1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục

69 2,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 708,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục

Trang 1

TÓM TẮT ĐỀ TÀI Chương 1 – Các vấn đề lý luận chung

- Giới thiệu các khái niệm về chứng khoán, thị trường chứng khoán, lạmphát, các chỉ số đánh giá hiệu quả chứng khoán

- Giải thích tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán thông quacác nhân tố lãi suất, giá cả và các chính sách của nhà nước nhằm kiềm chế lạmphát như thay đổi mức lãi suất chiết khấu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc v.v…

Chương 2 – Tình hình thực tế của Thị trường chứng khoán và các cổ phiếu cụ thể trước và sau lạm phát

- Đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam ở hai giaiđoạn trước và trong thời kỳ lạm phát

- Phân tích sự thay đổi của 5 cổ phiếu tiêu biểu cho các ngành ở hai giaiđoạn trước và sau thời kỳ lạm phát thông qua các số liệu cụ thể, các bảng, biểu đồgiá, khối lượng giao dịch của các loại cổ phiếu này

Chương 3 – Các giải pháp can thiệp vào Thị trường chứng khoán trong giai đoạn kiềm chế lạm phát

- Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong thời giantới

- Hoạt động của sàn GDCK Tp.HCM

- Các giải pháp can thiệp vào thị trường chứng khoán trong giai đoạn lạm từgóc độ quản lý của nhà nước, giải pháp dành cho các doanh nghiệp phát hànhchứng khoán và các nhà đầu tư

Trang 2

PHẦN 1 – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1 Đặt vấn đề

Có thể nói từ năm 2005 đến nay, Thị Trường Chứng Khoán ở Việt Nam đã

có những bước phát triển nhanh chóng, là kênh huy động động vốn hiệu quả chocác doanh nghiệp và trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của rất nhiều người Tuynhiên từ giữa năm 2007, lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế củanước ta nói chung cũng như góp phần tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên ThịTrường Chứng Khoán nói riêng Chính vì thế, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài

“Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc

phục.”

2 Mục tiêu, phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ về những ảnh hưởng của lạm pháttới Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam trong thời gian qua và tìm ra các giảipháp khắc phục các ảnh hưởng ấy đối với việc quản lý của nhà nước, các doanhnghiệp cũng như giải pháp dành cho các nhà đầu tư

Phương pháp nghiên cứu: đề tài phương pháp duy vật biện chứng dựa trênhai nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển xét theo cáctính chất khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng – phong phú của chúng vớinhững số liệu thực tế, các bảng biểu cũng như các đồ thị minh hoạ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứngkhoán nói chung và đến 5 loại cổ phiếu tiêu biểu của các ngành như Công ty cổphần khoáng sản Bình Định (BMC), Công ty cổ phần sữa Việt Nam (VNM), Ngânhàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB), Công ty cổ phần cơ điệnlạnh (REE), Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ (FPT)

Trang 3

- Phạm vi nghiên cứu: các cổ phiếu được khảo sát trên sàn GDCK TP.HCM(HOSE); trong khoảng thời gian trước khi xảy ra lạm phát (năm 2006, đầu năm2007) và trong thời gian xảy ra lạm phát (giữa năm 2007 đến tháng 10 năm 2008).

Trang 4

PHẦN 2 – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1 – Các vấn đề lý luận chung

Giới thiệu chung về chứng khoán

1.1.1 Khái niệm chứng khoán

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán đượcthể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồmcác loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần,chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứngkhoán hoặc chỉ số chứng khoán

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của chứng khoán

a) Đặc điểm:

Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn

b) Vai trò của chứng khoán:

Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nênmột lượng vốn tiền tệ khổng tồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà Nước và tư nhân

Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tàichính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng.Chứng khoán là một loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự

do

1.1.3 Phân loại chứng khoán

a) Căn cứ vào nội dung chứng khoán

- Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà Nước hoặc các doanh nghiệpphát hành cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn Ví dụ: trái phiếu

Trang 5

- Chứng khoán vốn là giấy tờ chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công

ty cổ phần Ví dụ: các loại cổ phiếu

b) Căn cứ vào hình thức chứng khoán

- Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không có gi tên người sở hữutrên các cổ phiếu, trái phiếu Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán haychuyển đổi trên thị trường chứng khoán

- Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán mà tên người sở hữu lưu giữtrong hồ sơ của chủ thể phát hành trên chứng khoán Việc chuyển tên người sởhữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn và phải có sự đồng ý của cơ quanphát hành chứng khoán

c) Căn cứ vào lợi tức chứng khoán

- Chứng khoán có lợi tức ổn định là loại chứng khoán mà người cầm giữloại chứng khoán này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnhgiá chứng khoán điển hình là trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi

- Chứng khoán có lợi tức không ổn định là loại chứng khoán mà các nhàđầu tư mong đợi 1 mức lợi tức cao hơn nhiều so với chứng khoán có lợi tức ổnđịnh, lãi suất không được ghi trên chứng khoán Các loại chứng khoán này thườngmang tính chất rủi ro cao và không ổn định

1.2 Giới thiệu chung về Thị trường chứng khoán

1.2.1 Khái niệm và bản chất của Thị trường chứng khoán

a) Khái niệm: Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thứctrao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán

b) Bản chất: Thị trường chứng khoán phản ánh các quan hệ trao đổi, muabán quyền sở hữu tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền, tức là mua bán quyền sở hữuvốn Trong nền kinh tế thị trường, vốn được lưu thông như một loại hàng hóa có

Trang 6

giá trị và giá trị sử dụng Thị trường chứng khốn là hình thái phát triển cao củanền sản xuất hàng hĩa

1.2.2 Đặc điểm và vai trị của Thị trường chứng khốn

a) Đặc điểm:

Thị trường chứng khốn là một bộ phận của thị trường tài chính, đượcchuyên mơn hĩa về mua bán các chứng khốn trung và dại hạn Thị trường chứngkhốn ra đời là một tất yếu khách quan

- Thị trường chứng khoán chính thức (The stock exchange) Hay còn

gọi là thị trường chứng khoán tập trung, là thị trường hoạt động theocác qui định pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã đượcđăng ký và chứng khoán ngoại lệ Thị trường chứng khoán chính

Trang 7

thức có địa điểm và thời gian mua bán rõ rệt, giá cả được định theothể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của cơ quan quản lýNhà nước về chứng khoán Thị trường chứng khoán chính thức đượcthể hiện bằng các Sở giao dịch chứng khoán.

- Thị trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market –

OTC) Hay còn gọi là thị trường chứng khoán phi tập trung (còn gọi làThị trường chứng khốn ngầm), là thị trường mua bán chứng khoán ngoàisở giao dịch, không có địa điểm tập trung những người môi giới,những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao dịch chứng khoán,không có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứngkhoán, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thoảthuận của người mua và người bán được thực hiện bởi các công tychứng khoán thành viên Phương thức giao dịch thông qua mạng điệnthoại và vi tính Các chứng khoán giao dịch trên thị trường này thườnglà các loại chứng khoán không được đăng ký, ít người biết hay ít được

mua bán

b) Căn cứ vào tính chất phát hành hay quá trình lưu hành củachứng khoán

- Thị trường chứng khoán sơ cấp

Thị trường chứng khoán sơ cấp còn gọi là thị trường cấp mộthay thị trường phát hành là thị trường phát hành các loại chứngkhoán Đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mớiphát hành lần đầu cho phép các chủ thể cần nguồn tài chính tiếpnhận được các nguồn tài chính bằng việc phát hành các chứng khoánmới, những chứng khoán bán cho người đầu tiên mua nó nhằm thuhút vốn đầu tư

Trang 8

Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành Thịtrường này tập trung các nguồn vốn nhà rỗi của các nhà đầu tư vềphía các đơn vị phát hành, đồng thời các chứng khoán được chuyểnđến tay các nhà đầu tư lần đầu Thị trường sơ cấp làm tăng vốn chonền kinh tế đồng thời tạo ra hàng hoá chứng khoán cho thị trườngthứ cấp Việc phát hành chứng khoán ở thị trường sơ cấp nhằm thuhút mọi nguồn vốn đầu tư, tiết kiệm vào phát triển kinh tế

Đối tượng mua bán trên thị trường chứng khoán sơ cấp là quyềnsử dụng các nguồn tài chính Thị trường này chỉ được tổ chức mộtlần, việc phát hành chứng khoán được bắt đầu kể từ khi đơn vị pháthành chứng khoán chào bán chứng khoán ra công chúng và chấmdứt khi toàn bộ số chứng khoán của đợt phát hành đến tay các nhàđầu tư thứ nhất

- Thị trường chứng khoán thứ cấp

Thị trường chứng khoán thứ cấp là thị trường cấp hai hay thịtrường lưu thông, thị trường mua đi bán lại các chứng khoán đã đượcphát hành trên Thị trường chứng khốn sơ cấp, làm thay đổi quyền sởhữu chứng khoán Đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứngkhoán đến tay người thứ hai, tức là thị trường diễn ra việc mua bán lạicác chứng khoán đã được phát hành trên thị trường chứng khoán sơcấp

Thị trường chứng khoán thứ cấp là một thị trường cạnh tranh tự

do Trên thị trường này, các nhà đầu tư, các nhà môi giới, các nhàkinh doanh chứng khoán được tự do tham gia Mặt khác, giá cả củachứng khoán phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh và kết quả của quan hệcung cầu chứng khoán Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt

Trang 9

động liên tục không ngừng nghỉ Các nhà đầu tư có thể mua bánchứng khoán nhiều lần trên thị trường này.

c) Căn cứ vào phương thức giao dịch

- Thị trường giao ngay (Spot market) còn gọi là thị trường thời

điểm, tức là thị trường thực hiện việc giao dịch mua bán chứng khoántheo giá thỏa thuận của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và giaohoán sẽ diễn ra tiếp sau đó hai ngày

- Thị trường tương lai (Future market) là thị trường mua bán chứng

khoán theo một hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngàygiao dịch nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳhạn nhất định trong tương lai

d) Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hoá lưu hành trên thịtrường chứng khoán

Theo căn cứ này, thị trường chứng khoán được chia ra thành baloại thị trường:

- Thị trường cổ phiếu

-Thị trường trái phiếu

- Thị trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán

1.3 Lạm phát và các nguyên nhân gây ra lạm phát

1.3.1 Khái niệm và bản chất của lạm phát

a) Khái niệm: Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ kéo dài làm cho mức giá

cả chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định

b) Bản chất: Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tănglên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài

Trang 10

1.3.2 Phân loại lạm phát

Dựa vào tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh té chia làm 3 loại:

- Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát một số, tỷ lệ tăng giá thấp dưới10%/năm

Đồng tiền mất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinhdoanh Mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch

- Lạm phát phi mã: là loại lạm phát 2 hay 3 só, tức trong khoảng hơn 10%.Lạm phát phi mã trong 1 thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiemtrọng, đồng tiền bị mất giá nhanh

- Siêu lạm phát: là loại lạm phát trên 4 số, tức tỷ lẹ lạm phát lên đến hàngngàn phần trăm, người ta ví nó như căn bệnh ung thư gây chết người, có tác độngrất lớn đến nền kinh tế, người ta bị chìm trong khối tiền tẹ khi hàng hóa đều khanhiếm Tiền tệ không thực hiện chức năng phương tiện trao đổi vì không ai muốnbán hàng để lấy những đồng tiền vô giá trị

1.3.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát

a) Xét theo nguồn gốc:

- Nguyên nhân cơ bản và sâu xa: nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, sảnxuất sút kém, ngân sách quốc gia bị thâm hụt dẫn đến lạm phát

- Nguyên nhan trực tiếp: cung cấp tiền tệ tăng trưởng quá mức cần thiết

- Nguyên nhân quan trọng: hệ thống chính trị bị khủng hoảng do những tácđộng bên trong hoặc bên ngoài làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ củaNhà Nước bị xói mòn, từ dó làm cho uy tín và sức mua của đồng tiền bị giảm sút,

họ không tiêu xài hoặc đánh giá thấp giấy bạc mà Nhà Nước phát hành

b) Xét theo chủ quan – khách quan

- Nguyên nhân chủ quan: những chính sách quản lý kinh tế không phù hợpcủa Nhà Nước như chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất, chính sách thuế

Trang 11

… làm cho nền kinh tế bị mất cân đối, hiệu quả sản xuất bị sút kém, ảnh hưởngđến nền tài chính quốc gia

- Nguyên nhân khách quan: thiên tai, động đất, sóng thần … là nhữngnguyên nhân bất kahr kháng hoặc nền kinh tế sau chiến tranh bị tàn phá, tình hìnhbiến động của thị trường nhiên liệu, vàng, ngoại tệ thế giới … dẫn tới thiếu hànghóa, đồng tiền mất giá

c) Xét theo lý thuyết cung – cầu

- Lạm phát cầu kéo (Demand-pull inflation) xảy ra khi tổng cầu tăng trongkhi tổng cung không tăng hoặc tăng chậm hơn tổng cầu Lúc đó, một lượng tiềnlớn dùng để mua hàng hóa ít ỏi sẽ làm tăng giá

- Lạm phát chi phí đẩy (Cost-push inflation) xảy ra khi chi phí sản xuất giatăng hoặc khi năng lực sản xuất của quốc gia giảm sút

1.4 Các nhân tố của lạm phát ảnh hưởng tới Thị trường chứng khoán

1.4.1 Nhân tố giá cả

Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà mộtngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác Thế nhưng câu chuyện về lãisuất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó

Lạm phát gia tăng thì giá phải trả để sử dụng vốn của người khác sẽ tăng lên

để tương xứng với mức độ gia tăng của giá cả Chính vì vậy, lãi suất huy động củangân hàng phải tăng lên dẫn tới lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng tăng lên,

nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lược kinh doanh củacác doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, khiến cho thu nhập thấphơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho thị trường chứng khoán trở nênkém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư

Trang 12

Dễ thấy, chính bản thân các doanh nghiệp cũng cần vay tiền từ ngân hàngthương mại để duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất Một khi các khoản vay từngân hàng trở nên đắt hơn thì các doanh nghiệp sẽ có tâm lý ngại vay tiền và thực

tế thì họ phải trả lãi suất cao hơn cho các khoản vay Với một doanh nghiệp trongthời kỳ tăng trưởng thì điều này có thể tác động nghiêm trọng, doanh nghiệp phảithu hẹp phạm vi hoạt động và kết quả là lợi nhuận bị giảm sút

Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệpchính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại.Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trịmột cổ phần Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhàđầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng muahoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau

Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu

tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợtăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương laiđược dự đoán sẽ giảm đi Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấpxuống Nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán có sự sụp giảmnày đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm

1.4.2 Nhân tố lãi suất

Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp vàngược chiều nhau Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền Khi lãisuất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, dovậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất tráiphiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất tráiphiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm

Trang 13

Khơng chỉ vậy, quan hệ giữa lãi suất thị trường và lãi suất chứngkhoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán.Nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứngkhoán sẽ giảm, đều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứngkhoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là muachứng khoán

Lãi suất của chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến giá của chứngkhoán Ảnh hưởng này càng lớn nếu kỳ hạn của chứng khoán càngdài Vì các chứng khoán dài hạn rủi ro cao hơn các chứng khoán ngắnhạn Nếu những nhà đầu tư muốn mua chứng khoán dài hạn thì họ sẽđòi hỏi một lãi suất chứng khoán cao hơn nhiều để bù đắp các rủi

ro đó

1.4.3 Các chính sách của nhà nước trong việc kiềm chế lạm phát

a) Thay đổi lãi suất chiết khấu:

Lãi suất chiết khấu là chi phí mà các ngân hàng thuơng mại phải trả choviệc vay tiền từ ngân hàng trung ương Nĩi rõ ràng hơn thì khi các ngân hàngthương mại cần tiền, họ cĩ thể vay ở ngân hàng trung ương bằng cách mang chiếtkhấu các giấy tờ cĩ giá với một lãi suất do ngân hàng trung ương cơng bố từ trước,gọi là lãi suất chiết khấu

Bởi đĩ là một trong những cách hữu hiệu nhất mà ngân hàng trung ương nỗlực để kiểm sốt lạm phát Khơng một quốc gia nào muốn để lạm phát ở mức cao.Việt Nam cũng khơng nằm ngồi mục tiêu đĩ, chúng ta đang cố gắng khống chế

tỷ lệ lạm phát ở mức 8% Bằng việc thay đổi lãi suất chiết khấu, ảnh hưởng đếnlượng cung tiền trong xã hội, ngân hàng trung ương hy vọng cĩ thể kiểm sốt lạmphát Đây cũng là cách làm phổ biến của hầu hết các quốc gia

Trang 14

Hiểu một cách cơ bản nhất thì khi ngân hàng trung ương gia tăng lãi suấtchiết khấu tức là họ đang nỗ lực làm cho lượng cung tiền trong xã hội giảm bằngcách tạo chi phí vay tiền đắt hơn Nó khiến cho việc vay tiền của ngân hàngthương mại từ ngân hàng trung ương trở nên đắt hơn Người chơi chứng khoán sẽkhông thể vay của ngân hàng để đầu tư vào Thị trường chứng khoán như trướcđây, do đó, lượng người và lượng vốn tham gia Thị trường chứng khoán sẽ ít đi.

b) Quy định mức dự trữ bắt buộc

Khi lượng dự trữ tiền cơ sở của các ngân hàng thương mại thay đổi vì chínhsách tiền tệ thắt chặt của Nhà Nước sẽ dẫn đến ngân hàng thương mại phải điềuchỉnh tương ứng các mức hạn cho vay tương ứng trên tổng dư nợ của ngân hàng,lượng tiền cung từ ngân hàng ít đi, số tiền vay được để chơi chứng khoán ít hơn,dân tự huy động tiền nhàn rỗi của mình nhiều hơn

c) Chỉ thị 03 về thắt chặt cho vay chứng khoán

Sau nhiều đánh giá của các chuyên gia về tình trạng bong bóng của thịtrường, chính phủ đã quyết định ban hành chỉ thị 03 về thắt chặt cho vay chứngkhoán Chỉ thị này ngay khi mới ra đời đã làm cho thị trường chứng khoán chấnđộng

Trên sàn giao dịch CK TPHCM, chỉ số VN - Index trong thời điểm đó cũngchỉ xoay quanh ngưỡng trên 1.000 điểm So với xu thế tăng, VN - Index nghiêng

về chiều hướng điều chỉnh giảm nhiều hơn Giám đốc điều hành một quỹ đầu tưnước ngoài đang hoạt động tại VN nhận định, nguyên nhân khiến TTCK đi đếnkết quả trên là tác động bởi Chỉ thị 03 của NHNN vừa mới ban hành Mặc dù đếnthời điểm đó, NHNN vẫn chưa có động thái nào trước sự phản ứng quyết liệt củacác NH cổ phần và NĐT Nhưng trên thực tế, các NH cổ phần đã và đang dần tạmngừng cho vay cầm cố CP Chính vì vậy, tâm lý của NĐT rất hoang mang trongviệc quan sát tình hình để kiếm cơ hội đẩy hàng thu hồi vốn trả nợ cho nhà băng

Trang 15

Theo vị giám đốc trên, nhiều khả năng CK sẽ bị ảnh hưởng mạnh trong thời giantới khi các NH cổ phần mạnh tay siết chặt cho vay cầm cố hơn so với hiện nay.

Trên thực tế, lượng tiền NĐT đổ vào thị trường đang dần bị thu hẹp Điềunày được chứng minh qua hiện tượng bỏ cọc mua CP của Tập đoàn Bảo Việt trongđợt đấu giá vừa qua, khiến giá CP của tập đoàn này đang trong trạng thái điềuchỉnh Không chỉ có CP của Bảo Việt, mà theo vị GĐ điều hành trên, nếu hạn chếmức cho vay cầm cố dưới 3% trên tổng dư nợ thì chắc chắn luồng tiền NĐT bỏmua các CP khác sẽ bị hạn chế lại, vì lượng tiền NĐT đang bỏ vào trên thị trườngphần lớn vay mượn từ NH

Theo ông, nếu NHNN cương quyết khống chế hạn mức cho vay cầm cốdưới hạn mức 3% trên tổng dư nợ thì không còn cách nào khác là NH phải thu hồi

nợ Tuy nhiên, ông cho rằng, như vậy NHNN đã vô tình hạn chế sự phát triển dịch

vụ tín dụng và tính tự chủ của các NH cổ phần Vì trên thực tế, nếu NĐT muốntham gia mua cổ phần của một DN nào đó để trở thành đối tác chiến lược thìkhông lý do gì các NH lại từ chối Vả lại, trước khi quyết định cho vay, các NHđều có sự phân chia danh mục, khoản vay để đảm bảo nguồn vốn và hạn chế rủi

ro Như vậy, theo ông này nếu hạn chế cho vay cầm cố CK, NHNN chỉ nên kiểmsoát chặt NH khi cho các nhà đầu cơ vay kinh doanh CP

Không chỉ có NĐT cá nhân mà ngay cả những NĐT có tổ chức cũng luôncần đến nguồn vốn của NH Duy chỉ có các NĐT nước ngoài mới có sẵn nguồntiền lớn đầu tư Do vậy, việc NHNN hạn chế cho vay cầm cố sẽ ảnh hưởng nhấtđịnh đến NĐT trong nước, nhưng đồng thời lại là cơ hội cho NĐT nước ngoài Vìthông thường, NĐT ngoại vẫn luôn có xu hướng mua vào khi giá CP trên thịtrường có dấu hiệu sụt giảm

Tuy nhiên không thể đổ lỗi cho quyết định này hoàn toàn, mà nguyên nhânchính là do tâm lý bất ổn của nhà đầu tư Phó Tổng giám đốc một ngân hàng

Trang 16

thương mại cho biết: “Theo tơi, Chỉ thị 03 sẽ khơng gây tác hại quá lớn như một

số thơng tin thổi phồng lên đâu Những người chơi chứng khốn phần lớn bằngvốn vay mượn NH chiếm tỷ lệ bao nhiêu chưa ai biết được mà đã vội cho rằng thịtrường đã bị cho uống thuốc quá liều”

Tuy nhiên nĩi gì thì nĩi, sau thời điểm đĩ, TTCK Việt bắt đầu chuỗi mấtđiểm và trở lại vị trí thực của nĩ

1.5 Các nhĩm chỉ số dùng để đánh giá hiệu quả của chứng khốn

1.5.1 Chỉ số thanh khoản

Chỉ ra khả năng của công ty đáp ứng nợ ngắn hạn cũng nhưchuyển tài sản hiện thời thành tiền mặt để trả nợ

a) Chỉ tiêu vốn hoạt động thuần

Chỉ tiêu vốn hoạt động thuần là chênh lệch giữa tài sản lưuđộng và nợ ngắn hạn, là số vốn mà công ty cần để đưa vào cáchoạt động hàng ngày Số tiền này nhằm duy trì mức độ hữu hiệucủa vốn hoạt động Đảm bảo điều này cho phép công ty nâng caokhả năng thanh toán những món nợ đến hạn

hạn ngắn nợ

bộ Toàn -

hạn ngắn sản

tài bộ Toàn thuần

động hoạt

b) Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành (Rc)

hạn ngắn nợ

bộ Toàn

hạn ngắn sản tài bộ Toàn c

R 

Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệpcó bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảothanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này đo lường khảnăng trả nợ của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được chấp nhận haykhông tuỳ thuộc vào sự so sánh với tỷ số thanh toán trung bình ngành

Trang 17

mà doanh nghiệp đang kinh doanh hoặc so sánh với các năm trước đểthấy sự tiến bộ hoặc giảm sút.

Nếu chỉ tiêu Rc giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm vàcũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra

Nếu chỉ tiêu Rc khá cao và cóõ1u hướng tăng nghĩa là công tyluôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên nếu Rc quá cao sẽlàm giảm hiệu quả sử dụng vốn vì công ty đầu tư quá nhiều vào tàisản ngắn hạn, tức là công ty quản lý tài sản ngắn hạn chưa có hiệuquả Theo quan điểm của nhiều nhà phân tích, xu hướng của phân tíchchỉ số Rc ở mức độ an toàn trong khoảng 2,0

c) Chỉ số khả năng thanh toán nhanh (Rq)

Chỉ số khả năng thanh toán nhanh (Rq) là chỉ tiêu được tính toándựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng được chuyển đổithành tiền, bao gồm tất cả các tài sản lưu động trừ hàng tồn kho

hạn ngắn nợ bộ Toàn

kho tồn Hàng -

hạn ngắn sản

tài bộ Toàn q

d) Chỉ số thanh khoản (k)

Chỉ số thanh khoản là chỉ tiêu đánh giá chính xác nhất khảnăng thanh toán nợ đến hạn của công ty, đánh giá ngân quỹ màcông ty có thể sử dụng tức thời

hạn ngắn nợ bộ Toàn

trường thị

trên c đượ bán thể có khoán chứng

Các Tiền

Nếu k >1: tốt

k=1: bình thườngk<1: có khó khăne) Lưu chuyển tiền tệ (dòng lưu kim)

Trang 18

Dòng lưu kim phản ánh số tiền phát sinh từ hoạt động của công

ty Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thanh toán những chi phí hiện

hành của công ty như việc thanh toán cổ tức

năm hàng hao

khấu (lỗ)

ròng nhuận Lợi

tệ tiền chuyển

Nếu lưu chuyển tiền tệ dương cho thấy công ty có thu nhập đầy

đủ để chi trả các chi phí và phân chia cổ tức

Nếu lưu chuyển tiền tệ âm có nghĩa rằng công ty bị thua lỗ và

có thể gặp khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn

1.5.2 Chỉ số về khả năng tái tạo vốn

a) Chỉ số trái phiếu

Chỉ số trái phiâếu chỉ ra số vốn huy động là trái phiếu chiếm

bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài hạn

hạn dài vốn bộ Toàn

phiếu trái

giá Mệnh

phiếu trái

số

b) Chỉ số cổ phiếu ưu đãi

Chỉ số cổ phiếu ưu đãi chỉ ra số vốn huy động từ cổ phiếu ưu

đãi chiếm bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài hạn

hạn dài vốn bộ Toàn

đãi ưu phiếu cổ

giá Mệnh đãi

ưu phiếu cổ

số

c) Chỉ số cổ phiếu thường

Chỉ số cổ phiếu thường cho biết số vốn dài hạn huy động được

từ cổ phiếu thường chiếm bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài

hạn

hạn dài vốn bộ Toàn

lại giữ nhập thu

vốn dư thặng thường

phiếu cổ

giá Mệnh thường

Trang 19

Nếu chỉ số trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn chứng tỏ trái phiếu

đang lưu hành cao, được xem như cán cân nợ của công ty lớn Điều này

ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty bị ảnh hưởng lớn vào

sự thay đổi của lãi suất

d) Chỉ số nợ trên vốn cổ phần

Chỉ số nợ trên vốn cổ phần là tỷ lệ giữa trái phiếu và cổ

phiếu ưu đãi trên cổ phiếu thường

lại giữ nhập thu vốn

dư thặng thường

phiếu cổ

giá Mệnh

đãi ưu phiếu Cổ

phiếu Trái

phần cổ

vốn trên nợ số

Chỉ số bảo chứng còn gọi là chỉ số trang trải, nhằm đo lường

khả năng của công ty để đáp ứng việc trả lãi cho các trái chủ và

trả cổ tức cho các cổ đông ưu đãi

a) Hệ số thanh toán lãi trái phiếu

Hệ số thanh toán lãi trái phiếu là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước

khi trả lãi và thuế với tiền lãi trái phiếu phải trả hàng năm

năm hàng trả

phải phiếu trái

Lãi

(EBIT) vay

lãi và thuế trước nhuận

Lợi phiếu

trái lãi toán thanh

số

Hệ số trên quá thấp hay không đáp ứng thanh toán tiền lãi cho

các trái chủ làm cho công ty thất bại trong việc vay nợ Hệ số này

cho thấy mức độ an toàn trong thanh toán lãi cho các trái chủ Khi

công ty thiếu khả năng thanh toán lãi cho các trái chủ sẽ đặt công ty

vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ

b) Hệ số thanh toán cổ tức ưu đãi

Trang 20

đãi ưu tức Cổ

thuế sau nhuận Lợi

đãi lưu tức cổ toán thanh số

Hệ số này cho thấy mức độ an toàn trong viêc thanh toán cổ tức

cho các cổ đông Khi công ty không đủ khả năng thanh toán cổ tức

cho cổ đông, sẽ đặt công ty vào tình trạng mất khả năng thanh toán

nợ và ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu ưu đãi trên thị trường

1.5.4 Chỉ số về khả năng lợi nhuận và sử dụng tài sản

Việc tính toán khả năng lợi nhuận chỉ ra số lợi nhuận mà công

ty đạt được cho mỗi đồng doanh thu (doanh số) Các nhà phân tích

thường nhìn vào cả lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau

thuế) để đánh giá khả năng tạo lợi nhuận

a) Hệ số lợi nhuận gộp

thuần thu

Doanh

gộp nhuận Lợi

gộp nhuận lợi

Doanh

ròng nhuận Lợi

ròng nhuận lợi

số

d) Tỷ lệ hoàn vốn cổ phiếu thường

Tỷ lệ hoàn vốn cổ phiếu thường là một trong các chỉ tiêu đo

lường quan trọng khả năng tạo lợi nhuận của công ty năm này so với

năm khác

lại giữ nhập thu vốn dư thặng thường

phiếu cổ

giá Mệnh

đãi ưu tức Cổ - ròng nhuận Lợi

thường phần

cổ vốn hoàn

Trang 21

thường phiếu

cổ Số

đãi ưu phiếu cổ

trả phải nợ

-tổng - hình vô sản tài - sản tài Tổng

cổ Số

đãi ưu tức Cổ - thuế sau nhuận Lợi

EPS 

b) Cổ tức cho một cổ phiếu thường (DPS)

hành lưu đang thường phiếu

cổ Số

lại giữ nhuận Lợi

đãi ưu tức Cổ - thuế sau nhuận Lợi

-DPS 

c) Chỉ số giá cả trên thu nhập (P/E)

EPS

phiếu cổ

của trường thị

Giá nhập

thu trên cả giá số

Hệ số P/E cao chỉ ra rằng nhà đầu tư đang trả giá cao cho thu

nhập ngày hôm nay Họ làm như vậy hy vọng thu nhập tương lai sẽ cao

hơn Các cổ phiếu có hệ số P/E cao có khuynh hướng trả cổ tức thấp

d) Hệ số chi trả cổ tức

Hệ số này là tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng trả cho cổ đông

thường dưới dạng cổ tức

EPS

DPS tức

cổ trả chi số

e) Lơiï tức hiện thời (hệ số lãi cổ phần trên thời giá)

Lợi tức hiện thời cho cổ phiếu thường thể hiện tỷ lệ hoàn vốn

cổ tức dựa trên giá trị thị trường hiện thời của cổ phiếu

Trang 22

thường phiếu

cổ mỗi của trường thị

trị Giá

thường

phiếu cổ

mỗi của năm hàng tức

Cổ thường

phiếu cổ

1 của thời hiện

Sau khi ra nhập WTO, Thị trường chứng khốn Việt Nam đã cĩ những

bước chuyển biến đáng kể Thị trường chứng khốn VN bắt đầu cĩ những sự khởi

sắc nhất định Chúng ta cĩ thể thấy rõ điều này thơng qua số lượng các quỹ đầu tư

nước ngồi đăng ký tham gia hoạt động tại thị trường tài chính VN tăng nhanh

Trang 23

Mức cầu chứng khoán gia tăng đã giúp chỉ số VN Index liên tục tăng trong 4-5tháng đầu năm 2006, và đạt mức kỷ lục là 632,69 điểm (ngày 25/4/2006) Sau giaiđoạn đó, Thị trường chứng khoán tiếp tục khởi sắc với những phiên tăng điểm kéodài và ổn định Trong giai đoạn đó, những cơn sốt cổ phiếu đang diễn ra Giới đầu

tư bắt đầu săn lùng những cổ phiếu lần đầu IPO Điều này đã đẩy giá chứngkhoán tăng mạnh Những công ty lớn lần đầu niêm yết được giới đầu tư quan tâmnhư ACB, FPT … liên tiếp tạo lập kỷ lục về giá niêm yết

Tiếp nối thành công của năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếptục có những bước chuyển mình trong năm 2007 Với những phát triển vượt bậc

về quy mô, chất lượng, thị trường chứng khoán đã và đang chứng minh vị thế vàtầm ảnh hướng đáng phải có của nó với đời sống kinh tế đất nước Nền kinh tếbước vào năm 2007 tràn đầy tín hiệu lạc quan Việc tổ chức thành công hội nghịcấp cao APEC, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cùng với tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm tạo cơ sở cho niềm tin về tương laiphát triển của kinh tế đất nước

Niềm tin được thể hiện mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán Giới đầu tưnước ngoài liên tục huy động vốn và chuyển tiền vào Việt Nam chuẩn bị chonhững kế hoạch giải ngân dài hơi với quy mô lớn Nhà đầu tư và các công ty trongnước cũng tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực tài chính chứng khoán – chính xác, tàichính và chứng khoán trở thành một dạng “mốt”

Thị trường chứng khoán chính thức có một bước nhảy vọt cả về số lượngcác công ty niêm yết, chất lượng hàng hóa và quy mô giao dịch Làn sóng cáccông ty niêm yết cuối năm 2006 nhằm hưởng ưu đãi thuế đã không gây ra khủnghoảng như một số chuyên gia dự báo, mà trái lại, đã trở thành một lực đẩy tíchcực Với sự góp mặt của FPT, PVD, PPC, SSI, DPM, HPG…, số lượng các cổ

Trang 24

phiếu lớn có ảnh hưởng liên thông gần với VN-Index tăng lên Thị trường khôngcòn chịu tác động chỉ từ một hai mã cổ phiếu nên có độ cân bằng cao hơn

Tính thanh khoản lên cao chưa từng thấy, đưa thị trường vào giai đoạn pháttriển bùng nổ Số lượng tài khoản nhà đầu tư cũng như giá trị giao dịch tăng từngphiên Nếu như đầu năm 2006, giá trị giao dịch mỗi phiên chỉ vài chục tỉ đồng thìnăm 2007 con số này đạt khoảng 1.000 tỉ đồng Thị trường chứng khoán chínhthức trở thành kênh thu hút vốn cho doanh nghiệp, kênh đầu tư sinh lời của ngườidân – nơi đâu đó giấc mơ đổi đời đã trở thành sự thật

Khởi đầu năm 2007 với con số 751,77 điểm, chỉ sau hơn 3 tháng VN-Index

đã vọt lên đỉnh 1170,67 điểm ngày 12/3 Đây chính là giai đoạn thăng hoa nhấttrong lịch sử 8 năm vận hành của Thị trường chứng khoán Trái “bong bong chứngkhoán” trở thành chiếc túi không đáy hút liên tục các nguồn tiền khác nhau

Chặng đường tới đỉnh bắt đầu với đợt tăng giá của các công ty lớn(bluechip) có kết quả kinh doanh tốt Thị trường được đẩy lên khỏi mức 1.000điểm Lợi nhuận đem lại từ đầu tư chứng khoán đi vào câu chuyện thường ngàycủa mọi nhà, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán, kéo một lượng nhà đầu tư mới

ra nhập thị trường Các cổ phiếu tiếp tục tăng giá sau Tết Nổi bật ở giai đoạn này

là các cổ phiếu mang tính đầu cơ cao như các cổ phiếu các công ty nhỏ sàn HOSE(TP.HCM) và cổ phiếu các công ty thuộc tổng công ty Sông Đà, các công ty insách giao khoa trên sàn HASTC (Hà Nội) Giá nhiều cổ phiếu tăng không ngừngkhiến các chỉ số phân tích cơ bản bị bỏ lại đằng sau đủ để nhiều nhà đầu tư cảmthấy chúng quá đắt Khi mọi người đều nghĩ “quá cao” thì giảm giá là điều tất yếu.Thị trường giảm liên tục từ giữa tháng 3 Cổ phiếu mất giá khiến không ít nhà đầu

tư mà đa phần là những người mới gia nhập thị trường thua lỗ nặng Đây là bàihọc đầu tiên trong năm nhưng cũng rất cần thiết với nhà đầu tư Chỉ có mất mát từthị trường mới có thể tác động được vào những quan niệm như: Thị trường chứng

Trang 25

khoán là cỗ máy in tiền, cứ mua là lãi, đầu tư là công việc nhàn hạ, dễ dàng, thậmchí nhiều người còn coi Thị trường chứng khoán như sòng bạc Từ mức đỉnh1170,67 điểm thị trường rơi xuống mức đáy 905,53 ngày 24/4

Khi mà nhiều người, thậm chí là các chuyên gia đã nghĩ đến sự sụp đổ,bong bong vỡ hay hiệu ứng domino thì thị trường chứng minh điều ngược lại Thịtrường và những người tham gia vào nó đã trưởng thành Đợt giảm giá chỉ là điềuchỉnh mà không có đổ vỡ Khi giá nhiều mã cổ phiếu giảm khoảng 30% cũng là cơhội đầu tư quay trở lại Được tiếp thêm sức mạnh sau kì nghỉ lễ 30/4 và 1/5, thịtrường bắt đầu tăng giá trong tháng năm Thị trường giai đoạn này tăng trở lại khánhanh nhưng không lập lại được mức đỉnh cũ, chỉ đạt 1113,19 điểm ngày 23/5

Bị ảnh hưởng bởi đợt đấu giá Bảo Việt, thị trường lại một lần nữa đi xuống.Tuy nhiên, trong xu thế giảm giá kéo dài của toàn thị trường lại xuất hiện nhữngcon cá hồi bơi ngược dòng Tiêu điểm thời gian này là giao dịch của cá cổ phiếu

“hiếm” như BMC, TCT, SGH,LBM Các cổ phiếu này có đặc điểm chung là sốlượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường ít, phần nào được kiểm soát Khi có cácthông tin tốt về kết quả sản xuất hay những lợi thế về tài nguyên, đất đai, giá lậptức được đẩy lên Số lượng đặt mua có thể đạt đến triệu đơn vị, trong khi đó sốlượng bán ra chỉ nhỏ giọt từng chút một như một động tác để đẩy giá lên kịch trần.Sau gần 3 tháng đến ngày 23/8 VN Index lại rơi xuống 887,62 điểm

Thị trường tiếp tục cho thấy sức đẩy ở mức 900 điểm Như được hồi sức saungày nghỉ lễ 2/9, VN-Index quay lại con đường chinh phục đỉnh cao Tuy nhiên,dẫn đạo xu hướng không còn là bluechip mà là các cổ phiếu nhỏ, các cổ phiếu sàn

hà Nội và các cổ phiếu mới niêm yết VN Index quay trở lại 1106,6 điểm ngày3/10

Việc giá cổ phiếu các công ty mới niêm yết tăng mạnh như động lực đưacác công ty đã có dự định niêm yết nhanh chóng lên sàn Nhưng khi thời gian

Trang 26

niêm yết đã được ấn định thì cũng là lúc thị trường bắt đầu trở nên khó khăn.Cùng với SSI chuyển từ sàn HN sang, khi DPM, HPG niêm yết, thị trường đuốisức dần và bắt đầu tuột dốc VN-Index lại quay trở về 900 điểm với nỗi lo vềnguồn vốn dành cho những đợt phát hành thêm và IPO các công ty quốc doanhcực lớn sắp cổ phần hóa

2.1.2 Chỉ số chứng khoán trong giai đoạn lạm phát

Trái với dự đoán của nhiều nhà đầu tư về tương lai của Thị trường chứngkhoán Việt Nam năm 2008, tình hình lạm phát đã kéo Thị trường chứng khoánViệt Nam trở lại với những con số thực của nó

Liên tục những phiên giảm giá của thị trường trong những tháng đầu năm

2008 Hy vọng tái lập mốc 1000 lung lay, và VN index nhanh chóng xuống khỏinhững mức mà nhiều nhà đầu tư cho rằng đã chạm đáy

Ngay sau khi có tin tức về chỉ thị 03, nhiều nhà đầu tư bắt đầu bán tháo cổphiếu khiến cho thị trường liên tiếp đi vào những phiên mất điểm hạn chế cho vayđầu tư chứng khoán khiến cho nhiều nhà đầu tư e ngại về tính thanh khoản của thịtrường Ngay sau đó là những chính sách vĩ mô của nhà nước liên tục đẩy thịtrường vào tình thế “hiểm nghèo” Những dự báo về khả năng đột biến của lạmphát thời gian tới là một áp lực chính trong những phiên giao dịch vào tháng5/2008

Xu hướng giao dịch trên sàn không có nhiều khác biệt so với phiên liềntrước Đà giảm đã có trong dự tính của nhiều nhà đầu tư Điểm mà họ quan tâm lànhững dự báo về lạm phát vừa xuất hiện trên thị trường Viện Nghiên cứu và Quản

lý kinh tế Trung ương (CIEM) công bố những dự báo về kinh tế Việt Nam năm

2008, trong đó đề cập đến khả năng xấu nhất lạm phát có thể lên tới 22,3%, và lạcquan nhất cũng ở mức 16,7%

Trang 27

Tỷ lệ trên thực sự gây “sốc” đối với những hy vọng về đà giảm của lạmphát trong thời gian tới, nhất là khi đã có dấu hiệu giảm tốc trong hai tháng vừaqua Với nhà đầu tư chứng khoán, có thể hiểu dự báo trên đi cùng với môi trườngđầu tư có khả năng sẽ xấu thêm, mà lạm phát vốn được xem là một nguyên nhânchính gây sụt giảm của thị trường từ đầu năm đến nay

Trong khi đó, có dự báo của một tổ chức uy tín nước ngoài lại chưa đượcphổ biến rộng rãi Đó là dự báo khá lạc quan của bộ phận nghiên cứu Ngân hàngStanard Chartered Ngân hàng toàn cầu này đưa ra dự báo lạm phát của Việt Nam

có thể lên tới 20% trong quý 2/2008, nhưng ngay sau đó sẽ giảm nhanh và kết thúcnăm ở dự báo 14% Xa hơn, Stanard Chartered lạc quan khi dự tính tỷ lệ trên chỉcòn 7,5% trong quý 1 và quý 2/2009 (thấp hơn nhiều so với năm nay) Nhìn lại hai

dự báo trên, có một điểm chung là lạm phát vẫn diễn biến phức tạp và có thể tăngmạnh trong quý 2 tới Đây là một bất lợi đối với khả năng phục hồi của thị trườngchứng khoán

Còn trên thực tế, thị trường này vừa khép lại một tuần giảm mạnh cả vềđiểm số, giá chứng khoán và khối lượng giao dịch Tại sàn Tp.HCM, chỉ còn 3,5triệu đơn vị, bằng phân nửa khối lượng những phiên gần đây và có giá trị 148 tỷđồng

Chỉ số VN-Index qua phiên này chính thức về mốc 500 điểm, giảm 7,61điểm, còn 500,33 điểm HASTC-Index chỉ còn 154,23 điểm, giảm 3,19 điểm Đúng như dự đoán Thị trường chứng khoán đã xuống mức “đáy” 366 điểm vàongày 20/6 nếu xét diễn biến thị trường thời gian qua theo các con số thống kê thì

VN - Index đang có xu hướng tăng, tuy có xen kẽ với những phiên giảm Cụ thể,tính từ 20/6 đến nay, chu kỳ diễn biến của VN - Index đã qua các đoạn như sau:

Đoạn một, tăng từ 366 lên 489 điểm, từ ngày 20/6 đến ngày 17/7, tăng 123điểm trong 19 phiên, bình quân 1 phiên tăng 6,47 điểm

Trang 28

Đoạn hai, giảm từ 489 điểm xuống 429 điểm từ ngày 17/7 đến ngày 25/7,giảm 60 điểm trong 6 phiên, bình quân 1 phiên giảm 10 điểm

Đoạn ba, tăng từ 429 điểm lên 451 điểm từ ngày 25/7 đến ngày 31/7, tăng

22 điểm trong 4 phiên, bình quân 1 phiên tăng 5,5 điểm

Đoạn 4, giảm từ 451 điểm xuống 430 điểm từ ngày 31/7 đến ngày 5/8, giảm

21 điểm trong 3 phiên, bình quân 1 phiên giảm 7 điểm

Đoạn 5, tăng từ 430 điểm lên 562 điểm từ ngày 5/8 đến ngày 27/8, tăng 132điểm trong 16 phiên, bình quân 1 phiên tăng 8,25 điểm

Đoạn 6, giảm từ 562 điểm xuống 539 điểm từ ngày 27/8 đến ngày 29/8,giảm 23 điểm trong 2 phiên, bình quân 1 phiên giảm 11,5 điểm

Đoạn 7, tăng từ 539,1 điểm lên 555 điểm trong 1 phiên ngày 3/9, tăng 16,04điểm

Tính từ 20/6 đến ngày 3/9, có 51 phiên, bình quân một đoạn có trên 7 phiên

Có 4 đoạn tăng với 40 phiên, bình quân mỗi đoạn tăng có 10 phiên; điểm tăng của

4 đoạn này là 293 điểm, bình quân một phiên tăng trên 7,3 điểm Có 3 đoạn giảmvới 11 phiên, bình quân mỗi đoạn giảm có gần 4 phiên; điểm giảm của 3 đoạn này

là 104 điểm, bình quân một phiên giảm gần 9,5 điểm

Đáy của đoạn giảm sau đều cao hơn đáy của đoạn giảm trước; đỉnh củađoạn tăng sau nhìn chung cao hơn đỉnh của đoạn tăng trước Như vậy, tăng điểm

đã nhiều hơn giảm điểm cả về số đoạn (4/3), số phiên (40/11), tổng số điểm(293/104); nhờ vậy mà tính chung 51 phiên qua, VN - Index vẫn tăng 189 điểm;nhưng số điểm bình quân một phiên, thì phiên tăng ít hơn phiên giảm (7,3/9,5)

Trang 29

Biểu đồ 2.1.1 – Chỉ số VnIndex từ tháng 3 đến tháng 9/2008

Tình hình khó khăn cộng với khủng hoảng tài chính thế giới khiến cho CKviệt nam chưa tăng đã giảm trở lại Hy vọng chung của nhiều nhà đầu tư là tìnhhình ổn định của kinh tế trong nước cùng với sự phát huy của những chính sáchchống lạm phát sẽ giúp cho Thị trường chứng khoán tươi sáng hơn

2.2 Tình hình của một số cổ phiếu tiêu biểu được đề tài chọn trước và sau lạm phát

2.2.1 Công ty cổ phần cơ điện lạnh Reetech (REE)

a) Giới thiệu công ty:

Công ty cổ phần Cơ Điện Lạnh được thành lập từ năm 1977, tên gọi banđầu là Xí Nghiệp quốc doanh cơ điện lạnh thuộc sở hữu Nhà nước Với sự năng

Trang 30

động của ban lãnh đạo Công ty và tập thể cán bộ công nhân viên, Công ty luônđược đánh giá là người đi tiên phong trong việc thực hiện các chính sách đổi mớicủa Nhà nước Là doanh nghiệp đầu tiên tiến hành cổ phần hóa vào năm 1993,Công ty cũng là một trong hai doanh nghiệp đầu tiên niêm yết cổ phiếu tại Trungtâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000 Tạithời điểm niêm yết, vốn điều lệ của Công ty là 150 tỷ đồng Vốn điều lệ hiện tại là287.142.140.000 đồng.

- Đại lý ký gởi hàng hóa

- Xây dựng dân dụng và công nghiệp

- Kinh doanh nhà ở (xây dựng, sửa chữa nhà để bán hoặc cho thuê)

- Phát triển và khai thác bất động sản

- Hoạt động đầu tư tài chính vào các ngân hàng, công ty cổ phần

- Dịch vụ cơ điện cho các công trình công nghiệp, thương mại và dân dụng.Sản xuất máy điều hoà không khí Reetech, sản phẩm gia dụng, tủ điện và các sảnphẩm cơ khí công nghiệp

REE là một trong hai cổ phiếu đầu tiên của Việt Nam được niêm yết và giaodịch trên thị trường chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh Hiện tại số lượng

cổ phiếu đang lưu hành là 80,415,924, trong đó số nhà đầu tư nước ngoài đang sở

Trang 31

hữu là 26,771,313 (33.29%) Là một cổ phiếu đầu tiên được niêm yết trên thịtrường nên cổ phiếu của REE có những lợi thế nhất định so với các loại cổ phiếucùng ngành ngề hoạt động.

b) Tình hình giá cổ phiếu của REE trước khi lạm phát:

Là công ty chuyên sản xuất và tiêu tụ các sản phẩm về thiết bị điện nên nhìnchung tình hình và khả năng tăng trưởng của công ty khá ổn định và vững chắc.Trong năm 2006 và đầu năm 2007 là khoảng thời gian mà giá cổ phiếu của REElên tới mức đỉnh điểm và có mức ổn định nhất Khoảng thời gian từ 30-01-2007đến 30-03-2007 chứng kiến sự ổn định và một mức giá lý tưởng của công ty, qua

đó cho thấy được sự ổn định và sự kỳ vọng của nhà đầu tư đối với công ty.Khoảng thời gian này giá cổ phiếu dao động quang mức 250.000đồng/ cổ phiếu,

và giá cao nhất là 285.000đồng vào ngày 05-03-2007 Trong thời gian này, khốilượng giao dịch cũng tỷ lệ với giá cổ phiếu Ngày 31-01-2007 chứng kiến khốilượng giao dịch lớn nhât trong thời gian với gẩn 900.000 cổ phiếu, trung bình khốilượng giao dịch trong thời gian này là 450.000 cổ phiếu Chúng ta có thể khảo sátqua biểu đồ sau:

Trang 32

Biểu đồ 2.1.1 – Cổ phiếu REE từ 31/1 đến 30/3/2007

Có thể khi đạt tới giá trị cực đại thì việc đảo chiều là chuyện khó có thểtránh khỏi và điều đó là không ngoại lệ đối với REE Khi đạt tới max là285.000đồng/ cổ phiếu thì ngày 09-05-2007 đảo chiều nhanh chóng khi giá củangày trước là 243.000đồng xuống 170.000đồng Và bắt đầu từ ngày này giá củaREE cứ tiếp tục giảm tuy không nhiều như lần đảo chiều đó và xoay quanh mức140.000đồng Trong thời gian này khối lượng giap dịch cũng giảm hẳn và đáng

kể, vào ngày 09-05-2007 khối lượng giao dịch đạt gần 700.000 cổ phiếu Chúng ta

có thể tham khảo sự kiện này qua biểu đồ sau:

Trang 33

Biểu đồ 2.1.2 – Cổ phiếu REE từ 2/4 đến 30/7/2007

c) Tình hình giá cổ phiếu của REE trong giai đoạn lạm phát:

Trong giai đầu tiên của lạm phát REE và cũng như các mã chứng khoánkhác trong suất 4 tháng giá cổ phiếu của REE đều giảm theo từng biên độ nhỏnhưng do kéo dài nên giá của cổ phiếu lúc này chỉ còn 1/8 so với giá đỉnh Và giáthấp nhất trong giai đoạn này là 25.000đồng Trong giai đoạn này giá của REE đãcũng có những phiên giao dịch màu xanh khi Chính phủ có những chính sách cápbách nhằm cứu vãn thị trường chứng khoán, cụ thể: ngày 25/03/2008 Chính phủđưa ra các chính sách để hạn chế sự tụt dốc của VN-index xuống xa ngưỡng 500điểm thì REE có dấu hiệu tăng trong 10 phiên dao dịch liên tiếp Tuy nhiên saunhững cố chính sách không thật đầy đủ và đồng bộ của Chính phủ thì VN-indexvẫn tụt xa mốc 500 kéo theo REE tiếp tục đà giảm

Trang 34

Sau tháng 8 Chính phủ công bố chỉ số CPI của tháng so với tháng 8 chỉdưới 1% thì VN-index bắt đầu tăng và màu xanh đã xuất hiện nhiều hơn trong cácgiao dịch trong đó có REE Khi VN-index lên trên 500 điểm thì cũng là lúc giácủa REE đạt giá cao nhất trong thời kỳ lạm phát và cũng đạt khối lượng giao dịchlớn nhất trong giai đoạn này Cụ thể: ngày 06-09-2008 giá đạt 52.500đồng/ cổphiếu và khối lượng giao dịch gần 190000 cổ phiếu.

Biểu đồ cụ thể được biểu diễn dưới đây:

Biểu đồ 2.1.3 – Cổ phiếu REE từ 31/1 đến 30/5/2008

Ngày đăng: 26/03/2013, 16:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Chứng khoán do Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/6/2006 Khác
2. PGS. TS Phan Thị Cúc, Giáo trình Tài chính tiền tệ, 2007 Khác
3. TS. Nguyễn Minh Tuấn, Th.S Trần Nguyễn Minh Ái, Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB Lao Động Xã Hội, 2006 Khác
4. PGS. TS Nguyễn Văn Công, Nguyên lý kinh tế học vĩ mô, NXB Lao Động, 2006 Khác
5. PGS.TS Phan Thị Cúc, TS. Nguyễn Trung Trực, CH. Từ Thị Hoàng Lan (đồng chủ biên), Giáo trình Phân tích và Đầu tư Chứng khoán, 2008 Khác
7. Các báo: Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn (Saigon Times) Khác
8. Tài liệu từ các website: - Uỷ ban chứng khoán nhà nước: www.ssc.gov.vn - Sở GDCK TP.HCM www.hsx.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên là diễn biến giá của cổ phiếu STB trong 9 tháng đầu năm 2008. - Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục
Hình tr ên là diễn biến giá của cổ phiếu STB trong 9 tháng đầu năm 2008 (Trang 43)
Bảng 1 – Quy mô niêm yết HoSE - Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục
Bảng 1 – Quy mô niêm yết HoSE (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w