Cần phải chú ý: ngoài việc xem xét kết quả học tập qua bảng điểm, quaphiếu điều tra, để đo thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinhviên Cao Đẳng Hải Dương một cách khách
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay sự phồn vinh của mỗi quốc gia phụ thuộc lớnvào khả năng học tập của mỗi cá nhân trong cộng đồng Con người được giáodục và tự giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động lực, vừa
là mục tiêu của sự phát triển xã hội Điều này lại càng được khẳng định khichúng ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền văn minh trí tuệ,của khoa học kỹ thuật và công nghệ được xây dựng trên nền tảng của trithức.Vì vậy ngay từ bây giờ cần quan tâm đến chất lượng dạy và học, đăc biệt
là chất lượng học tập của học sinh - sinh viên, để mỗi cá nhân có thể thườngxuyên rèn luyện và học tập suốt đời Như vậy mới có thể đáp ứng nhu cầu của
xã hội
Trước những đòi hỏi mang tính khách quan của xã hội, Đảng và Nhànước ta luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo, coi đó là điều kiện tiênquyết để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể
tại nghi quyết Đại Hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ Đổi mới
cơ bản cách dạy, cách học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn” Tích cực, chủ động tạo ra ý chí và năng lực “ Học liên tục, học suốt đời” <Luật
Giáo dục Điều 40> nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng caotrình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống,tìm việc làm và thích nghi với sự biến động không ngừng của xã hội
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhàtrường, bên cạnh việc đổi mới nội dung, vận dụng các phương pháp dạy họcmới thì cần bồi dưỡng cho học sinh và sinh viên các kỹ năng học tập, mỗisuinh viên cần tự xây dưng kế hoạch học tập cho mình, tìm được phươngpháp học tập phù hợp để đạt được chất lượng học tập tôt nhất
Trang 2Trong nhà trường sư phạm, Giáo dục học là môn khoa học quan trọng,giúp sinh viên biết nhiệm vụ của người giáo viên, rèn luyện cho họ những kỹnăng sư phạm, hình thành đạo đức và tình cảm nghề nghiệp Song việc giảngdạy trong nhà trường sư phạm còn nhiều bất cập như “ Nặng về lý thuyết nhẹ
và kỹ năng học tập ở bậc Cao đẳng, Đại học Vì vậy kết quả học tập của sinhviên còn thấp
Vấn đề này đã được các giảng viên của nhà trường quan tâm, nghiêncứu, đã đề cập tới trong nhiều kỳ họp Ngay bản thân một số sinh viên cũngrất quan tâm và mong muốn có kết quả học tập tốt hơn để nâng cao hơn nữachất lượng học tập môn Giáo dục học Nhiều biện pháp đã được đưa ra nhưngmức độ chuyển biến vẫn không đáng kể Chính điều đó đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng học tập, dạy học và đào tạo của truờng Vì vậy xây dựngbiện pháp tối ưu nhằm nâng cao biện pháp cho chất lượng học tập môn Giáodục học là rất cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên đã định hướng cho chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu là: “Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao Đẳng Hải Dương” với mong muốn đề ra những biện pháp
hữu hiệu giúp sinh viên nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học trongquá trình học tập ở trường Cao đẳng sư phạm
Trang 32 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục họccủa sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao ĐẳngHải Dương
3 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học ở Cao đẳng Hải Dương
4 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viênCao đẳng Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ trên đề tài chọn phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Bằng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích và tổng hợp
lý thuyết; phân loại hệ thống hóa lý thuyết; thông qua việc nghiên cứu tài liệu
lý thuyết đã thu thập được từ các nguồn khác nhau nhằm tìm hiểu một số vấn
đề lý thuyết về: hoạt động học tập; mục tiêu môn học; chất lượng; chất lượnghọc tập để làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận cho đề tài
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1 Phương pháp điều tra trong giáo dục
Trang 4Cần phải chú ý: ngoài việc xem xét kết quả học tập qua bảng điểm, quaphiếu điều tra, để đo thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinhviên Cao Đẳng Hải Dương một cách khách quan với độ chính xác cao ởnhững mức độ khác nhau, chúng tôi xem xét thực trạng chất lượng học tậpmôn Giáo dục học tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tậpmôn Giáo dục học và tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượng học tậpmôn Giáo dục học.
Dự giờ, theo dõi diễn biến quá trình học tập trên lớp, ngoài giờ lên lớp,trong các kỳ kiểm tra, thi hết môn nhằm thu thập những thông tin về chấtlượng học tập bộ môn Giáo dục học của sinh viên
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Tiến hành xây dựng 2 phiếu hỏi dành cho đối tượng là sinh viên và giảngviên nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giáthực trạng vấn đề nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn, trao đổi với một số giảng viên và sinh viên củaCao đẳng Hải Dương để làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi,đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiêncứu đề tài
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kết quả học tập, vở bài tập, các bài kiểm tra của sinh viên đểđánh giá chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên
6.2.5 Phương pháp chuyên gia
Tiến hành xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia chuyên ngành Giáodục học
6.2.6 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Phương pháp thống kê toán học: được sử dụng để tính toán, sử dụng, xử
lý, phân tích số liệu thu đuợc trong quá trình nghiên cứu
Trang 57 Phạm vi nghiên cứu
- Vì điều kiện khách quan và chủ quan còn nhiều hạn chế nên đề tài chỉtập trung nghiên cứu và sử dụng các số liệu thu được từ việc khảo sát và phântích thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên hệ chínhquy chuyên ngành sư phạm của trường Cao đẳng Hải Dương
- Về nội dung: Chúng tôi thực hiện đề tài theo ba nhiệm vụ đã nêu trên
- Về thời gian nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu Nội dung nghiên cứu
Từ ngày 20/12/2010 đến
28/12/2010
Tiến hành xác định tên đề tài nghiên cứu,tham khảo các luận văn, tài liệu có liênquan
29/12/2010 đến 10/01/2011 Xây dựng đề cương chi tiết và hoàn thiện
12/01/2011 đến 15/02/2011 Xây dựng phiếu hỏi và tiến hành khảo sát16/02/2011 đến 2/03/2011 Phân tích, đánh giá thực trạng
3/03/2011 đến 15/03/2011 Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp
16/03/2011 đến 30/04/2011 Viết báo cáo cho toàn khóa luận
8 Cấu trúc luận văn.
Luận văn gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viênCao đẳng Hải Dương
Chương 3: Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục họccủa sinh viên Cao đẳng Hải Dương
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng học tập.
Học tập không chỉ có ý nghĩa quyết định tới cuộc sống mỗi chúng ta,con cái chúng ta mà nó còn ảnh hưởng tới thực tại, tương lai của đất nước.Chúng ta ngày càng phải suy nghĩ sâu sắc hơn về điều này khi bước vào thế
kỷ mới, mà Nhật Bản là một ví dụ điển hình Nhật bản – đất nước trở thành
“nền kinh tế thần kỳ” nhờ vào chính sách giáo dục đúng đắn từ những năm
1960 Thế mà khi bước vào thế kỷ 21 họ cũng phải “ giật mình” xem lại vấn
đề giáo dục – học tập của đất nước mình Trước những băn khoăn lo lắngkhông phải là nhỏ khi người Nhật bản đã nhận ra rằng chất lượng trí tuệ củalớp trẻ cần được điều chỉnh, nâng cao hơn nữa bởi đó là nguyên nhân chínhlàm cho nền kinh tế nước Nhật trở nên mất dần khả năng cạnh tranh trên thịtrường thế giới trong một vài năm trở lại đây Đó là một vài dấu hiệu của cuộccách mạng trong việc dạy và học ở thế kỷ 21, cuộc cách mạng trong học tập ởthế kỷ mới này đã giúp người học thay đổi cách nghĩ, cách sống, cách học,cách hoạt động của bản thân
Nâng cao chất lượng giáo dục và dạy học là một trong những vấn đềbức xúc của tất cả các cấp học, bậc học trong mọi thời đại và của mọi nềngiáo dục Trong lịch sử phát triển của nền giáo dục nói chung và giáo dục họcnói riêng đã có không ít nhà giáo dục nghiên cứu tìm tòi và xây dựng cácchương trình, biện pháp, cách thức học tập và giảng dạy phù hợp với mụcđích giáo dục nhằm đưa đến một nền giáo dục có chất lượng cao, phát triểnđồng đều ở tất cả các môn học
Chính vì vậy mà vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy họccho học sinh đã được nhiều tác giả, nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nướcquan tâm nghiên cứu Những quan điểm, những công trình này đã đi vào khá
Trang 7nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề và cũng đạt được những thành côngnhất định Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi chỉ xin điểm qua một sốcông trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới về vấn đề này.
1.1.1 Các tác giả nước ngoài.
Ngay từ thời cổ đại hay trong xã hội chiếm hữu nô lệ khi mà nền giáodục vừa mới được hình thành thì người ta đã chú ý đến việc nâng cao hiệuquả giáo dục Các nhà giáo dục tiêu biểu nổi bật trong thời lỳ này đã đề xuấtnhững tư tưởng giáo dục, dạy học nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng học tậpcho người học, làm cho nền giáo dục ngày càng phát triển, đó là các nhà giáodục như: Đêmôcrit (460 – 370 TCN) với tư tưởng giáo dục về sự thích ứnggiữa giáo dục với tự nhiên; hay như Xôcrat (469 – 390 TCN) với phươngpháp giảng dạy mới mà người ta thường gọi là phương pháp “Xocrat” phươngpháp “đỡ đẻ”: đó là Aristote (384 – 322 TCN)…
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục đã không ngừng được cảitiến, đổi mới về cả nội dung, hình thức và phương pháp Đã có nhiều hơn nữanhững tư tưởng đổi mới trong giảng dạy và học tập góp phàn tạo nên nhữngbước ngoặt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập Nếu như ởphương Tây vấn đề học cái gì? Học như thế nào? Người giáo viên phải dạy rasao để người học nắm bắt được tri thức một cách nhanh chóng được đặt ra
cho các nhà giáo dục lớn như: Rabơle, Môngtennhơ, J.A Coomenxki, J.J Rutxơ; Macarencô, Usinxki…Thì ở phương Đông người ta cũng rất chú ý
đến việc nâng cao chất lượng dạy học Ở phương Đông cũng có rất nhiều nhàgiáo dục tiêu biểu, nhưng có một nhà giáo dục vĩ đại nhất tiêu biểu nhất màchúng ta không thể không nhắc đến đó là Khổng Tử (551 – 479) Khổng Tử
đã khẳng định rằng: để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh trong quátrình dạy học người giáo viên phải quan tâm đến một số phương pháp dạy họcnhư: phương pháp thân giáo, phương pháp dạy học gắn liền với thực tiễn;phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng Và cũng theo ông: trong học tập
Trang 8người học muốn nắm được tri thức nâng cao hơn nữa chất lượng học tập củamình thì họ cần phải có phẩm chất sau: nhẫn nại với việc học; khiêm tốn cầuthị; tích cực chủ động trong học tập; sáng tạo trong học tập; học tập phảithường xuyên ôn luyện củng cố; học phải kết hợp với suy nghĩ.
Ngày nay đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 với biết bao nhiêu biếnđộng to lớn của thời đại, không ai trong chúng ta lại không khẳng định đượcvai trò to lớn mà giáo dục đem lại Và cũng chính vì thế mà câu hỏi làm thếnào để nâng cao chất lượng giáo dục, dạy học được quan tâm hơn bao giờ hết
Đã có hàng nghìn các công trình lớn, nhỏ khác nhau nghiên cứu về vấn đề:Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng học tậpnói riêng ở mọi khía cạnh khác nhau
- Có tác giả thì đi sâu vào nghiên cứu việc nâng cao chất lượng học tập
ở các môn học khác nhau như công trình của:
+ A Z Retcô trong luận án thạc sĩ bảo vệ năm 1950 với đề tài: “Nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử lớp 6 và lớp 7”.
+ A T Richart với đề tài nghiên cứu “Việc nâng cao chất lượng học tập môn Toán trong nhà trường Phổ thông” vào năm 1971.
- Một số công trình khác lại đi nghiên cứu cách thức, biện pháp để nângcao hơn nữa chất lượng học tập như:
+ Rubakin với tác phẩm: “Tự học như thế nào” năm 1997.
+ Hay như công trình nghiên cứu đã được chuyển tải thành tác phẩm
giáo dục nổi tiếng hiện nay “The learning Revolution” – Cuộc cách mạng
trong học tập đã được dịch ra bằng 11 thứ tiếng trên thế giới và là cuốn sách
bán chạy nhất năm 1999 của hai tác giả: Jeannette Vos ở Mỹ, bà đã nhận
được học vị Tiến sĩ Giáo dục học nhờ kết quả nghiên cứu hơn 7 năm liềnphương pháp học tập nhanh; tác giả thứ hai của cuốn sách là ông GordenDryden người Niu Dilân là một phát thanh viên, một chuyên gia giỏi vềtruyền thông đa phương tiện…
Trang 9Tóm lại, trong mọi thời kỳ lịch sử khác nhau, ở mỗi nền giáo dục củacác quốc gia khác nhau cũng đều mong muốn giáo dục phát triển, đều mongmuốn chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao hơn nữa Vấn đề làm thếnào nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy vẫn luôn và mãi mãi là “mảnhđất” nghiên cứu không bao giờ cạn mà hễ chúng ta càng tìm hiểu, càng đàoxới nó lên chúng ta càng thấy nó phát triển ngày một sâu rộng hơn ở tất cả cáclĩnh vực khác nhau, trong mọi thời đại và ở mỗi quốc gia.
1.1.2 Các tác giả trong nước
Vấn đề sự nâng cao chất lượng học tập không chỉ được các tác giả nướcngoài nghiên cứu mà ở trong nước nó cũng là đề tài được nhiều người quantâm nghiên cứu Có tác giả nghiên cứu kỹ về việc nâng cao chất lượng học tập
ở các cấp hoc và ở những môn học khác nhau như:
- Năm 1970: Tác giả Quốc Chấn – Giảng viên trường ĐHSP Huế có đề tài: “Nâng cao chất lượng giờ học ở nhà cho học sinh THCS”.
- Năm 1980: Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Nhân với đề tài: “Nâng cao chất lượng môn Văn học lớp 7”.
Một số khác lại đi vào phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chấtlượng học tập cũng như giảng dạy để trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nângcao chất lượng học tập
- Từ năm 1970: Tổ Tâm lý học của Viện khoa học giáo dục do Tiến sĩ
Hà Vĩ chủ trì đã nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng của các tác động tâm lý đếnviệc hình thành và lĩnh hộ khái niệm Các tác giả này đã tìm ra cơ chế, quiluật của sự hình thành khái niệm Bằng phương pháp chủ yếu là cấu trúc lạigiờ học, biến đổi phương pháp giáo dục theo tinh thần từ hoạt động vật chấtdẫn tới hoạt động tinh thần để lĩnh hội khái niệm giúp quá trình học tập mônhọc được tốt hơn
- Năm 1976 đến năm 1978: Cùng với nhóm nghiên cứu của Trường Đại
Học Sư Phạm Hà Nội tác giả Đàm Ngọc Chương đã tiến hành nghiên cứu đề
Trang 10tài: “Hướng dẫn sinh viên ôn tập hệ thống tri thức cơ bản toàn bộ chương trình giáo dục bằng sơ đồ Logic”.
- Năm 1980: Luận văn Thạc sĩ sinh học của Nguyễn Thị Thanh Vân với đề tài: “Dạy học sinh phương pháp học tập bộ môn Sinh vật lớp 9”.
Trong những năm gần đây cán bộ và sinh viên khoa Tâm lý giáo dụccũng đã trình bày vấn đề này qua rất nhiều các đề tài nghiên cứu như:
- Năm 1991: Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Huệ giảng viên khoa Tâm lý giáo dục có bài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng giảng dạy Tâm lý học”
Báo Nghiên cứu giáo dục năm 1991, số 3
- Năm 1999: Tác giả Bùi Quang Huy luận văn tiến sĩ với đề tài “Tổ chức thảo luận nhóm trong quá trình dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Cao đẳng sư phạm Lai Châu”.
- Năm 2001: Trần Văn Khanh nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông
ở Thành Phố Hải Phòng”.
Và còn rất nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nâng caochất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giảng dạy và học tập nói riêngmột cách khá sâu rộng như: thực trạng chất lượng giảng dạy và học tập; cácyếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng; các biện pháp nâng cao chấtlượng…Các công trình nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng học tậpđược xem xét ở nhiều môn học khác nhau, ở các cấp học khác nhau như: mônToán, Lý, Sinh học, Anh văn… ở cấp I, cấp II, cấp III và ở các trường Đạihọc, Cao đẳng…Song cho đến hiện nay chúng tôi chưa thấy một công trìnhnào nghiên cứu về các biện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dụchọc của sinh viên Bởi vậy, trong đề tài này chúng tôi đi sâu tìm hiểu một sốbiện pháp nâng cao chất lượng học tập môn Giáo dục học
Trang 111.2 Học là hoạt động trung tâm trong quá trình dạy học.
1.2.1 Học là hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Quá trình dạy học bao gồm quá trình dạy và quá trình học Dạy là hoạtđộng lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Học do
sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển đó nên nó là hoạt động nhận thức đặc biệt
Học là hoạt động nhận thức Như chúng ta đã biết nhận thực là sự phảnánh thế giới khách quan vào não người, sự phản ánh này không phải là sựphản ánh đơn thuần như phản ánh vật lý, hay các phản ánh chiếu gươngnhững hiện tượng sự vật và quá trình nhận thức vào ý thức của con người Mà
đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởngtượng Sự học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy, Sự phản ánh đó là
sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất của tính chấtcải tạo đó là sự sáng tạo Đó có thể là sự phản ánh giống hệt của những đốitượng trong hiện thực và cũng có thể tạo nên những hình ảnh mới của những
sự vật, hiện tượng, quá trình đang tồn tại trong hiện thực Vì vậy bất kỳ một
sự nhận thức nào, trong đó có sự học là một quá trình tích cực, thể hiện ở chỗ:
- Sự phản ánh sự vật, hiện tượng của hiện thực diễn ra trong quá trìnhhoạt động đó không phải thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng lại khúc
xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người như thông qua tri thức, kinh nghiệmnhu cầu, hứng thú…của chủ thể nhận thức Sự phản ánh đó được thể hiệntrong tiến trình hoạt động phân tích – tổng hợp, trải qua hoạt động tư duyphức tạp dựa trên những thao tác tư duy loogic
- Sự phản ánh đó đòi hỏi sự lựa chọn Trong vô số những sự vật, hiệntượng của hiện thực khách quan chủ thể nhận thức phải tích cực lựa chọnnhững cái trở thành đối tượng phản ánh của họ
Học là hoạt động nhận thức nhưng là hoạt động nhận thức đặc biệt.Tính đặc biệt trong quá trình nhận thức của học sinh thể hiện như thế nào?Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo, tổ
Trang 12chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định nên nó
có tính chất đặc biệt Tính chất đặc biệt đó được thể hiện ở chỗ:
- Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mòmẫm, thử và sai như quá trình nhận thức chung của loài người, mà diễn ratheo con đường được khám phá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học
và người giáo viên gia công vào
- Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cáimới cho nhân loại mà chỉ là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra,nên họ nhận thức cái mới rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người đốivới bản thân họ còn là mới mẻ
- Trong một thời gian tương đối ngắn, người học sinh có thể lĩnh hộikhối tri thức rất lớn một cách thuận lợi Chính vì vậy mà trong quá trình họctập của học sinh phải tiến hành củng cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá, trithức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân
Trong quá trình nhận thức của học sinh phải quan tâm phát triển nănglực nhận thức và tiến hành giáo dục cho họ
Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quátrình nhận thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chungcủa loài người với quá trình nhận thức của học sinh Song, không vì quá coitrọng tính đặc biệt đó mà thiếu quan tâm đến việc tổ chức cho học sinh dầndần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòi khoa học một cách vừasức, nâng cao dần để chuẩn bị cho họ tự khai thác tri thức, tham gia nghiêncứu khoa học trong tương lai
Học như là một hoạt động nó bao gồm những thành phần sau:
Thành phần động cơ: bao gồm trong đó nhu cầu, hứng thú, động cơ,
nghĩa là tất cả cái gì đảm bảo thu hút học sinh vào quá trình học tập tích cực
và duy trì tính tích cực đó trong tất cả những giai đoạn nhận thức học tập
Trang 13Thành phần định hướng: Bao gồm trong đó việc học sinh ý thức được
những mục đích hoạt động nhận thức, học tập, lập kế hoạch dự đoán đượchoạt động đó
Thành phần nội dung – thao tác: Bao gồm hai bộ phận thành phần: hệ
thống tri thức chủ đạo (sự kiện, khả năng, định luật…) và cách học (công cụtiếp nhận và chế biến thông tin)
Thành phần năng lượng: bao gồm sự chú ý tạo điều kiện tập trung
hành động trí tuệ và thực hành xung quanh mục đích chủ yếu của hoạt động
và ý chí nhằm đảm bảo mức độ cao tính tích cực nhận thức có chủ đích
Thành phần đánh giá: là thành phần mà nội dung của nó là học sinh
tiếp nhận có hệ thống những thông tin về tiến trình hoạt động nhận thức củamình trên cơ sở tự kiểm tra, tự đánh giá
Tất cả những thành phần này trong quá trình học tập sinh động luôn tồntại trong một thể thống nhất Làm không tốt, không coi trọng một trong cácthành phần nêu trên của hoạt động học tập sẽ làm quá trình học tập không đạthiệu quả
Từ những điểm trình bày trên đó thực chất của học là hoạt động tích cực, tựlực nhận thức
1.2.2 Tính tích cực, tự lực nhận thức và mối liên hệ giữa chúng.
1.2.2.1 Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thểthông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyếtnhững vấn đề học tập – nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa làphương tiện vừa là điều kiện để đạt được mục đích vừa là kết quả của hoạtđộng Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân
Tính tích cực nhận thức – học tập vận dụng đối với học sinh đòi hỏiphải có nhân tố: (1) tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức; (2) đề
ra cho mình mục đích Nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối
Trang 14tượng, cải tạo đối tượng cho hoạt động sau này nhằm giải quyết vấn đề: Hoạtđộng mà thiếu những nhân tố đó thì nó chỉ là sự thể hiện trạng thái hoạt độngnhận định của con người không nói lên tính tích cực nhận thức Chẳng hạn,người học sinh trong quá trình học tập có thể làm theo yêu cầu của giáo viên,
họ cũng đọc sách ghi chép lời giáo viên giảng nhưng nếu họ không có tínhtích cực trong nhận thức thì họ không nhận biết được gì cả, vì họ không thểhiện thái độ cải tạo đối với điều đó, họ không có ý định suy ngẫm mối liên hệđiều thấy được, nghe được với những điều họ đã biết và tìm ra những dấuhiệu mới sau này Hiện tượng tính tích cực và trạng thái hoạt động về bềngoài có thể giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất
Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào và mức
độ huy động những chức năng tâm lý đó thì người ta phân ra ba loại tính tíchcực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: Tính tích cực chủ yếu dựa vào trínhớ và tư duy tái hiện
- Tính tích cực tìm tòi: Đó là tính tích cực được đặc trưng bởi sự bìnhphẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khátkhao hiểu biết, hứng thú học tập Tính tích cực đó không bị hạn chế bởinhững yêu cầu của giáo viên
- Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực Nó đặctrưng bằng sự khẳng định con đường, cách suy luận riêng của mình khônggiống với con đường mà mọi người đã thừa nhận
Trang 15- Người học ý thức được nhu cầu học tập của mình, ý thức được yêucầu của xã hội, của tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra với việc họctập của mình.
- Người học ý thức được mục đích học tập là gì và thực hiện được mụcđích đó sẽ làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình
- Người học luôn suy nghĩ kỹ và đánh giá đúng những điều kiện hoạtđộng học tập của mình, tích cực hóa kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được
có liên quan tới việc giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập
- Dự đoán trước những diễn biến của quá trình trí tuệ, cảm xúc, động
cơ, ý chí của mình, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyệnvọng và sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định
- Huy động mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ đòi hỏi.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập –tự lực nhận thức là năng lực nhu cầu học tập vàtính tổ chức học tập cho phép học sinh tự học
Trang 16SƠ ĐỒ CẤU TRÚC TÍNH ĐỘC LẬP NHẬN THỨC
Bốn thành phần của tính tự lực nhận thức đó có mối quan hệ ràng buộc,phụ thuộc và qui định lẫn nhau Mà thiếu một trong bốn thành phần đó thìkhông thể hiện được tính tự lực nhận thức
Động cơ nhận thức
Hành động ý chí
Tổ chứchọc tập
Hứng thú nhận thứcĐộng cơ có TCXHThế giới quanNhu cầu hiểu biết
Trang 171.2.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực và tính tự lực nhận thức.
Tính tích cực nhận thức có liên hệ mật thiết với tính tự lực nhận thức.Tính tích cự nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức vàkhông thể nào có tính tự lực nhận thức mà thiếu tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức cũng chính là kết quả và là sự thể hiện của sự nảysinh và phát triển của tính tự lực nhận thức
Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức và đồngthời thể hiện tính tích cực đó lại có tác dụng hướng cá nhân đến tính tự lựcnhận thức ở mức độ cao hơn
Song không thể đồng nhất hai khái niệm: tính tích cực nhận thức và tính tựlực nhận thức
1.2.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong việc nâng cao chất lượng học tập.
- Từ quan niệm học là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạonhư đã trình bày trên Hoạt động dạy của người giáo viên là hoạt động tổchức, điều khiển hoạt động tự lực nhận thức của người học sinh nhằm hìnhthành cho người học thái độ, năng lực, phương pháp học tập và ý chí học tập
để họ tự khai phá những tri thức khoa học
Ngày nay, người giáo viên trong việc dạy học phải dạy người học rènluyện bộ óc, dạy cho người học phương pháp học tập, phương pháp suy nghĩ,phương pháp tìm tòi, vận dụng tốt nhất bộ óc của mình Điều đó có nghĩa làphải hình thành cho học sinh cách học
- Quá trình dạy học là quá trình thống nhất bản chất bao gồm: hoạtđộng dạy – giáo viên và hoạt động nhận thức – học tập của học sinh Trong hệthống đó mỗi chủ thể tác động lẫn nhau, mỗi chủ thể đều có chức năng và vaitrò riêng của mình Người học ở đay là chủ thể hoạt động tự giác, tích cực chủđộng chiếm lĩnh tri thức, hình thành khả năng và thái độ nhằm đáp ứng đượcnhững yêu cầu của xã hôi đã được phản ánh trong mong muốn và nguyện
Trang 18vọng của người học Người học phải là chủ thể tạo nên sản phẩm giáo dụccho chính mình, chính họ chứ không phải ai khác, là người nhập cuộc vàohoạt động học tập của mình sau khi đã có sự cân nhắc, chọn lựa cẩn thận.Người học là trung tâm của quá trình dạy học Nói như vậy không có nghĩa là
hạ thấp vai trò của người dạy Mà người “giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình dạy học và đặc trưng trong việc định hướng giáo dục…không một hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc trong hệ thống đó…Người giáo viên không chỉ là người truyền đạt, thông báo những tri thức rời rạc, mà còn là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của người học sinh, người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học.”
(Raja Roy Singh Nền giáo dục cho thế kỷ XXI Những triển vọng Châu
Á – Thái Bình Dương – UNESCO Hà Nội 1994, trang 115)
Để đạt được điều đó, người giáo viên phải năng động hơn, do hoạtđộng dạy ngày càng đa dạng phức tạp và khó khăn hơn nhiều Người giáoviên nếu thiếu tình cảm nghề nghiệp, tình cảm đối với học sinh, thiếu tri thứcsâu và mở rộng, thiếu kỹ năng sư phạm thì họ không thể hoàn thành đượcnhiệm vụ cao cả đó Và trong quá trình này, quá trình dạy của giáo viên vàquá trình học của học sinh liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau Nếu thiếu mộttrong hai quá trình đó thì quá trình dạy học không diễn ra
1.3 Chất lượng học tập môn Giáo dục học trong trường Đại học, Cao đẳng.
1.3.1 Khái niệm chất lượng, chất lượng học tập.
1.3.1.1 Chất lượng.
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người, tuy nhiênquan niệm về chất lượng lại rất đa dạng và thậm chí vẫn còn nhiều tranh cãi.Tuy nhiên chúng ta đều có thể khẳng định được rằng: Khái niệm chất lượngluôn gắn với một sản phẩm nhất định
Trang 19Chất lượng là yếu tố khách quan, là mục tiêu phấn đấu là cái hướng tớicủa hoạt động lao động Chất lượng tồn tại khách quan, nó là thuộc tính vốn
có tạo nên giá trị sự vật, nó tồn tại độc lập với ý muốn của con người Chấtlượng sản phẩm của một sản phẩm luôn biến đổi theo thời gian, trình độ pháttriển và nhu cầu cuộc sống Khái niệm chất lượng của một sản phẩm khôngphải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm biến đổi thường xuyên chonên trong sản xuất chất lượng là yếu tố cạnh tranh sống còn của sản xuất Mọiquốc gia, mọi nhà sản xuất, mọi người, mọi thời đại đều hướng tới chất lượng
và làm cho nó ngày càng được nâng cao hơn
Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào nhu cầu Nếu ta hiểu chấtlượng phải hướng tới nhu cầu của người tiêu dùng Người sản xuất hướng vàonhu cầu của người tiêu dùng Sản phẩm có đạt được chất lượng hay không nócòn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ sản xuất.Chất lượng còn phụ thuộc vào mục tiêu đã đặt ra ngay ban đầu Tóm lại, chấtlượng luôn gắn liền với yếu tố thời đại, nhu cầu thị hiếu của con người trongthời đại đó
Có nhiều khái niệm chất lượng, mà tùy theo đối tượng và mục đích sửdụng khái niệm chất lượng có ý nghĩa khác nhau Nhưng theo cách hiểu kháiquát nhất, được nhiều người công nhận và sử dụng nhất thì:
Chất lượng là yếu tố đặt ra theo mục tiên sản xuất phù hợp với yêu cầu của khách hàng và nó thỏa mãn với từng giai đoạn phát triển của thời đại.
1.3.1.2 Chất lượng học tập
Chất lượng học tập là việc tiếp thu, tu dưỡng, rèn luyện của người họcqua quá trình truyền tải nội dung tri thức của người giáo viên để đạt được mụctiêu học tập mà môn học đã đề ra cho người học và đáp ứng được yêu cầu của
xã hội, thời đại
Chất lượng học tập các môn học trong nhà trường chỉ có thể có đượckhi nhà trường nói chung và người giáo viên nói riêng thực hiện đầy đủ các
Trang 20nhiệm vụ dạy học Tùy theo yêu cầu của xã hôi,tùy theo tính chất và mục tiêumôn học, tùy theo trình độ phát triển tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh ởnhững điều kiện khác nhau cũng như đặc điểm cụ thể của từng loại trường,từng môn học khác nhau.
Trong phạm trù giáo dục, chất lượng dạy và học luôn là một vấn đềđược bàn cãi nhiều qua diễn đàn hội thảo hoặc các cuộc tranh luận từ nhiềunăm nay Chất lượng giáo dục nói chung, dạy và học nói riêng có thể hiểu là
sự biểu hiện tập chung ở nhân cách, trình độ học vấn, khối lượng kiến thứccủa người học sinh - là người được giáo dục đào tạo
1.3.2 Các tiêu chí biểu hiện chất lượng học tập môn Giáo dục học
Tiêu chí đánh giá chất lượng học tập môn học của sinh viên trong quátrình dạy học được xem xét đối chiếu với mục tiêu môn học đề ra Cụ thể tiêuchí biểu hiện chất lượng học tập môn học được đánh giá bằng nguồn tri thức,
kỹ năng và thái độ được hình thành ở người học
Để xác định được nguồn tri thức, kỹ năng và thái độ đã được hìnhthành ở người học trong quá trình học tập như thế nào thì chúng ta phải kiểmtra đánh giá được kết quả học tập của sinh viên - đây là một khâu quan trọngtrong quá trình dạy học Bởi:
Đối với sinh viên nhân vật trung tâm của quá trình dạy học kiểmtra ,đánh giá có tác dụng thúc đẩy học tập phát triển không ngừng Qua kếtquả kiểm tra sinh viên đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so vớiyêu cầu mục tiêu đề ra của môn học và tự mình ôn tập, củng cố, bổ sung hoànthiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống các phương pháp tư duycủa mình Đối với giảng viên thì kết quả kiểm tra đánh giá chẳng những phảnánh thành tích học tập của sinh viên mà qua đó mỗi giảng viên tự đánh giávốn tri thức trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín củamình với học sinh Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện trình
độ chuyên môn và trình độ sư phạm
Trang 21Để kiểm tra việc thực hiện mục tiêu môn học của sinh viên có nhiềuhình thức kiểm tra khác nhau: Kiểm tra viết, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra thựchành, các test…
Việc đánh giá cần được tiến hành theo những tiêu chí thống nhất trên
mà chỉ có thể nắm được một bộ phận mà thôi Vì vậy, điều quan trọng làmsao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những lĩnh vực khác nhau, là cơ sở củanhững khoa học, là những dạng cơ bản của hoạt động xã hội và của đời sống.Ngoài ra, bộ phận tri thức đó phải bao gồm những dạng tri thức khác nhau đặctrưng cho những khoa học có những tính chất làm nền tảng vì chỉ với điềukiện đó thì tri thức mới thực hiên được những chức năng cơ bản của mình:Chức năng thể luận, chức năng định hướng, chức năng đánh giá
Trang 22tập, kỹ năng sư phạm… rất cần những kỹ xảo khác nhau và bao giờ cũng thựchiện có sự tham gia của ý thức Có thể có kỹ xảo, kỹ năng thực hành và kỹxảo, kỹ năng trí tuệ Ngoài ra còn có kỹ xảo, khả năng chung cho các môn họcnhư kỹ xảo, kỹ năng lập kế hoạch; kỹ xảo, kỹ năng lập dàn bài, so sánh phântích những ý chính, ý phụ, rút ra kết luận… và những kỹ xảo, kỹ năng đặctrưng cho từng môn học Trong số kỹ năng, kỹ xảo đó có những kỹ năng, kỹxảo có liên hệ trực tiếp với sự lĩnh hội tri thức mà cũng có những kỹ xảo kỹnăng làm điều kiện để độc lập lĩnh hội trí thức như kỹ năng, kỹ xảo tóm tắt,nhận xét, phê bình….
1.3.2.3 Về thái độ.
Tiêu chuẩn về thái độ đối với tự nhiên, xã hội và con người thực chất
đó là tính giáo dục của nội dung dạy học môn học Mục tiêu học tập các mônhọc không chỉ đạt đến thu nhận những tri thức kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả thái
độ đánh giá, thái độ cảm xúc đối với thế giới, đối với con người, đối với hoạtđộng Trong thực tế có thể dễ dàng nhận thấy thái độ của con người đối vớihiện thực khách quan, tình cảm của họ không phải bao giờ cũng phù hợp với
sự hiểu biết của họ, lời nói của họ không phải bao giờ cũng đi đôi với việclàm
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo đến chất lượng giáo dục môn Giáo dục học.
1.3.3.1 Kế hoạch dạy học
Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó qui địnhcác môn học; trình tự dạy các môn học qua từng năm học; việc tổ chức nămhọc (số tuần thực học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hành tuần,hàng ngày)
Với cách hiểu trên về kế hoạch dạy học, có thể nhận thấy những yếu tố
cơ bản tròn một kế hoạch dạy học: 1 Quan hệ giữa thành phần các môn họcvới thành phần lớp học (môn học được dạy ở lớp học nào và từng lớp học cụ
Trang 23thể sẽ phải học những môn học nào) 2 Quan hệ giữa các thành phần môn họcvới phân bố thời gian (thời lượng dành cho mỗi môn và thời lượng học từngmôn trong từng lớp theo ngày, tuần và năm học) 3.Cấu trúc và thời gian dạyhọc (thời lượng chung của năm học theo bậc học, khối lớp và thời lượng củatuần học, ngày học, tiết học).
Kế hoạch dạy học ở từng cấp học và bậc học khác nhau Sự khác biệttrong kế hoạch dạy học được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Số lượng các môn học được xác định trong từng kế hoạch dạy học
- Do mối quan hệ liên môn, do đặc điểm các bộ môn và đặc điểm nhậnthức của học sinh cũng như yêu cầu cân đối về số tiết hàng tuần ở các lớp nêntrong kế hoạc dạy học việc bố trí các môn học cũng khác nhau Có môn đượchọc từ đầu cấp, bậc học, nhưng cũng có môn được thực hiện ở các khối lớpxác định theo cấp bậc học…
- Số tiết dành cho mỗi môn học cũng khác nhau ở từng khối lớp thuộccấp, bậc học khác nhau
Giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ dạy học của mình buộc phải nghiêncứu kế hoạch dạy học để hiểu chương trình dạy học môn học, từ đó lập kếhoạch dạy học của cá nhân Sinh viên sư phạm phải hình thành kỹ năngnghiên cứu kế hoạch của cấp, bậc học trong chương trình nghiên cứu mônGiáo học pháp bộ môn
1.3.3.2 Sách giáo khoa và các tài liệu dạy học.
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác dùng chung trong cáctrường học do Nhà nước qui định
Nếu chương trình dạy học qui định phạm vi dạy học của các môn họcthì sách giáo khoa có nhiệm vụ trình bày nội dung của môn học một cách rõràng, cụ thể và chi tiết với cấu trúc xác định Sách giáo khoa là hình thái vậtchất của các môn học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện
Trang 24Sách giáo khoa trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cầnthiết vừa sức đối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ Chức năng củasách giáo khoa là giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếpthu được trên lớp, phát triển năng lực trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhâncách cho học sinh Mặt khác, sách giáo khoa cũng là cơ sở để giáo viên dựavào đó xác định nội dung lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học để tổchức tốt công tác dạy học của mình Điều cần chú ý là, chỉ có thông qua sáchgiáo khoa thì những yếu tố chỉ đạo quá trình dạy học môn học (thuộc khối quátrình của môn học) mới thể hiện rõ nét và thực sự phát huy vai trò tổ chức,điều khiển với quá trình dạy học môn học.
Ngoài sách giáo khoa còn có những sách và các tài liệu tham kháo khácnhau dành cho giáo viên và học sinh như: sách hướng dẫn giảng dạy, sách tracứu, các loại từ điển, sách bài tập…các tài liệu học tập này giúp học sinh mởrộng, bổ sung, đào sâu kiến thức, phù hợp với trình độ và hứng thú của mình
Sách giáo khoa cũng như các tài liệu học tập khác phải đảm bảo nhữngyêu cầu sau:
- Những tri thức trình bày trong sách giáo khoa phải đảm bảo tính khoahọc, tính hệ thống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình qui định
- Phải giúp học sinh nắm được phương pháp học tập một cách độc lậpnhằm giúp họ biết học tập suốt đời, liên tục và tự giác, học tập qua sách báo
và hoạt động thực tiễn của mình Vì vậy cần có những chỉ dẫn cho các bài tậpquan sát và luyện tập, những câu hỏi ôn tập và tự kiểm tra
- Sách giáo khoa phải kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết chohọc sinh Do đó, cần nêu lên những vấn đề, những hiện tượng trong đời sốngđòi hỏi phải vận dụng tri thức trong sách giáo khoa và tri thức đã biết để giảiquyết
- Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, gọn và chính xác
Trang 25- Đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh và thẩm mỹ Hình thức sách giáokhoa phải đẹp, phải trình bày hấp dẫn, sử dụng khổ chữ thích hợp với đặcđiểm tri giác của học sinh Những kiến thức trọng tâm phải có sự nhấn mạnhbởi các kĩ thuật khác nhau để tập trung được sự chú ý của học sinh.
1.3.3.3 Yếu tố người học.
- Thái độ của người học đối với việc học tập các môn học.
Thái độ học tập tích cực hay không tích cực ảnh hưởng rất lớn đến chất lượnghọc tập nếu người học có thái độ đứng đắn đối với việc học tập thì chắc chắnkết quả học tập sẽ cao hơn
Theo quan điểm của các nhà sư phạm thì: Động cơ học tập đúng đắn sẽtạo ra ở người học thái độ đúng, việc xây dựng động cơ học tập trở thành nétnhân cách bền vững của người học là điều không thể thiếu trong từng giờgiảng, từng môn học Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Động cơ học tập nào làđộng cơ học tập tối ưu đối với học tập
Chúng ta biết rằng: Học tập được thúc đẩy được hai loại động cơ: Loạiđộng cơ hoàn thiện trí thức và loại động cơ quan hệ xã hội
Thuộc về động cơ quan hệ xã hội, học sinh học tập bởi sự lôi cuốn hấpdẫn của những cái khác ngoài mục đích trực tiếp của việc học như: Vì một lờikhen; sợ bị trách phạt; để được một phần thưởng vật chất nào đó; làm vuilòng cha mẹ; thích được sự khâm phục của bạn bè… Ở đây những tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, thái độ hành vi không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện
để đạt được những điều mong muốn, hoàn thiện những mối quan hệ cá nhân.Loại động cơ này ở mức độ nào đó mang tính chất cưỡng bức, tạo ra ở ngườihọc sự căng thẳng về mặt tâm lý… để xảy ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Loại động cơ xuất phát từ lòng khao khát, mong muốn, hiểu biết bị lôicuốn, say mê bởi chính quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập Mỗi lần dànhđược cái mới ở đối tượng học thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện trithức được thỏa mãn một phần Người ta gọi loại động cơ học tập này là động
Trang 26cơ hoàn thiện tri thức Loại động cơ này thường không chứa đựng xung độtbên trong Học sinh có sự huy động, nỗ lực ý chí để hướng vào khắc phụcnhững trở ngại bên ngoài chứ không hướng vào đấu tranh với chính bản thânmình Đây là loại đông cơ tối ưu của quá trình học tập
Động cơ đúng đắn sẽ tạo ra thái độ đúng đắn trong học tập Thái độđúng đắn thể hiện các mặt sau:
Mặt thứ nhất: Có hứng thú nhận thức
Hứng thú là sự đinh hướng cơ bản, có lựa chọn của cá nhân vào sự vậthiện tượng trong thực tiễn Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự tham giacủa ý thức nhằm nhận thức sự vật hiện tượng có hiệu quả hơn và đưa lại cho
cá nhân một sự khoái cảm
Trong học tập, hứng thú nhận thức giữ một vai trò quan trọng Nó làmcho người học hoạt động một cách tự giác, tích cực, tăng hiệu quả của quátrình nhận thức Người học sẽ học một cách có hiệu quả, sâu sắc, khả năngghi nhớ nhanh chóng, lâu bền… Khi có hứng thú học tập Bởi hứng thú họctập sẽ huy động được các quá trình tâm lý như: Tri giác, tư duy, biểu tượng…đặc biệt hứng thú làm cho người học nảy sinh khao khát hành động và hànhđộng sáng tạo
Usinxki đã khẳng định: “ Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả, chỉ biết hành động bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của cá nhân”
Tóm lại, nếu có hứng thú học tập với môn học nào đó thì chắc chắn họcsinh sẽ học tập môn học đó có hiệu quả hơn
Mặt thứ hai: Chú ý
Thái độ học tập của người học thể hiện một số yếu tố không kém phầnquan trọng đó là chú ý Đây là yếu tố làm nên sự thành công cho người họcbởi “chú ý là cánh cửa để từ đó học sinh có thể nhận thức được thế giới xung
Trang 27quanh” Chú ý là điều kiện vật chất để làm việc một cách có tổ chức, có kỷluật tạo nên trạng thái làm việc tốt và như vậy sẽ đem lại kết quả học tập cao.
- Vốn tri thức và kinh nghiệm cá nhân.
Chất lượng học tập của người học còn phụ thuộc vào vốn tri thức vàkinh nghiệm của họ Thường thì những khái niệm nào quen thuộc với kinhnghiệm đã có thì người học dễ lĩnh hội hơn, tạo điều kiện tốt hơn cho ngườihọc Còn những khái niệm hoàn toàn mới so với kinh nghiệm của người họcthì việc lĩnh hội nó sẽ vất vả Trong quá trình học tập ở mỗi cá nhân sẽ đạt kếtquả khác nhau, bởi sự tham gia của hệ thống kinh nghiệm của cá nhân là khácnhau Có thể nói vốn tri thức và kinh nghiệm cá nhân của người học làphương tiện cơ bản của việc học tập
1.3.3.4 Yếu tố giáo viên.
Dạy học là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động củatrẻ nhằm giúp họ lĩnh hội nền văn hóa, xã hội tạo nên sự phát triển tâm lý,hình thành nhân cách Trong quá trình lĩnh hội nền văn hóa nhân loại, ngườihọc không phải tự mình tiến hành được mà nhất định phải có sự tổ chức điềukhiển của giáo viên Trong hoạt động dạy người giáo viên đóng vai trò chủthể với chức năng nhằm tái tạo lại trí thức cho người học Người giáo viênphải sử dụng tri thức mà mình đã có như một phương tiện, vật liệu để tổ chức,điều khiển người học lĩnh hội được tri thức của loài người cho chính bản thânmình
Như vậy, khi tiến hành hoạt động dạy giáo viên không chỉ nhằm pháttriển chính mình mà còn nhằm phát triển học sinh, có nghĩa giáo viên là người
tổ chức tái tạo nền văn hóa xã hội nhằm tạo ra cái mới cho người học Để thựchiện đúng mục đích đó thì việc lựa chọn phương pháp của thầy có ý nghĩaquyết định đối với việc lĩnh hội tri thức, việc học tập của người học Yếu tốdạy học của người giáo viên cũng là yếu tố hết sức quan trọng góp phầnkhông nhỏ vào việc nâng cao chất lượng học tập của người học
Trang 28Muốn nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Giáo dục học thìngười giảng viên giảng dạy bộ môn cũng phải có: trình độ chuyên môn nhấtđịnh; có năng lực sư phạm và phải có các phẩm chất của người thầy giáo.
1.3.3.5 Cơ sở vật chất đảm bảo nâng cao chất lượng học tập môn học.
Quá trình học tập của người học được diễn ra trong điều kiện nhất định
và bị chi phối bởi các yếu tố, điều kiện, phương tiện, kỹ thuật dạy học Tronggiai đoạn hiện nay, khi mà sự bùng nổ thông tin, sự tiến bộ của khoa học côngnghệ làm cho hoạt động dạy học trong nhà trường cần phải có sự đầu tư nhiều
Đồng thời để trong quá trình học tập đạt hiệu quả cao hơn chúng ta phảiđầu tư tạo điều kiện về cơ sở vật chất như tôn tạo, sang sửa, xây mới lại cáctrường học, lớp học, phòng đọc thư viện, sân chơi…những điều kiện cơ sở vậtchất ấy phải được xây dựng đủ tiêu chuẩn về ánh sáng, màu sắc trang trí, độlớn…có như thế mới tạo điều kiện tốt cho các em trong quá trình lĩnh hội trithức, nhằm phát triển một cách toàn diện nhân cách người học
1.3.4 Môn giáo dục học
Trang 29- Có khả năng vận dụng kiến thức của Giáo dục học trong phổ biếnkiến thức giáo dục cộng đồng thông qua hoạt động nghề nghiệp.
- Biết cách sưu tầm, xử lý thông tin
- Ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo viên đối với sự pháttriển của con người và xã hội để tích cực thực hiện nhiệm vụ giáo dục conngười thông qua hoạt động nghề nghiệp
1.3.4.2 Nội dung cơ bản của môn Giáo dục học.
- Hệ thống những kỹ năng kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong lĩnhvực nghề nghiệp
- Hệ thống chuẩn mực về phẩm chất và thái độ cần thiết của ngườithầy
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Nhận thức được mặt lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng học tậpgiúp chúng ta không chỉ thấy được vai trò và tầm quan trọng ảnh hưởng đến
sự nghiệp giáo dục và đào tạo mà nó còn ảnh hưởng tới cuộc sông và sự pháttriển của xã hội loài người Các tác giả trong nước cũng như các tác giả nướcngoài đều nghiên cứu rất thành công, đem lại nhiều biện pháp nâng cao chấtlượng dạy và học Ngoài ra hoạt động học và hoạt động dạy trong quá trìnhdạy học là nhân tố quan trọng ảnh hưởng và quyết định đến chất lượng họctập của sinh viên Để có thể đi nghiên cứu, tìm hiểu được một vấn đề thì cơ sở
lý luận của vấn đề đó rất quan trọng và cần được làm rõ Đặc biệt là vấn đềnghiên cứu chất lượng học tập môn học, từ cơ sở lý luận sẽ làm nền tảng đểnghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp một cách hiệu quả
Trang 31CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC
CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG HẢI DƯƠNG
2.1 Tình hình chung
2.1.1 Vài nét về trường Cao đẳng Hải Dương.
Lịch sử truyền thống: Trường Cao đẳng Hải dương được thành lập từnăm 1960 Năm 1978, Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 164/TTg nângcấp lên thành trường Sư phạm 10 + 3 lên thành trường Cao đẳng sư phạm.Năm 2009 được Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ký quyết định đổi thànhtrường Cao đẳng Hải dương Hiện nay, Nhà trường đang thực hiện đề án quyhoạch phát triển thành Đại học Hải Dương đa ngành, đa cấp
Quy mô, ngành nghề đào tạo: Trường đào tạo đa ngành, nhằm đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế xã hội Người học được phát triển toàn diện, cóphẩm chất đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ, có năng lực chuyên môn vững vànggóp phần đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Hiện nay Nhà trường có các khối ngành sau:
+ Khối ngành sư phạm
+ Khối ngành kinh tế và kỹ thuật
+ Khối ngành khoa học xã hội và nhân văn
Tuyển sinh đào tạo hệ Cao đẳng sư phạm: Giáo dục Tiểu học, Mầmnon, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Toán, Vật lý, Hóa học, Lý– Kỹ thuật công nghiệp, Sinh học, Âm nhạc – Công tácđội, Mỹ thuật – côngtác đội, Thể dục – công tác đội, Ngoại ngữ
Tuyển sinh đào tạo hệ trung cấp: Trung cấp giáo dục tiểu học, trung cấpgiáo dục mầm non, trung cấp giáo dục thể chất, trung cấp Tin học, trung cấpthiết bị trường học
Trang 32Ngoài ra trường còn đào tạo nhiều ngành nghề khối ngành kinh tế và kỹthuật, khối ngành khoa học xã hội và nhân văn; đào tạo tại trường và đào tạoliên kết với các cơ sở giáo dục ngoài tỉnh.
Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giảng viên đủ ở các chuyên ngành đàotạo, có trình độ chuyên môn sâu, tâm huyết và trách nhiệm Gần 60% Giảngviên có trình độ Thạc sĩ, trong đó có nhiều giảng viên là Tiến sĩ, đang nghiêncứu sinh Nhiều giảng viên trẻ đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, toànquốc, tích cực nghiên cứu, cập nhật cái mới, sát thực tế, thỏa mãn được nhucầu của người học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo
Những điều kiện trên có tác động rất lớn đến chất lượng học tập củasinh viên, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà trường
2.1.2 Đặc điểm bộ môn Giáo dục học trong trường Cao đẳng sư phạm.
Giáo dục học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về quá trìnhgiáo dục con người, đặc biệt là nghiên cứu bản chất, cấu trúc, quy luật…củaquá trình đó Những tư tưởng của khoa học giáo dục đã xuất hiện từ thời cổđại, song cũng như nhiều ngành khoa học xã hội khác, giáo dục học cũng chỉ
là một bộ phận của Triết học, những tư tưởng Giáo dục được lồng ghép trongnhững tư tưởng triết học của Trung hoa, Hi Lạp, La Mã cổ đại…Phải songđến thế kỷ (XVII – XVIII ) Giáo dục học mới dần tách khỏi triết học để trởthành một ngành khoa học tương đối độc lâp
Do lịch sử ra đời và đối tượng nghiên cứu như vậy nên giáo dục có hệthống khái niệm, phạm trù chưa thực sự thống nhất giữa các tác giả Đặc biệt,
hệ thống khái niệm, phạm trù này rất phức tap, trừu tượng, dựa trên cơ sở lýthuyết của nhiều ngành khoa học khác như: Triết học, Tâm lý học, Sinh học…Đối với các trường Cao đẳng, đặc biệt là hệ thống các trường sư phạm, khoahọc giáo dục đã trở thực sự khẳng định được vai trò và vị trí của mình, được
Trang 33xây dựng thành chương trình môn Giáo dục học – môn khoa học sư phạm cótính chất chuyên môn nghiệp vụ đặc trưng của trường sư phạm.
Trong chương trình Cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên Trung học cơ
sỏ ban hành quyết định số 2493/ GD – ĐT ngày 27/05/1995 của Bộ trưởng Bộgiáo dục và đào tạo đã qui định:
Mục đích: Chương trình môn giáo dục học nhằm trang bị cho sinh viênCao đẳng sư phạm những kiến thức cơ bản, kiên định về Giáo dục học, hìnhthành cho họ những kỹ năng nghề nghiệp cơ bản để thực hiện được nhiệm vụcủa người giáo viên Trung học cơ sở
Yêu cầu: Khi học xong môn Giáo dục học, sinh viên có khả năng:
- Hiểu biết những kiến thức cơ bản về mục đích giáo dục, những vấn đềchung về giáo dục Việt Nam
- Hiểu biết về mục tiêu, nội dung, khoa học dạy học, phương pháp dạyhọc và giáo dục ở bậc Trung học cơ sở
- Bước đầu hình thành kỹ năng kết hợp các lực lượng sư phạm để tiếnhành giáo duc
- Tự hoàn thiện nhằm nâng cao trình độ nghề nghiệp
Với mục đích, yêu cầu qui định trong chương trình giảng dayy bộ mônGiáo dục học đặt ra gồm cả lý thuyết và hình thành kỹ năng cho người học
2.1.3 Đặc điểm sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương
Hầu như tất cả sinh viên của trường đều ở độ tuổi thanh niên (từ 18 đến
25 tuổi), lứa tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần, họ đangthực hiện quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm của bản thân để phục vụcuộc sống hiện tại và trong tương lai Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoahọc, sản xuất hay hoạt động sản xuất cơ bản nhằm phục vụ cho hoạt độngmang tính nghề nghiệp của họ
- Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động và môi trường học tập mới
Trang 34Khi bước vào học trường Cao đẳng sư phạm, sinh viên đã gia nhập vàomột môi trường khác so với môi trường học tập ở phổ thông Với những yêucầu mới về hoạt động học tập và những thay đổi cơ bản về môi trường cũngnhư điều kiện sống đòi hỏi sinh viên phải thích nghi với hoàn cảnh mới, sinhviên thích nghi nhanh thì sự phát triển của họ càng tốt.
Đa số sinh viên nhanh chóng thích nghi với môi trường xã hội mới,đặc biệt là nhanh chóng thích ứng với việc sống tập thể vì họ là những thanhniên sôi động, thích tiếp cận với cái mới, thích giao lưu với bạn bè, đặc biệt lànhững người cùng lứa tuổi
- Sự phát triển nhận thức của sinh viên
Sinh viên tiếp nhận tri thức khoa học một cách khái quát hệ thống đểtrở thành những thầy cô giáo tương lai Hoạt động nhận thức của họ gắn chặtvới hoạt động nghề nghiệp
Hoạt động nhận thức của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, cómục đích, nội dụng, chương trình nhất định
Những phương tiện phục vụ cho hoạt động nhận thức của sinh viên vôcùng đa dạng, phong phú và hiện đại với những trang thiết bị như: thư viện,phòng máy, phòng học…
Sinh viên phải tìm được phương pháp học tập mới ở Cao đẳng phù hợpvới nghề nghiệp của mình vì không tìm được phương pháp học tập thích hợpthì sinh viên không thể có kết quả học tập tốt được
Như vậy, hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động trí tuệ đíchthực, đòi hỏi sự tích cực năng động và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động nhậnthức này cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người, song đốivới sinh viên thì hoạt động nhận thức của họ diễn ra tinh tế, nhanh nhạy, linhđộng và sáng tạo hơn Vì vậy họ luôn tiếp cận được với cái mới, luôn đào sâusuy nghĩ, không bằng lòng với tri thức dập khuôn như trong giáo trình
- Sự tự ý thức của sinh viên
Trang 35Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, cóchức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân Tự ý thức chính
là điều kiện để phát triển và hoàn thiện hướng nhân cách theo yêu cầu của xãhội Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa vàliên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của họ
Với đa dạng ngành nghề đào tạo, Nhà trường tuyển sinh sinh viên hệcao đẳng, trung cấp, tại chức…Sinh viên Cao đẳng Hải Dương ngành sưphạm có hộ khẩu thường trú ở Hải dương và các tỉnh lân cận Hiện nay đã cótrên 3000 sinh viên đang được đào tạo Chất lượng tuyển sinh đầu vào củatrường Cao đẳng Hải dương cũng khá cao
Sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương luôn đạt thành tích cao tronghọc tập cũng như trong các hoạt động ngoại khóa, công tác xã hội và tìnhnguyện Sinh viên Cao đẳng Hải Dương là những sinh viên năng động, sángtạo và ham học hỏi
2.2 Thực trạng chất lượng học tập môn Giáo dục học của sinh viên Cao đẳng Hải dương.
2.2.1 Kết quả kiểm tra, thi cử.
Để tìm hiểu thực trạng kết quả học tập bộ môn Giáo dục học của sinhviên, chúng tôi khảo sát sinh viên bằng hai cách:
- Thứ nhất, chúng tôi khảo sát bằng phiếu trưng cầu, cho sinh viên tựđánh giá kết quả học tập theo các loại: Giỏi (điểm 9, 10); Khá (điểm 7, 8);Trung bình (điểm 5, 6); Yếu (điểm 3, 4); Kém (điểm dưới 3)
- Thứ hai, chúng tôi thống kê kết quả thi học phần sau học kỳ của sinhviên theo loại trên
Sau khi xử lý số liệu thu được, chúng tôi thống kê kết quả trong bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1: Kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên K3 Khoa Nhạc
-Họa - Thể dục và Khoa Giáo dục Mầm non ( 96 Sinh viên)
Biểu đồ 2.1: Biểu diễn kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên
Khoa Nhạc – Họa – Thể dục và Khoa Giáo dục mầm non.
3.1 32.3 61.5
3.1 0 0
29.2 59.3
11.5 0 0
10 20 30 40 50 60
Kết quả thống kê ở Bảng 2.1 được thể hiện trên Biểu đồ 2.1 cho thấy có
sự chênh lệch giữa kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh viên theo cách
tự đánh giá với kết quả thi học phần, cụ thể như:
Ở loại Giỏi: có 3 sinh viên tự đánh giá (chiếm 3,1%); trong kết quả thihọc phần không có sinh viên đạt loại Giỏi
Trang 37Loại Khá: Có 31 sinh viên tự đánh giá (chiếm 32,3%); trong kết quả thihọc phần có 28 sinh viên (đạt 29,2%).
Loại Trung bình: Có 59 sinh viên tự đánh giá (chiếm 61,5%); trong kếtquả thi học phần có 57 sinh viên (chiếm 59,3%)
Loại Yếu: có 3 sinh viên tự đánh giá (chiếm 3,1%); trong kết quả thihọc phần có 11 sinh viên đạt loại yếu (chiếm 11,5%)
Những kết quả điều tra trên phản ánh một thực trạng kết quả học tậpcủa sinh viên chưa cao, kết quả loại khá và loại giỏi còn thấp Đặc biệt kếtquả thi học phần môn học còn thấp hơn so với kết quả tự đánh giá của sinhviên Từ kết quả đó, chúng ta nhận định rằng: Sinh viên cần có biện pháp đểnâng cao chất lượng học tập bộ môn Giáo dục học
2.2.2 Kết quả điều tra từ sinh viên.
Chúng tôi điều tra thực trạng học tập môn Giáo dục học của sinh viêntrường Cao đẳng Hải Dương ở các khía cạnh sau:
Trước tiên: Nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Giáo dục học?
- Là môn học thiết thực
- Là môn học phụ (học cũng được, không học cũng được)
- Là môn học không thiết thực
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Mức độ nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Giáo dục học
STT Mức độ nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của
môn Giáo dục học
Số lượng (SV)
TL (%)
Một điều hiển nhiên rằng: mức độ nhận thức về tầm quan trọng củamôn học sẽ đóng vai trò là động cơ học tập tích cực của sinh viên Sinh viênkhi nhận thức đúng và sâu sắc về vai trò quan trọng của môn học thì động cơ
Trang 38thúc đẩy tích cực của môn học mới mạnh mẽ, kết quả học tập sẽ cao, hơn nữakhả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn nghề nghiệp sau này mới có giá trịđích thực.
Kết quả điều tra trong bảng 2.2 cho thấy có 94,1 % số sinh viên chorằng môn Giáo dục học là môn học thiết thực, cần thiết Còn lại 4,8 % chorằng môn Giáo dục học là môn học phụ, học cũng được không học cũngđược Và 1,1 % sinh viên nhận thức đây là môn học không thiết thực Nhưvậy, tỷ lệ sinh viên nhận thức đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của môn Giáodục học là tương đối cao
Qua trò chuyện với một số bạn sinh viên, chúng tôi thu được ý kiến rấtkhác nhau về vấn đề này Phần nhiều các em cho rằng: môn Giáo dục học làmôn học khô khan nhưng nó cung cấp một lượng tri thức rất lớn cho nghềnghiệp sau này của sinh viên
Để điều tra về mức độ hứng thú học tập môn Giáo dục học của sinhviên, chúng tôi đưa ra câu hỏi: Khi học môn Giáo dục học, bạn thấy có hứngthú không?
Khi xử lý số liệu thu được, kết quả như sau:
Biểu đồ 2.2: Mức độ hứng thú đối với môn Giáo dục học của sinh viên.
Trang 3910 20 30 40 50
Chúng tôi cho rằng hứng thú với môn học là đầu mối của khá nhiều vấn
đề Hứng thú học tập bộ môn Giáo dục học có vai trò quan trọng góp phầnnâng cao chất lượng và tăng hiệu quả học tập của sinh viên Ít hứng thú họctập thì sinh viên sẽ ít tích cực học tập, ít tích cực tư duy, ít đầu tư thời gian vàtrí lực để học môn Giáo dục học, ít chịu khó tìm tòi nhứng phương pháp họctập hiệu quả
Mặt khác, sinh viên sẽ có những biểu hiện như: không chuyên cần,không siêng năng, học tập chỉ mang tính hình thức, đối phó dẫn đến khả năngvận dụng tri thức vào nghề nghiệp sau này bị hạn chế
Kết quả học tập môn học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mộttrong những yếu tố quan trọng đó là sự đầu tư thời gian cho việc học tập môn
Trang 40đó Để điều tra việc sử dụng thời gian cho việc học tập môn Giáo dục học củasinh viên trường Cao đẳng Hải Dương như thế nào?
Câu 5: Trong các mức độ sử dụng thời gian học tập dưới đây, bạn thường sửdụng mức độ nào cho việc học môn Giáo dục học ?
- Học thường xuyên, liên tục
- Học theo mùa thi
- Không giành thời gian để học
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi thu được kết quả điều tra thể hiện ởbiểu đồ 2.3
Qua những con số thể hiện dưới biểu đồ 2.3, chúng tôi có nhận định:phần lớn sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương chưa có ý thức cao trong việchọc tập môn Giáo dục học Biểu hiện ở chỗ: sinh viên học tập môn Giáo dụchọc với thái độ thụ động, thiếu tích cực Mục đích học tập của sinh viên cònmang nặng tính thời vụ, thi cử, có tính chất đối phó hơn là vấn đề tự ý thứchọc tập môn học đối với nghề nghiệp của mình trong tương lai Đây cũng làmột trong những nguyên nhân dẫn đến phương pháp học tập môn Giáo dụchọc của sinh viên
Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng thời gian học tập cho việc học tập môn Giáo
dục học.( Tỷ lệ %)