng, giảm sút thu nhập

Trang 7

Tức là người bảo hiểm thanh toán những khoản tiền quy định trong trường hợpxảy ra những sự kiện tác động đến chính bản thân người được bảo hiểm.

Đối tượng: Đối tượng của bảo hiểm con người là tính mạng và tình trạng sứckhỏe, khả năng lao động và tuổi thọ của con người

Hình thức tham gia: Chủ yếu dưới hình tự nguyện, không bắt buộc các đốitượng tham gia

Phí bảo hiểm: Mức đóng góp theo các quy định trong biểu phí của công ty bảohiểm triển khai thực hiện trên cơ sở giám sát, không lớn hơn cũng không nhỏ hơnbiểu phí quy định của Bộ Tài Chính

Quyền lợi: Là các chế độ bảo hiểm được quy định trong hợp đồng bảo hiểm

mà theo đó người tham gia bảo hiểm hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm

sẽ được nhận số tiền chi trả từ cơ quan bảo hiểm khi có rủi ro gây thiệt hại xảy rathuộc phạm vi bảo hiểm

Cách chi trả: Công ty thanh toán tiền cho người được bảo hiểm theo sự thoảthuận giữa Công ty bảo hiểm và người tham gia ghi trong hợp đồng bảo hiểm.Như vậy, nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu để bảo vệ con người bảo hiểm đã rađời và đặt quyền lợi của con người lên trên hết luôn tạo cho con người sự tintưởng, sự an tâm trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Khi xã hội ngày càng pháttriển, đời sống của người dân được cải thiện, ngoài nhu cầu cho tồn tại, con ngườicần có nhu cầu về tinh thần Sự an tâm về cuộc sống chính là nhu cầu không thểthiếu được, điều này dẫn đến nhu cầu bảo hiểm ngày càng được coi trọng, pháttriển và đa dạng hoá Chúng ta đã tiến hành bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn

và bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật để đáp ứng nhu cầu đó và chính bản thâncác nghiệp vụ này cũng đang được mở rộng về các mức phí khác nhau

Song ba quy tắc bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sinh mạng cá nhân vàbảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, mỗi quy tắc có phạm vi bảo hiểm riêng, đápứng nhu cầu riêng của ngượi tham gia bảo hiểm Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đềcòn bất cập, đồng thời cũng không phát huy được tác dụng nếu ba quy tắc này ápdụng tách rời nhau Nếu một người tham gia bảo hiểm đồng thời cả ba loại hình

Trang 8

bảo hiểm trên, chắc chắn sẽ gây ra sự trùng lặp, khó khăn trong việc quản lý, lãngphí giấy tờ không cần thiết.

Vì vậy tạo điều kiện thuận lợi cho công ty bảo hiểm trong việc triển khai, thựchiện và quản lý hợp đồng cũng như đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảohiểm, ngày16/07/1994 Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã ban hànhđiều khoản về bảo hiểm kết hợp con người số1085/PHH94 ngày16/06/1994 Công

ty bảo hiểm Hà Nội trực tiếp triển khai bảo hiểm kết hợp sinh mạng cá nhân, tainạn 24/24 và trợ cấp nằm viện phẫu thuật cho mọi người từ 1 tuổi (12 tháng tuổi)đến 65 tuổi ngày 01/08/1994

2 Cơ sở triển khai bảo hiểm kết hợp con người ở Việt Nam

a) Vài nét về thị trường bảo hiểm con người ở Việt Nam

Với 80 triệu dân, Việt Nam là nước đông dân cư đứng hàng thứ 13 trên thếgiới Cơ cấu dân số trẻ, nguồn nhân lực dội dào đã trở thành một trong những điềukiện thuận lợi để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội trong những nămvừa qua

ở Việt Nam, từ khi Bảo Việt triển khai bảo hiểm thương mại về con người đếnnay đã có 12 nghiệp vụ bảo hiểm con người như:bảo hiểm sinh mạng cá nhân, bảohiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm học sinh, bảohiểm du lịch

Từ sau nghị định 100 /CP ngày 18/12/1993 của chính phủ về kinh doanh bảohiểm, thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động hẳn lên bởi sự ra đời của hàng loạtcác công ty bảo hiểm với loại hình rất đa dạng: công ty bảo hiểm cổ phần, công tybảo hiểm Nhà nước, công ty bảo hiểm ngành, công ty liên doanh bảo hiểm cùng với 30 văn phòng đại diện của các công ty, tập đoàn bảo hiểm nước ngoài

Sự phát triển kịnh tế xã hội một mặt cải thiện đời sống vật chất tinh thần của ngườidân, động thời cũng tăng thêm nhận thức của họ về vai trò và tác dụng bảo hiểm

Từ năm 1994 đến nay, sự ra đời và cạnh tranh ồ ạt của một số công ty bảohiểm đã khiến cho thị phần của Bảo Việt giảm sút ít nhiều và doanh thu có phầnchững lại Nhưng năm 1999, nhóm bảo hiểm con người phi nhân thọ vẫn có mức

Trang 9

tăng trưởng khoảng 4,8%, trong đó có một số nghiệp vụ tăng lên nhanh: bảo hiểmkết hợp con người (tăng 29%), bảo hiểm khách du lịch tăng(14,1%), bảo hiểm họcsinh( tăng 13,9%) ở hầu hết các công ty bảo hiểm , tỷ trọng nghiệp vụ bảo hiểmcon người luôn chiếm tỷ trọng khoảng 30% doanh thu của toàn bộ công ty Đặcbiệt Công ty bảo hiểm Hà Nội là một trong số ít công ty có tỷ trọng này: năm

1998, doanh thu của nghiệp vụ này đạt 28 tỷ đồng chiếm 32,1% doanh thu phí bảohiểm và năm 1999 là 23 tỷ đồng chiếm32,1% doanh thu phí bảo hiểm

Với một thị trường gần 80 triệu dân trong đó khoảng 60% bộ phận dân cư từ

18 tuổi trỏ lên thì người tham gia bảo hiểm mà công ty khai thác được là còn quánhỏ bé Theo số liệu chưa đầy đủ, chỉ tính riêng ở Hà Nội trung tâm kinh tế, chínhtrị của cả nước-tỷ lệ tham gia bảo hiểm con người trong dân cư chỉ chiếm khơảng6,72% Điều này đòi hỏi nhà bảo hiểm, các nhà làm luật phải xem xét lại, nghiêncứu lại chính sách, chiến lược, cũng như từng mặt công tác nghiệp vụ trong quátrình cung cấp sản phẩm “bảo hiểm” đến tận tay khách hàng, làm sao để nhà bảohiểm và người tham bảo hiểm gặp nhau tại điểm có sản lượng tiềm năng lớn nhất

b) Cơ sở triển khai bảo hiểm kết hợp con người ở Việt Nam.

ở Việt Nam,bảo hiểm tai nạn con người là nghiệp vụ bảo hiểm về con ngườiđầu tiên được Bảo Việt triển khai từ năm 1986 dưới hình thức bảo hiểm tai nạnlao động.Ban đầu nghiệp vụ này có phạmvi bảo hiểm trong giờ hành chính là 8/24giờ trong ngày Sở dĩ Công ty tiến hành phạm vi đó vì do thực tế lúc đó:trình độdân trí còn thấp, đại đa số Việt Nam còn chưa biết gì về bảo hiểm cũng như tính

ưu việt của nó,đời sống nhân dân còn khó khăn, ở nhiều nơi nhu cầu vật chất cókhi còn không được đảm, cho nên việc triển khai ở phạm vi rộng là rất khó khănthực hiện Mặt khác nếu công ty tiến hành bảo hiểm 24/24 giờ tại thời điểm đó thì

sẽ không kiểm soát được rủi ro của nghiệp vụ và do đó không đảm bảo kinh doanh

có lãi Tuy nhiên, trong một số năm,triển khai nghiệp vụ,mặc dù có sự hưởng ứngcủa người tham gia bảo hiểm,song nảy sinh nhiều vấn đề, đó là:

Tai nạn rủi ro đối với người lao động có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nhưngphạm vi bảo hiểm chỉ là 8/24 Nếu người lao động gặp tai nạn ngoài giờ hành

Trang 10

chính, hoặc trên đường đi làm từ công sở về nhà thì họ gặp rất nhiều khó khăn,cuộc sống không đảm bảo do thu nhập thấp, từ đó xuất hiện nhu cầu bảo hiểmngoài giờ làm việc.

Hơn nữa, khi thời gian bảo hiểm là 8/24 giờ trong ngày thì hiện tượng lập hồ

sơ giả mạo khi tai nạn xảy ra không trong giờ làm việc gây khó khăn cho lớn chocông ty trong việc kiểm soát và bồi thường

Vì vậy, nhu cầu bảo hiểm với thời gian 24/24h là một thực tế đối với cảngười được bảo hiểm và người bảo hiểm Năm 1991,Bảo Việt đã mở rộng phạm vi

từ 8/24 sang 24/24 h bao gồm những tai nạn gây thiệt hại đến thân thể người bảohiểm Đây là một bước tiến nhằm thích nghi với tình hình thực tế và đảm bảo chongười tham gia bảo hiểm yên tâm hơn trong sinh hoạt cũng như trong lao động sảnxuất

Cùng với đó, Bảo Việt đã nghiên cứu và triển khai thêm một số loại hình:bảohiểm tai nạn hành khách ,bảo hiểm học sinh, bảo hiểm khách du lịch Các loạihình bảo hiểm đang dần khẳng định được chỗ đứng của nó trên thị trường.Nhưngphạm vi trách nhiệm của các loại hình bảo hiểm trên còn hạn hẹp,chỉ bao gồm sựthiệt hại thân thể của người được bảo hiểm do hậu quả tai nạn Trong cuộc sốngcon người ,ốm đau bệnh tật là điều không thể tránh khỏi Điều cần thiết đặt ra chobảo hiểm con người là mở rộng phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm cũng như đốitượng bảo hiểm ,làm cho bảo hiểm thực sự trở thành nhân tố góp phần ổn định đờisống nhân dân

ở Việt Nam, nhu cầu bảo hiểm sinh mạng đã có từ lâu, đó là việc hình thànhcác quỹ bảo thọ Hình thức hoạt động các quỹ này khác nhau ở mỗi vùng tuỳthuộc vào điều kiện của từng địa phương, từng người tổ chức nhưng nhìn chungchưa mang lại nhiều ý nghĩa về kinh tế mà chỉ mang nặng yếu tố tinh thần.Đây lànét truyền thống quý báu của người dân Việt Nam song cũng cần phải thấy đượcrằng các quỹ này nhiều khi phụ thuộc vào suy tính chủ quan của người đứng đầu,

cơ chế quản lý không chặt chẽ, không theo một quy tắc nào,nếu không may người

tổ chức không thể tiếp tục quản lý hội được thì hoạt đông của hội sẽ gặp khó khăn

Trang 11

Nắm bắt được đặc điểm này,để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và từng bướchoàn thiện lĩnh vực bảo hiểm con người ,ngày 17/02/1990, Bộ tài chính đã banhành quy tắc và biểu phí cho các loại hình bảo hiểm sinh mạng cá nhân, bảo hiểm

tử vong trong trường hợp tai nạn,ốm đau hay bệnh tật Ngày 10/08/1992 Bộ tàichính đã chính thức ban hành quy tắc và biểu phí cho các loại hình bảo hiểmnày.Từ đó đến nay nghiệp vụ này đã được sự chấp thuận đông đảo quần chúngnhân dân và ngày càng phát huy được tác dụng

Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới các quan hệ kinh tế ngoại giao, văn hoá

xã hội với các nền kinh tế khác với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn vớitất cả các nước” đã mang lại cho Việt Nam về sự thay đổ nhiều mặt, người nướcngoài đến Việt Nam ngoài nhu cầu, thăm quan các danh lam thắng cảnh, di tíchlịch sử còn nhu cầu đến Việt Nam để kinh doanh, đầu tư sản xuất,du lịch, thươngmại để thu lợi, họ cũng mang theo thói quen từ nước họ.Việc mua bảo hiểm nằmviện phẫu thuật đối với người nước ngoài cũng gần như trở thành thói quen, họ rất

sợ phải vào nằm viện và phải bỏ tiền túi Đây là một yếu tố làm cho bảo hiểm trợcấp nằm viện phẫu thuật nhanh chóng được ra đời Cũng như nguyên nhân củanó,loại hình này được áp dụng đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh và đối vớingười nước ngoài.Song mức sống của người dân Việt Nam cũng dần được nânglên thì các nhu cầu mới lại phát sinh ngày càng phong phú và đa dạng.Khi gặp rủi

ro tai nạn,người ta không chỉ muốn nhận một khoản tiền mà còn cần một sự chămsóc y tế khi nằm viện phẫu thuật.Để đáp ứng nhu cầu này,ngày 02/07/1993 Bộ tàichính đã có quyết định số 466/TC-BH Ban hành quy tắcvà biểu phí trợ cấp nằmviên phẫu thuật :Bảo hiểm trợ cấp nằm viện, trợ cấp phẫu thuật và trợ cấp mai táng

do ốm đau ,thai sản,tai nạn đối với người được bảo hiểm Đây là một dich vụ mớicủa Bảo Việt, việc khai thác bước đầu đã mang lại kết quả tích cực, thực sự đã gópphần ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm và gia đình họ không mayphải nằm viện phẫu thuật trng điều kiện Nhà nước thực hiện thu một phần việnphí Các nghiệp vụ trên được tiến hành riêng lẻ và luôn luôn được sửa đổi bổ sung

Trang 12

cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và đáp ứng tốt nhu cầu bảo hiểm đôngđảo của quần chúng nhân dân.

Trong quá trình triển khai thực hiện 3 loại hình bảo hiểm :bảo hiểm sinhmạng, bảo hiểm tai nạn 24/24 và bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật được tiếnhành riêng biệt đã thể hiện tính ưu việt của nó đó là: tham gia riêng lẻ thì mức phíthấp;từng nghiệp vụ có những tính chất và quy tắc riêng giúp cho người ngườitham gia bảo hiểm lựa chọn các loại hình phù hợp với mình, có những nghề chỉ cóthể hoăc tốt nhất là bảo hiểm loại này mà không hiệu quả nếu lựa chọn các loại hình khác Tuy nhiên phần đông thì ngược lại, nếu để 3 loại hình tồn tại riêng lẻthì không tránh khỏi một số hạn chế sau:

Thứ nhất về quản lý hồ sơ (khai thác và bồi thường):Mặc dù một khách hàngtham gia với 3 nghiệp vụ riêng biệt đòi hỏi phải có 3 tài liệu quản lý riêng biệt.Điều này dẫn đến tăng chí phí kinh doanh, chí phí quản lý(nhất là trong trườnghợp 3 nghiệp vụ trên do 3 cán bộ bảo hiểm chịu hiểm trách nhiệm quản lý riêng).Mâu thuẫn giữa giảm phí để khuyến khích khách hàng tham gia(tăng tính chấtphục vụ xã hội) nhưng chi phí thì không hề được tiết kiệm(không phù hợp với tínhchất kinh doanh) làm ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa nhà bảo hiểm.Bên cạnh đó, với 3 bộ hồ sơ cồng kềnh,rất dễ nhầm lẫn giữa cácphạm vi, quyền lợi thường tạo tâm lý không thoải mái cho người tham gia bảohiểm

Đây chính là cơ sở nảy sinh ý tưởng gộp 3 nghiệp vụ trên vào một nghiệp vụbảo hiểm kết hợp con người để công tác quản lý hồ sơ đạt hiệu quả cao, nhanh gọn

và tiết kiệm được chi phí kinh doanh, đồng thuyết phục khách hàng tham gia dễdàng hơn

Thứ hai về nghiệp vụ: khác với bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệmbảo hiểm con người có đăc trưng riêng là một đối tượng bảo hiểm có thể đồng thờiđược bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng.Với một hoặc nhiều người bảo hiểm khácnhau với số tiền bảo hiểm bất kỳ(trong giới hạn trách nhiệm của nhà bảo hiểm )bất kể hợp đồng đó trùng lặp về phạm vi, quyền lợi bảo hiểm Khi xảy ra sự cố

Trang 13

bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm của nhiều hợp đồng thì viêc trả tiền bảo hiểm

ở các hợp đồng đó hoàn toàn độc lập với nhau- độc lập trong việc thực hiện nghĩa

vụ trả tiền vàđộc lập trong cách thức trả tiền bảo hiểm

Ba nghiệp vụ:Bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn 24/24 và bảo hiểm trợcấp nằm viện phẫu thuật cũng vậy, khách hàng hoàn toàn có quyền tham gia cả 3nghiệp vụ trên,tuy nhiên giữa chúng có sự trùng lặp nhau không cần thiết về phạm

vi cũng như quyền lợi bảo hiểm ,dễ dẫn đến nhầm lẫnvà kích thích tính trục lợicủa người tham gia Để thấy được sự trùng lặp đó , trước hết cần điểm qua phạm

vi bảo hiểm và quyền lợi của người được bảo hiểm khi tham gia cả 3 nghiệp vụtrên:

*Bảo hiểm sinh mạng cá nhân

-Phạm vi bảo hiểm :Thiệt mạng do mọi nguyên nhân kể cả tuổ già,bệnhtật(ngoại trừ trường hợp có bệnh trước khi mua bảo hiểm ),tai nạn trên toàn lãnhthổ Việt Nam

-Quyền lợi của người đươc bảo hiểm : Những rủi ro thuộc phạm vi bảohiểm trả 100% số tiền bảo hiểm

*Bảo hiểm tai nạn 24/24

-Phạm vi bảo hiểm :Tai nạn bất ngờ làm người được bảo hiểm bị thươnghay thiệt mạng trong bất cứ thời gian nào thuộc thời hạn bảo hiểm

-Quyền lợi của người được bảo hiểm :

+Trường hợp thiệt mạng do tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm, trả 100% sốtiền bảo hiểm

+Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn: Trả tiền bảo hiểm theo tỉ lệthương tật

+Thương tật tạm thời do tai nạn:

Nếu tham gia với số tiền bảo hiểm từ 1 đến 20 triệu đồng thì trả tiền theo tỷ

lệ thương tật

*Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu

Trang 14

-Phạm vi bảo hiểm : Người được bảo hiểm bị ốm đau, bệnh tật,thai sản hoặcthương tật thân thể do tai nạn phải nằm viện phẫu thuật.

-Quyền lợi của người được bảo hiểm:

+Nếu số tiền bảo hiểm từ 1 đến 10 triệu đồng /người /vụ thì trợ cấp 60 ngàynằm viện trong 1 năm bảo hiểm theo quyết định446/TCBH ngày 02/07/93 phần trợcấp này được tính là 0,3% số tiền bảo hiểm trên 1 ngày 02/07/93 phần trợ cấp nàyđược tính là 0,3% số tiền bảo hiểm trên ngày.Nhưng được phép của Bộ Tài Chínhngày 23/11/97, Bảo Việt đã có quyết định sokó 2963/PHH2-97 ban hành quy tắcbảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật với sự thay đổi về cách tính trợ cấp này nhưsau:

10 ngày đầu :trả 0.3% số tiền bảo hiểm / ngày

20 ngày tiếp theo :trả 0,2% số tiền bảo hiểm / ngày

30 ngày tiếp theo : trả 0,15% số tiền bảo hiểm / ngày

Trường hợp phẫu thuật thuộc phạm vi bảo hiểm :trả tiền bảo hiểm theo bảng

tỷ lệ trả tiền phẫu thuật

Trợ cấp mai táng phí 500.000 đồng / người trong trường hợp chết khi đangnằm viện, trong hoặc sau khi phẫu thuật do căn bệnh đã được phẫu thuật

+Nếu số tiền bảo hiểm từ trên 10 triệu đến 100 triệu đồng/người/vụ

Nằm viên: Trả toàn bộ chi phí y tế thực tế hợp lý liên quan đến việc điều trị,song tối đa mỗi ngày nằm viện không quá 0,3% số tiền bảo hiểm và không quá 60ngày/năm bảo hiểm

Phuật thuật: trả toàn bộ chí phí y tế thực tế hợp lý liên quan đến việc điềutrị,song tối đa không quá định mức trong bảng tỷ lệ trả tiền phẫu thuật

Trợ cấp mai táng phí 1.000.000 đồng/người trong trường hợp chết trong khiđang nằm viện, trong hoặc sau khi phẫu thuật do căn bệnh đã được phẫu thuật

Như vậy có thể thấy ngay nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn 24/24 và bảo hiểmtrợ cấp nằm viện phẫu thuật đều bảo hiểm cho rủi ro thương tật thân thể do tainạn(phải nằm viện hoặc phẫu thuật) và với cùng với một thương do rủi ro đó

Để chứng minh cho những điều,ta xét ví dụ sau đây :

Trang 15

Ví dụ1: Ông Nguyễn Văn A tham gia đồng thời cả 3 nghiệp vụ: Bảo hiểmsinh mạng,bảo hiểm tai nạn 24/24 và bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật với sốtiền bảo hiểm lần lượt là :

10.000.000 đồng, 15.000.000 đồng và 10.000.000 đồng trong thời hạn từ01/ 01/1998 đến 01/01/1999.Ngày 26/07/1998, ông A bị tai nạn giao thông gâyphù não phải điều trị nội trú30 ngày

Số tiền bồi thường cho ông A được tính như sau:

-Theo điều kiện bảo hiểm tai nạn 24/24 :

15.000.000 x40% = 6.000.000 đ

( Tỷ lệ thương tật trong trường hợp này xác định là 40%)

-Theo điều kiện bảo hiểm tai nạn 24/24:

15.000.000 x40% =6.000.000đ

-Theo điều kiện bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật :

(10 ngày x 0,3% x10.000.000đ/ ngày ) +( 20 ngày x0.2% 10.000.000đ/ngày) =300.000+400.000=700.000đ

Tổng số tiền ông A nhận được là :

6.000.000 +700.000 =6.700.000đ

Như vậy số tiền là quá cao so vết thương ông A gặp phải và khi đó nókhông mang tính chất khắc phục hậu quả tổn thất do rủi ro thuộc phạm vi bảohiểm gây ra nữa mà nó mang tính chất làm giàu từ hoạt động bảo hiểm nhiều hơn

Ngoài ra, sự trùng lặp trong quyền lợi của người được bảo hiểm bị thiệtmạng do tai nạn Giả sử trong ví dụ trên, sau 30 ngày nằm viện ông A chết thì khi

đó ngoài số tiền bảo hiểm 6.700.000 đồng trên, người thừa kế hợp pháp của ông sẽđược nhận thêm số tiền bồi thường như sau :

Theo điều kiện bảo hiểm tai nạn 24/24 :

Trang 16

9.000.000đ +500.000đ +10.000.000đ =19.500.000đ

Với số tiền bảo hiểm lớn như vậy :

(6.700.000đ +19.500.000đ =26.200.000đ) dễ dẫn đến hành động trục lợi củangười được bảo hiểm cũng như người thừa kế bất hợp pháp của họ.Tính nhân đạocủa hợp đồng bảo hiểm lúc này sẽ bị lu mờ,thậm chí trước món lợi đó,con người ta

dễ đánh mất tính nhân đạo của chính mình như cố tình không cứu chữa kịp thờicho người được bảo hiểm.Chính vì những tồn tại nói trên mà nghiệp vụ bảo hiểmkết hợp con người ( kết hợp BHSMCN,BHTN24/24 và BHTCNVPT ) với nhữngquy định cụ thể, không trùng lặp về phạm vi quyền lợi của người được bảo hiểm

đã trở thành một tất yếu khách quan

Qua 5 năm thực hiện, nhìn chung điều khoản bảo hiểm kết hợp con người

đã đáp ứng được nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Hàng năm số người thamgia bảo hiểm cũng như số phí của nghiệp vụ này đều tăng lên đáng kể và chiếm tỷtrọng lớn trong tổng doanh thu phí bảo hiểm các nghiêp vụ bảo hiểm con người

Song cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường,thị trường bảo hiểm cũngbiến động không ngừng:nhiều công ty bảo hiểm ra đời, các văn phòng đại diện tạiViệt Nam tạo ra một sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường bảo hiểm Do đó việcđổi mới và hoàn thiện sản phẩm của mình để phục vụ và lôi kéo khách hàng là mộtđiều tất yếu đắt ra cho Bảo Việt.Bên cạnh đó,điều khoản bảo hiểm kết hợp conngười có nội dung, chưa phù hợp,chưa tính toán dủ các chi phí cần thiết và cáckhía cạnh của vấn đề, có những rằng buộc gây khó khăn cho việc triển khai mặc

dù trong quá trình triển khai ,Tổng công ty đã thường xuyên bổ sung và hoàn thiệnđiều khoản đó nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng và triền khai nghiệp vụđược thuận lợi

Để khắc phục những hạn chế đó và tào sức mạnh trong cạnh tranh,ngày23/12/1997 Tổng công ty đã có quyết định số 2962/PHH2-1997 ban hành điềukhoản kết hợp về bảo hiểm con người ( KHCN-BV98) thay thế cho điều khoảnban kèm theo quyết định số 1085 /PHH-94 Điều khoản này được xây dựng trên 3

Trang 17

điều kiện bảo hiểm :sinh mạng(A), tai nạn 24/24(B), và trợ cấp nằm viền phẫuthuật(C), hoàn toàn độc lập về phạm vi cũng như quyền lợi bảo hiểm

-Điều kiện A (sinh mạng):Bảo hiểm trường hợp chết do ốm đau bệnh tật.-Điều kiện B(tai nạn):Bảo hiểm trong trường hợp chết hoặc thương tật thânthân thể do tai nạn

-Điều kiện C(trợ cấp nằm viện phẫu thuật):Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫuthuật do ốm đau, bệnh tật

Do vậy,tuỳ theo khách hàng có thể áp dụng một hoặc nhiều điều khoản kếthợp tương ứng với tỷ lệ phí cho từng điều kiện Tuy nhiên,về độ tuổi người đượcbảo hiểm chỉ hạn chế từ 16-60 tuổi, đối với nhóm tuổi dưới 16 nếu có nhu cầu cóthể áp dụng theo loại hình bảo hiểm học sinh và đối tượng trên 60 tuổi (chủ yếu làhưu trí,mất sức) sẽ nhận bảo hiểm theo những điều kiện bảo hiểm riêng Đối vớinhững hợp đồng có số lượng lớn người tham gia thì không cần thiết phải kê khaigiấy yêu cầu bảo hiểm Đây là một bước quan trọng của nghiệp vụ và nó đangphát huy tác dụng trên thị trường bảo hiểm hiện nay

3.ý nghĩa và tác dụng của bảo hiểm kết hợp con người

Đến nay, tất cả những gì mà ngành bảo hiểm đã làm được cho xã hội là rất

to lớn và không thể phủ nhận được Bảo hiểm ra đời là một yếu tố khách quan củacuộc sống Xuất phát từ khái niệm chung về bảo hiểm :

“Bảo hiểm là hợp đồng trong đó một bên cam kết bồi thường theo luậtthống kê cho người được bảo hiểm trong trường hợp rủi ro xảy ra trong phạm vighi trong hợp đồng bảo hiểm với điều kiện bên kia phải nộp một khoản chi phí chochính anh ta hoặc người thứ ba”

Như vậy bảo hiểm thực chất là một phạm trù tài chính,là tổng thể các mốiquan hệ kinh tế xã hội của người tham gia vầ người bảo hiểm nhằm mục đích ổnđịnh cuộc sống cho người tham gia khi họ gặp những rủi ro bất ngờ gây thiệt hại

và đáp ứng một số nhu cầu khác của họ trong cuộc sống

Hơn nữa, ở nước ta bảo hiểm cũng không còn là một phạm trù mới mẻ nữa

đi vào cuộc sống xã hội và nó trở nên thân thiết với mọi người

Trang 18

Bảo hiểm kết hợp con người cũng vậy, ngay từ khi ra đời bảo hiểm kết hợpcon người xuất phát từ thực tế triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm con người riêng

lẻ nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu con người về bảo hiểm nên đã khẳng đinhđược ngay vị thế trên thị trường Bảo hiểm kết hợp con người ngày càng trở nênthân thiết đối với người dân Việt Nam , đó cũng chính là phạm vi bảo hiểm đượcbao trùm rộng rãi hơn các nghiệp vụ bảo hiểm riêng lẻ, nó không tạo ra cảm giáchẫng hụt cho người tham gia khi không may khi họ gặp tai nạn Nếu thuộc phạm

vi bảo hiểm của các loại hình này thì chắc chắn họ sẽ được một khoản tiền tươngứng với số thiệt hại của họ đã thoả thuận trên hợp đồng

Từ sự chặt chẽ của hợp đồng bảo hiểm , con người ta có thói quen chính xáctrong hành động, hoạt động cũng như trong lời nói của mình trong đời sống hằngngày,trong kinh doanh ,giao dịch và ký kết Đồng thời nếu người tham gia bảohiểm không may gặp rủi ro gây tổn thất sẽ nhận khoản tiền bù đắp thoả đáng, khắcphục những khó khăn về tài chính, về sức khoẻ cho người tham gia bảo hiểm.Giúp họ có thể nhanh chóng gượng dậy sau những rủi ro khủng khiếp, giúp họthoát khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Không những đảm bảo ổn định đờisống của người tham gia tại thời điểm hiện tại mà còn tạo điều kiện giúp đỡ giađình họ vượt qua khó khăn,con cái vẫn được tiếp tục đi học Điều này mang ýnghĩa xã hội và nhân văn cao cả

Từ công tác giám đình bồi thường sau mỗi rủi ro thiệt hại, công ty bảo hiểm

sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro để từ đó có biện pháp đềphòng và hạn chế tổn thất một cách có hiệu quả, giảm bớt những rủi ro bất trắcgây thiệt hại cho toàn xã hội Đây là một hoạt động thể hiện phương châm: “phòngbệnh hơn chữa bệnh” của bảo hiểm kết hợp con người nói riêng và bảo hiểm nóichung Công tác đề phòng hạn chế tổn thất được tiến hành do công ty bảo hiểm kếthợp với các ngành có liên quan như giao thông vận tải,công an,bệnh viện đãgóp phần làm cho đời sống xã hội bình an hơn ,tươi đẹp hơn

Bên cạnh đó, nghiệp vụ này góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước gópphần đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân Đây là một tác dụng rất đáng kể của

Trang 19

nghiệp bảo hiểm con người nói riêng và toàn ngành bảo hiểm nói chung.Xuất phát

từ nguồn quỹ thu được của người tham gia, hằng năm công ty bảo hiểm đóng gópvào ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế,nguồn vốn nhàn rỗi sẽ đem đầu

tư phát triển kinh tế,tạo công ăn việc làm cho người lao động

Như được biết, chắc chắn sẽ không tạo ra một xã hội phát triển, công bằngvăn minh nếu như bản thân các thành viên trong xã hội không ý thức được mìnhnên hay không nên làm gì, cái được và cái mất của các quyết định đó ra sao, điềuphụ thuộc phần lớn vào trình độ nhận thức và trình độ học vấn của họ Hơn nữatrong cuộc sống hiện đại, con người luôn hối hả để theo kịp guồng quay chung xãhội, ai lơ là sẽ bị loại ra, bắt buộc con người phải dồn hết tâm trí sao cho công việcmình đạt kết quả cao nhất, sẽ khó có thể đạt được điều này nếu họ không an tâm

về tính mạng của họ và những hậu quả không tốt sẽ xảy ra đối với gia đình họ.Điều này đã có các công ty bảo hiểm giúp họ, đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm kếthợp con người Như vậy không những về trước mắt là ổn định cuộc sống củangười tham gia mà về lâu dài đây cũng là một động lực gián tiếp thúc đẩy đượctăng năng suất lao động xã hội và thúc đẩy nền kinh tế Các nhà hoạch định chínhsách xã hội ở tầm vĩ mô ( phạm vi quốc gia) và vi mô ( phạm vi đơn vị kinh tế)cần quan tâm xem xét

II.Nội dung của nghiêp vụ bảo hiểm kết hợp con người

1.Đối tượng bảo hiểm

Bảo hiểm kết hợp con người có đối tượng là tính mạng và tình trạng sứckhoẻ con người Đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ này có đặc điểm nổi bật làkhông xác định được “ giá trị” vì tình trạng sức khoẻ con người là vô giá Do đó,trong nghiệp vụ kết hợp con người không tồn tại thuật ngữ “ giá trị bảo hiểm”

Xuất phát từ đặc đIểm trên của đối tượng bảo hiểm nên bảo hiểm con ngườinói chung và bảo hiểm kết hợp con người nói riêng phần lớn sử dụng nguyên tắc “

khoán” làm nguyên tắc trả tiền cơ bản Lý do vì trong bảo hiểm con người rất khó

xác định giá trị thiệt hại Đối với đối tượng của các nghiệp vụ bảo hiểm phi conngười như bảo hiểm tài sản,bảo hiểm hàng hoá việc mất cắp một lô hàng, cháy

Trang 20

một ngôi nhà hay vỡ kính ô tô đều có thể tính ngay giá trị thiệt hại vật chất củachúng.Nhưng đối với con người, việc gãy một cánh tay hay phải cắt một phần nào

đó của bộ phận cơ thể thì lại hoàn toàn không thể xác định mức bồi thường là baonhiêu, càng không thể xác định được mức bồi thường bao nhiêu cho thoả đáng.Chính vì vậy việc trả tiền của công ty bảo hiểm là không nhằm bồi thường chothiệt hại mà đơn thuần chỉ là thực hiện cam kết giữa hai bên theo hợp đồng.Trường hợp người bảo hiểm bị tử vong,công ty sẽ chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm

ấn định trước trong hợp đồng cho thân nhân người hợp pháp của người được bảohiểm Số tiền chi trả trong trường hợp này không gọi là cái giá của sự tử vong màchỉ là số tiền mà người được bảo hiểm “ đã khoán” cho công ty bảo hiểm trước đó

Tuy nhiên,trong trường hợp bảo hiểm cho các chi phí y tế đối với rủi robệnh tật thì có thể áp dụng nguyên tắc “ bồi thường” Lúc này việc chi trả củacông ty bảo hiểm nhằm bồi thường cho cái giá của sự chăm sóc thuộc phạm viđược hưởng bảo hiểm của người bị nạn Số tiền bồi thường sẽ được dựa trênnhững chi phí thực tế mà người được bảo hiểm bỏ tiền để khắc phục những hậuquả của rủi ro và tỷ lệ thương tật của người được bảo hiểm

Xuất từ mục tiêu phục vụ tối đa mọi thành viên trong xã hội và nguyên tắc

“số đông” và theo điều khoản kết hợp về bảo hiểm con người ban hành theo quyếtđịnh số 1085/PHH94 nhóm khách hàng mục tiêu của nghiệp vụ bảo hiểm kết hợpcon người bao gồm mọi công dân Việt Nam từ 12 tháng tuổi đến 65 tuổi

Qua những năm triển khai cho thấy, nhóm khách hàng là học sinh dưới 16tuổi có số lượng rất nhỏ do chủ yếu tham gia bảo hiểm học sinh Còn nhóm kháchhàng từ 60 tuổi trở lên có xác xuất rủi ro cao thường bảo hiểm theo những điềukiện riêng Do đó ngày 23/12/1997, Bảo Việt có quyết định số 2962/PHH1297 banhành điều khoản kết hợp về bảo hiểm kết hợp con người (KHCN-BH98) quy đinhđối tượng của nghiệp vụ này là những người trong độ tuổi từ 16 đến 60 tuổi nhằmgiới hạn chỉ nhận bảo hiểm cho những người trong độ tuổi lao động.Nếu các công

ty có các nhu cầu bảo hiểm cho đối tượng trên 60 tuổi phải có phương án triển

Trang 21

khai cụ thể đăng ký tại Tổng công ty sau khi có ý kiến của Bảo Việt mới đượctriển khai.

Hoạt động bảo hiểm được từ nhu cầu giảm các hậu quả của rủi ro gắn liềnvới các tổn thất về tài chính.Khái niệm “rủi ro” được hiểu các sự việc ngoài ýmuốn mà gây nên mất mát thiệt hại đối với con người Chính vì vậy,đối với ngườithiệt hại mà rủi ro trở thành hiện thực quá lớn,con người không thể tránh khỏi thì

sẽ không được coi là “rủi ro” được bảo hiểm Do đó,theo nguyên tắc sànglọc,người bảo hiểm không bảo hiểm cho các đối tượng sau:

-Người bị bệnh thần kinh, tâm thần, phong,ung thư

-Người bị tàn phế hoặc thương tật vĩnh viễn từ 50% trở lên

-Người đang trong thời gian điều trị bệnh tật,thương tật

2.Phạm vi bảo hiểm

a) Thuộc phạm vi bảo hiểm

Ta biết rằng trong cuộc sống có 2 loại rủi ro cơ bản, đó là rủi ro đầu cơ vàrủi ro thuần tuý Rủi ro đầu cơ là những rủi ro có thể “được” hoặc “mất”, ví dụ rủi

ro của hoạt động đầu tư trên thị trường tài chứng khoán, rủi ro của hoạt động cácược trong các cuộc đua Còn rủi ro thuần tuý là rủi ro chỉ có “ mất” mà không

có “được”,ví dụ rủi ro thương tật, rủi ro thiệt mạng trong tai nạn nguyên tắccơbản của hoạt động bảo hiểm là những rủi ro thuần tuý mới được bảo hiểm cònnhững rủi ro mang tính chất đầu cơ thì không được bảo hiểm

Vì vậy, những rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm kếthợp con người gồm có:

-Chết do mọi nguyên nhân(điều kiện bảo hiểm A)

-Chết hoặc thương tật thân thể do tai nạn( điều kiện bảo hiểm B)

-Nằm viện hoặc phẫu thuật do ốm đau, bệnh tật, thai sản(điều kiện bảo hiểmC)

Thực chất các điều kiện bảo hiểm A, B, C là sự tổng hợp một cách thốngnhất ba phạm vi bảo hiểm của đơn vị bảo hiểm: bảo hiểm sinh mạng cá nhân,bảo

Trang 22

hiểm tai nạn 24/24 và bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật Cả ba điều kiện bảohiểm A, B, C đều loại trừ những điểm được quy định tại mục (b) dưới đây.

b)Không thuộc vi bảo hiểm

Rủi ro là một trong những yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm Như trên

đã đề cập, rủi ro là sự cố mà khả năng xảy ra của nó là không chắc chắn và nóthường để lại những hậu quả xấu như tổn thất, mất mát cho đối tượng bảo hiểm

Có nhiều rủi ro phát sinh, tuy nhiên các nhà bảo hiểm không thể chấp bảohiểm cho tất cả rủi ro

Chính vì vậy mà cả 3 điều kiện bảo hiểm A, B, C của các điều khoản bảohiểm kết hợp con người Bảo Việt đều không chịu trách nhiệm đối những rủi roxảy ra đối người được bảo hiểm do những nguyên nhân sau:

-Hành động cố ý của người được bảo hiểm hoặc người thừa kế hợp pháp( ví

dụ như cố ý bị thương để đòi tiền bồi thường )

-Người được bảo hiểm vi phạm nghiêm trọng pháp luật ,nội quy, quy đinhcủa chính quyền địa phương hoặc các tổ chức xã hội, vi phạm nghiêm trọng luật lệ

an toàn giao thông ( tai nạn khi săn bắn trái phép, đi vào đường một chiều, vượtđèn đỏ )

-Người được bảo hiểm bị ảnh hưởng bởi rượu bia,ma tuý hoặc các chấtkích thích tương tự khác ( như uống nhiều rượu quá không làm chủ tốc độ gây tainạn)

-Người được bảo hiểm bị tham gia các hoạt động hàng không( trừ khi với tưcách là khách hàng), tham gia các cuôc diễn tập, huấn luyện quân sự, tham giachiến đấu của các lực lược vũ trang( vì đây là các hoạt động mang tính chấtchuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, có xác xuất rủi ro cao, chỉ có thể tham giabảo hiểm theo những điều kiện riêng biệt )

-Động đất, núi lửa, nhiễm phóng xạ, chiến tranh, nội chiến,đình công Ngoài những điểm loại trừ chung trên, đối với điều kiện bảo hiểm C BảoViệt không chịu trách nhiệm trong những trường hợp sau:

Trang 23

-Người được bảo hiểm nằm viện điều trị những bếnh suy nhược thần kinhsuy nhược cơ thể, thoái hoá cột sống hoặc điều trị tại các viện điều dưỡng, andưỡng.

-Nằm vện để kiểm tra sức khoẻ hoặc giám định y khoa mà không liên quanđến việc điều trị bệnh tật

-Điều trị hoặc phẫu thuật các bệnh bẩm sịnh, những chỉ định phẫu thuật có

từ trước ngày tham gia bảo hiểm

-Tạo hình thẩm mỹ, chỉnh hình, phục hồi chức năng, làm giả các bộ phận cơthể

-Thực hiện các biện pháp kế hoặc hoá sinh đẻ

-Những bệnh đặc biệt và bệnh có sẵn trong năm đầu tiên được bảo hiểm -Người được bảo hiểm mắc các bệnh giăng mai, lậu, HIV,AIDS, sốt rét, lao

và bệnh nghề nghiệp

Những điểm loại trừ đối với điều kiện bảo hiểm C không được coi là các rủi

ro bất ngờ vì chúng đều bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan của người được bảohiểm , từ hành động có chủ đích của người được bảo hiểm hoặc chúng là những sự

cố mà người tham gia đã biết trước khi mua bảo hiểm

3.Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm

a Số tiền bảo hiểm ( STBH).

Trong nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người, việc xác định STBH phải căn

cứ theo sự thoả thuận giữa hai bên và phần nhiều phụ thuộc vào khả năng tài chínhcủa người tham gia bảo hiểm STBH đó không chịu tác động bởi tuổi tác, nănglực, trình độ sức khoẻ của người được bảo hiểm cũng như không phụ thuộc vàochi phí thiệt hại có thể xảy ra trong sự cố bảo hiểm, bởi vì không thể xác địnhđược chi phí đó tại thời điểm ký kết hợp đồng

Số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm tối đa của nhà bảo hiểm đối vớingười được bảo hiểm trong những điều kiện nhất định đã được thoả thuận trong hợpđồng bảo hiểm.Theo điều khoản kết hợp về bảo hiểm kết hợp con người ban hành

Trang 24

theo Quyết định số 2962/PHH-97, khách hàng có thể đăng ký tham gia với STBHnhư sau:

- Điều kiện bảo hiểm A:

Ví dụ 2: Khi xét trả tiền bảo hiểm, phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng phát hiện

ông Trần văn A tham gia bảo hiểm tại Bảo Việt theo điều khoản kết hợp về conngười đồng thời hai giấy chứng nhận bảo hiểm với số tiền bảo hiểm như sau:Giấy chứng nhận bảo hiểm 1 Giấy chứng nhận bảo hiểm 2

-Điều kiện A : 6.000.000đ

-Điều kiện B : 20.000.000đ

-Điều kiện C : 1.800.000đ

b).Phí bảo hiểm

Trang 25

*Khái niệm: Một cách đơn giản có thể hiểu phí bảo hiểm là giá cả của sảnphẩm bảo hiểm Đây là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải nộp theo hợpđồng để nhận được sự bảo đảm trước các rủi ro mà người bảo hiểm đã chấp nhận.

*Kết cấu phí:

Phí bảo hiểm gồm hai phần chính là phí thuần và phụ phí

-Phí thuần là phần phí thu cho phép người bảo hiểm chi trả tiền bồi thường khi

có sự bảo hiểm xảy ra cho người được bảo hiểm

-Phí thuần được xác định bởi hai yếu tố chính:Tần suất xuất hiện tổn thất vàchi phí trung bình về bồi thường của người bảo hiểm / một tổn thất.Những yếu tốtrên chỉ đúng đắn khi chúng là kết quả thu được từ việc thống kê một số lường lớncác rủi ro cùng loại Đây chính là sự kết hợp khéo léo giữa nguyên tắc số đông vànguyên tắc sàng lọc trong hoạt động bảo hiểm

-Phụ phí là khoản phí thu cho phép người bảo hiểm bảo đảm các phí cần thiếttrong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đó là các chi phí như:

+Chi phí đề phòng hạn chế tổn thất

+Chi lương

+Chi thuế

+Chi tuyên truyền quảng cáo

+Chi khấu hao tài sản cố định

+Chi lập quỹ dự trữ

*Một nhóm khách hàng khác nhau, ở độ tuổi khác nhau, tham gia những điềukiện bảo hiểm khác nhau thì có xác suất rủi ro khác nhau, do đó mức phí đóng gópcũng khác nhau.Trong bảo hiểm kết hợp con người ,biểu phí được quy định theotừng điều kiện bảo hiểm, từng nhóm tuổi cụ thể và được tính theo tỷ lệ phần trămcủa số tiền bảo hiểm Đối với hợp đồng tập thể, nhóm tuổi làm cơ sở tính phí đượclấy theo tuổi bình quân của các thành viên trong tập thể đó

Trang 26

(Nguồn văn phòng bảo hiểm HBT)

Ghi chú: Phí bảo hiểm tính cho một người / năm theo tỷ lệ% trên STBH

Trường hợp khách hàng có yêu cầu tham gia bảo hiểm kết hợp con người ngắnhạn thì áp dụng biểu phí ngắn hạn như sau:

(Nguồn : Văn phòng bảo hiểm HBT)

* Để khuyến khích khách hàng tham gia với số lượng lớn, Bảo Việt quy địnhgiảm phí đối với những hợp đồng tập thể lớn, cụ thể:

-Hợp đồng tập thể từ 100-500 thành viên thì giảm10% tổng số phí

-Hợp đồng tập thể từ trên 500 thành viên thì giảm15 % tổng số phí

Trang 27

Ví dụ 3:Giả sử công ty A có 400 thành viên tuổi trung bình là 38 tuổi, có nhucầu tham gia bảo hiểm theo điều khoản bảo hiểm kết hợp con người với số tiền bảohiểm theo điều kiện bảo hiểm A là:5.000.000đ, điều kiện bảo hiểm B là:10.000.000đ

và điều kiện bảo hiểm C là: 5.000.000đ từ ngày 01/01/2000 đến ngày 01/01/20001.Phí bảo hiểm công ty A phải đóng trong 1 năm là:

=400 người x ( 0.29% x5.000.000đ/ người) + (0,28 x 10.000.000đ/ người)+(0,4% x 5.000.000đ/người) 

=400 x (14.500đ/ người +28.000đ/người +20.000 đ/người)

rõ thời gian và số phí phải nộp trong từng thời kỳ của hợp đồng bảo hiểm

Ví dụ 4:Trở lại ví dụ 3, nếu công ty X yêu cầu đóng phí bảo hiểm làm 2 kỳ thì:-Số phí công ty A phải đóng kỳ 1 vào ngày 01/01/2000 là:

F1 = 22.500.000đ x 60% =13.500.000đ

-Số phí công ty A phải đóng kỳ 2 vào ngày 01/7/2000 là :

F2 =22.500.000đ x 40% = 9.000.000đ

4.Hợp đồng và hiệu lực bảo hiểm

a)Hợp đồng bảo hiểm

Cũng như mọi hợp đồng bảo hiểm thông thường khác, hợp đồng bảo hiểm kếthợp con người là một bản cam kết trách nhiệm giữa người bảo hiểm và người thamgia bảo hiểm,trong đó bao gồm các điều khoản mà 2 bên đã thoả thuận cùng với vănbản pháp lý trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm là những thông tin về người tham gia,người được bảo hiểm, những thoả thuận về số tiền bảo hiểm , phí bảo hiểm , điều

Trang 28

kiện bảo hiểm và thời hạn bảo hiểm cùng quy định về trách nhiệm của các bên

có liên quan

b) Thủ tục ký kết hợp đồng:

Khi có nhu cầu tham gia bảo hiểm kết hợp con người, các cá nhân hoặc tập thểphải điền vào giấy yêu cầu bảo hiểm( theo mẫu có sẵn của Bảo Việt) Một trongnhững tính chất của bảo hiểm là tính trung thực, do đó trong giấy yêu cầu tham giabảo hiểm kết hợp con người khách hàng phải kê khai một cách chính xác và trungthực những thông tin cần thiết về người tham gia, người được bảo hiểm ( như họtên,tuổi, địa chỉ,thể trạng sức khoẻ, tiền sử bệnh án đã tham gia bảo hiểm kết hợpcon người chưa và số tiền bảo hiểm cho mỗi điều kiện là bao nhiêu ) cũng nhưyêu cầu về thời hạn bảo hiểm ,phạm vi và mức trách nhiệm giới hạn cho mỗi điều

kiện bảo hiểm Bảo Việt sẽ ký hợp đồng bảo hiểm với các cá nhân,tập thể đó( trường hợp là tập thể thì kèm theo danh sách cá nhân được bảo hiểm và Bảo Việt

sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng cá nhân )

Sau khi nhận giấy yêu cầu của khách hàng, công ty bảo hiểm phải xem xét cácyêu cầu của khách hàng một cách kỹ lưỡng cả về khía cạnh kinh tế và pháp lý.Thông thường trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm, nhà bảo hiểm phảitrực tiếp tiến hành giám định đối tượng bảo hiểm và đánh gía rủi ro trước khi nhậnbảo hiểm Nhưng trong bảo hiểm con người ,công tác giám định và đánh già rủi rorất khó thực hiện.Nhà bảo hiểm hầu như tin tưởng tuyệt đối vào sự trung thực và sự

tự giác của người tham gia bảo hiểm Sau khi tiến hành bàn bạc và thoả thuận vớikhách hàng, nhà bảo hiểm sẽ quyết định từ chối hay ký kết hợp đồng bảo hiểm Sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết, người tham gia phải tôn trọng và tuânthủ theo những điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng( nhất là về thời hạn nộpphí)

c)Hiệu lực bảo hiểm

*Điều kiện bảo hiểm A:Hợp đồng có hiệu lực sau 30 ngày từ ngày đóng phí bảohiểm

Trang 29

*Điều kiện bảo hiểm B: Hợp đồng bảo hiểm có hiệu ngay sau khi người thamgia đóng phí bảo hiểm theo quy định.

*Điều kiên bảo hiểm C:Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực ngay sau thời gian chờdưới đây:

-30 ngày đối với trường hợp ốm đau, bệnh tật

-90 ngày đối với trường hợp sảy thai, cần thiết phải nạo thai chỉ định của bác sỹ,lấy u nang buồng trứng, điều trị thai sản

-270 ngày đối với trường hợp sinh đẻ (không áp dụng đối hợp đồng bảo hiểm có

d) Sửa đổi bổ sung

Trong quá trình hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực nếu khách hàng có yêu cầu sửađổi bổ sung như thêm bớt số người được bảo hiểm, mở rộng hoặc thu hẹp điều kiệnbảo hiểm, thì phải thông báo cụ thể bằng văn bản cho người bảo hiểm Công ty sẽđiều chỉnh phí và tính toán phần phí phải thu thêm hoặc phải trả lại khách hàng

Trang 30

e) Huỷ bỏ hợp đồng

Trong quá trình hợp đồng có hiệu lực, nếu 1 trong 2 bên muốn bỏ hợp đồng donhững lý do nào đó như: không thoả mãn điều kiện phía bên kia đưa ra, bớt số thànhviên trong công ty (đối hợp đồng bảo hiểm tập thể) thì phải thông báo bằng văn bảncho bên kia biết trước 30 ngày kể từ ngày định huỷ bỏ Nếu hợp đồng được thoảthuận huỷ bỏ, Bảo Việt sẽ hoàn trả 80% phí bảo hiểm của thời gian còn lại với điềukiện tới thời điểm đó, hợp đồng bảo hiểm đó chưa có lần nào được Bảo Việt chấpnhận trả tiền Sở dĩ chỉ trả lại 80%phí vì trong quá trình chuẩn bị và ký kết hợp đồngbảo hiểm Bảo Việt phải tốn kém một chi phí nhất định (chi quản lý, chi hànhchính )

5 Quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm

a) Quyền lợi của người được bảo hiểm

Khách hàng tham gia bảo hiểm kết hợp con người với mục đích sẽ nhận được sựbảo đảm về tài chính khi gặp rủi ro gây tổn thất đến sinh mạng, sức khoẻ và khảnăng hoạt động của họ Đó chính là quyền lợi của người được bảo hiểm, quyền lợi

đó được quy định cụ thể theo từng điều kiện bảo hiểm như sau:

* Điều kiện bảo hiểm A:

Trường hợp người được bảo hiểm chết do ốm đau, bệnh tật, Bảo Việt sẽ trả toàn

bộ số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc hợp đồng bảo hiểm

*Điều kiện bảo hiểm B:

-Trường hợp người được bảo hiểm chết thuộc phạm vi bảo hiểm (do tainạn), Bảo Viết sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểmhoặc hợp đồng bảo hiểm

-Trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật thân thể do tai nạn thuộc phạm

vi bảo hiểm, Bảo Việt trả tiền bảo hiểm theo bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thường tậtban hành kèm theo Quyết định số 05/ TCBH ngày 02/01/1993 của bộ tài chính

Trang 31

- Trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật thân thể do tai nạn thuộcphạm vi bảo hiểm, trong vòng 1 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, người được bảo hiểmchết do hậu quả tai nạn đó, Bảo Việt sẽ trả phần chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm ghitrong hợp động hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm với số tiền đã trả trước đó.

*Điều kiện bảo hiểm C:

Trường hợp người được bảo hiểm phải nằm viện thuộc phạm vi bảohiểm,BảoViệt trả tiền trợ cấp cho người được bảo hiểm trong thời gian nằm điều trịnhư sau:

- 10 ngày đầu tiên: trả 0,3% số tiền bảo hiểm / ngày

- 20 ngày tiếp theo :trả 0,2% số tiền bảo hiểm / ngày

- 30 ngày tiếp theo: trả 0,15% số tiền bảo hiểm / ngày

Số ngày trợ cấp nằm viện trong năm được tính liên tục không phụ thuộc số lầnnằm viện và không quá 60 ngày/năm bảo hiểm Trường hợp tham gia bảo hiểmngắn hạn( dưới 1 năm) quyền lợi bảo hiểm nói trên sẽ được tính theo tỷ lệ giữa sốtháng tham gia bảo hiểm 12 tháng

Ví dụ : Chị A tham gia bảo hiểm kết hợp con người với số tiền bảo hiểm chođiều kiện C là 10.000.000đ,thời hạn từ 01/01/2000 đến 01/10/2000 (9 tháng) Trongthời hạn hiệu lực bảo hiểm , chị B ốm đau phải nằm viện điều trị 2 lần với thời giannằm viện lần 1 là 12 ngày và lần 2 là 50 ngày.Số tiền trợ cấp chị A nhận là:

(Số ngày nằm viện tối đa không quá 60 ngày/ năm bảo hiểm )

- Trường hợp người được bảo hiểm phải phẫu thuật thuộc phạm vi bảo hiểm Bảo Việt trả tiền trợ cấp theo bảng tỷ lệ trả tiền phẫu thuật như sau:

Trang 32

+Trường hợp tiến hành phẫu thuật bình thường vết mổ không bị nhiễm trùng,không để lại di chứng sau mổ sẽ được trả tương ứng với mức thấp nhất của thang tỷ

lệ trả tiền bảo hiểm quy định cho loại phẫu thuật này

+Trường hợp tiến hành phẫu thuật phức tạp, vết mổ bị nhiễm trùng hoặc sau khiphẫu thuật còn để lại di chứng tuỳ theo mức độ nặng nhẹ được trả cao dần tới mứctối đa của thang tỷ lệ trả tiền bảo hiểm quy định cho loại phẫu thuật này

b) Quyền lợi của nhà bảo hiểm

Đặc trưng của bảo hiểm thương mại là mang tính kinh doanh trên nguyên tắc lấythu bù chi và có lãi Do đó quyền lợi của người bảo hiểm được hưởng là phần chênhlệch giữa tổng thu( thu từ phí và thu khác) với tổng chi ( chi bồi thường, chi quản lý,chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi thuế )

Ngoài ra, các công ty bảo hiểm còn được hưởng phần lợi nhuận do đầu tư cáckhoản vốn tạm thời nhàn rỗi(chưa chi đến) vào các hoạt động kinh doanh khácnhư :gửi ngân hàng, đầu tư mua trái phiếu, chứng khoán, đầu tư bất động sản

6.Thủ tục trả tiền bồi thường

Khi xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc thân nhân của họphải kịp thời áp dụng những biện pháp cần thiết và có thể thực hiện được để cứuchữa nạn nhân, hạn chế bớt tổn thất đồng thời gửi cho Bảo Việt các chứng từ sauđây trong vòng 30 ngày kể từ ngày được bảo hiểm điều trị khỏi hoặc chết:

- Giấy đề nghị trả tiền bảo hiểm

- Giấy chứng nhận hoặc bản sao(trích) danh sách người tham gia bảo hiểm

- Biên bản tai nạn có xác nhận của cơ quan, chính quyền địa phương hoặc công

an nơi người được bảo hiểm bị tai nạn( trường hợp bị tai nạn)

- Các chứng từ y tế: giấy ra vào viện, phiếu điều trị(trường hợp điều trị nội trú),phiếu mổ(trường hợp phẫu thuật)

- Giấy chứng tử và giấy xác nhận quyền thừa kế hợp pháp(trường hợp ngườiđược bảo hiểm chết)

Trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, khi nhận thông báo về ngườiđược bảo hiểm gặp rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm.Công ty bảo hiểm sẽ xem xét các

Trang 33

chứng từ của người được bảo hiểm và sẽ thanh toán bồi thường theo đúng nhữngđiều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm trong vòng 14 ngày kể từ ngàynhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ.

7 Khiếu nại và giải quyết tranh chấp

*Khiếu nại

Nếu người được bảo hiểm hoặc người thừa kế hợp pháp thấy có điều chưa hợp

lý hoặc không thoả đáng trong việc Bảo Việt giải quyết trả tiền bảo hiểm , thì họ chỉ

có thể tiến hành các hoạt động khiếu nại trong vòng 6 tháng kể từ ngày nhận tiềnbảo hiểm hoặc nhận được thông báo kết quả của Bảo Việt Đây là khoảng thời giantối đa cần thiết để người tham gia và thân nhân của họ có thể xem xét, phát hiệnnhững khúc mắc và chuyển bị hồ sơ khiếu nại Về phía nhà bảo hiểm trên nguyêntắc mọi hồ sơ khai thác và bồi thường đều phải được lưu trữ trong một thời gian dàinhất định Nhưng trong vòng 6 tháng từ ngày phát sinh trách nhiệm bồi thường làkhoảng thời gian tối đa để nhà bảo hiểm có thể tìm lại hồ sơ cùng tài liệu chung liênquan để chứng minh tính đúng đắn trong công tác bồi thường của mình Vì vậy quáthời hạn trên mọi khiếu nại đều không có giá trị

*Giải quyết tranh chấp

Mọi tranh chấp liên quan bảo hiểm kết hợp con người nếu không giải quyết đượcbằng thương lượng thì có quyền đưa ra toà án để giải quyết theo pháp luật hiệnhành

Trang 34

pHầN II Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo

hiểm hai bà trưng

i khái quát về phòng bảo hiểm quận hai bà trưng- hà nội

Phòng bảo hiểm Quận Hai Bà Trưng- Hà Nội được thành lập năm 1993 theoquyết định số 52/ QĐ ngày 15/9/1993 của công ty bảo hiểm Hà Nội

Hiện nay, văn phòng có các nghiệp vụ chính như:Bảo hiểm học sinh, bảo hiểmtai nạn, bảo hiểm sinh mạng,bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm hành kháchtrên xe, bảo hiểm vật chất ô tô, nhưng chú trọng nhất là bảo hiểm con người.Trong 8 năm qua, phòng bảo hiểm Quận Hai Bà Trưng đã đại diện cho công tybảo hiểm Hà Nội mở ra nhiều nghiệp vụ bảo hiểm nhằm phục tốt quá trình sảnxuất kinh doanh và đời sống nhân dân trong Quận, đóng góp đáng kể về doanh thuphí bảo hiểm cho công ty.Cụ thể năm 2000 vừa qua, doanh thu của phòng đạt6.887.550.000đồng Để có những kết quả to lớn đó các cán bộ công nhân viêntrong phòng đã hết sức bắng nhiệt tình tự giác và sáng tạo của mình Mặt kháctrong những năm qua văn phòng được sự ủng hộ và giúp đỡ của các bộ,các ngànhtrong thành phố Hà Nội nói chung và các cấp các ngành quản lý quận Hai BàTrưng nói riêng, đặc biệt là giám đốc các cơ quan, đoàn thể và và xí nghiệp Do đó

mà tỷ lệ người tham gia bảo hiểm ngày càng cao, công tác bảo hiểm đã phát huytác dụng tích cực trong hoạt động của các cấp, các ngành và các cơ quan xínghiệp

Trong bối cảnh phức tạp của thị trường bảo hiểm đã có thêm nhiều đối thủcạnh tranh không lành mạnh do luật bảo hiểm chưa được ban hành, Bảo Việt nói

Trang 35

chung và văn phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng nói riêng đã không ít gặp khó khăn.Nhưng do bám sát thị trường, nhạy bén, linh hoạt, không ngừng tự hoàn thiện,khắc phục những tồn tại, nâng cao chất lượng nghiệp vụ, mở rộng địa bàn, pháttriển thêm nhiều nghiệp vụ Năm 2000, văn phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng khôngnhững giữ vững thị trường mà còn những bước tăng trưởng mạnh mẽ và xứngđáng là một phòng đại diện mạnh của công ty bảo hiểm Hà Nội, đáp ứng được cơbản nhu cầu bảo hiểm của các tổ chức kinh tế Nhà nước, tư nhân, người lao độngtrong Quận, góp phần vào phát triển kinh tế, đảm bảo quyền lợi cho người laođộng trong Quận.

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người mặc dù mới triển khai năm

1994 nhưng doanh thu hằng năm vẫn đạt mức cao nhất bởi sự nhạy bén biết pháthuy ưu thế của từng cán bộ phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng

II Một số thuận lợi và khó khăn

Văn phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng có địa bàn hoạt động chủ yếu trong phạm

vi quận Hai Bà Trưng thuộc thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế,vănhoá của cả nước Do đó trong quá trình triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm nóichung và bảo hiểm kết hợp con người nói riêng, lãnh đạo văn phòng luôn chútrọng bám sát địa bàn, mở rộng phạm vi quản lý, chú trọng với việc phân tích, xemxét sự tác động theo các chiều hướng khác nhau của các nhân tố trong khu vực Đó

là cơ sở để văn phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng xây dựng một chiến lược, kế hoạchphát triển kinh doanh, đề ra các giải pháp nhằm phát huy nhân tố và hạn chế ảnhhưởng tiêu cực để nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ

1 Thuận lợi:

Một là: nền kinh tế của đất nước đang có những biến đổi to lớn, việc mở rộng

và phát triển hợp tác các nước trên thị trường trên thế giới đã tạo ra đã tạo ra mộtthị trường bảo hiểm mới phong phú và đa dạng Lĩnh vực bảo hiểm trong nước có

sự xuất hiện của nhiều công ty cổ phần, công ty liên doanh làm cho tình hìnhcạnh tranh trong bảo hiểm ngày càng gay gắt Quận Hai Bà Trưng lại hoạt động ởđịa bàn Thủ đô, là một nơi rất nhanh nhạy với sự thay đổi nói trên Vì vậy, nó đã

Trang 36

tạo một động lực vô hình thúc đẩy phòng bảo hiểm quận Hai Bà Trưng mạnh dạn

và quyết đoán trong mở rộng mối quan hệ hợp tác học hỏi kinh nghiệm, nâng caotrình độ và năng động trong tất cả các khâu, các quy trinh của bảo hiểm kết hợpcon người Chủ trương của phòng là xoá bỏ mọi sự quan liêu trì trệ, thiếu tráchnhiệm trong công tác

Hai là, cùng với sự phát triển các hoạt động kinh tế, đời sống nhân dân thủ đô

ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt Công tác thông tin đại chúng pháttriển mạnh mẽ và đa dạng đã làm cho trình độ dân trí của người dân không ngừngtăng lên, nhận thức của dân chúng về mục đích và ý nghĩa bảo hiểm kết hợp conngười cũng ngày càng hoàn thiện hơn vì thế công tác triển khai nghiệp vụ này tấtnhiên là có nhiều thuận lợi

Ba là, Văn phòng được sự chỉ đạo, theo dõi sát sao đặc biệt là sự hỗ trợ về mặt

tài chính của công ty bảo hiểm Hà Nội và các cơ quan đoàn thể trong địa bàn quậntrong việc tăng cường vật chất,trang thiết bị làm việc hiện đại nên công tác quản lý

và nắm bắt thông tin được kịp thời, giúp cho việc triển khai nghiệp vụ được triểnkhai nhanh chóng

Bốn là,Văn phòng cũng nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương

và ban lãnh đạo các cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận – Thành phố Bên cạnh đócòn có sự cộng tác, phối hợp và giúp đỡ của các ngành hữu quan như cảnh sát giaothông, cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình Trong công tác tuyên truyền vậnđộng nhân dân tham gia bảo hiểm và đề phòng hạn chế tai nạn, phối hợp cùng giảiquyết hậu qủa rủi ro và phân chia trách nhiệm giữa các bên

2.Khó khăn

-Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế thị trường tuy có tác động tíchcực nhưng lại tạo ra sự phân hoá sâu sắc giữa các tầng lớp nhân dân, để lại khoảngcách giàu nghèo khá lớn Một bộ phận dân chúng nhất là tầng lớp nông dân, cán

bộ nhân viên chức thu nhập còn thấp nên cuộc sống chưa hết khó khăn dẫn tớiviệc nhiều gia đình do điều kiện tài chính hạn hẹp nên chưa tham gia bảo hiểm.Lượng người từ các tỉnh đổ về thành phố ngày càng đông, đây là gánh nặng không

Ngày đăng: 26/03/2013, 17:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng phí bảo hiểm - Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng
Bảng 1 Bảng phí bảo hiểm (Trang 26)
Bảng 11: Hiệu quả kinh doanh phòng Hai bảo hiểm Bà Trưng - Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp con người tại phòng bảo hiểm Hai Bà Trưng
Bảng 11 Hiệu quả kinh doanh phòng Hai bảo hiểm Bà Trưng (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w