1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy trình kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của đoàn kiểm toán Nhà Nước

49 329 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung cơ bản của quy trình kiểm toán: Mỗi cuộc kiểm toán do KTNN tiến hành đều phải thực hiện theo quy trình thống nhất, gồm 4 bước: - Chuẩn bị kiểm toán - Thực hiện kiểm toán -

Trang 1

KIEM TOAN NHA NUOC KIEM TOAN DAU TU - DU AN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TRA

CÁC ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN THỰC HIỆN CÁC KẾT LUẬN,

KIẾN NGHỊ CỦA ĐOẢN KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Chủ nhiệm đề tài: Vũ Thanh Hải

Phó Chủ nhiệm: Hoàng Phú Thọ

Thư ký: Vũ Duy Bắc Thành viên: Nguyễn Hỏi Triều

Ngô Minh Kiếm

Trịnh Thị Tường Giang Hoang Thi Vinh Thuy

Trang 2

MG DAU

Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã ban hành quy trình kiểm toán Nhà

nước và các quy trình kiểm toán chuyên ngành áp dụng thống nhất cho các

cuộc kiểm toán của KTNN mà mọi Đoàn kiểm toán và kiểm toán viên nhà

nước khi tiến hành kiểm toán: Các quy trình kiểm toán là căn cứ pháp lý quan

trọng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động kiểm toán, góp phần nâng cao hiệu

quả và chất lượng công tác kiểm toán

Giai đoạn thứ 4 trong quy trình kiểm toán là “kiểm tra các đơn vị được

kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN” Thực hiện giai

đoạn này đảm bảo cho các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN được thực

hiện đầy đủ, kịp thời Thông qua đó cho phép đành giá chất lượng, so sánh

hiệu quả của các cuộc kiểm toán để rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả của

các cuộc kiểm toán tiếp theo Đồng thời đánh giá tính hiệu lực, thực tiến của

các số liệu, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán Từ đó khẳng định

hiệu quả, chất lượng của các cuộc kiểm toán và vai trò quan trọng của KTNN

trong quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô

Các quy trình kiểm toán đã khái quát được một số nội dung công việc

chủ yếu của công tác theo dõi, kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện các

kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN, nhưng chưa phản ánh một cách đây đủ

và chỉ tiết mọi vấn để Đồng thời trong thực tế áp dụng quy trình còn có

những khó khăn, vướng mắc Vì vậy, chúng tôi chọn để tài nghiên cứu:

“Hoàn thiện quy trình kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết

luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán Nhà nước”

Đối tượng nghiên cứu là việc kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực

hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán Nhà nước do Kiểm toán Đầu

tư - Dự án thực hiện

Ngoài phân mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương

như sau:

Chuong I: Cơ sở khoa học của việc kiểm tra các đơn vị được kiểm

toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán Nhà nước

Trang 3

Chuong II: Kiểm toán Nhà nước Việt Nam với việc thực hiện quy trình kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến

nghị của Đoàn kiểm toán Nhà nước

Chương HI: Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm tra

các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn

kiểm toán Nhà nước ,

Trong quá trình thực hiện đề tài, Ban chủ nhiệm đề tài đã được sự giúp

đỡ và động viên nhiều cán bộ khoa học, cán bộ quản lý và tập thể tác giả cũng đã có nhiều cố gắng Song, kết quả nghiên cứu sẽ không tránh khỏi

những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của các nhà khoa học, các bạn độc giả

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Trang 4

CHUONG I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC KIỂM TRA ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN

THUC HIEN CAC KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA ĐOÀN KTNN

1- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN

1 Một số vấn đề cơ bản về kiểm toán:

- Khái niệm về kiểm toán: (rích dẫn kiểm toán căn bản Trung tâm

khoa học và bồi dưỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nước)

Kiểm toán là một chức năng của quản lý, là một quá trình mà trong đó,

các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người được đào tạo để có trình độ thích hợp, tiến hành một cách độc lập việc thu thập, xác minh, đánh giá các

bằng chứng về các thông tin sô lượng liên quan đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế nhằm xác định và báo cáo mức độ

phù hợp của các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực về kinh tế, về tài

chính và kế toán đã được thiết lập và được pháp luật thừa nhận

- Phân loại kiểm toán theo hệ thống bộ máy tổ chức

Có nhiều cách phân loại kiểm toán nếu phân loại theo hệ thống bộ máy

tổ chức (cơ quan thực hiện kiểm toán) thì kiểm toán gồm 3 loại:

+ Kiểm toán Nhà nước: là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước

thực hiện chức năng kiểm toán tài sản của Nhà nước

+ Kiểm toán độc lập: Là doanh nghiệp (tổ chức) kinh doanh dịch vụ

kiểm toán và tự vấn tài chính kế toán theo yêu cầu của khách hàng (đơn vi

cần được kiểm toán)

+ Kiểm toán nội bô: là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi đơn vị phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ của đơn vị đó

- Chức năng, nhiệm vu cla KTNN Việt Nam được quy định tại Nghị dinh 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ, quyết định số 61/TTg ngày

24/01/1995 Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN

2 Quy trình kiểm toán:

Quy trình kiểm toán của KTNN là trình tự tiến hành công việc của mỗi

cuộc kiểm toán, trình tự đó đã được sắp xếp theo thứ tự phù hợp với những

chuẩn mực kiểm toán, được Tổng KTNN quy định áp dụng thống nhất cho các cuộc kiểm toán của KTNN mà mọi đoàn kiểm toán và Kiểm toán viên

Trang 5

Nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành kiểm toán, nhằm đảm bảo chất lượng va

hiệu quả của các cuộc kiểm toán

Hoạt động của KTNN cần phải có những quy định và chuẩn mực chung Có quy trình kiểm toán chung các KTNN chuyên ngành sẽ xây dựng quy trình kiểm toán phù hợp với đặc thù của ngành mình Quy trình kiểm

toán cần thiết để hoạt động kiểm toán của KTNN được thống nhất về trình tự

và phương pháp kiểm toán từ khâu lập kế hoạch, khảo sát, thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán quy trình kiểm toán còn là cơ sở pháp lý để tổ chức các công việc trong một cuộc kiểm toán, là căn cứ để thực hiện việc

giám sát kiểm tra chất lượng các cuộc kiểm toán

3 Nội dung cơ bản của quy trình kiểm toán:

Mỗi cuộc kiểm toán do KTNN tiến hành đều phải thực hiện theo quy

trình thống nhất, gồm 4 bước:

- Chuẩn bị kiểm toán

- Thực hiện kiểm toán

- Lập báo cáo kiểm toán và lưu trữ hồ sơ kiểm toán

- Kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của

Đoàn Kiểm toán Nhà nước

Căn cứ vào nội dung báo cáo kiểm toán, KTNN tiến hành kiểm tra việc

thực hiện tại đơn vị việc kiểm tra này trước hết là nhằm tăng cường tính hiệu

lực của KTNN, các kiến nghị của Đoàn KTNN được thực hiện vừa khẳng

định rằng công tác kiểm toán thực hiện tốt, vừa khẳng định địa vị pháp lý của

KTNN Đồng thời, việc kiểm tra cũng giúp KTNN kiểm nghiệm được tính hợp lý của các kiến nghị đã nêu ra, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt hơn các cuộc kiểm toán sau này

I - SU CAN THIET CUA VIỆC KIỂM TRA CÁC DON VI ĐƯỢC KIỂM TOAN THUC HIEN CAC KET LUAN, KIEN NGHI CUA DOAN KTNN

1 Vai tra:

1.1 Kiếm tra các đơn vị được kiểm toán đảm bảo các kết luận, kiến nghị của KTNN được thực thi

- Kiểm tra các đơn vị được kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của quy

trình kiểm toán nhằm đảm bảo kết quả của cuộc kiểm toán có tác dụng thực hiện trên cả hai lĩnh vực: Quản lý Nhà nước và quản lý tài chính tại đơn vị

5

Trang 6

được kiểm toán Thông qua hoạt động kiểm toán, một mặt giúp cho các đơn

vị được kiểm toán chấn chỉnh tổ chức, quản lý, chấn chỉnh công tác hạch

toán, tăng cường một bước kỷ cương quản lý và kỷ luật tài chính, làm lành

mạnh hoá các quan hệ tài chính Mặt khác, để xuất với các cơ quan quản lý Nhà nước, với Chính phủ những biện pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài chính, tài nguyên quốc gia

- Kiểm tra các đơn vị được kiểm toán đảm bảo cho các kết luận, kiến

nghị của Đoàn KTNN được thực hiện đầy đủ, kịp thời Thông qua kiểm tra các đơn vị được kiểm toán để đánh giá tình hình và kết quả những công việc

mà đơn vị đã thực hiện theo các kiến nghị của Đoàn kiểm toán (về cả thời gian thực hiện và nội dung thực hiện) cũng như việc khắc phục những sai sót,

yếu kém mà Đoàn kiểm toán đã chỉ ra tại đơn vị

1.2 Kiểm tra các đơn vị được kiểm toán bảo đâm tính hiệu lực, thực

tế của kiểm toán

- Thông qua kiểm tra các đơn vị được kiểm toán cho phép so sánh hiệu

quả của các cuộc kiểm toán để rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả của các

cuộc kiểm toán tiếp theo

- Thông qua việc kiểm tra các đơn vị được kiểm toán có thực hiện

nghiêm chỉnh các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN hay không để đánh

giá tính hiệu lực, thực tiễn của các số liệu, kết luận và kiến nghị trong báo

cáo kiểm toán Từ đó khẳng định hiệu quả, chất lượng của các cuộc kiểm toán và vai trò quan trọng của KTINN trong quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô

- Thông qua kiểm tra các đơn vị được kiểm toán, KTNN có thể đánh giá chất lượng, hiệu quả của các cuộc kiểm toán và trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm toán viên, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quản lý, đào tạo và bồi dưỡng Kiểm toán viên Nhà nước

2 Mục tiêu:

Thông qua kiểm tra các đơn vị được kiểm toán, so sánh, đối chiếu giữa việc thực hiện của đơn vị với các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN tại báo

cáo kiểm toán và các biên bản kiểm toán, phát hiện những tồn tại và vướng

mắc mà đơn vị chưa thực hiện được, từ đó phân tích những nguyên nhân và

kiến nghị với cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý, giúp cho các cuộc kiểm

toán tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn

Trang 7

3 Yêu cầu: :

Từ những vai trò, mục tiêu của việc kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN, khi tiến hành kiểm tra các

đơn vị được kiểm toán cần phải tuân theo các yêu cầu sau:

3.1 Lập kết hoạch kiểm tra, trình tự kiểm tra, thu thập bằng chứng xác định việc thực hiện, từ đó nhận xét, đánh giá và xác nhận vẻ việc thực hiện các kết luận và kiến nghị của Đoàn KTNN đã được đưa ra tại báo cáo kiểm toán và biên bản kiểm toán

3.2 Phải đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán do KTNN ban

hành

3.3 Phải bao quát hết những vấn đề cơ bản và thể hiện tính thực tiễn trong quá trình hướng tới hiệu quả và chất lượng của cuộc kiểm toán

IH NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY TRÌNH KIỂM TRA CÁC ĐƠN VỊ

ĐƯỢC KIỂM TOÁN THỰC HIÊN CÁC KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA ĐOÀN

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

1 kế hoạch hoá việc kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện

các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

Kiểm tra thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN cần phải

được coi trọng không kém hơn việc thực hiện kiểm toán Kế hoạch cho công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị phải được lập từ dưới lên Hàng năm, vào

cuối năm các phòng kiểm toán lập kế hoạch cho năm sau cho việc kiểm tra

thực hiện kiến nghị về thời gian tiến hành kiểm tra, đơn vị được kiểm tra, nhân sự và kinh phí Tổ tổng hợp của Kiểm toán chuyên ngành hoặc Kiểm toán khu vực sẽ tổng hợp kế hoạch đó của các phòng thành kế hoạch chung

vê kiểm tra thực hiện kiến nghị của Kiểm toán chuyên ngành hoặc của Kiểm

toán khu vực và trình Kiểm toán trưởng phê duyệt

Kế hoạch chung về kiểm tra thực hiện kiến nghị nói trên mới chỉ là kế

hoạch tổng thể về thời gian, là một bộ phận trong kế hoạch công tác hàng

năm của đơn vị, chưa phải là kế hoạch chỉ tiết kiếm tra thực hiện kiến nghị

đối với từng đơn vị đã được kiểm toán Lập kế hoạch chỉ tiết về kiểm tra thực hiện kiến nghị là công việc căn bản trong khâu chuẩn bị kiểm tra thực hiện kiến nghị, kế hoạch chi tiết này là cơ sở cho việc kiểm tra thực tế tại đơn vị

đã được kiểm toán.

Trang 8

2 Chuẩn bị cho kiểm tra thực hiện kiến nghị : `

2.1 Lập kế hoạch chỉ tiết về kiểm tra thực hiện kiến nghị:

Kế hoạnh chỉ tiết về kiểm tra thực hiện kiến nghị được lập cụ thể cho từng đơn vị đã được kiểm toán hoặc cho một nhóm các đơn vị đã được kiểm

z

toán

Nội dung cơ bản của kế hoạch chi tiết về kiểm tra thực hiên:

a Mục đích, yêu câu của việc kiểm tra thực hiện kiến nghị:

Mục đích, yêu cầu của việc kiểm tra thực hiện kiến nghị ở mỗi đơn vị

đã được kiểm toán tuy có khác nhau, nhưng đều có những điểm chung nhất

là:

- Nhận xét, đánh giá, xác nhận về việc thực hiện các kết luận, kiến

nghị của Đoàn KTNN đã được đưa ra tại Báo cáo kiểm toán và các Biên bản kiểm toán

- Thông qua kiểm tra thực hiện kiến nghị để phát hiện những tồn tại vướng mắc của đơn vị được kiểm toán trong việc thực hiện các kết luận và

kiến nghị của đoàn KTNN; tìm hiểu, phân tích các nguyên nhân của những

tồn tại và vướng mắc đó Từ đó đề xuất với cấp có thẩm quyền các kiến nghị

xử lý

b Nội dung kiểm tra thực hiện kiến nghị:

Tuân thủ theo quy trình kiểm toán của KTNN, bao gồm các công việc

- Kiém tra về thời hạn nộp báo cáo về kết quả thực hiện kiến nghị so

với quy định tại Báo cáo kiểm toán

- Kiểm tra nội dung báo cáo của đơn vị đã được kiểm toán về tình hình

và kết quả thực hiện các Kiến nghị của Đoàn kiểm toán

- Đối chiếu việc thực biện những công việc khắc phục sai sót, yếu kém

trong thực tế tại đơn vị đã được kiểm toán với báo cáo của đơn vị gửi cho Đoàn kiểm toán và với các kết luận trong báo cáo kiểm toán

- Kiểm tra, đánh gía thực tế về cả thời gian, nội dung kết quả những công việc mà đơn vị đã được kiểm toán đã thực hiện theo các kiến nghị của Đoàn kiểm toán (bao gồm việc chấn chỉnh quản lý, tăng cường công tác kế toán, điều chỉnh sổ sách và Báo cáo tài chính, xử lý các quan hệ tài chính .)

- Thu thập các bằng chứng vẻ việc đơn vị đã được kiểm toán đã thực hiện kiến nghị của Đoàn kiểm toán

c Phạm vi kiểm tra:

- Tất cả các đơn vị đã được kiểm toán

Trang 9

- Giới hạn trong phạm vi các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN đã

được thể hiện trong Báo cáo kiểm toán và các Biên bản kiểm toán

d Phương pháp kiểm tra

Phương pháp kiểm tra chung là šo sánh, đối chiếu giữa việc thực hiện

của đơn vị với các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTINN tại Báo cáo kiểm toán

và các Biên bản kiểm toán

Một số Phương pháp kiểm tra cơ bản :

- Kiểm tra tổng quát việc điểu chỉnh báo cáo của đơn vị so với số liệu kiểm toán tại Báo cáo kiểm toán và các Biên bản kiểm toán

- Kiểm tra chỉ tiết việc điều chỉnh hạch toán kế toán, ghi chép vào sổ

- Kiểm tra các chứng từ có liên quan đến việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN như: nộp thuế, các khoản thu phải nộp NSNN, thu

hồi công nợ, truy thu của các cá nhân có sai phạm

Lưu ý : Khi kiểm tra chứng từ, KTV cân lưu ý đến tính hợp pháp, hợp

lệ của các chứng từ Trong trường hợp cần thiết, KTV có thể phải đối chiếu với các bên liên quan về các chứng từ đó

- Kiểm tra, phân tích nguyên chân của những vướng mắc trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

- Ngoài ra để thuận lợi cho việc kiểm tra thực tế tại đơn vị được kiểm

toán, trước khi thực hiện kiểm tra KTV có thể lập danh sách những vấn để cần phải kiểm tra theo các nội dung kiểm tra như:

+ Thời hạn nộp báo cáo về kết quả thực hiện kiến nghị;

+ Việc điều chỉnh sổ kế toán, báo cáo quyết toán theo số liệu của Đoàn

kiểm toán;

+ Kết quả thực hiện từng kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN đối với

các số liệu phát hiện qua kiểm toán (số chênh lệch giữa số kiểm toán và số

+ Những vướng mắc và kiến nghị của đơn vị được kiểm toán trong

việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN, nguyên nhân của

những vướng mắc đó

Trang 10

e Thời gian kiểm tra

Kế hoạch về thời gian kiểm tra được xây dựng trên cơ sở kế hoạch

chung về kiểm tra thực hiện kiến nghị đã được lãnh đạo Kiểm toán chuyên

ngành hoặc Kiểm toán khu vực phê duyệt Thời gian kiểm tra thực hiện kiến nghị cho từng đơn vị đã được kiểm toán được xác định từ khi bắt đầu thực hiện kiểm tra tại đơn vị cho đến khi lập xong Báo cáo kết quả kiểm tra việc đơn vị được kiểm toán thực hiện kiến nghị của Đoàn KTNN Xác định rõ thời gian cần thiết cho cuộc kiểm tra thực hiện kiến nghị là cơ sở để lãnh đạo

kiểm toán chuyên ngành bố trí, sắp xếp cho phù hợp với kế hoạch cộng tác chung của đơn vị mình

ø Bố trí nhân sự :

- Trên cơ sở mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi và thời gian dự kiến

cho cuộc kiểm tra để xác định số lượng KTV cần thiết cho công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị

b Chuẩn bị hô sơ kiểm toán trước khi kiểm tra:

Trước khi tiến hành kiểm tra thực hiện kiến nghị tại đơn vị đã được

kiểm toán, KTV cần phải thu thập đẩy đủ hồ sơ kiểm toán có liên quan tới đơn vị đã được kiểm toán, bao gồm:

- Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán

- Biên bản kiểm toán

- Biên bản xác nhận số liệu của từng KTV

- Biên bắn họp Đoàn kiểm toán

- Văn bản giải trình của đơn vị được kiểm toán

- Các tài liệu kiểm toán và các bằng chứng kiếm toán

Sau đó, KTV cần phải tổng hợp các số liệu và tình hình cơ bản từ hồ sơ kiểm toán như:

- Tổng hợp các số liệu ở phần "Kết quả kiểm toán " của Báo cáo kiếm

toán và các Biên bản kiểm toán theo ba chỉ tiêu: số báo cáo, số kiểm toán, số chênh lệch

Trang 11

- Tổng hợp các kết luận kiểm toán và kiên nghị (ở phần nhận xét và kiến nghị " của Báo cáo kiểm toán và các Biên bản kiểm toán) có liên quan

đến các số liệu chênh lệch giữa số kiểm toán với số báo cáo

- Tổng hợp các kiến nghị của Đoàn kiểm toán về việc chấn chỉnh công tác quản lý, công tác tài chính - kế toán, xử lý các quan hệ tài chính

- Tổng hợp kết quả thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

trên cơ sở báo thực hiện của đơn vị được kiểm toán Đối chiếu, so sánh với

các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN tại Báo cáo kiểm toán

2.3 Thông báo việc kiểm tra thực hiện kiến nghị cho đơn vị được kiểm toán:

Trước khi tiến hành kiểm tra thực hiện kiến nghị tại đơn vị được kiểm toán, Kiểm toán chuyên ngành hoặc Kiểm toán khu vực cần phải có công văn

gửi cho các đơn vị được kiểm toán thông báo về thời gian, mục đích và nội

3- Kiểm tra thực tế tại đơn vị được kiểm toán :

Kiểm tra thực tế tại đơn vị được kiểm toán phải đảm bảo hai yêu cầu

cơ bản sau:

- Kiểm tra theo các nội dung và phương pháp đã nêu trong kế

- Kiểm tra trong phạm vi các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

Trình tư các bước thực hiện:

Bước 1: Kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị về số liệu KTV sử dụng các phương pháp sau:

- Kiểm tra tổng quát và chỉ tiết để xem xét việc điều chỉnh số liệu trên

báo cáo, sổ kế toán của đơn vị

- Kiểm tra chưng từ đối với các kiến nghị về: thu hồi các khoản chỉ,

thanh toán sai; các khoản phải nộp NSNN, các khoản giảm chi, giảm cấp phát; xử lý công nợ

Bước 2: Kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị về quản lý như: chấn chỉnh công tác quản lý, công tác kế toán, xử lý các quan hệ tài

chính

KTV phai thu thập các bằng chứng về việc thực hiện các kiến nghị đó:

các quy định quyết định có liên quan, sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, quản

lý, các biện pháp nâng cao trình độ nhân viên

11

Trang 12

Bước 3: Kiểm tra, phân tích các nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

Quá trình thực hiện kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN, đơn vị có thể

có những vấn đề giải trình trở lại do gặp những khó khăn nào đó mà không

thực hiện đầy đủ kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN Trong trường hợp này, khi kiểm tra KTV phải xem xét thật cụ thể chứng từ, sổ sách và tình hình

thực tế, thu thập các bằng chứng về vấn đề đó để làm căn cứ cho việc lập biên bản kiểm tra

Bước 4: Lập biên bản về việc kiểm tra thực hiện các kết.luận, kiến nghị của Đoàn KTNN tại đơn vị được kiểm toán

- Khi kết thúc kiểm tra thực hiện các kết luận, kiến nghị tại đơn vị được kiểm toán, tổ kiểm tra cần phải lập Biên bản kiểm tra thực hiện kết

luận, kiến nghị của Đoàn KTNN, ghi nhận kết qủa thực hiện kiến nghị của

đơn vị được kiểm toán, những vướng mắc và nguyên nhân vướng mắc cùng những kiến nghị của đơn vị (nếu có)

Những nội dung chủ yếu của Biên bản kiểm tra thực hiện các kết luận,

kiến nghị của Đoàn KTNN:

- Phần mở đầu: Căn cứ kiểm tra (báo cáo kiểm toán và biên bản kiểm

toán đã được thông qua), nội dung và phạm vi kiểm tra (các kết luận và kiến

nghị trong Báo cáo kiến toán và Biên bản kiểm toán)

- Kết quả kiểm tra:

+ Những kiến nghị đã thực hiện được;

+ Những kiến nghị chưa, hoặc không thực hiện được, nguyên nhân

- Nhận xét, kiến nghị:

+ Thực hiện đúng, đủ các kiến nghị;

+ Thực hiện một phần (lý do);

+ Các kiến nghị xử lý tiếp gồm: Kiến nghị của đơn vị được kiểm toán và

kiến nghị của tổ kiểm tra

4- Báo cáo kết quả về việc đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận, kiến nghị của Doan KTNN:

Cơ sở lập báo cáo:

- Các Biên bản kiểm tra thực hiện kiến nghị tại các đơn vị được kiểm toán (đơn vị thuộc trực thuộc của một Bộ, tỉnh, ngành, tổng công ty .)

Trang 13

- Các tài liệu có liên quan đến các kiến nghị xử lý tiếp theo (của đơn vị

được kiểm toán và của tổ kiểm tra) đối với những vướng mắc, tồn tại mà đơn

vị chưa thực hiện được

Nội dung Chủ yếu của Báo cáo kết quả kiểm tra thực hiên các kết luận, kiến nghị của Doan KTNN:

- Tổng hợp tình hình và số liệu đã kiểm tra trên báo cáo và trên thực tế tại đơn vị được kiểm toán Phần này cần tập trung vào các vấn đề sau:

+ Thực hiện các kiến nghị về các khoản phải nộp vào NSNN như thuế, các khoản phải thu khác phải nộp NSNN ‘

+ Thực hiện các kiến nghị về giảm cấp phát, giảm chi đối với các

khoản chưa cấp phát, chưa chi

+ Việc điều chỉnh sổ kế toán, Báo cáo quyết toán

+ Biện pháp xử lý các tồn đọng nhất là thu hồi công nợ (đối chiếu xử

lý công nợ, thu hồi .), xử lý tài sản thừa, thiếu, các khoản thiếu hụt

+ Các biện pháp chấn chỉnh tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, bộ máy kế toán và công tác kế toán thống kê

- Đưa ra những nhận xét, đánh giá về việc thực hiện kết luận kiểm toán của đơn vị được kiểm toán

- Nêu những tồn tại mà đơn vị được kiểm toán chưa thực hiện được,

phân tích những nguyên nhân và kiến nghị với lãnh đạo KTNN các biện pháp

Doan KTNN va KTV

Tổ chức và cá nhân khi tiến hành kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN tại đơn vị có quyền hạn và trách nhiệm giống như quyền hạn và trách nhiệm được quy định tại điều 5 "Điều lệ tổ chức và hoạt

động của KTNN" (ban hành kèm theo quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ) Cụ thể như sau:

13

Trang 14

- Chỉ tuân theo pháp luật và phương pháp chuyên môn nghiệp vụ đã được Nhà nước quy định

- Được yêu cầu đơn vị đã được kiểm toán gửi Báo cáo và cung cấp các

thông tỉn, tài liệu cần thiết cho quá trình kiểm tra tình hình thực hiện các kết

luận, kiến nghị của Đoàn KTNN

- Được yêu cầu các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và công dân giúp đỡ, tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ

- Được để nghị các cơ quan có thẩm quyển giám định về mặt chuyên

mnôn hoặc làm tư vấn khi cần thiết

- Được đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với

tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở công tác kiểm tra của KTNN và cung cấp

sai sự thật thông tin, tài liệu cho KTNN

- Được kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật đối với tổ chức, cá nhân có những vi phạm chế độ tài chình - kế toán của Nhà

nước, cố tình không thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN trong

biên bản kiểm toán

~- Cung cấp hồ sơ tài liệu kiểm toán theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan pháp luật có thẩm quyền

- Trường hợp phát hiện được các sai sót ở biên bản (hay báo cáo) kiểm toán đã được phát hành, các kiến nghị khó hoặc không thể thực hiện được (kiến nghị chưa chính xác) phải báo cáo lãnh đạo kiểm toán chuyên ngành

hoặc kiểm toán khu vực

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những kết quả công việc của

mình

V MOT SO NÉT VỀ QUY TRÌNH KIỂM TRA TÌNH HÌNH THỤC HIỆN

CÁC KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA KTNN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Tại một số nước như CHLB Đức, úc, ấn Độ việc kiểm tra tình hình

thực các kết luận, kiến nghị của KTNN không được xem là một bước trong

quy trình kiểm toán mà coi đó là một cuộc kiểm toán

Nếu thấy cần thiết, KTNN tiến hành một cuộc kiểm toán thực tế tại

đơn vị được kiểm toán nhằm kiểm tra tình hình thực hiện các kết luận, kiến

nghị của KTNN theo thông báo kết quả kiểm toán và kết quả việc trao đổi văn bản giữa 2 cơ quan Cuộc kiểm toán này được gọi là Kiểm toán phúc tra hay kiểm toán lại, kiểm toán hệ quả (sau đây gọi là kiểm toán phúc tra); nó

Trang 15

được tiến hành theo đúng quy trình kiểm toán từ khâu lập kế hoạch kiểm toán

đến khâu ra thông báo kết quả kiểm toán và báo cáo kiểm toán năm Kiểm toán phúc tra của KTNN chính là một loại hình kiểm toán đặc biệt, có những

1 Lý do của kiểm toán phúc tra:

Không phải tất cả các cuộc kiểm toán của KTNN đều tiến hành kiểm toán phúc tra Có thể nêu những lý do chính dẫn tới phải tiến hành một cuộc

kiểm toán này như sau:

- Do cơ quan KTNN không trn tưởng hoàn toàn vào báo cáo bằng văn

bản của đơn vị được kiểm toán về tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của

KTNN cần phải xem xét lại

- Do kết luận của cuộc kiểm toán trước có ý nghĩa lớn đối với việc

quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước

2 Về mục đích:

Xuất phát từ những lý do trên mà kiểm toán phúc tra có mục đích như sau:

- Kiểm tra xem cơ quan được kiểm toán có sửa chữa các sai sót được

phát hiện trong cuộc kiểm toán trước đó không và đánh giá mức độ thực hiện

của đơn vị Thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp đơn vị được kiểm toán báo cáo sai hoặc báo cáo không đây đủ về tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của

KTNN

- Kiểm tra xem các sai sót này có lặp lại ở các năm tiếp theo hay không

- Xem xét tác dụng thực tế của các kết luận, kiến nghị của KTNN

- Đối với trường hợp cơ quan KTNN và đơn vị được kiểm toán không

thống nhất với các kết luận kiểm toán, hoặc không thống nhất trong việc thực hiện các kết luận của kiểm toán thì mục tiêu của cuộc kiểm toán phúc tra là

15

Trang 16

xem xết và chứng minh một lần nữa các kết luận, kiến nghị của KTNN là

đúng đắn hoặc tìm ra một giải pháp phù hợp nhất với thực tế

3 Hình thức kiểm toán phúc tra:

Kiểm toán phúc tra có thể được tiến hành như một cuộc kiểm toán độc

lập, hoặc có thể kết hợp với các nội dung khác trong một cuộc kiểm toán tại

đơn vị đã được kiểm toán trước đó Trong trường hợp nào kết quả cuối cùng

của cuộc kiểm toán cũng phải thể hiện bằng Thông báo kết quả kiểm toán

như mợi cuộc kiểm toán Thường thì kiểm toán phúc tra được kết hợp với các hình thức kiểm toán khác như kiểm toán toàn diện, kiểm toán tuân thủ

4 Nội dung kiểm toán phúc tra:

Nội dung của kiểm toán phúc tra bám sát vào các kiến nghị trong

Thông báo kết quả kiểm toán của cuộc kiểm toán trước đó và quá trình trao đổi văn bản về tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN giữa cơ

quan KTNN và đơn vị được kiểm toán

5 Phạm vi kiểm toán phúc tra:

Phạm vi kiểm toán phúc tra chính là phạm vi của cuộc kiểm toán trước

đó Thời kỳ kiểm toán phúc tra là thời gian sau cuộc kiểm toán lần trước cho đến khi tiến hành kiểm toán phúc tra

6 Thời điểm kiếm toán phúc tra:

Kiểm toán phúc tra có thể được tiến hành ngay sau khi kết thúc cuộc kiểm toán trước đó hoặc sau một thời gian tuỳ theo mức độ quan trọng và cần

thiết của nó đối với hoạt động của đơn vị được kiểm toán

Từ đặc điểm trên của loại hình kiểm toán phúc tra của KTNN các nước

có thể nhận thấy điểm giống và khác nhau giữa việc kiểm tra tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN Việt Nam và KTNN các nước

Mục đích và lý do của kiểm toán phúc tra ở KTNN các nước và giai đoạn thứ 4 trong quy trình kiểm toán của KTNN Việt Nam về cơ bản là giống nhau Nó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo hiệu lực về quản

lý nhà nước và quản lý tài chính tại đơn vị được kiểm toán của các kết luận của cơ quan KTNN

Trang 17

Về hình thức: kiểm toán phúc tra ở KTNN các nước và giai đoạn thứ

4 trong quy trình kiểm toán của KTNN Việt Nam có một đặc điểm giống

nhau - đó là việc yêu cầu đơn vị báo cáo về tình hình thực hiện các kết

luận, kiến nghị của KTNN về cơ quan KTNN Nhưng tại các nước không tiến hành kiểm tra tại đơn vị được kiểm toán như ở Việt Nam Bởi vì, trong

khi đây được coi là khâu cuối cùng của quy trình kiểm toán của KTNN

Việt Nam thì ở các nước, nó lại được coi như một cuộc kiểm toán với quy

trình như mọi cuộc kiểm toán khác Do đó, chỉ khi tiến hành kiểm toán

phúc tra thì mới thực hiện tại đơn vị được kiểm toán

Về phạm vị: Kiểm toán phúc tra của KTNN các nước không giới hạn ở việc thực hiện kiểm tra tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị

của KTNN Tuỳ theo thực tế mà cuộc kiểm toán phúc tra có thể được mở

rộng hoặc thu hẹp quy mô (ví dụ như trong quá trình kiểm toán phúc tra,

nếu phát hiện đơn vị có những sai sót nghiêm trọng ngoài chủ đề của cuộc

kiểm toán phúc tra thì KTNN có thể mở rộng phạm vi kiểm toán .)

Khác với KTNN Việt Nam, kiểm toán phúc tra và quá trình trao đổi văn bản về tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN các nước có thể diễn ra và kéo dài tới mấy năm sau cuộc kiểm toán lần đầu Tuy nhiên,

nếu như việc kiểm tra tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN

ở Việt Nam là một khâu của quy trình kiểm toán thì ở các nước, việc nầy

không bắt buộc đối với mọi cuộc kiểm toán

Tóm lại, kiểm toán phúc tra ở KTNN các nước hay bước kiểm tra tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN tại đơn vị được kiểm toán

của KTNN Việt Nam đều góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực tiễn

của các kết luận, kiến nghị của KTNN, qua đó khẳng định vai trò của cơ

quan KTNN đối với việc quản lý và điều hành ngân sách của Nhà nước

17

Trang 18

CHUONG II

THUC TRANG CONG TAC KIEM TRA CAC DON VI DUOC KIEM

TOAN THUC HIEN CAC KET LUAN, KIEN NGHI

CUA DOAN KTNN

I- NOI DUNG QUY TRINH KIEM TRA CAC ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN

THỤC HIỆN CÁC KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CUA DOAN KIEM TOAN

Kiểm toán Nhà nước Việt nam ra đời với chức danh là cơ quan kiểm

tra tài chính công, độc lập từ bên ngoài hoạt động tài chính để thực hiện chức

năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN cấp sẽ có tác dụng ngăn ngừa, bất buộc các tổ chức đi vào hoạt

động theo pháp luật và có tác dụng thiết thực giúp Quốc hội, Chính phủ đánh giá đúng tình hình và thực trạng sử dụng NSNN để từ đó ra những quyết định chính xác và có hiệu lực cao

Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước ngày 06/10/1999 Tổng Kiểm toán nhà nước đã ra quyết định ban hành quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước và của các kiểm toán chuyên ngành Quy trình kiểm toán bao gồm 4 giai đoạn:

- Chuẩn bị kiểm toán

- Thực hiện kiểm toán

- Lập báo cáo kiểm toán và thông báo kết quả kiểm toán

- Kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện kết luận, kiến nghị của

Đoàn kiểm toán

Công tác kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán được quy định trong quy trình kiểm toán với nội dung cơ bản như sau:

1 Đơn vị thực hiện theo đõi kiểm tra:

Các Kiểm toán chuyên ngành, Kiểm toán nhà nước khu vực có trách

nhiệm tổ chức kiểm tra và lập báo cáo gửi lãnh đạo Kiểm toán nhà nước

2 Pham vi kiém tra:

- Tất cả các đơn vị đã được kiểm toán, giới hạn trong phạm vi các kết luận, kiến nghị của Đoàn KTNN đã được thể hiện trong báo cáo kiểm toán

Trang 19

3 Noi dung kiém tra:

- Kiểm tra báo cáo của đơn vị gửi cho Kiểm toán nhà nước về việc thực

hiện những kiến nghị của Đoàn kiểm toán, gồm các công việc như sau:

+ Nội dung báo cáo có phù hợp với nội dung kiến nghị của Đoàn kiểm toán

+ Những việc đã thực hiện, đang thực hiện và chưa thực hiện được + Nguyên nhân của kiến nghị chưa thực hiện được

- Kiểm tra thực tế tại đơn vị gồm các công việc sau:

+ Kiểm tra thực tế những công việc mà đơn vị đã làm, + Thu thập bằng chứng chứng minh đơn vị đã thực hiện kiến nghị của Đoàn Kiểm toán và lập biên bản kiểm tra tại đơn vị

4 Lập báo cáo kết quả kiểm tra thực hiện kiến nghị gửi lãnh đạo Kiểm toán nhà nước:

- Tổng hợp tình hình và số liệu đã kiểm tra

- Đưa ra những nhận xét về việc thực hiện của đơn vị, nêu những tổn tại mà đơn vị chưa thực hiện được, phân tích nguyên nhân và kiến nghị với

lãnh đạo Kiểm toán nhà nứơc biện pháp xử lý tiếp theo (nêú có)

- Các biện pháp chấn chỉnh quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, bộ

máy kế toán và công tác kế toán thống kê

Trong quá trình thực hiện kết luận của Đoàn kiểm toán đơn vị có thể

có những vấn đề giải trình trở lại do gặp những khó khăn nào đó mà không thực hiện đầy đủ kết luận của Đoàn Trong trường hợp này khi kiểm tra phải xem xét that cu thé chimg từ, sổ sách và tình hình thực tế, thu thập các bằng

chứng về vấn đề đó để làm căn cứ cho việc lập biên bản kiểm tra Kiểm toán viên du — ” *' kiểm tra không được sửa đổi những kết luận và kiến nghị của Đoàn kiểu rường hợp phát sinh những vấn dé cần điều chỉnh lại kết

luận và kiến nghị của Đoàn kiểm toán thì kiểm toán viên phải lập biên bản và

báo cáo Kiểm toán nhà nước xem xét quyết định

Như vậy, quy trình kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các

kết luận và kiến nghị của Đoàn kiểm toán mới chỉ đưa ra những công việc

chủ yếu cần phải làm khi tiến hành kiểm tra mà chưa quy định cụ thể các bước thực hiện: Từ khâu lập kế hoạch, thông báo cho đơn vị được kiểm toán,

thực hiện kiểm tra cho đến lập báo cáo kết quả kiểm tra và những kiến nghị tiếp theo Hơn thế nữa theo như nội dung đã trình bày trong quy trình thì

19

Trang 20

Kiểm toán nhà nước chỉ theo dõi kiểm tra nội bộ đơn vị được kiểm toán có thực hiện hay không thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước mà

không theo dõi kiểm tra các địa phương, Bộ ngành cơ quan có liên quan trong việc thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm toán nhà nước

I- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THỰC HIỆN KIẾN NGHỊ

1 Hoạt động kiểm tra các đơn vị thực hiện các kết luận và kiến

nghị của Đoàn kiểm toán từ 1995 đến nay

1.1 Giai đoạn 1995 - 1999

Đây là giai đoạn từ khi Kiểm toán nhà nước được thành lập và bát đầu

thực hiện kiểm toán nhưng quy trình kiểm toán chưa được ban hành

Kiểm toán nhà nước Việt nam ra đời hoàn toàn phù hợp với yêu cầu

cấp thiết của nền kinh tế mới chuyển đổi và thông lệ quốc tế Trong giai đoạn đầu Kiểm toán nhà nước vừa thực hiện chức năng nhiệm vụ, vừa phải tự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới để tìm ra lời giải cho việc thực hiện kiểm toán trong môi trường quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước

ta Thực tế kết quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước đã thể hiện sự nỗ lực

và đóng góp thiết thực của ngành Kiểm toán nhà nước trong công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước

Từ việc nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm của các nước và điều kiện cụ

thể của Việt nam, ngay từ khi bất đầu thành lập và đi vào hoạt động Kiểm

toán nhà nước đã xác định được sự cần thiết phải thực hiện kiểm tra việc thực hiện các kết luận và kiến nghị nêu trong báo cáo kiểm toán Trong điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước (ban hành theo quyết định 61/

TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ) tại điều 5 chương nhiệm vụ

và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước có nêu: "Các cơ quan có thẩm quyền nói ở điểm 5, 6 trên đây có nhiệm vụ thông báo cho Kiểm toán nhà nước biết kết quả giải quyết của mình trong thời hạn sớm nhất kể từ khi nhận được yêu cầu và kiến nghị của Kiểm toán nhà nước" Nội dung của điều này tuy mới chỉ để cập đến trách nhiệm và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước phải theo

đõi và được thông báo tình hình thực hiện các kiến nghị và xử lý đối với tổ chức, cá nhân có những vi phạm chế độ tài chính, kế toán của nhà nước và

những tổ chức cá nhân có hành vi cản trở công tác kiểm toán của Kiểm toán

nhà nước và cung cấp sai sự thật thông tin tài liệu cho Kiểm toán nhà nước;

nhưng nội dung này cũng đã thể hiện mối quan tâm của Nhà nước nói chung,

Trang 21

lãnh đạo kiểm toán nhà nước nói riêng đến việc theo đõi thực hiện các kiến

nghị của Kiểm toán nhà nước

Vì vậy, kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận,

kiến nghị của Đoàn kiểm toán (trước đây gọi là công tác phúc tra) đã được

Kiểm toán nhà nước thực hiện và coi là bước cuối của mội cuộc kiểm toán ngay từ những cuộc kiểm toán đầu tiên Trong nội dung các biên bản kiểm

toán và báo cáo kiểm toán đều ghi: Yêu cầu đơn vị thực hiện đây đủ các kết

luận và kiến nghị của Đoàn (tổ) Kiểm toán nhà nước Kiểm toán Nhà nước sẽ

thực hiện phúc tra ( kiểm tra) việc thực hiện vào tháng I2 hoặc cuối quý Ï

năm sau Tuy nhiên công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị của Kiểm toán Nhà

nước chưa được thực sự chú trọng, chưa trở thành một quy định bắt buộc cho mỗi cuộc kiểm toán nên chưa được thực hiện đầy đủ và theo một cách thống nhất giữa các Đoàn kiểm toán thậm chí ngay trong một đoàn kiểm toán cả về thời gian, phương pháp thực hiện cũng như trình tự và nội dung các bước thực

hiện Cụ thể như sau:

a! Về số lượng thực hiện

Mặc dù công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị được coi như là bước cuối cùng của một cuộc kiểm toán nhưng trong giai đoạn này phần lớn các cuộc kiểm toán chỉ dừng lại ở bước lập báo cáo Số còn lại có được thực hiện

thêm bước kiểm tra thực hiện kiến nghị nhưng cũng không kiểm tra đầy đủ hết các đơn vị thuộc, trực thuộc đơn vị được kiểm toán

Vì thời gian thực hiện bước kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm toán nhà nước đã ghi trong báo cáo kiểm toán thường là

vào cuối năm hoặc đầu năm sau nên trước khi quy trình kiểm toán có hiệu lực (từ 01/01/2000) thì chỉ những cuộc kiểm toán thực hiện từ năm 1998 trở

về trước mới được triển khai thực hiện bước kiểm tra này Do vậy tính đến hết năm 1999 trong tổng số 18 cuộc kiểm toán đã được kiểm toán Đầu tư -

Dự án thực hiện từ 1995 đến 1998 (4 cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB, 8 cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán tổng công ty, 6 cuộc kiểm toán báo cáo chương trình dự án) chỉ có 5 cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán tổng công ty đã được thực hiện bước kiểm tra việc thực hiện kiến

nghị và kết luận của Đoàn kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán (tỷ lệ: 27,7% trên tổng số, 62,2% trên tổng các cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán tổng

công ty) Nhưng trong 5 cuộc kiểm toán này việc thực hiện kiểm tra cũng không đồng nhất về số lượng các đơn vị thuộc, trực thuộc đơn vị được kiểm

toán cần tiến hành kiểm tra thực tế tại đơn vị Cụ thể như sau:

21

Trang 22

Tên Tổng công ty| S6 luong DV Số lượng đơn vị thành

được kiểm toán | thành viên được | viên đã kiểm tra thực hiện

Trong các cuộc kiểm toán chưa thực hiện bước kiểm tra việc thực hiện

kiến nghị tại đơn vị, chỉ có một số ít đơn vị được kiểm toán gửi báo cáo tình hình và kết quả thực hiện kiến nghị của Kiểm toán nhà nước cho Đoàn kiểm toán Số lượng các đơn vị được kiểm tra việc thực hiện tuỳ thuộc vào khoảng

thời gian rỗi của kiểm toán viên và nguồn kinh phí chỉ cho công tác kiểm tra

thực hiện kiến nghi

bị Về thời gian thực hiện

Việc kiểm tra các đơn vị được kiểm toán thực hiên các kết luận, kiến

nghị của Đoàn kiểm toán nhà nước thường được thực hiện vào thời gian sau

các cuộc kiểm toán, khi các kiểm toán viên đang rỗi nên bước này có đoàn

thực hiện ở cuối năm có đoàn thực hiện ở đầu năm hoặc cuối năm sau Trong giai đoạn này, công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị không được lập kế hoạch

từ trước Ví dụ như ngay trong một đoàn kiểm toán có tổ ghi trong biên bản

kiểm toán là: Kiểm toán nhà nước yêu cầu giám đốc công'1y thực hiện các

vấn đề đã nêu trong biên bản kiểm loán cùng những kiến nghị của đoàn, kiểm toán nhà nước sẽ tiến hành phúc tra việc thực hiện của công Iy vào CHỐI quÍ

4 nam 1997 Nhưng các biên bản của tổ kiểm toán khác lại ghi: Đoàn kiểm

toán nhà nứợc yêu câu giám đốc công ty chỉ đạo thục hiện các kết luận, kiến nghị của Đoàn kiểm loán nhà nước, lập báo cáo gửi kiểm toán nhà nước vào

tháng 12 năm 1997 Ngay trong cùng một cuộc kiểm toán, ở các Tổ kiểm

toán khác nhau thời gian Kiểm toán Nhà nước kiểm tra việc thực hiện kiến

nghị của đơn vị được ghi trong biên bản kiểm toán cũng khác nhau Như vậy,

trước và trong khi thực hiện kiểm toán Đoàn kiểm toán chưa có kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện bước kiểm tra việc thực biện kiến nghị của đơn vị Trong trường hợp này, nếu đến cuối tháng 12 đơn vị mới gửi báo cáo thì việc kiểm tra thực hiện kiến nghị sẽ không thể thực hiện được vào cuối quí 4 như

đã ghi ở một số biên bản đã nêu ở trên

Bên cạnh việc không đồng nhất về thời gian thực hiện bước kiểm tra

việc thực hiện kiến nghị giữa các cuộc kiểm toán và trong cuộc kiểm toán

Trang 23

còn có sự không đồng nhất về thời gian ghi trong biên bản kiểm toán và thời

gian tiến hành bước kiểm tra này Trong báo cáo kiểm toán tại Tổng công ty

lắp máy có ghi: Kiểm toán nhà nước sẽ phúc tra vào quí 4 năm 1997 nhưng đến tháng 4 năm 1998 bước này mới được thực hiện Cũng như vậy trong báo cáo kiểm toán tại Tổng công ty xuất nhập khẩu xây đựng Việt nam có ghi: Kiểm toán nhà nước sẽ tiến hành phúc tra vào quí 1/1999 nhưng đến thang 11 năm 1999 mới thực hiện

c¡ Về trình tự nội dung các bước thực hiện

Trong giai đoạn này, công tác kiểm tra thực hiện kiến nghị không được lập kế hoạch từ trước và cũng không có một quy định cụ thể nào về trình tự

các bước thực hiện Một số cuộc kiểm toán đã tiến hành kiểm tra việc thực

hiện kiến nghị nhưng đều không có sự chuẩn bị từ trước Hơn nữa, khi tiến

hành kiểm tra cũng chưa có sự chuẩn bị đầy đủ ví dụ như không có quyết định thành lập tổ kiểm tra, không gửi công văn báo cho đơn vị biết trước khi

kiểm tra Khi các kiểm toán viên không phải thực hiện nhiệm vụ kiểm toán hoặc học tập ở các lớp tập trung do cơ quan tổ chức, lãnh đạo kiểm toán

chuyên nghành yêu cầu lãnh đạo các phòng tổ chức triển khai công tác kiểm

tra thực hiện kiến nghị của các cuộc kiểm toán phòng đã thực hiện hoặc

phòng là lực lượng chính khi đó, lãnh đạo phòng sẽ yêu cầu một số kiểm toán viên thực hiện nhiệm vụ này Như vậy, việc bố trí nhân sự là do cấp phòng đâm nhiệm và cũng không có quyết định bằng văn bản

Về nội dung kiểm tra, dù chưa có văn bản nào quy định nhưng khi thực

hiện công tác kiểm tra các kiểm toán viên đều căn cứ vào các kết luận, kiến nghị đã ghi trong biên bản, báo cáo kiểm toán để xem xét việc thực hiện của đơn vị Tuy vậy, các kiến nghị về sửa chữa khắc phục những tổn tại trong công tác quản lý tài chính, kế toán có được thực hiện hay không chưa được

để cập đến trong một số biên bản kiểm tra Ví dụ như trong phần kiến nghị của một biên bản kiểm toán có ghi:

1 Trong năm 1997 cân sửa chữa những thiểu sót trong công tác kế

toán nhất là khâu theo dõi vật tư, đối chiếu công nợ và thu hồi nợ Cần cài đặt chương trình kế toán cho máy vì tính để phục vụ công tác kế toán nói riêng và công tác quản lý nói chung tốt hơn

2 Nộp đủ và kịp thời số còn phải nộp NSNN năm 1996 chuyển sang năm 1997

3 Căn cứ vào số liệu kiểm toán được nêu trong biên bản này, công ty điều chỉnh lại quyết toán tài chính năm 1996 làm căn cứ để báo cáo các cơ

23

Trang 24

quan quản lý nhà nước và chuyển số dư các tài khoản kế loán sang năm

1997

Nhung trong biên bản phúc tra có nội dung như sau:

1 Việc lập lại báo cáo quyết toán tài chính năm 1996: Đơn vị đã nghiêm chỉnh thực hiện việc lập lại báo cáo quyết toán tài chính năm 1996

Số dư đầu năm 1997 đã khớp đúng với số dự cuối năm 1996 sau khi đã kiểm toán

2 Việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Đơn vị đã nộp hết

số phải nộp năm 1996 chuyển sang

Kết luận: Đơn vị đã nghiêm túc thực hiện các kết luận của Kiểm toán nhà nước trong việc chuyển số dự, đặc biệt đơn vị đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN

Như vậy, tổ kiểm tra đã hoàn toàn không xem xét việc thực hiện kiến nghị thứ nhất đã nêu trong biên bản kiểm toán Việc dưa ra những kiến nghị

về công tác quản lý tài chính kế toán là một trong những nhiệm vụ chủ yếu

của cơ quan Kiểm toán nhà nước đã được quy định trong Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 và quyết định 61/TTg ngày 24/01/1995 nên việc kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị này cũng quan trọng như đối với việc kiểm tra đôn đốc thực hiện các kiến nghị mang tính định lượng khác (như số liệu kế toán, thu nộp ngân sách, )

Trong một số trường hợp tính đến thời điểm tổ kiểm tra đến đơn vị để

kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị, kết luận nhưng đơn vị vẫn chưa thực

hiện đây đủ, tổ kiểm tra ghi nhận trong biên bản nhưng sau đó đơn vị có thực

hiện hay không chưa được quan tâm theo đõi, chưa có quy định cho những bước kiểm tra tiếp theo và ai là người thực hiện

Bên cạnh nội dung kiểm tra không đầy đủ, triệt để còn một tổn tại nữa

là các biên bản kiểm tra tại các đơn vị không thống nhất, không có mẫu biên

bản chung cho các kiểm toán chuyên ngành Ở các cuộc kiểm toán báo cáo

quyết toán đầu tư XDCB, báo cáo quyết:'toán chương trình dự án chưa thực hiện kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, kết luận, một số đơn vị được kiểm

toán có gửi công văn về việc thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước cho đoàn kiểm toán nhưng Đoàn kiểm toán mới chỉ xem xét, gửi công văn trả

lời (nếu cần thiết) và lưu trữ hồ sơ chứ không lập biên bản kiểm tra hay báo

cáo kiểm tra thực hiện kiến nghị Còn đối với các cuộc kiểm toán báo cáo tài

chính các tổng công ty đã thực hiện bước kiểm tra này với biên bản kiểm tra

được lập bao gồm các nội dung sau: Tên tổ chức thực hiện kiểm tra, tên biên

Ngày đăng: 18/10/2014, 02:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1/ Nghi định số 70/CP ngày 11-7-1994 của Chính phủ về việc thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước Khác
2/ Quyết định số 6I/IƑFg ngày 24-01-1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Khác
3/ Quyết định số 06/1999/QÐ- KTNN ngày 24-12-1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước về việc ban hành hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhànước Khác
4/ Quy trình kiểm toán nhà nước ban hành theo Quyết định số 03/1999/QD-KTNN ngay 6-12-1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước Khác
5/ Các quy trình kiểm toán chuyên ngành thuộc Kiểm toán Nhà nước 6/ Giáo trình kiểm toán - Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà nội 7/ Giáo trình kiểm toán - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà nội 8/ Tổng kết 5 năm xây dựng và phát triển cơ quan Kiểm toán Nhà nước 9/ Kiểm toán căn bản Khác
10/ Các Báo cáo kiểm toán, Biên bản kiểm toán và các Biên bản kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, kết luận của Kiểm toán Nhà nước lưu tại Kiểm toán Đầu tư xây dựng cơ bản - Chương trình vay nợ viện trợ Chính phủ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w