1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng

81 395 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Công Tác Xuất Khẩu Tại Công Ty Dệt Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Anh Dũng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng

Trang 1

Phần Một Lời nói đầu

Một trong những lĩnh vực không thể thiếu giúp cho nền kinh tế có được

một tốc độ phát triển nhanh và ổn định đó là phát triển ngành sản xuất công

nghiệp Việt Nam với nền tảng phát triển là một nền nông nghiệp lạc hậu, cơ sở

hạ rong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đã buộc chúng ta phải đẩy

nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất tầng thấp kém, cộng thêm áp

lực dân số thì những ngành có hàn lượng khoa học kỹ thuật thấp như ngành

công nghiệp nhẹ trong công nghiệp chế biến mà đặc biệt là công nghiệp dệt

may

Thực tế trong những năm vừa qua, đã khảng định vị thế của ngành Dệt

may Việt Nam, là một trong những ngành xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ

chủ yếu cho quá trình công nghiệp hoá đất nước Ngành dệt may cũng là một

trong những ngành đạt chỉ tiêu tổng kim ngạch trên một tỷ USD của Việt Nam là

ngành đứng thứ hai về tổng kim ngạch xuất khẩu trong những năm qua Tuy

nhiêm, cùng với sự phát triển đi lên của ngành dệt may thì những doanh nghiệp

trong nước tham gia vào hoạt động xuất khẩu trong đó có công ty Dệt Hải Phòng

cũng bộc lộ không ít những khuyết điểm mà trong thời gian tới cần có biện

pháp khác phục

Trong quá trình thực tập, tìm hiểu hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá tại

Công Ty Dệt Hải Phòng với sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo, các phòng ban trong

Công ty, cùng với sự nghiên cứu nghiệp vụ có chọn lọc cũng như ý muốn đóng

góp một phần nhỏ kiến thức của mình vào giải quết những khó khăn trong công

ty, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công

tác xuất khẩu tại Công Ty Dệt Hải Phòng ” với kết cấu của luận văn bao gồm

Deleted: đến nay, nền kinh tế nước ta

đang từng bước chuyển mạnh sang công nghiệp hoá, xây dựng một nền kinh tế

mở, hội nhập khu vực và thế giới.Việc cam kết thực hiện CEPT/AFTA với tư cách là một thành viên của ASEAN, trở thành thành viên chính thức của APEC tháng 11/1998 cũng như việc sẽ là thành viên của WTO trong tương lai và việc ký kết đàm phán hiệp định thương mại Việt-

Mỹ sắp tới Mối quan hệ thương mại này, bao giờ cũng mang tính cạnh tranh gay gắt, vừa là cơ hội vừa là thách thức Đó là khả năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ đáp ứng đủ nhu cầu trước sức ép cạnh tranh của các nước có nền công nghiệp tiên tiến trong khu vực và trên thế giới ả Xét trên góc độ Ngành Dệt May Việt Nam, với sự nỗ lực cố gắng của các doanh nghiệp, ước tính năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt-May có thể đạt tới mức kỷ lục mới là 1,7 tỷ USD, đạt ngôi á quân về kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên sau nhiều năm phấn đấu mới chỉ đạt 30%, mà theo đánh giá của Bộ Công Nghiệp, nếu có thị trường xuất khẩu có thể đạt tới 2,5 - 2,7 tỷ $ Đành rằng về phương diện công nghệ và thiết bị có tới 2/3 doanh nghiệp Dệt -May Việt Nam có thể sánh ngang với các nước trong khu vực Do đó Ngành Dệt May nói chung cũng như Công Ty Dệt Hải Phòng nói riêng thực hiện thành công chiến lược thị trường, có đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài cùng loại ả

Lộ trình Việt Nam tham gia vào AFTA, APEC và WTO, là một cơ hội cũng như thách thức lớn mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trong đó có Công Ty Dệt Hải Phòng

Deleted: nước

Deleted: trong công tác ả

Trang 2

Ch−¬ng II : Thùc tr¹ng xuÊt khÈu t¹i C«ng Ty DÖt H¶i Phßng

Ch−¬ng III: Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ xuÊt khÈu t¹i C«ng Ty

Trang 3

I vai trò của hoạt động xuất khẩu

1 vị trí của hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp

uất khẩu là việc cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Cơ sở của hoạt

động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá (Bao

gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước Như vậy,Xuất khẩu

là hoạt động tiêu thụ hàng hoá nhưng nó vượt qua khỏi biên giới quốc gia

Đứng trên góc độ của quá trình sản xuất kinh doanh thì xuất khẩu là một

khâu quan trọng và là mục tiêu của sản xuất kinh doanh Xuất khẩu làm tăng

hiệu quả của sản xuất kinh doanh, nếu tổ chức tốt sẽ kích thích sản xuất góp

phần làm phát triển doanh nghiệp Trong quá trình vận động của vốn (tiền) xuất

khẩu cũng như tiêu thụ vừa là giai đoạn cuối cùng vừa là giai đoạn kết thúc của

quá trình tái sản xuất này để tiếp tục vận động sang một quá trình sản xuất khác

trong vòng tuần hoàn vốn

Deleted: trong công tác ả

Trang 4

ở tầm vĩ mô : Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc

đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước còn tạo điều kiện môi trường pháp lý thuận lợi

cho các doanh nghiệp hoạt động bằng các chính sách khuyến khích như: chính

sách đầu tư, chính sách ưu đãi, các hàng rào thuế quan, phi thuế quan thông

qua đó để điều tiết các ngành kinh tế mũi nhọn góp phần vào công cuộc Hiện đại

hoá đất nước

2 vai trò của xuất khẩu

- Xuất khẩu là một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội và có các chức

năng chủ yếu sau:

+ Tạo vốn cho quá trình đầu tư trong nước bởi xuất khẩu tạo ra nguồn thu

ngoại tệ chủ yếu cho quốc gia

+ Chuyển hoá giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu giá trị sử dụng của tổng

sản phẩm xã hội

+ Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường

thuận lợi cho sản xuất kinh doanh

- Xuất khẩu thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá từ trong nước sang

các nước khác và có vai trò chủ yếu sau:

+ Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá đất

nước Trong nền kinh tế mở, xuất khẩu còn được sử dụng như một công cụ thúc

đẩy quá trình liên kết kinh tế ở trong nước và nước ngoài, thúc đẩy sự tăng

trưởng của nền kinh tế nội bộ trong nước thông qua các hoạt động xuất khẩu

+ Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất

nước: vốn, việc làm, sử dụng tài nguyên có hiệu quả ở nước ta hiện nay, nền

kinh tế còn lạc hậu việc xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên thô hoặc qua sơ chế và

Deleted: vật chất

Deleted: nhiệm vụ

Trang 5

chủ yếu là các mặt hàng mang tính lao động thuần tuý như các sản phẩm dệt

may, thủ công mỹ nghệ

+ Đảm bảo sự thống nhất giữa nền kinh tế và chính trị trong hoạt động

xuất khẩu Nền kinh tế quốc tế cũng như nền kinh tế ở mỗi nước vận động theo

nhiều xu hướng chung và cũng có nhiều lợi ích giống nhau, song cũng có những

tiềm năng và những xu hướng bất ổn, cho nên sức mạnh của một nền kinh tế nền

tảng phải là sự độc lập chủ quyền an ninh quốc gia Đối với nước ta cần phát huy

hết lợi thế có sẵn và tạo ra những chỗ đứng mới trên những thị trường ổn định

Công tác xuất khẩu liên quan đến nhu cầu thị trường, tập quán tiêu dùng

trong và ngoài nước cũng như các chính sách thuế quan, phi thuế quan của nhà

nước ở các mức độ khác nhau trong đó gồm:

1.các nhân tố khách quan

1.1 Yếu tố cung cầu của thị trường

ở mỗi thị trường nhu cầu sản phẩm thường rất khác nhau về chất lượng,

quy cách cũng như mẫu mã Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi muốn thâm

nhập vào thị trường nào cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm tiêu dùng của thị

trường đó

Vi dụ: Nhật Bản được coi là một trong những nước trên thế giới đòi hỏi

chất lượng sản phẩm cao nhất, gồm cả độ bền và khả năng hoạt động Thị hiếu

của người tiêu dùng chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống và điều kiện của Nhật

Bản Đây là yếu tố quan trọng trong việc quyết định tiêu dùng sản phẩm hàng

hoá Do khủng hoảng kinh tế gần đây nên người tiêu dùng Nhật Bản thích mua

hàng hoá có giá trị hợp lý.Tuy nhiên xét về mặt chất lượng hàng hoá tiêu dùng

thì người Nhật Bản đòi hỏi cao nhất trên thế giới

Deleted: quá trình

Deleted: Căn cứ vào từng chủ

thể tham gia nhất định mà có thể chia thị trường thế giới thành: thị trường quốc tế khu vực, thị trường trong từng tổ chức kinh tế quốc tế (thị trường EU, thị trường các nước ASEAN ) M

Trang 6

Sau khi nắm vững các thói quen, tập quán tiêu dùng ở mỗi thị trường

doanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh một cách hoàn hảo Thị trường ở

mỗi nước có thể biến động tuỳ theo thu nhập của người dân, tập quán, thị hiếu

tiêu dùng cũng như những biến động ở từng thời kỳ

1.2 Yếu tố về hàng rào thuế quan, phi thuế quan

Thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá khi qua cửa khẩu của

một nước.Trên thực tế khi đánh thuế có hai mục đích: có thể là mục đích tài

chính và cũng có thể là mục đích bảo hộ.Cả hai mục đích này đều có ảnh hưởng

to lớn đến việc xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp vào một nước khác

Thuế quan tài chính thông thường đánh vào những hàng hoá xuất khẩu có

lợi nhuận cao hay những hàng hoá không được khuyến khích

Thuế quan bảo hộ chủ yếu đánh vào những hàng hoá nhập khẩu, làm tăng

giá của hàng nhập để hàng hoá trong nước có ưu thế hơn về giá cả so với đối thủ

cạnh tranh.Thuế quan bảo hộ là công cụ sắc bén tạo điều kiện thuận lợi cho các

doanh nghiệp trong nước tăng nhanh sản xuất

Khi nhà nước tăng thuế nhập khẩu, thông thường sẽ làm cho khối lượng

hàng hoá nhập khẩu giảm do giá hàng tăng hạn chế tiêu dùng Nhưng trong một

số trường hợp sẽ làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tăng lên mà số lượng

hàng nhập khẩu lại không giảm, và ngược lại

Khi thuế suất xuất khẩu tăng sẽ hạn chế xuất khẩu do giá bán hàng hoá ra

thị trường cao không đủ sức cạnh tranh với hàng nước khác.Biện pháp này nhà

nước thường áp dụng với những hàng hoá không khuyến khích xuất khẩu và

ngược lại

Trên thực tế, thuế quan bảo hộ không phải bao giờ cũng có tác dụng hạn

chế nhập khẩu Cho nên ngoài biện pháp đó nhà nước còn dùng các biện pháp

Trang 7

phi thuế quan khác để hạn chế nhập khẩu, chúng gồm:

+ Quản lý hàng nhập khẩu bằng hạn ngạch: Biện pháp này nhằm chống lại

những nhà sản xuất lớn có khả năng cạnh tranh cao, nhằm ngăn chặn hàng nhập

khẩu từ nước ngoài vào để bảo vệ thị trường trong nước hoặc nhằm cân bằng cán

cân thanh toán, hoặc làm công cụ mặc cả trong các cuộc thương lượng, cũng có

thể dùng để hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng mang tính chiến lược của nền

kinh tế xã hội Ví dụ: như gạo ở Việt Nam hiện nay

+ Giấy phép nhập khẩu: Tính chất kín đáo và bí mật của giấy phép cũng

như thủ tục cấp giấy phép của chính quyền nhà nước cũng tạo khả năng hạn chế

nhập khẩu nhằm bảo hộ hàng trong nước

+ Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu khác: Bên cạnh những biện pháp

hạn chế nhập khẩu trực tiếp, Nhà nước còn dùng một số biện pháp gián tiếp

nhằm ngăn cản việc nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài như: Biện pháp về vệ

sinh thú y, vệ sinh thực phẩm, hoặc các tiêu chuẩn về kỹ thuật như tiêu chuẩn về

kích thước, bao bì, những tiêu chuẩn về môi trường sinh thái

Các yếu tố về thuế quan, phi thuế quan có ảnh hưởng rất lớn đến việc xuất

khẩu của một doanh nghiệp vào một thị trường nước ngoài, cho nên trước khi

thâm nhập hàng hoá vào một thị trường nào doanh nghiệp cần phải nghiên cứu

kỹ chính sách thuế quan, phi thuế quan của nước đó

1.3 Tín dụng xuất khẩu

Tín dụng xuất khẩu tức là nhà nước dành cho người nước ngoài những

khoản tín dụng để mua hàng nước mình Nhà nước không chỉ trực tiếp can thiệp

vào thị trường tín dụng mà còn tạo điều kiện tín dụng xuất khẩu ưu đãi hơn so

với điều kiện tín dụng trong nước Điều đó làm khả năng xuất khẩu của các

doanh nghiệp trong nước tăng lên Ngoài ra, Nhà nước đảm bảo gánh vác mọi rủi

ro đối với khoản tín dụng mà doanh nghiệp xuất khẩu nước mình dành cho nhà

Deleted: mục đích

Deleted: trong công tác ả

Trang 8

nhập khẩu nước ngoài Đây là phương tiện quan trọng đẩy mạnh việc tiêu dùng

hàng hoá ở thị trường nước ngoài Nó làm cho nhà xuất khẩu yên tâm và mở

rộng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mà không sợ gặp sự rủi ro

1.4 Yếu tố về tỷ gía hối đoái

Trong tình hình nền kinh tế mở cửa, các mối quan hệ kinh tế ngày càng

rộng thì việc thanh toán không chỉ là đơn vị tiền tệ trong nước mà còn phải sử

dụng nhiều loại ngoại tệ khác nhau, từ đó phát sinh nhu cầu tất yếu phải so sánh

giá trị, so sánh sức mạnh đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ, đó là tỷ giá hối

đoái Như vậy, tỷ giá hối đoái dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về

giá cả giữa các đồng tiền một nước được biểu hiện qua đơn vị tiền tệ của nước

khác Do đó hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng rất lớn của tỷ giá hối đoái Ví

dụ như khi tỷ giá hối đoái tăng nghĩa là giá trị đồng nội tệ giảm so với đồng

ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu và ngược lại khi tỷ giá

hối đoái giảm thì sẽ tăng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu

2.1 Năng lực tổ chức và trình độ cán bộ làm xuất khẩu:

Đây là một yếu tố rất quan trọng có tính quyết định rất lớn trong quá trình

nâng cao doanh thu bán hàng cũng như tìm kiếm lợi nhuận, nó bao gồm các

khâu tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, chính sách bán hàng

Trình độ của cán bộ làm công tác xuất khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệp

giảm các rủi ro trong quá trình thực hiện các công tác đàm phán ký kết hợp

đồng, cũng như tác nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng Thực tế hiện nay

trong một số doanh nghiệp đội ngũ cán bộ làm công tác tác nghiệp vừa yếu cả về

chuyên môn lẫn ngoại ngữ, nên điều dễ hiểu là nhiều hợp đồng xuất nhập khẩu

của các doanh nghiệp Việt Nam ký với nước ngoài bị rất nhiều sơ hở, yếu kém

Tỷ giá hối đoái thực tế có mục đích điều chỉnh mức lạm phát và để phản ánh những biến đổi thực tế trong khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của một quốc gia ả

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được thông báo trên các phương tiện thông tin

đại chúng hay do ngân hàng công bố.ả

Để khuyến khích xuất khẩu nhà nước có thể dùng chính sách phá giá hối đoái làm cho giá bán ở thị trường nước ngoài có thể thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh, do vậy mà đẩy mạnh xuất khẩu, và nhà xuất khẩu sẽ thu được lợi nhuận ngoài ngạch cao hơn.ả

Page Break

Deleted: yếu

Deleted: việc

Trang 9

làm thua thiệt cho phía Việt Nam Chính vì vậy, việc tổ chức và nâng cao trình

độ của cán bộ làm công tác xuất khẩu rất cần thiết cho các doanh nghiệp

2.2./ Công nghệ và thiết bị công nghệ

Công nghệ bao gồm cả công tác công nghệ và phương tiện kỹ thuật được

ký kết với nhau theo hình thức thích hợp, trong đó máy móc thiết bị kỹ thuật là

phương tiện kỹ thuật để thực hiện phương pháp công nghệ

Dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị ảnh hưởng rất lớn tới cơ cấu

của sản xuất, đồng thời nó quyết định tới chất lượng sản phẩm và việc thay đổi

cải tiến sản phẩm Ngoài ra nó còn thúc đẩy việc tăng năng suất lao động Khi

máy móc thiết bị của doanh nghiệp hiện đại, phù hợp với năng lực hiện có của

mình thì sẽ làm cho hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và ngược lại với

trường hợp máy móc thiết bị lạc hậu hoặc quá hiện đại không thể áp dụng sẽ làm

cho hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được Như vậy có thể kết luận là trình

độ và khả năng công nghệ là một loại vũ khi sắc bén để thành công trong cạnh

tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường Một dây chuyền công nghệ và

máy móc thiết bị lạc hậu không thể sản xuất được những sản phẩm có chất lượng

cao, có nhiều tính năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường

2.3./ Trình độ lành nghề và bậc thợ của công nhân

Trình độ tay nghề của công nhân phản ánh tính chất chuyên môn hoá,

trình độ thành thạo nghề nghiệp Nếu trình độ người làm công tác xuất khẩu kém

sẽ làm cho doanh nghiệp thua thiệt trong đàm phán ký kết hợp đồng cũng như

thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp Không những thế nếu

trình độ nghề nghiệp của công nhân cao hơn mức yêu cầu của công việc được bố

trí sẽ gây lãng phí trong việc sử dụng lao động, và ngược lại sẽ ảnh hưởng đến

năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Cho nên vấn đề đặt ra cho các doanh

nghiệp là phải bố trí được một cơ cấu lao động tối ưu nhằm sử dụng có hiệu qua

nguồn lao động đồng thời phải thường xuyên tổ chức công tác đào tạo tay nghề

Deleted: ,

Deleted: .

Deleted: trong công tác ả

Trang 10

cho cán bộ công nhân viên, và luôn luôn coi đó là nhiệm vụ thường xuyên của

mọi doanh nghiệp

2.4./ Giá sản phẩm

Giá sản phẩm là biểu hiện tổng hợp của nhiều mối quan hệ kinh tế trên thị

trường (Vấn đề cung cầu, lưu thông tiền tệ) Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm

ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng hàng hoá xuất khẩu và lợi nhuận của các doanh

nghiệp Muốn có một sản phẩm có giá trị cạnh tranh tốt đồng thời có lợi nhuận

phù hợp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một giá bán thích hợp với thị trường

Muốn xác định giá bán này doanh nghiệp phải căn cứ vào giá bình quân của giá

thị trường, giá đó được tính như sau:

Nếu giá bán cao hơn giá bình quân của thị trường thì sản phẩm - hàng hoá có thể bán được với số lượng ít thậm chí không bán được một sản phẩm nào Nếu bán với giá thấp hơn giá bình quân thì lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm xuống hoặc không có lợi nhuận ( lỗ vốn) Từ đó ta thấy muốn bán giá thấp hơn mà không ảnh hưởng tới lợi nhuận, doanh nghiệp phải tăng doanh số bán hàng, ngoài ra phải phấn đấu giảm chi phí các yếu tố đầu vào như tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động, hạn chế phế phẩm, hoàn thiện bộ máy quản lý, thay đổi quy trình công nghệ Sản lượng bình quân Sản lượng Giá bình quân C ung C ầu giá Deleted: , c Deleted: ả Page Break Deleted: giá cầu

cung

Deleted: c

Deleted: c

Deleted: giá bình quân

Deleted: Sản lượng bình quân Sản lượng

Deleted: giá

Deleted: thị trường

Trang 11

- Chất lượng hàng hoá và mẫu mã sản phẩm được người tiêu dùng rất quan

tâm tuỳ thuộc vào thị trường mỗi nước Các loại mẫu mã và chất lượng sản phẩm

tuỳ thuộc vào tập quán người tiêu dùng theo lứa tuổi

Do mức thu nhập bình quân ở mỗi nước là rất khác nhau nên thông thường

ở các nước càng phát triển thì sự đòi hỏi về mẫu mã, chất lượng càng cao và càng

khắt khe

2.5./ Các biện pháp về hỗ trợ xuất khẩu

Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu bao gồm các hoạt động quảng cáo khuyết

trương, tiếp thị thông qua phương tiện thông tin đại chúng, hội chợ triển lãm

Đây thực sự là một hoạt động rất cần thiết để mở rộng thị trường xuất khẩu

Thực chất của hoạt động này là tạo ra và sắp xếp các mối quan hệ trong kinh

doanh vào một hệ thống đồng thời giải quyết các mối quan hệ đó, kích thích

động viên người tiêu dùng mua hàng Làm tốt công việc này doanh nghiệp sẽ

đem lại :

+ Thế lực trong kinh doanh, tạo nhu cầu mới, tạo uy tín cho sản phẩm đối

với người tiêu dùng

+ Tăng doanh số bán hàng, giảm lượng hàng hoá tồn kho, ứ đọng không

cần thiết

+ Hỗ trợ công tác bán hàng xuất khẩu

+ Kích thích nhu cầu tiêu dùng

III nội dung hoạt động xuất khẩu

1./ nghiên cứu thị trường

Trong kinh doanh nói chung không thể tách sản xuất với lưu thông vì hai

khâu này gắn liền với nhau, thúc đẩy nhau phát triển, một khâu trong quá trình

Deleted: , mà

Deleted: lại

Deleted: cũng như phù hợp cho từng lứa

Deleted: Page Break

Deleted: tìm hiểu

Deleted: trong công tác ả

Trang 12

kinh doanh bị ách tắc sẽ gây cản trở đối với các khâu khác trong cả một hệ

thống Một trong những nguyên nhân làm cho sản phẩm hàng hoá bị ứ đọng là

do giá thành cao, chất lượng kém, giá cả không được người mua chấp nhận

Theo nhiều nhà kinh doanh có kinh nghiện thì ngay trong quá trình xây dựng kế

hoạch sản xuất sản phẩm thì cũng đồng nghĩa với việc tiến hành nghiên cứu thị

trường để khi hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ một cách thuận lợi Như vậy

không những phải tìm hiểu thị trường trong nước mà còn phải mở rộng ra nghiên

cứu thị trường nước ngoài

1.1./ Các phương pháp nghiên cứu thị trường nước ngoài

Khi nghiên cứu thị trường cần phải sử dụng những phương pháp thích hợp

cũng như những cán bộ có năng lực và thích hợp với chuyên ngành của họ Có

thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng có hai phương pháp chủ yếu đó

là phương pháp nghiên cứu thị trường nước ngoài thông qua nghiên cứu tại bàn

làm việc và phương pháp nghiên cứu trực tiếp trên thị trường nước ngoài

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn làm việc là việc nghiên cứu thông qua

các phương tiện thông tin đại chúng như sử dụng các loại báo chí, tạp chí, các

loại ấn phẩm thường là các tạp chí kinh tế xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ,

các loại sách chuyên khảo, các bản thống kê, các thông báo của các công ty môi

giới Phương pháp này có ưu thế là chi phí thấp, tiết kiệm thời gian nhưng thông

tin không cập nhập, dễ làm mất cơ hội trong kinh doanh

- Nghiên cứu trực tiếp ở thị trường nước ngoài là cách nghiên cứu ngay tại

thị trường tiêu thụ sản phẩm Đây là phương pháp nghiên cứu rất phức tạp và tốn

kém nhưng nó lại là phương pháp mang lại hiệu quả thiết thực nhất, mang lại

thông tin cập nhập, giúp cho doanh nghiệp có thể chớp cơ hội để thành công

trong cạnh tranh Bởi nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với thị trường có thể tạo được

các quan hệ trực tiếp với người mua hàng, bán hàng tìm hiểu và mua các mẫu

hàng về để nghiên cứu sản xuất, xuất khẩu

Trang 13

Ngoài ra các doanh nghiệp còn sử dụng các phương thức bán thử để tìm

hiểu tình hình thị trường hàng hoá, qua đó người xuất khẩu có điều kiện nghiên

cứu toàn diện Phương pháp này sẽ tạo thuận lợi lâu dài nếu tìm được thị trường

Sau khi bán thử, thu thập thông tin về hàng của mình, cải tiến để xuất khẩu lớn

hơn, phù hợp hơn

1.2./ Các hình thức tổ chức nghiên cứu thị trường nước ngoài

Trong công cuộc đổi mới cơ chế quản lý ở nước ta, việc đổi mới cơ chế

xuất nhập khẩu là một hướng đi đúng đắn và quan trọng, việc nghiên cứu thị

trường thế giới thể hiện sự hiểu biết về quy luật vận động của nó Quy luật này

thể hiện qua những biến đổi về nhu cầu, cung ứng giá cả hàng hoá cụ thể trên thị

trường Việc hiểu biết về quy luật của thị trường hàng hoá là để giải quyết những

vấn đề liên quan như thái độ tiếp thu của người tiêu dùng, yêu cầu của thị trường

đối với những hàng hoá mới sẽ được tiêu thụ, năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp, những biện pháp và hình thức thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường

Trong việc thực hiện chiến lược xuất khẩu sản phẩm hàng hoá cần phải

xác định thị trường nào là thị trường trọng điểm, tiêu thụ nhiều sản phẩm hàng

hoá của doanh nghiệp mình, và thị trường đó có cơ hội và những điều kiện thuận

lợi để tăng khối lượng hàng xuất khẩu, thu được lợi nhuận cao hơn hay không?

Ngoài ra, việc nghiên cứu thị trường nước ngoài còn phải thu thập những thông

tin về các chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá theo từng bước Trong

việc giao dịch thương mại với các nước còn phải tìm hiểu rõ các chính sách về

thuế quan và nhập khẩu của họ

Sự cạnh tranh trên thị trường nói chung ngày càng gay gắt Việc nghiên

cứu thị trường còn phải xác định đầy đủ vị trí và sự hoạt động của đối thủ cạnh

tranh, tức là đánh giá được khả năng kinh tế, khoa học kỹ thuật của các đối thủ

cạnh tranh, đánh giá, xem xét các chiến lược thị trường, việc tổ chức, phục vụ

khách hàng, chiến lược quảng cáo, cố vấn kỹ thuật, điều kiện bán hàng trên cùng

Deleted: .

Deleted: , t

Deleted: trong công tác ả

Trang 14

thị trường của đối thủ cạnh tranh Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến

lược xâm nhập thị trường thích hợp

Việc nghiên cứu thị trường nước ngoài được vận dụng để xác định chiến

lược kinh doanh nói chung và chiến thuật của người xuất khẩu hàng hoá trong

hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Khi đã dự đoán được xu hướng phát triển

của thị trường nước ngoài mà trước hết là xu hướng biến động về giá cả hàng

hoá, người xuất khẩu cần xác định chiến lược kinh doanh như: Nếu giá cả hàng

hoá có xu hướng tăng thì ta sẽ không bán ra vội vàng hoặc không bán hàng hoá

với khối lượng lớn mà để cho mức tăng của giá cả đến một mức nhất định mới

bán hàng thì như vậy doanh nghiệp mới thu được lợi nhuận cao trong những lúc

giá cả hàng hoá có xu hướng tăng Còn ngược lại, khi giá cả có xu hướng giảm

thì phải nhanh chóng bán hàng để tránh tình trạng thua lỗ, và nhiều khi cần áp

dụng những phương thức khác như bán hạ giá để bán với khối lượng lớn khi giá

chưa kịp hạ

Trong quá trình nghiên cứu thị trường nước ngoài, việc cần nắm vững

những vấn đề quan trọng như: Làm cách nào để thâm nhập thị trường quốc tế,

mở rộng quá trình tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá đã có sẵn trên thị trường

truyền thống của doanh nghiệp Nghiên cứu hàng hoá và dịch vụ để đẩy mạnh

quá trình tiêu thụ hàng hoá mới, hoặc hàng hoá được đổi mới trên thị trường

truyền thống và đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá có sẵn trên thị trường mới

và nghiên cứu quá trình sản xuất có sản phẩm hàng hoá mới đưa ra tiêu thụ trên

thị trường mới

Việc nghiên cứu thị trường và công tác Marketing ngày nay đang giữ vị trí

quan trọng trong điều kiện cạnh tranh giành thị trường gay gắt Marketing trên

thị trường nước ngoài thường hay được các công ty lớn quan tâm, họ coi đây là

điều kiện tiên quyết trong việc giành thắng lợi trong cuộc chạy đua giành thị

trường Đối với đơn vị kinh doanh đối ngoại do rủi ro trên thị trường nước ngoài

Trang 15

cao cho nªn viÖc nghiªn cøu thÞ tr−êng n−íc ngoµi cã mét ý nghÜa cùc kú quan

träng

Deleted: trong c«ng t¸c ¶

Trang 16

2- các hình thức xuất khẩu

Chính sách giá cả cũng như tổ chức phương án xuất khẩu của doanh

nghiệp có hai mục đích chính là tăng khối lượng hàng hoá bán ra và lợi nhuận

thu về Tuỳ theo từng thị trường, từng sản phẩm cụ thể, doanh nghiệp cần có

những phương án bán hàng cũng như phương án xuất khẩu phù hợp với từng thị

trường, từng nhóm khách hàng sao cho vừa linh hoạt vừa hiệu quả

Việc lên phương án phân phối các kênh tiêu thụ về mặt lý luận cũng như

thực tiễn cần phải có một phương án hợp lý mới mang lại hiệu quả kinh doanh to

lớn trong công tác xuất khẩu Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng phải trực

tiếp xuất khẩu mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà theo kinh nghiệm ở một số

nước phát triển cho thấy muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá các doanh nghiệp

sản xuất phải phối hợp chặt chẽ với các công ty môi giới bán hàng, các đại lý uỷ

thác Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mô hình quản lý, trình độ nghiệp vụ cũng như khả

năng xúc tiến bán hàng mà mỗi doanh nghiệp có thể đồng thời tổ chức nhiều

phương thức xuất khẩu khác nhau

2.1./ Xuất khẩu trực tiếp

Phương thức này thích hợp với những doanh nghiệp có mô hình sản xuất

lớn ở đây, doanh nghiệp tự tổ chức xuất khẩu với khách hàng nước ngoài không

thông qua môi giới trung gian Phương thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có

điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trường, với khách hàng Do đó hiểu biết rõ

nhu cầu về mẫu mã, chất lượng sản phẩm, các đòi hỏi về sự phù hợp giá cả, từ đó

doanh nghiệp có những chính sách thay đổi một cách kịp thời về sản phẩm, về

giá thành sao cho đáp ứng một cách kịp thời đầy đủ các đòi hỏi của người tiêu

dùng vào từng thời điểm khác nhau trên những thị trường cụ thể áp dụng

phương thức này doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí bởi không phải mất

chi phí trung gian do đó thu được lợi nhuận cao hơn Tuy nhiên nó có nhược

Deleted: không thông qua trung gian

Trang 17

điểm là mạng lưới tiêu thụ hẹp, không độc quyền được thị trường, chịu rủi ro

lớn

2.2./ Xuất khẩu theo phương thức uỷ thác (Phương thức mua bán qua trung

gian)

Việc xuất khẩu thông qua một đơn vị khác có điều kiện thuận lợi hơn

trong việc tiến hành xuất khẩu (Trong trường hợp này đơn vị được uỷ thác phải

là đơn vị được phép xuất nhập khẩu trực tiếp) Bán hàng qua đại lý thông thường

có hai loại: Đại lý bán buôn và đại lý bán lẻ Việc buôn bán hàng hoá xuất khẩu

mang danh nghĩa của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải trả một tỷ lệ % cho các

đại lý trên cơ sở số hàng bán thực tế để đẩy mạnh doanh số bán hàng, thông

thường có một số đại lý có thể vừa là đại lý bán buôn vừa là đại lý bán lẻ

Đặc điểm của phương thức xuất khẩu qua uỷ thác hay qua đại lý là đều

phải qua trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định Vì vậy doanh

nghiệp cần phải lựa chọn kênh phân phối cho phù hợp với khả năng của chính

mình sao cho đạt hiệu quả cao nhất, tiết kiệm được chi phí, thu hồi vốn nhanh,

doanh số bán hàng tăng, thị trường bán hàng được mở rộng thuận lợi trong quá

trình xuất khẩu của mình

2.3./ Tái xuất khẩu:

Tái xuất khẩu là hình thức giao dịch trong đó hàng hoá mua về được xuất

khẩu đi để kiếm lời không phải để tiêu dùng trong nước

Mua bán theo hình thức này góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất

nhập khẩu Bởi không phải lúc nào hàng hoá cũng được xuất khẩu một cách trực

tiếp, hoặc thông qua trung gian, như trường hợp bị cấm vận, bao vây kinh tế thì

chỉ có thể sử dụng phương pháp tái xuất thì các nước mới có thể tham gia buôn

bán được với nhau Thêm vào đó nước tái xuất có thể kiếm lời thông qua chênh

lệch giá mua và giá bán

Deleted: trong công tác ả

Trang 18

2.4./ Hình thức xuất khẩu thông qua gia công xuất khẩu

Gia công xuất khẩu là hình thức một bên nhận nguyên liệu, bán thành

phẩm, linh kiện, phụ tùng đem về sản xuất chế biến thành dạng hoàn chỉnh hơn

rồi giao lại cho phía bên kia để hưởng một khoản tiền thù lao gọi là phí gia công

Hình thức này mang lại cho nước gia công cũng như nước thuê gia công

nhiều lợi ích Thứ nhất nước gia công có thể nhận được những khoản tiền thù

lao, giải quyết công ăn việc làm trong khi không có đủ điều kiện sản xuất hàng

hoá xuất khẩu cả về vốn, công nghệ, nước nhận có thể tạo uy tín với trường thế

giới Thứ hai những nước thuê gia công có thể tận dụng được lao động của các

nước nhận gia công, có thể thâm nhập được thị trường nước nhận gia công

2.5./ Xuất khẩu thông qua hội chợ triển lãm

Hoạt động xuất khẩu qua hội chợ triển lãm ngày nay rất phổ biến, các

doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp thương mại rất có điều kiện giới

thiệu quảng cáo và kích thích bán hàng khi tham gia vào hội chợ triển lãm

Nhiều công ty qua hội chợ triển lãm có thể mở rộng thị trường nhiều nước mà

trước đó doanh nghiệp chưa có điều kiện bán hàng Việc bán hàng xuất khẩu

thông qua hội chợ triển lãm là một phương thức quảng cáo mang lại hiệu quả

cao cho doanh nghiệp, giảm các chi phí

IV./Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu

Trong cơ chế hạch toán kinh doanh hiện nay, chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh

là chỉ tiêu duy nhất có tính chất pháp lệnh để đánh giá hiệu quả trong sản xuất -

kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận (Lãi, lỗ) = Doanh thu bán hàng xuất khẩu - (Giá vốn hàng hoá + Chi

phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp +Thuế)

Lợi nhuận = Doanh số x Tỷ suất lợi nhuận

Trang 19

Nội dung của hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất

khẩu bao gồm các khoản sau:

- Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu cơ bản

- Hiệu quả kinh doanh ngoài xuất khẩu

- Hiệu quả kinh doanh sản xuất phụ

Tổng các hiệu quả trên là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1./ Chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận

- Việc phân tích các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp nhận

biết đ−ợc khả năng sinh lợi trên một số lĩnh vực kinh doanh Từ đó mà doanh

nghiệp có biện pháp kinh doanh trong kỳ tới Các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận đ−ợc

tính bằng các công thức sau:

TPF: Tỷ suất lợi nhuận của chi phí bán hàng

TF: Tổng chi phí bán hàng xuất khẩu

TP: Tổng lợi nhuận bán hàng xuất khẩu

ý nghĩa: Cứ một đồng chi phí bán hàng thì tạo ra đ−ợc bao nhiêu đồng lợi

Deleted: Page Break

Deleted: trong công tác ả

Trang 20

Sau khi tiến hành phân tích cả ba chỉ tiêu trên giữa các kỳ với nhau hoặc

giữa các doanh nghiệp khác nhau nhưng sản xuất những sản phẩm cùng loại

Nếu các chỉ tiêu tỷ suất này của doanh nghiệp càng lớn thì chứng tỏ khả năng

sinh lời trên lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại nếu

các chỉ tiêu trên mà thấp thì chứng tỏ khả năng sinh lời càng thấp, sau đó phân

tích các nhân tố ảnh hưởng và đề ra những biện pháp để tăng lợi nhuận trong kỳ

kinh doanh tới Qua phân tích ba chỉ tiêu sẽ cho ta thấy việc kinh doanh hàng

hoá xuất khẩu lỗ hay lãi Khả năng sinh lời hoặc lỗ do các nhân tố nào tạo ra, nó

có phải từ chi phí bán hàng cao (thấp), doanh thu, thuế cao (thấp) để từ đó có

Trang 21

2./ chất lượNg hàng hoá xuất khẩu

Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu nói riêng thông thường có hai loại chất lượng hàng hoá:

+ Hàng hoá đủ tiêu chuẩn xuất khẩu

+ Hàng hoá không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu (phế phẩm)

Khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp xuất

khẩu, thì chỉ tiêu chất lượng hàng hoá ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất

kinh doanh, khi phân tích người ta sử dụng hai chỉ tiêu:

2.1./ Tỷ lệ phế phẩm (tính theo hiện vật)

Mục đích của phương pháp này là ta so sánh được hàng phế phẩm chiếm

bao nhiêu % trong hàng hoá xuất ra của doanh nghiệp

TF :Tỷ lệ phế phẩm

HF :Hàng phế phẩm

HC : Hàng đảm bảo đủ tiêu chuẩn

Mục đích của phương pháp này là ta so sánh được số lượng hàng phế phẩn

chiếm bao nhiêu % trong tổng số hàng hoá xuất ra của doanh nghiệp

2.2./ Tỷ lệ phế phẩm bình quân (Tính theo giá trị )

Trang 22

TF :Tỷ lệ phế phẩm bình quân

CF :Chi phí thu mua hàng phế phẩm

CS :Chi phí sửa chữa chế biến hàng phế phẩm

CM :Giá mua hàng xuất khẩu

Từ công thức trên ta thấy tử số là toàn bộ hàng phế phẩm tính theo giá trị,

mẫu số là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ Qua tính toán phân

tích chỉ tiêu này doanh nghiệp có thể thấy được toàn bộ thiệt hại do chất lượng

hàng phế phẩm gây ra so với toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ là

bao nhiêu %

Sau khi phân tích, so sánh giữa hai kỳ với nhau hoặc hai doanh nghiệp sản

xuất sản phẩm cùng loại sẽ cho doanh nghiệp thấy được tỷ lệ phế phẩm của

doanh nghiệp mình và nếu tỷ lệ bình quân hàng phế phẩm của doanh nghiệp

càng nhỏ càng tốt Tỷ lệ này chứng tỏ chất lượng hàng hoá xuất khẩu cao hay

thấp và nếu tỷ lệ này càng nhỏ thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp càng cao

±∆ = TF1 - TF0

TF1 : Tỷ lệ phế phẩm kỳ này

TF0 : Tỷ lệ phế phẩm kỳ trước

Nếu : - ∆ :Thì chất lượng hàng hoá xuất khẩu tăng lên

+ ∆ : Thì chất lượng hàng hoá xuất khẩu giảm

Qua phân tích ta tìm được nguyên nhân làm giảm chất lượng sản phẩm từ

đó tìm ra biện pháp khắc phục

Trang 23

chương II:

Thực trạng xuất khẩu tại Công Ty Dệt

Hải Phòng

I./Giới thiệu chung về Công Ty Dệt Hải Phòng

ông Ty Dệt Hải Phòng tiền thân là xí nghiệp Hải Phòng đây là một

doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc sự quản lý của sở Công Nghiệp Hải

Phòng, được thành lập theo quyết định số 61/QĐ/TCCQ ngày

27/01/1988, là một trong những công ty trong ngành dệt may được trực tiếp

tham gia xuất nhập khẩu Hiện nay, thị trường chủ yếu của công ty là thị trường

nội địa và thị trường Nhật Bản, hướng tới công ty đang có kế hoạch mở rộng

sang thị trường EU và thị trường Mỹ Với vị thế là một doanh nghiệp vừa và nhỏ

với cơ sở khi thành lập đặt tại 151B Niệm Nghĩa, Hải Phòng, diện tích sử dụng là

9,25 nghìn m2 và số lao động vào khoảng 320 người năm 1999 Hiện nay, công

ty mở rộng thêm cơ sở sang cơ sở II đặt tại đường KaMen - Kiến An - Hải

phòng Cơ sở hai này sẽ chuyên sản xuất hàng dệt kim, với diện tích sử dụng

khoảng 20 nghìn m2, số lao động bước đầu tuyển vào và gửi đào tạo là 500 người

và ngày 13/5/2000 nhân dịp giải phóng Hải Phòng cơ sở II đã đi vào hoạt động

với các mặt hàng chủ yếu là hàng dệt kim

Từ ngày thành lập đến nay, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cũng như

nền kinh tế của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, nhiều lúc tưởng

rằng công ty không thể vượt qua, nhưng với sự cố gắng của tập thể cán bộ công

nhân viên của công ty cũng như sự trực tiếp chỉ đạo và hỗ trợ của thành phố,

công ty đã vượt qua mọi khó khăn để phát triển giải quyết cho hàng trăm công

ăn việc làm cho người lao động Thành phố

C

Deleted:

Deleted: trong công tác ả

Trang 24

1./ QUá trình hình thành và phát triển Công Ty

1.1./Giai đoạn năm 1988 đến năm 1991

Thời gian này, nền kinh tế Việt Nam đang chìm đắm trong giấc mộng của

nền kinh tế chỉ huy, quan niệm bao cấp dẫn đến rất nhiều ngành nghề của Hải

Phòng trong đó có ngành dệt không được chú trọng một cách thoả đáng Cho

nên khi quyết định 217/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành nhằm chuyển

đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường

đã buộc các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và của Hải Phòng nói riêng

phải tự chuyển đổi từ phương thức “xin- cho” sang phương thức hạch toán kinh

doanh lấy thu bù chi và có lãi Rất nhiều doanh nghiệp và các hợp tác xã dệt thủ

công của Hải Phòng dần dần bị giải thể hoặc chuyển qua các ngành nghề khác

Trên tinh thần của hiệp định 19/05 giữa nhà nước Việt Nam và Liên Xô

(cũ), và cùng với việc cần thiết phải khôi phục ngành dệt Hải Phòng, UBND

thành phố đã ra quyết định số 61/QD/TCCQ ngày 27/01/1988 chính thức thành

lập xí nghiệp dệt tiền thân của Công Ty Dệt Hải Phòng ngày nay Trong giai

đoạn này, công ty chủ yếu chú trọng vào đầu tư xây dựng cơ bản và sản xuất thử

với sản phẩm bước đầu ra đời là các loại khăn bông xuất khẩu trực tiếp sang thị

trường Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu XHCN anh em trước đây để thực

hiện kế hoạch cam kết của nhà nước ta với nhà nước bạn và một phần sản phẩm

còn được sản xuất ra để đáp ứng trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của địa phương và

một số tỉnh lân cận, đem lại nguồn thu bước đầu cho thành phố, giải quyết công

ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động

Trong giai đoạn này, xí nghiệp tiến hành cải tạo xây dựng cơ sở vật chất,

hoàn thiện cơ cấu quản lý, tiếp nhận và đào tạo đội ngũ công nhân, tiếp nhận và

lắp đặt hệ thống dây truyền thiết bị chủ yếu được nhập khẩu hoặc nhận viện trợ

của Liên Xô với công nghệ dệt khăn theo công nghệ cũ là công nghệ tẩy nhuộm

Deleted: Dệt Hải Phòng

Deleted:

Trang 25

sau Tuy nhiên, cùng với sự khó khăn của thành phố nên nguồn vốn để xây dựng

cơ bản của xí nghiệp bị hạn chế do sự cấp phát nhỏ giọt đã dẫn đến tình trạng xí

nghiệp không thể đủ điều kiện để lắp đặt một cách đồng bộ dây chuyền sản xuất

của mình, có rất nhiều máy móc lạc hậu điển hình là sáu máy xe sợi thủ công

Cũng như tình trạng chung của cả nước thì trình độ quản lý và tay nghề

của công nhân tại công ty còn chưa có nhiều kinh nghiệm do: Thứ nhất là kinh

phí đầu tư cho dạy nghề còn hạn chế, không đồng bộ, cán bộ quản lý nhiều

người không được đào tạo cơ bản đồng bộ Thứ hai là đội ngũ công nhân viên

được tập hợp ở các nơi trong thành phố cũng như các tỉnh lân cận nên không

tránh khỏi những bỡ ngỡ và chưa phát huy được sự năng động sáng tạo trong quá

trình quản lý và sản xuất

Trên đây là một số khó khăn của xí nghiệp trong bước đầu thành lập,

nhưng cùng với sự cố gắng của tập thể thì xí nghiệp vẫn sản xuất được một số

sản phẩm phục vụ cho việc xuất khẩu sang thị trường Liên xô cũ và một số nước

XHCN Đông Âu cũ, Thái Lan, Lào

Từ sự biến động của lịch sử thế giới dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống

XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, làm cho Việt Nam không thể thực hiện

được các hiệp định mậu dịch với họ Do đó mà thị trường xuất khẩu của xí

nghiệp Dệt Hải Phòng cũng mất đi, đẩy công ty đến bên bờ vực thẳm của sự phá

sản và sụp đổ, làm ăn thua lỗ triền miên tưởng rằng không thể vượt qua được

Nhưng nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị

trường đã đẩy xí nghiệp sang một trang mới, một giai đoạn phát triển mới

1.2 /Giai đoạn từ tháng 10/1991 đến năm 199 5

Như trên đã đề cập thì giai đoạn này là giai đoạn khởi đầu cho quá trình

chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị

trường, nền kinh tế Việt Nam bước vào một hướng phát triển mới nhưng gặp

nhiều khó khăn do đồng tiền nội địa mất giá, thị trường xuất khẩu không còn, lại

Deleted: 3

Deleted: một

Deleted: trong công tác ả

Trang 26

bị bao vây kinh tế của Mỹ dẫn đến rất nhiều công ty bị phá sản Cũng như tình

hình chung của nhiều doanh nghiệp thì xí nghiệp Dệt Hải Phòng bắt đầu bước

vào sản xuất chính thức với phương thức hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và

có lãi Những khó khăn mà Công Ty Dệt Hải Phòng gặp phải trong giai đoạn này

cũng như các doanh nghiệp khác trong cả nước mà đặc biệt là những khó khăn

về nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, máy móc thiết bị, thiếu vốn, thiếu ngoại tệ

để nhập vật tư, thiết bị cho sản xuất Do lạm phát mà giá cả các yếu tố đầu vào

tăng nhanh làm ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, do đó ảnh hưởng

đến tiến độ tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như sản phẩm xuất khẩu sang thị

trường nước ngoài của xí nghiệp gây rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản

xuất kinh doanh Thêm vào đó là tình trạng lạm phát cao làm cho đồng lương

không đủ đáp ứng đời sống của công nhân viên đã làm cho nhiều cán bộ kỹ thuật

bỏ việc tạo cho xí nghiệp khó khăn chồng chất khó khăn

Tuy vậy, nhờ sự giúp đỡ của Tổng công ty Dệt may Việt Nam và một số

doanh nghiệp trong ngành mà Xí nghiệp Dệt Hải Phòng đã thích ứng được với

điều kiện mới, và đã sản xuất ra những mặt hàng đáp ứng được nhu cầu của

khách hàng cả trong nước cũng như nước ngoài Nhờ đẩy mạnh công tác

Marketing mà số lượng khách hàng tìm đến công ty ngày càng nhiều Cùng với

sự chuyển hướng sản xuất đến mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm kết hợp với

hình thức gia công cho khách hàng nên uy tín của công ty đã được từng bước

nâng cao, thị trường đã được mở rộng Để thuận tiện cho công tác giao dịch cũng

như vị thế của xí nghiệp ngày 14/01/1993 theo quyết định số 82/QĐ/TCCQ của

UBND thành phố Hải Phòng đổi tên xí nghiệp dệt Hải Phòng thành Nhà máy

Dệt Hải Phòng với tên giao dịch quốc tế là Hai Phong Textile Company

Từ đây, nhờ sự giúp đỡ của thành phố, các ban ngành hữu quan, Nhà máy

Dệt Hải Phòng đã đầu tư theo chiều sâu, hoàn chỉnh dây chuyền thiết bị, máy

móc, áp dụng những công nghệ tiên tiến phù hợp với việc đa dạng hoá sản phẩm

đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Trong dự án đầu tư chiều sâu thì chủ

Deleted: Và c

Trang 27

yếu đầu tư vào mua máy móc thiết bị mới, hiện đại như máy hồ sợi, tẩy, nhuộm,

máy sấy, máy sén lông và một phần nhỏ nữa là đầu tư vào sửa chữa, cải tạo

nâng cấp nhà xưởng, sân bãi Từ đây chất lượng sản phẩm của nhà máy đã được

nâng cao đủ sức tự mình vươn ra chiếm lĩnh thị trường cả trong nước và nước

ngoài

Cùng với những trang thiết bị mới hiện đại là việc làm tốt công tác tiếp thị

đã giúp cho nhà máy sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu

mã đa dạng, giá cả hợp lý nên dần dần đã đủ sức cạnh tranh với những sản phẩm

cùng loại trên thị trường Các khách hàng trong nước và các khách hàng quốc tế

đã biết đến sản phẩm của công ty và ngày càng nhiều người tìm đến đặt hàng với

số lượng lớn Đặc biệt mặt hàng khăn bông của nhà máy Dệt Hải Phòng đã đáp

ứng được nhu cầu khách hàng nước ngoài khó tính nhất như Nhật Bản Hiện nay

thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty chính là thị trường Nhật Bản, và hướng

tới công ty đã, đang có kế hoặch vươn tới thị trường EU và thị trường Mỹ Thực

tế cho thấy công ty đã nhận được một số hợp đồng xuất khẩu sang hai thị trường

này tuy không phải là lớn nhưng nó lại là động lực để thúc đẩy sự cố gắng của

tập thể cán bộ công nhân viên nhà máy

Qua nhiều đánh giá từ các buổi họp thường niên của công ty thì giai đoạn

này được đánh giá là giai đoạn bản lề để công ty lớn mạnh và phát triển như

ngày hôm nay

1.3./ Giai đoạn từ 1995 đến nay

Để phù hợp với sự tăng trưởng và vị thế của nhà máy trên thị trường, Ngày

09/01/1995 theo quyết định 1678 QĐ/ĐMDN của UBND thành phố Hải Phòng

chính thức đổi tên thành Công Ty Dệt Hải Phòng ngày nay Để nâng cao chất

lượng cũng như để mở rộng sản xuất, năm 1998 UBND thành phố quyết định

cho phép công ty xây dựng cơ sở II tại đường KaMen - Kiến An - Hải Phòng với

diện tích sử dụng là 20.000 m2, số công nhân tuyển dụng và gửi vào trong Nha

Deleted: Qua nhiều đánh giá từ các buổi họp thường niên của công ty thì giai

đoạn này được đánh giá là giai đoạn bản

lề để công ty lớn mạnh và phát triển như ngày hôm nay.ả

1.3./ Giai đoạn từ 1993 đến nay ả

Deleted: , và h

Deleted: trong công tác ả

Trang 28

Trang đào tạo giai đoạn I là 500 người Toàn bộ máy móc thiết bị tại cơ sở này là

những dây chuyền công nghệ tiên tiến của Đức, Italia, Nhật Bản và Đài Loan và

ngày 13/05/2000 cơ sở này đã đi vào hoạt động Khi đi vào hoạt động công ty

đang có kế hoạch chuyển cơ sở II này thành cơ sở chính, là nơi điều hành sản

xuất kinh doanh cũng như giao dịch chính của công ty với khách hàng Còn cơ

sở chính hiện đặt tại 151 B Niệm Nghĩa Hải Phòng sẽ chuyển thành phân xưởng

sản xuất hàng dệt may của công ty

Tóm lại, có thể đánh giá giai đoạn này là giai đoạn tạo ra cho công ty có

những chuyển biến rõ rệt, làm ăn có lãi, đời sống cán bộ công nhân viên được

nâng cao, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đã từng bước thay đổi nhanh

chóng và đây là giai đoạn công ty thu được những thành quả vượt bậc so với

những năm trước

Trên đây là điểm qua vài nét về quá trình hình thành và phát triển của

Công Ty Dệt Hải Phòng, cho ta thấy để có ngày hôm nay Công ty Dệt Hải

Phòng đã phải trải qua bao thăng trầm để xây dựng và trưởng thành, và đó cũng

là bản ghi nhận một thành quả cố gắng của tập thể cán bộ công nhân viên công

ty cũng như sự giúp đỡ của thành phố và các ngành liên quan

2./ Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý

hiện tại của Công Ty

2.1./ Chức năng và nhiệm vụ

Công Ty Dệt Hải Phòng hiện nay là một doanh nghiệp nhà nước có chức

năng xuất nhập khẩu trực tiếp do sở Công Nghiệp Hải Phòng quản lý Công ty

được thành lập năm 1988 với mục đích khôi phục và phát huy ngành Dệt tại Hải

ăn, khăn rửa mặt các loại, với công suất 400 tấn sản phẩm một năm, phục vụ cho

xuất khẩu và một phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thành phố Thị trường

Trang 29

xuất khẩu chủ yếu của công ty hiện nay phải kể đến là Nhật Bản, Eu, thị trường

các nước trong khối ASEAN như Thailand, Lào và thị trường tiềm năng đó là

ngân sách thành phố hàng trăm triệu đồng Cùng với sự ổn định và phát triển

trong một thời gian dài công ty Dệt Hải Phòng đã góp phần giải quyết cho hàng

Hiện nay, khi thành phố đầu tư cho công ty cơ sở II chuyên sản xuất hàng

Dệt kim và đã đi vào hoạt động thì nhiệm vụ của công ty được nâng nên cao hơn

đó là phải tiếp tục giải quyết công ăn việc làm cho người lao động thành phố,

tăng thu nhập cho tập thể cán bộ công nhân viên trong cơ quan, đóng góp đủ cho

Ngân sách thành phố, góp phần làm rạng rỡ nền công nghiệp của thành phố

Tiếp tục mở rộng thị trường bằng sản phẩm mới như áo thun, quần áo lót, bít

tất sang những thị trường mới và cả thị trường truyền thống mà đặc biệt là

tham gia chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ ngay khi điều kiện cho phép

2.2./Cơ cấu tổ chức bộ máy quả n lý sản xuất

Lúc đầu, khi thành lập công ty do ảnh hưởng của cơ chế quản lý kinh tế kế

hoạch hoá tập trung nên bộ máy quản lý của xí nghiệp rất cồng kềnh, số cán bộ

quản lý hành chính nhiều, quản lý kém hiệu quả không phát huy được sức mạnh

và lợi thế của công ty Thêm vào đó khi mới thành lập thì ngành dệt ở Hải Phòng

vẫn là một lĩnh vực mới cho nên công tác quản lý điều hành sản xuất của công ty

gặp nhiều khó khăn Từ ngày đổi mới đến nay, công ty đã có nhiều thay đổi lớn

về mặt tổ chức theo phương hướng cán bộ chủ chốt kiêm nhiệm phụ trách các

phân xưởng, coi trọng và ưu tiên nhân viên có trình độ chuyên môn cao, trẻ hoá

dẫn đội ngũ cán bộ quản lý, các phân xưởng được sắp xếp lại, bố trí lại, tạo ra hệ

thống điều hành quản lý thống nhất Đứng đầu là giám đốc, sau đó là phó giám

đốc, dưới nữa là các phòng ban kiêm nhiệm chịu trách nhiệm trước giám đốc,

phó giám đốc và luật pháp chủ quản Dưới đây là sơ đồ bộ máy quản lý và sản

xuất của công ty:

Deleted: H

Deleted:

Deleted:

Deleted: trong công tác ả

Trang 30

Giámđốc:

Là người vừa đại diện cho nhà nước vừa đại diện cho công ty chịu trách

nhiệm trước UBND thành phố Hải Phòng cũng như cơ quan chủ quản là sở công

nghiệp Hải Phòng về mọi hoạt động của công ty theo pháp luật Giám đốc được

quyền quyết định tổ chức bộ máy quản lý, các bộ phận sản xuất kinh doanh dịch

vụ của công ty

Phó Giám Đốc:

Là người giúp việc cho giám đốc, được giám đốc phân công giúp việc về

các công việc tổ chức, nội chính, đoàn thể

Hiện nay, trong công ty chỉ có một giám đốc và một phó giám đốc chịu

trách nhiệm điều hành sản xuất kinh doanh của công ty

Các phòng ban:

Phòng kế hoạch kỹ thuật đầu tư:

Phòng có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất ngắn hạn, dài hạn,

phương án sản xuất sản phẩm, điều độ tác nghiệp trong công ty Phòng xây dựng

kế hoạch giá thành đơn vị, trả tiền lương cho từng loại sản phẩm, trên cơ sở đó

lựa chọn nguyên liệu, vật tư, lựa chọn máy móc thiết bị cho phù hợp, đảm bảo

chất lượng và tiến độ sản xuất của cả doanh nghiệp Ngoài ra phòng còn chịu

trách nhiệm về các vấn đề thiết kế chế tạo thử sản phẩm mới, nghiên cứu áp

dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sửa chữa máy móc thiết bị Phòng còn có

trách nhiệm kiểm tra sản phẩm trước khi nhập kho

Phòng kế toán:

Hoạt động theo pháp lệnh kế toán thống kê và điều lệ tài chính kế toán

của Bộ tài chính đã ban hành Quản lý và điều tiết vốn cho công ty Phòng có

Deleted: Section Break (Odd Page)

Trang 31

trách nhiệm tổ chức hạch toán kiểm tra theo dõi thu chi tài chính của toàn công

ty, xây dựng các dự toán, tính giá thành dự toán cũng như giá thành thực tế để

cùng với các phòng ban khác có kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp Phòng kế

toán còn có trách nhiệm quản lý tất cả mọi tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả

tài sản cố định và tài sản lưu động, tiền mặt và tiền gửi ngân hàng, các khoản nợ

đọng thu chi từ đó tính ra lỗ lãi hàng kỳ, hàng năm, thực hiện các báo cáo với

giám đốc và cơ quan chủ quản

- Phòng tổ chức, hành chính, lao động, tiền lương:

Lập phương án tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh triển khai kế

hoạch lao động tiền lương trên cơ sở xây dựng định mức lao động của từng loại

sản phẩm Xây dựng chức năng, nhiệm vụ nội quy, qui chế hoạt động của công

ty, bảo vệ tài sản giữ gìn an ninh trật tự trong toàn công ty Xây dựng kế hoạch

và tuyển dụng lao động, xây dựng và đào tạo bồi dưỡng tay nghề nâng cấp, nâng

bậc cán bộ công nhân viên, xây dựng và thực hiện an toàn lao động, vệ sinh công

nghiệp, phòng cháy, chữa cháy Các công tác tài chính văn thư, khám chữa bệnh

phục vụ ăn ca cho cán bộ công nhân viên

- Các phân xưởng:

+ Phân xưởng chuẩn bị: Bao gồm các bước công việc Se, Mắc, Hồ, Nhuộm,Tẩy

sợi đảm bảo chất lượng bao gồm nhiều tổ, mỗi tổ có chức năng nhiệm vụ riêng

* Tổ se, mắc sợi: Có nhiệm vụ se sợi, đảo sợi (công việc này nhằm tạo cho sợi

tăng thêm tính cường lực ) và mắc trục thì tuỳ từng loại sợi sản phẩm mà có

những cách mắc sợi khác nhau

* Tổ Hồ Sợi: Sau khi sợi mắc song sẽ được đưa qua hồ để tăng độ bền kéo của

sợi

* Tổ tẩy nhuộm: Sau khi hồ sợi thì sẽ đi đến Tổ tẩy nhuộn để làm trắng sợi

theo từng yêu cầu của từng loại sản phẩm

Deleted: trong công tác ả

Trang 32

+Phân xưởng Dệt: Phân xưởng này hoạt động theo thiết kế mẫu mã và đơn đặt

hàng, máy móc trong phân xưởng này có tính tự động cao, và do đó công nhân

chỉ việc thay suốt sợi khi hết và điều chỉnh máy khi có sự cố Hiện nay, máy dệt

trong Công Ty Dệt Hải Phòng tại cơ sở dệt may bao gồm 90 máy Dệt chủ yếu là

của Liên Xô (cũ) Các máy này chủ yếu sử dụng để sản xuất ra sản phẩm khăn

bông Còn tại cơ sở sản xuất hàng dệt kim tại đường KaMen-Kiến An -Hải

Phòng thì máy móc thiết bị chủ yếu là máy móc thiết bị hiện đại của các nước có

ngành Dệt phát triển, trong đó có 12 máy Dệt của Đức và Italia mà các loại này

chủ yếu sử dụng vào dệt kim như dệt các sản phẩm để sản xuất Tất, áo thun,

quần áo lót

+ Phân xưởng may hoàn tất: Sau khi bán thành phẩm được hoàn tất từ phân

xưởng Tẩy nhuộn sẽ chuyển qua phân xưởng may, và từ phân xưởng này thì sản

phẩm được hoàn tất qua khâu chế tạo

+ Tổ KCS: Sau khi sản phẩm được hoàn tất sẽ chuyển qua Tổ KCS để kiểm tra

Đây là bước cuối cùng trước khi đưa sản phẩm vào đóng gói Bước này là bước

quyết định đến chất lượng sản phẩm bởi ở đây nếu như sản phẩm có khuyết tật

sẽ bị loại bỏ còn những sản phẩm đạt tiêu chuẩn sẽ được đưa vào đóng gói để

chuẩn bị đưa vào nhập kho và tiêu thụ (xuất khẩu )

+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu:

Có nhiện vụ tổ chức tốt công tác cung cấp nguyên vật liệu nhập khẩu,

quản lý, bảo quản kho tàng vật tư Căn cứ vào hợp đồng đã ký cũng như kế

hoạch sản xuất kinh doanh của phòng kế hoạch kỹ thuật đầu tư để lập kế hoạch

nhập khẩu nguyên vật liệu và thực hiện các công việc xuất khẩu sản phẩm

Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu là nơi tổ chức công tác tiêu thụ sản

phẩm, tăng cường hỗ trợ xúc tiến bán thông qua các loại hình trung gian như Đại

lý ký gửi, Hội chợ triển lãm, mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm tiêu thụ

Trang 33

Trong cơ cấu của phòng kinh doanh xuất nhập khẩu có các bộ phận khác

như bộ phận nghiên cứu thị trường, bộ phận nghiên cứu sản phẩm để tìm cách

chiếm lĩnh và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước Để làm

tốt nhiệm vụ của mình yêu cầu phòng kinh doanh xuất nhập khẩu phải kết hợp

với các phòng ban khác, đặc biệt là phòng kế hoạch để cùng nhau lập kế hoạch

sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để từ đó nâng cao hiệu quả của công tác xuất nhập

khẩu Một công việc không kém phần quan trọng mà phòng kinh doanh xuất

nhập khẩu phải đảm nhiệm đó là phải thực hiện hợp đồng xuất khẩu

2.3./ Đặc điểm kỹ thuật

2.3.1./ Đặc điểm về tài sản cố định

Máy móc thiết bị và tài sản cố định của công ty có rất nhiều loại đa dạng

Do trước đây khi thành lập, công ty được trang bị máy móc thiết bị chủ yếu của

các nước XHCN (cũ), nên máy móc, thiết bị lạc hậu và không đồng bộ, được sản

xuất bởi nhiều nước khác nhau cho nên việc đảm bảo yêu cầu cho sản xuất gặp

rất nhiều khó khăn Và khi công ty đầu tư chiều sâu thì vấn đề không đồng bộ

của hệ thống máy móc thiết bị phần nào được giải quyết, và từ đây chất lượng

sản phẩm được nâng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường Sản phẩm của công ty

đã đủ sức cạnh tranh trên thị trường với giá thành sản phẩm phù hợp Sau đây là

hệ thống các máy móc thiết bị của công ty tại cơ sở dệt may:

Deleted: trong công tác ả

Trang 34

B¶ng I: Mét sè m¸y mãc thiÕt bÞ trong C«ng Ty DÖt

H¶i Phßng

STT Tªn M¸y Mãc- ThiÕt BÞ Sè L−îng N¬i S¶n XuÊt

Theo : B¸o c¸o kiÓm kª thiÕt bÞ cña C«ng Ty DÖt H¶i Phßng n¨m 1997

2.3.2./ §Æc ®iÓm vÒ nguyªn vËt liÖu

Nguyªn vËt liÖu chÝnh cña c«ng ty lµ sîi Ne 20/1, Ne 32/1, Cotton 100%

C«ng ty th−êng mua sîi cña c¸c doanh nghiÖp trong n−íc nh− c«ng ty DÖt Hµ

Néi, C«ng ty DÖt 8/3, C«ng ty dÖt Nha Trang, nhËp sîi cña Ên §é, Trung

Quèc Qu¸ tr×nh nhËp nguyªn vËt liÖu cña c«ng ty mua ë trong n−íc hay mua ë

n−íc ngoµi lµ tuú thuéc vµo tõng thêi kú khi cã sù chªnh lÖch gi÷a gi¸ nhËp

khÈu vµ gi¸ mua cña c¸c doanh nghiÖp trong ngµnh ë t¹i trong n−íc Ngoµi

Deleted: BiÓu

Trang 35

nh÷ng nguyªn vËt liÖu kÓ trªn c«ng ty cßn ph¶i nhËp mét sè ho¸ chÊt kh¸c tõ c¸c

n−íc kh¸c nhau nh− tõ Singapore, Trung Quèc, Nam TriÒu Tiªn, Ph¸p, Mü,

Italia §ã lµ nh÷ng ho¸ chÊt nh− Bevaloid 5400, Bevaloid 4168, ¤ xi giµ (H2O2)

vµ c¸c ho¸ chÊt lµm nÒm sîi Ngoµi ra cßn nh÷ng ho¸ chÊt phô mua cña c¸c

doanh nghiÖp trong n−íc nh− ho¸ chÊt xót (NaOH), Silicat (Na2SiO3), Tinh bét

tr¾ng, ChØ tr¾ng, Tói PE, bao PP Sau ®©y lµ mét sè nh÷ng nguyªn vËt liÖu nhËp

khÈu tõ c¸c n−íc ngoµi trong mét vµi n¨m gÇn ®©y

Trang 36

Bảng II: Tình hình nhập khẩu nguyên vật liệu của Công

Theo : Báo cáo tình hình nhập khẩu của Công Ty Dệt Hải Phòng năm 1999

Ghi chú: (-) Do giá hàng trong nước thấp hơn giá hàng nhập khẩu cho nên công

ty chuyển sang nhập của các doanh nghiệp trong nước.

Như vậy nhìn vào bảng trên cho ta thấy tổng trị giá nhập khẩu của năm

1999 là 1.131.900 nghìn đồng giảm 43,9% so với 2.574.867 nghìn đồng năm

1998 Lý do giảm trị giá nhập khẩu như chúng ta biết thì do công ty là một

Deleted: Biểu

Trang 37

trong nước và hàng nhập khẩu có sự chênh lệch công ty sẽ chọn nguồn nào có

mức giá thấp hơn để cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho mình Chính vì thế

mà trong năm 1999 giá hàng trong nước thấp hơn với hàng nhập khẩu cho nên

công ty đã chọn giải pháp là mua hàng của các doanh nghiệp trong nước thay vì

phải nhập khẩu, do đó mà năm 1999 tổng trị giá hàng nhập khẩu của công ty đã

giảm hẳn so với năm 1998

2.3.3./ Quy trình công nghệ

Quy trình công nghệ dệt là một quy trình rất phức tạp, và kéo dài thời

gian Nó bắt đầu từ khi nguyên vật liệu được đưa vào sản xuất đến khi có sản

phẩm nhập kho qua rất nhiều công đoạn Chất lượng của các công đoạn bán

thành phẩm sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ phế phẩm của các công đoạn tiếp

theo.Trong mỗi công đoạn thì chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng không những

từ những yếu tố chủ quan như máy móc thiết bị, trình độ tay nghề của công nhân

mà nó còn chịu ảnh hưởng từ những nhân tố khách quan khác như yếu tố thời

tiết Bởi khi thời tiết hanh khô sẽ làm cho sợi bị khô, dễ gẫy và dễ đứt từ đó chất

lượng sản phẩm sản xuất ra rất kém và khi thời tiết có độ ẩm cao thì do sợi là

loại chất liệu hút ẩm mạnh nên việc định mức sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn

Hiện nay, tại cơ sở sản xuất hàng dệt may có hai quy trình công nghệ dệt

khăn, mà theo đó công ty sẽ áp dụng công nghệ nào để sản xuất là tuỳ vào kế

hoạch sản xuất của công ty cũng như tuỳ vào yêu cầu của khách hàng

+ Quy trình công nghệ dệt khăn tẩy trước:

Sợi mộc được đưa vào đảo, se, guồng thành những con sợi nhỏ, sau đó đưa

vào Máy Tẩy Nhuộm → Vắt → Sấy khô → Đánh ra thành ống sợi nhỏ và sau đó

phẩm cuối cùng Những sản phẩm sản xuất ra theo công nghệ này thường được

bán vào những thị trường mà ở đó sự đòi hỏi về chất lượng không cao lắm như

các thị trường thuộc các nước Đông Âu ( XHCN cũ ) và thị trường nội địa.Ưu

Deleted: trong công tác ả

Trang 38

điểm của sản phẩm do công nghệ này sản xuất ra là sản phẩm có độ bền cao

nhưng đặc tính kỹ thuật không cao

+ Quy trình công nghệ dệt khăn tẩy sau:

Sợi mộc được đưa vào đánh ống sau đó mắc hàng loạt (mắc nhiều trục

Cắt May→Thành phẩm Ưu điểm của sản phẩm sản xuất ra từ quy trình công

nghệ này là chất lượng hàng hoá cao mẫu mã đẹp đáp ứng được nhu cầu của

những khách hàng khó tính nhất hiện nay như thị trường Nhật Bản của công ty

Sau đây là sơ đồ biểu hiện quy trình của hai công nghệ trình bày ở trên

Deleted: h

Trang 39

Nguyên vật liệu chính Sợi Mộc

KCS 1 Cắt May KCS 2

Sấy Cắt May KCS 2

Nhập Kho Thành Phẩm

Sơ đồ III: Quy trình công nghệ dệt

Deleted: trong công tác ả

Trang 40

II./ hoạt động xuất khẩu tại công ty dệt Hải Phòng thời

gian qua

1 / kết quả sản xuất tại Công Ty thời gian qua

Công Ty Dệt Hải Phòng là một doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ sản

xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra thị trường nước

ngoài Từ những năm 1990 thị trường xuất khẩu chính của công ty là thị trường

các nước Đông Âu (XHCN) và từ khi các nước này sụp đổ đã ảnh hưởng rất

mạnh đến quá trình sản xuất kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Trong thời

gian này để tháo gỡ những khó khăn, công ty đã uỷ thác xuất khẩu cho Tổng

công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex) hay Tocontap, Unimex Nên hiệu quả sản

xuất kinh doanh không cao

Từ khi có cơ chế chính sách mới, công ty đã tìm cho mình một hướng làm

ăn mới đó là trực tiếp nghiên cứu thâm nhập thị trường, nhằm xuất khẩu trực tiếp

không thông qua uỷ thác Công ty tiến hành thay đổi cơ chế quản lý trong chính

công ty mình như thay đổi chức năng phòng Vật Tư thành phòng Kinh doanh

xuất nhập khẩu với chức năng và quyền hạn cao hơn Cùng với đó là sự đầu tư

của thành phố và sự mạnh dạn vay vốn kinh doanh của công ty để đầu tư theo

chiều sâu cho nên trong những năm gần đây hiệu quả sản xuất kinh doanh của

công ty không ngừng tăng nên Sau đây là tình hình sản xuất của công ty trong

các năm từ 1996 đến 1998

Deleted: 3 Deleted: Dệt Hải Phòng

Ngày đăng: 26/03/2013, 16:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8./ Thị tr−ờng Nhật Bản - NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị tr−ờng Nhật Bản
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội
10./ Báo Kinh tế Việt Nam và Thế giới 1998-1999, 1999-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Kinh tế Việt Nam và Thế giới 1998-1999
Năm: 1999
1./ Giáo trình nghiệp vụ ngoại th−ơng - NXB Ngoại th−ơng 1996 - GS. PTS Vũ Hữu Tửu Khác
2./ Giáo trình kinh doanh Quốc tế - NXB Giáo dục 1997 - Chủ biên PTS Đỗ Đức Bình Khác
3./ Giáo trình Kinh tế Quốc tế - NXB Giáo dục 1995 - Chủ biên GS.PTS Tô Xu©n D©n Khác
4./ Giáo trình Thanh toán Quốc tế - NXB Ngoại Th−ơng 1996 - GS. Đinh Xuân Tr×nh Khác
5./ Các báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của Công Ty Dệt Hải Phòng 1997 -1999 Khác
6./ Văn kiện Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ VIII Khác
7./ Tạp chí Dệt May số ra th−ờng kỳ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng I: Một số máy móc thiết bị trong Công Ty Dệt - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
ng I: Một số máy móc thiết bị trong Công Ty Dệt (Trang 34)
Bảng II: Tình hình nhập khẩu nguyên vật liệu của Công - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
ng II: Tình hình nhập khẩu nguyên vật liệu của Công (Trang 36)
Sơ đồ III: Quy trình công nghệ dệt - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
uy trình công nghệ dệt (Trang 39)
Bảng III: Tình hình sản xuất kinh doanh tại Công Ty Dệt - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
ng III: Tình hình sản xuất kinh doanh tại Công Ty Dệt (Trang 41)
Bảng trên cho ta thấy doanh thu thông qua hoạt động xuất khẩu của công - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
Bảng tr ên cho ta thấy doanh thu thông qua hoạt động xuất khẩu của công (Trang 45)
Sơ đồ I     sơ đồ tổ chức quản lý - sản xuất - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại công ty Dệt Hải Phòng
s ơ đồ tổ chức quản lý - sản xuất (Trang 81)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w