Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm cỏ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất cỏ, tạo ra các giống cỏ mới cho năng suất cao…đã được chú trọng nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Chung
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả,
số liệu được nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 04 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Hà Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Chung - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập, tiến hành thực hiện và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên khoa Sinh - KTNN, khoa Sau đại học - Đại học Thái Nguyên, Viện khoa học sự sống - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - Viện chăn nuôi
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn bè
đã luôn tạo điều kiện, động viên cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn
bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 04 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Hà Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục bảng biểu iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 12
1.2 Đặc điểm sinh thái và sinh vật học của cỏ hòa thảo 18
1.2.1 Đặc tính sinh thái học 18
1.2.2 Đặc tính sinh vật học 19
1.2.3 Đặc tính sinh lý 20
1.2.4 Đặc tính sinh trưởng 22
1.2.5 Tuổi thọ 23
1.2.6 Giá trị kinh tế 23
1.3 Đặc điểm của cỏ voi làm thí nghiệm 24
1.3.1 Nguồn gốc 24
1.3.2 Đặc điểm sinh vật học 24
1.3.3 Đặc điểm sinh thái học 25
1.3.4 Tính năng sản xuất 25
1.3.5 Sử dụng 27
Trang 51.4 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ 28
1.5 Những nghiên cứu về năng suất chất xanh 30
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 34
2.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.1.1 Vị trí địa lý 34
2.1.2 Địa hình, địa mạo 37
2.1.3 Khí hậu thủy văn 37
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 38
2.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.2.2 Giao thông, thủy lợi 39
Chương 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 40
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 40
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 40
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 40
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1 Nội dung nghiên cứu 40
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Tính chất lý, hóa học của đất trồng cỏ 47
4.2 Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất 50
4.2.1 Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước 50
4.2.2 Năng suất và biến động mùa của cỏ voi 52
4.2.3 Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi 57
4.3 Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi 60
Trang 64.4 Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên
và dưới mặt đất của cỏ voi 63
4.4.1 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần rên mặt đất của cỏ voi 63
4.4.2 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi 63
4.5 Đề xuất biện pháp tác động 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 78
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Sản lượng vật chất khô và chất lượng những loài cỏ trên vùng
thấp vào 45 ngày cắt 11
Bảng 1.2 Sản lượng vật chất khô của cỏ Ghinê tỉa cắt 30 ngày 12
Bảng 1.3 Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ha/năm) 14
Bảng 1.4 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha) và tỉ lệ chất khô (%) của cỏ voi 26
Bảng 1.5 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi 26
Bảng 1.6 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa 26
Bảng 1.7 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng cỏ voi 27
Bảng 1.8 Thành phần hóa học của một số giống cỏ hòa thảo 29
Bảng 1.9 Thành phần hóa học của một số giống cây bộ đậu 30
Bảng 4.1 Kết quả phân tích mẫu đất trồng cỏ 47
Bảng 4.2 Lượng nước trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và đất ô Thái Nguyên 49
Bảng 4.3 Lượng nước tưới ô TN qua các lứa cỏ voi 51
Bảng 4.4 Năng suất cỏ tươi và khô của cỏ voi qua các lứa cắt (kg/m2/lứa) 52
Bảng 4.5 Tỷ lệ % trọng lượng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt 57
Bảng 4.6 Diện tích bề mặt lá của cỏ thí nghiệm (m2 /m2 đất/lứa) 59
Bảng 4.7 Quan hệ giữa bề mặt lá (m2 /m2 đất/lứa) với khối lượng cỏ (kg/m2/lứa) 60
Bảng 4.8 Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi (không có thân rễ) 61
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất của cả 2 phần trên và dưới mặt đất (năm thứ 3) 64
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất của cả 2 phần trên và dưới đất tại lứa cắt thứ 2 64
Trang 9và ĐC 55 Hình 4.3 Biểu đồ năng suất tươi phần dưới mặt đất của cỏ voi 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa… thì việc nghiên cứu cỏ là công việc rất quan trọng, nó càng quan trọng hơn khi nền công nghiệp chăn nuôi ngày càng phát triển Cỏ không những là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền, phù hợp với điều kiện nhiều nước mà còn có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay dạng khác Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng trong đồng cỏ thành thức ăn Con người từ lâu đã biết khai thác đồng cỏ nhưng lúc đầu hoàn toàn dựa vào tự nhiên Với nền nông nghiệp ngày càng phát triển, quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được
Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm, năng suất tối đa trên đơn vị diện tích đồng cỏ tự nhiên cũng như đồng cỏ trồng
Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm cỏ, các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất cỏ, tạo ra các giống cỏ mới cho năng suất cao…đã được chú trọng nhiều hơn khi quy mô chăn nuôi được
mở rộng và phát triển theo hướng công nghiệp hóa vì cỏ là loại thức ăn quan trọng trong chăn nuôi gia súc bò, trâu, ngựa…Trong những năm gần đây, với các chương trình phát triển khoa học kĩ thuật và hợp tác chăn nuôi với các tổ chức quốc tế, nước ta đã nhập nhiều giống cây thức ăn hòa thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới từ Philipin, Indonexia, Thái Lan… Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu là đạt kết quả tốt, năng suất cao và thích hợp với điều kiện khí hậu nước ta Một trong số đó phải kể đến là giống cỏ voi
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá phát triển, có trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi – Viện
Trang 11chăn nuôi, còn gọi là Trại ngựa Bá Vân nằm ở thị xã Sông Công Trại ngựa Bá Vân- Thái Nguyên là trung tâm nghiên cứu và phát triển giống vật nuôi, nơi đã
và đang cung cấp không những cỏ voi mà còn nhiều giống cỏ trồng cho nông dân trong và ngoài tỉnh dễ trồng, có năng suất cao Nơi đây có hệ sinh thái phù hợp cho việc trồng cỏ, đặc biệt chủ yếu là cỏ voi để cung cấp thức ăn cho gia súc, phù hợp cho chăn nuôi ngựa và trâu bò Để cỏ trồng đạt năng suất cao, chất lượng tốt khắc phục được tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc đặc biệt trong mùa khô, cần phải chú ý đến các biện pháp, kĩ thuật chăm sóc hợp lí, cung cấp các yếu tố thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cỏ để đạt năng suất cao: yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất…Trong đó yếu tố độ ẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi
Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên và phần dưới đất của cỏ voi tại Bá Vân - thị xã Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên và phần dưới đất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân nhằm điều chỉnh độ
ẩm, cung cấp độ ẩm thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển giúp nâng cao năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam
Khái niệm về cây thức ăn xanh bao hàm cả cây thức ăn tự nhiên và các cây thức ăn trồng với mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc Theo Lê Văn An
và Tôn Nữ Tiên Sa [1], cây thức ăn xanh bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây hòa thảo, cây đậu, cây thân thảo hay thân gỗ có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại
Thức ăn xanh là loại thức ăn vô cùng quan trọng trong chăn nuôi, có thể chiếm từ 20 – 40% khẩu phần cho lợn, 70 – 100% khẩu phần của gia súc nhai lại và ngựa, 5 – 10% khẩu phần của gia cầm
Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng, một trong những vấn đề hàng đầu cần giải quyết là nguồn thức ăn Có 2 phương pháp để cung cấp thức ăn dinh dưỡng cho gia súc nhai lại đó là nguồn thức ăn tinh và nguồn thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại là thức ăn thô xanh) Chính vì vậy mà nguồn thức ăn thô xanh đặc biệt chú ý ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi xanh cho gia súc mà còn dùng dự trữ thức ăn cho gia súc nuôi nhốt vào mùa khô
Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có khả năng sử dụng và hấp thụ tốt Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ không những rất cần thiết mà còn có tỉ lệ thích hợp với nhu cầu sinh lý của trâu bò Ví dụ: Nếu tỉ lệ đường – đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4:1 [2] Cỏ còn là loại cây
Trang 13thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao và tương đối ổn định, là nguồn nguyên liệu rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm thường chỉ cần gieo trồng 1 năm mà sử dụng được nhiều năm Ví dụ: Giá thành cho 1kg cỏ Mộc Châu và cỏ lông Para trong 3 năm
sử dụng là 0,037 và 0,035 đồng [10]
Họ hòa thảo quan trọng vì phân bố rộng rãi; chiếm tỉ lệ cao trong số thực vật trên đồng cỏ; có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng hydrocacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi thu hoạch Các cây họ đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây làm thức ăn gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là hàm lượng protein và khoáng, thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung
Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tương ứng cung cấp được 16g protein tiêu hóa và 32g lipit; 8kg loại cỏ này tương đương 1 đơn
vị thức ăn [24]
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc, là các nơi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu lạnh và chịu hạn cao
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới
1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
1.1.1.1 Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới
Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người Con người từ lâu đã biết khai thác đồng cỏ
Trang 14Có nhiều quan niệm khác nhau về đồng cỏ Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa
ra những đặc điểm cần có của loại hình đồng cỏ hoặc nhóm đặc điểm và cũng đưa ra hàng loạt định nghĩa về đồng cỏ Theo A.O.Felipe (1965) [35] những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quảng canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao hơn (CIAT, 1978) [40] Theo các nhà khoa học Liên Xô cũ: Thuật ngữ đồng cỏ là để chỉ những vùng đất đai rộng lớn, có ít cây gỗ và cũng không thích hợp với việc trồng trọt, thực vật sinh trưởng ở đây là cỏ để chăn nuôi Theo các nhà khoa học Anh, Mĩ: Đồng cỏ là chỉ những vùng đất đai rộng lớn không có cây gỗ, không trồng các loại cây nông nghiệp, phần lớn là cỏ, thích hợp để kinh doanh ngành chăn nuôi Theo Rabốtnốp.Ta.1984 [49] đồng cỏ là chỉ những vùng khô khan, không có những loại cây gỗ mọc, những vùng chưa trồng trọt, trong đó hoàn cảnh đất đai khác nhau, phần lớn là những bình nguyên khô khan, không có giới hạn nào cả, bao gồm những cánh đồng cỏ, những cánh đồng quán mộc…Đa số các tác giả cho rằng đồng cỏ (Grassland) là vùng đất được che phủ bởi thảm cỏ liên tục, nơi có lượng mưa dao động từ 250 - 750mm ở vùng ôn đới và tới 1200mm ở vùng nhiệt đới, cỏ sinh trưởng liên tục trong mùa sinh dưỡng, ngừng sinh trưởng trong mùa khô…Ở Việt Nam theo Trịnh Văn Thịnh (1974) [24] cũng có những đề nghị khác nhau: Danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng cỏ (vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật (có người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi chăn…Theo Hoàng Chung (2006) [8]: Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc, thảm thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán lớn hay nhỏ
và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh, có sự ngừng sinh trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự giảm sút rõ rệt, đất đa dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối
Trang 15Trong chăn nuôi, với 2 hệ thống nuôi dưỡng: Thứ nhất là dựa vào thức
ăn tinh (trên 40% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức ăn tinh), thứ 2
là dựa vào thức ăn thô (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức
ăn thô) thì hệ thống thứ 2 được đặc biệt chút ý nhất là ở các nước có khả năng phát triển đồng cỏ, ở những nước này việc sử dụng đồng cỏ không chỉ để chăn thả mà còn cung cấp thức ăn xanh và dự trữ cho đàn gia súc nuôi nhốt Tại Úc, sản phẩm chăn thả tới 50% sản phẩm xuất khẩu, tỉ lệ này còn cao hơn: 90% ở Tân Tây Lan (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10] Theo Davies (1960) [31] đồng cỏ tự nhiên cung cấp gần một phần hai gia súc chăn thả, tạo ra một phần ba lượng thịt và một phần 6 sản lượng sữa trên thế giới
Cuộc cách mạng đồng cỏ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới triển khai ở Châu Đại Dương bắt đầu từ thế kỉ XIX
Ở các nước nhiệt đới, khả năng phát triển đồng cỏ là rất lớn nếu được sử dụng một cách hợp lý, có thể cung cấp protein động vật không những cho vùng nhiệt đới mà cả vùng lân cận
Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu mà đặc biệt là ở Anh
đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó Nếu như trước kia ở Pháp (1942) chỉ
có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện nay tỉ số ấy đã thay đổi: 12 triệu ha đồng cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc (Điền Văn Hưng 1974) [11]
Ở Anh các diện tích ngũ cốc giảm đi và diện tích trồng cỏ, các loại cây thức ăn gia súc khác tăng lên và được thâm canh một cách đáng kể
Ở Liên Xô, diện tích trồng cỏ tăng từ 2,1 triệu ha năm 1913 lên 7,3 triệu
ha năm 1933 và đến năm 1961 diện tích này đã lên tới 51,9 triệu ha (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]
Nhằm giải quyết vấn đề về thức ăn, trong chăn nuôi gia súc nhau lại nhiều nước trên thế giới phải nhập nhiều giống cỏ khác nhau từ các nước khác nhau Cỏ voi có nguồn gốc từ Uganda được nhập vào Mĩ năm 1913, Astralia
Trang 16năm 1914, Cuba năm 1917, Braxin năm 1920…(Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1976) [7] Cỏ Pangola xuất hiện bên bờ sông Pangola thuộc Nam Phi được nhập về Mĩ năm 1935, Cuba năm 1950, Australia năm 1954…và các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới Trên thế giới, ước tính sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất dùng cho chăn thả và sản xuất thức ăn gia súc, diện tích này được đánh giá
là hơn 2/3 diện tích sử dụng trong sản xuất nông nghiệp (Điền Văn Hưng, 1974) [11]
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân tố sau để xét duyệt và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ: Độ ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn thả
và cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và diện tích gieo trồng…
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Song song với việc diện tích cỏ tăng lên việc nghiên cứu chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loài
cỏ như: Cỏ voi, cỏ Ghinê, cỏ Bermuda, cỏ Pangola…đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Lai tạo những giống có mới có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao như Coastcross (cỏ Bermuda lai), cỏ Ghinê từ một loài đã tạo ra nhiều giống mới, cỏ voi cũng vậy…Đây là thành tựu khoa học đáng kể để góp phần giải quyết thức ăn gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển như:
Úc, Mĩ, Braxin…vấn đề thức ăn chăn nuôi rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu Tại vùng đồi núi Đông Nam Á, chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong
Trang 17hệ thống sản xuất, nên cũng được chú trọng quan tâm, đầu tư, nghiên cứu vấn
đề này
Tác giả T Kanno và M.C.C Macedo, 2001 [55] đã tiến hành thí nghiệm
gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha, B.dictyoneura, B.humidicola, Andropongon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào
đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy Các tác giả thấy rằng không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi gieo hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa Những kết quả chỉ rõ rằng gia đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là bắt đầu của mùa thu, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo
Theo John W.Miles, 2004 [43] chi Brachiaria là giống lớn được sử dụng
làm thức ăn cho vật nuôi vùng nhiệt đới châu Mĩ
Ở Trung Quốc trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ
Stylo, Brachiaria, Pennisetum…sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng năm
còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp trong và ngoài nước (Thông tin khoa học
kĩ thuật chăn nuôi, 1998) [26]
Ở Indonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự nhiên, 21% là rơm, 16% là cây khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp
để giải quyết nguồn thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ Voi và cây Đậu) (Dr Sochadji…) Ngoài ra còn có các chương trình về giống cây thức ăn với CIAT và CSIRO để tìm ra những giống cây thích hợp với đất có độ pH thấp trong thực trạng đa dạng các điều kiện canh tác nông hộ, 36 giống cây từ Úc (CSIRO), Colombia (CIAT) và Philippin được đưa vào trồng ở Cast Kalimantan (Ibrahim 1994): Nhiều giống thể hiện thích hợp ở khu vực, trong
đó có 18 giống cây đậu và 9 giống cây hòa thảo
Ở Thái Lan với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa dê chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu
Trang 18dùng Theo FAO, chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: Giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống
cỏ để trồng Thái Lan đã sản xuất được 418 tấn hạt cỏ (1991) và 1336 tấn (1994) Trong điều kiện diện tích chăn thả hẹp, mùa khô kéo dài, đất dinh dưỡng kém, chua, mặn, ngập nước, dự án cây nhập nội đã đánh giá: Ở Khon Kean 37 giống cây thức ăn trồng để chọn giống thích hợp với đất cát khô, đã chọn được 10 giống cây cỏ họ Đậu và hòa thảo thích hợp Ở Marathiwat với mục đích chọn cây thức ăn chịu đất chua đã xác định được 8 giống cỏ triển vọng trong số 26 giống cỏ nhập nội (Báo cáo dự án trồng cỏ Thái Lan – 1994)
Giống Paspalum atratum nhập vào Thái Lan năm 1995 được đánh giá trong
mục tiêu là cây thức ăn cho đất thấp nó đã thể hiện là giống tốt, chịu đất chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing sang Phai Keow, 1999)
Ở Philippin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các trang
trại nhỏ được trồng các giống cỏ Stylo 1964, Panicum maxinum, Paspalum atratum… đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc Ngoài ra các
giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất để cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả Hàng năm còn sản xuất được trên 1 tán hạt cỏ (E.F.Latinh, F.Gagunda, 1995)
Một số nước khác như Malaysia, Lào…cũng chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hằng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại Như vậy, phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm, nó thực
sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển
Trang 191.1.1.3 Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới hiện nay ngoài việc chuyển tạo, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ
Tại Peurertorico, Vieente – Chandler Silva và Figarella (1959) [56]
thông báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846kg
VCK/ha với mức bón 440kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ Thí nghiệm cắt hằng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700kg/ha, kết quả này cao
hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria mutica) và Ghinê (Panacium maximum) (Barnard, 1969) [36]
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là 15.000kg VCK (Davies J.G, 1970) [41]
Tại Fiji với điều kiện khắc nghiệt hơn năng suất trung bình là 5.313kg VCK/ha với mức protein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm (Roberts, 1970) [51]
Tại Redland Bay, Queensland (Riveros và Wilson, 1970) [50] thông báo
năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh
trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225kg đạm urê/ha/năm trên nền đất bazan màu mỡ
Middleton và Micosker, (1975) [46] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại
miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv
Makueni đã sản xuất được 60.000kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300kg đạm/ha
Theo Quilichao (Colombia CIAT,1978) [40], giống Brachiaria decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000kg/ha/năm với thí nghiệm
không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp
Trang 20Theo Anon, 2000 [34] tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống
cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum khoảng từ 15 – 20; 18 – 25; 9 – 15 và 6 – 10 tấn/ha Sản lượng này
(Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon, 2000 [34])
Trong đó có giống cỏ đắng Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là
những loài cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể lên tới 600kg Do vậy hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan
Theo M.D Hare và cộng sự [45] cho biết các cỏ Brachiaria mutica và Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm
thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung bình là 20 tạ/ha VCK Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45 ngày và 65
ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất 30 tạ/ha VCK lớn hơn 10 tạ/ha so với B.Mutica
Tại trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50cm và được bón phân hỗn hợp (15 – 15 – 15) trước khi trồng ở mức 300kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha sau cắt 10
Trang 21ngày (Animal Nutrio Division, 2001) [33] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Sản lƣợng vật chất khô của cỏ Ghinê tỉa cắt 30 ngày
(Nguồn: Animal Report on Animal Nutrition Division, 2000, [33])
1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình phát triển
Việt Nam là nước nông nghiệp, từ lâu chúng ta đã có nhiều cố gắng mở rộng diện tích gieo trồng, vừa đảm bào lương thực cho người dân vừa đảm bảo thức ăn cho gia súc Từ năm 1960, chúng ta đã có chủ trương phát triển đồng
cỏ cho trâu bò ở những vùng thiếu cỏ Năm 1960 ở miền Bắc chỉ có 96ha trồng
cỏ thì tới năm 1961 và 1962 diện tích trồng cỏ đã tăng lên 323ha và 687ha Năm 1963, theo số liệu ở 6 tỉnh đồng bằng, diện tích trồng cỏ và ngô đay làm thức ăn cho trâu bò đã đạt tới 3.585 mẫu Bắc bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]
Nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ đậu và cỏ hòa thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Australia và Cuba) và đã tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa
phương Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ Pangola (Digitaria
Trang 22decumbes), cỏ đậu Stylo (Stylosanthes)…Nhiều nông trường và hợp tác xã
cũng đã trồng cỏ Voi, cỏ Xu đăng, cỏ Pangola…Kết quả thu hoạch các loại cỏ
đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3 – 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 – 60 tấn/ha, trồng qua 3 – 4 năm cỏ vẫn phát triển tốt (Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976) [2]
Trong thời gian khoảng hơn 20 năm trở lại đây, thông qua các hoạt động hợp tác Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ăn hòa thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT, Philippin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi, cụ thể như:
Năm 1990 chương trình bò thịt VIE86/008 nhập 17 giống cây thức ăn họ đậu, hòa thảo khác nhau từ Australia
Năm 1995 chương trình cây thức ăn xanh cho nông hộ nhập vào 70 giống (51 giống đậu và 19 giống hòa thảo) từ CRISO và CIAT, chương trình cây keo dậu nhập 22 giống keo dậu nhập từ Astralia
Năm 1997 thông qua hoạt động hợp tác Quốc tế đã nhập 10 giống Stylo
từ Trung Quốc và Philippin
Năm 1998 chương trình “Phát triển thịt bò một cách hiệu quả ở Việt Nam ACIR Projeet as 9/97/18” nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ đậu và 40 loại cây hòa thảo
Thông qua hoạt động hợp tác Quốc tế với trường đại học Hohenhein (Đức), 20 loại Flemigia được nhập vào nước ta Ngoài ra một số giống cây thức
ăn được nhập thông qua con đường các chuyên gia đi lại công tác
Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết quả tốt, ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng
Tuy nhiên do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất
Trang 231.1.2.2 Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn gia súc
Ở nước ta, các nhà khoa học mới tập trung nghiên cứu một số giống cây hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:
Lục Văn Ngôn, 1970 [20] đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên,
trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (Paspalum urvillei), cỏ Xu đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ
voi, Pangola, cỏ lông Para, qua thí nghiệm cho thấy các loài cỏ voi Tây Nghệ
An có năng suất cao và khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận với lượng phân bón Nitơ
Lê Hòa Bình và cộng sự ,1992 [4] khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã cho kết quả như trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ha/năm)
Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK
Trang 24- Tại Long An giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt
56.959,9 tấn/ ha tương ứng với 9,7 – 11,9 tấn VCK
- Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn
chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm
- Tại Ba Vì hai giống Ghinê là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn trong đó nổi bật là Liconi Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương
98 tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 – 45 tấn/ha tương đương
39 – 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước
Nguyễn Tuấn Hảo, 1999 đã trồng thử nghiệm một số loài cây thức ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó các tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây
họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu
Trang 25vùng trung du Bắc Bộ Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm
của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex
Thái Lan là hai loài cỏ mọc khỏe nhất, cho sinh khối cao (năng suất khoảng 30 – 40 tấn/ha) và có khả năng chịu hạn Ngoài ra tác giả đề cập đến 2 giống cỏ
triển vọng là Paspalum atratum BRA 9610 và Paspalum guenoarum BRA
3824
Phan Thị Phần và CTV (1999) [21]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001) [25] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90 – 100 tấn/ha/năm Cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450kg/ha, tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85% Tỷ lệ
tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả năng sử dụng của
gia súc đều tốt từ 86% - 100%
- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với 20 tấn phân chuồng, 80kg P2O5, 80kg K2O và 500kg vôi/ha/năm Lượng
phân bón từ 60 – 90kg/ha/năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum TD
58 đặt 64,59 – 83,33 tấn/ha/năm Tỷ lệ lá cao 51,48 – 60,44%, năng suất hạt
287 – 323kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa
Tại trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi (Thái Nguyên), tác giả Nguyễn Văn Quang, 2002 [22] khi nghiên cứu so sánh về tốc
độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 –
1,82cm/ngày Trong đó Paspalum astratum và Panicum maximum TD 58 có
tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70cm/ngày)
Trang 26Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh, 2004 [17] đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 – 179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93 – 138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 – 18,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo băng; 28,5 – 36,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo đường đi
Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh Văn Cải, 2006 [14] đã tiến hành thí nghiệm trồng cỏ dại tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận Các tác giả cho
biết các giống cỏ hòa thảo như cỏ Voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể sinh
trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiện tưới nước, bón phân năng suất có thể đạt 100 – 150 tấn/ha/năm
Những nghiên cứu tại Sơn La: Tại Sở khoa học công nghệ và môi trường Tỉnh Sơn La đã nhập nhiều giống cỏ đậu và hòa thảo có nguồn gốc nhiệt đới Một số giống cỏ có triển vọng đã được trồng thử nghiệm cho năng suất bình quân hàng năm như sau: (Theo số liệu của kĩ sư: Đoàn Thị Xuân)
- Năng suất chất xanh có sự sai khác nhất định giữa các giống cỏ khác
nhau Thấp nhất là cây P glaumcum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo dậu 60,4 tấn/ha
và cao nhất là các giống cỏ sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 365,3 tấn/ha; 349,3
tấn/ha; 362,5 tấn/ha
- Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại Sơn La như: Mộc Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã Sơn La Tuy nhiên việc nghiên cứu để tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều
Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006) [9] tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ Ghinê), tăng 1 – 2 lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn – 120 tấn/ha)
Trang 27Tháng 7/2004, viện Khoa học kĩ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ voi chiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống năng suất đạt 29,04 tấn/ha/lứa, trồng xen vườn dừa 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái là 25 – 27 tấn/ha Đứng thứ hai là cỏ sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4 – 21,4 tấn/ha Tiếp theo là cỏ Ruzi, cỏ sả lá nhỏ và cỏ lông tây…(Báo Lao Động, 2005) [3]
1.2 Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hòa thảo (Poaceae) và có 28 họ
phụ, 563 chi, 6802 loài Hòa thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ (khoảng 95 - 98%) và trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại (khoảng 70 - 80%)
được như cỏ xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon, cỏ Brachiaria decumbens…
Song đa phần các loài cỏ sinh trưởng tốt ở vùng có độ ẩm từ 60 – 85%
Có loài lại có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy, ngập nước như
cỏ môi, cỏ bấc, cỏ lông Para…
Trang 28Như vậy, có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong điều kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng, và khác nhau ở cả hai phần trên và dưới đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng, CO2…) Nó biểu thị
rõ rệt về phân bố sinh khối theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang
Vậy trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà ta
có thể chọn, trồng các loài thích nghi với những điều kiện về khí hậu địa chất tương tự như vùng gốc để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng của chúng
1.2.2 Đặc tính sinh vật học
Cỏ hòa thảo là cây một lá mầm (đơn tư diệp), thân tròn hoặc bầu dục (tùy theo giống), lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song song, thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng (trừ mấu đốt), cũng có loài thân đặc (cỏ voi), rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7]
Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia cỏ hòa thảo thành các loại sau:
- Loại thân rễ: Đối với loại này có đặc điểm đặc trưng là thân bò dưới
mặt đất và chia nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh (Imperata cylindrica)
Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thưa, thích hợp với chăn thả nhẹ, không thích hợp với dẫm đạp và vùng đất chặt
- Loại thân bò: Đặc điểm của loại cỏ này là thân nhỏ và mềm nên thường nằm ngả trên mặt đất Do thân bò lan nhanh nên chúng có khả năng tạo thành một thảm cỏ dày đặc, che phủ kín mặt đất Đại diện là cỏ Pangola, lông Para…cỏ thân bò cho năng suất thấp, thường dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc và mùa đông
- Loại thân bụi: Loại thân này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành búi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đấ hoặc trên mặt đất Cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tơi xốp và thoáng khí Tốc
Trang 29độ đẻ nhánh cao nên đòi hỏi phải trồng thưa, có thể trồng thu cắt hoặc chăn thả
Đại diện là cỏ Ghinê (Panicum maximum), cỏ Mộc Châu, cỏ sả
- Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng, mầm vươn thẳng nên giống cây mía, thân cao to, cho năng suất cao Đại diện loại này là cỏ Voi
1.2.3 Đặc tính sinh lý
1.2.3.1 Nhu cầu về nước
Nước đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của sinh vật, nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh học cơ bản như quang hợp, đóng góp vào sự phong hóa, giữ vai trò quan trọng trong sinh trưởng và phát triển của thực vật cũng như các sinh vật trên Trái đất
Cỏ hòa thảo yêu cầu nước cao do có bộ lá lớn, hệ số tỏa hơi nước lớn hơn họ đậu Hệ số tỏa hơi nước của cỏ này vào khoảng 400 – 500g, trong khi của họ đậu là 214 – 216g
Theo N.G.Andreef (1974), với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m2 cỏ bay hơi khảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ đạt 50 tạ cỏ khô/ha Trên cơ sở đó ta có thể xác định công thức tưới nước trong mùa đông
Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi…
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 – 30%
- Giai đoạn phát triển cành: 75%
- Cuối thời kì sinh trường nhu cầu nước giảm dần
1.2.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hòa thảo yêu cầu đất tốt, giàu mùn, đạm, lân, kali Nhu cầu về dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn
Trang 30- Giai đoạn 1 (nảy mầm- phân nhánh): Cần nhiều đạm, lân, kali
- Giai đoạn 2 (phân nhánh): Cần nhiều đạm, lân
- Giai đoạn 3 (ra hoa và hình thành hạt): Cần nhiều lân và kali
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [16] Trong đồng cỏ, người ta thấy có sự quan hệ rõ rệt giữa việc bón đạm và số chồi có hoa Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân, số chồi sinh sản tăng lên Bón phân, tưới nước cũng làm
tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi Ví dụ: Festuca pratensis không tước
nước số chồi là 3,5; tưới ẩm 40 – 60% có 11,5 và tưới ẩm 80% có 14,8 chồi
Quan hệ với phân cũng vậy, cỏ Pleum pratens không có bón phân có 605
chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có hoa, nếu bón phân NPK có 790 chồi trong đó 35% chồi có hoa (Rabốtnốp T.A, 1984) [49]
Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá 3 – 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài
10 năm, có khi hơn
Vậy chế độ dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng tới số chồi, và tuổi thọ của cỏ hòa thảo
1.2.3.3 Nhu cầu về không khí
Các loại cỏ thân đứng, thân bụi, thân rễ phân chia nhánh dưới mặt đất đòi hỏi phải tơi xốp thoáng khí
Các loại thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn
Vậy các loài cỏ khác nhau thì có sự khác nhau về nhu cầu không khí trong đất, do đó trong canh tác cần chú ý tới loại cỏ để có biện pháp kĩ thuật thích hợp
1.2.3.4 Tính chịu sương giá và kháng xuân
Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu đầu đông nó vẫn phát triển bình thường, còn loại chịu giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặc chết vào mùa đông
Trang 31Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ vào mùa đông Nó thể hiện khả năng chịu đựng của cỏ về chênh lệch nhiệt độ không khí
và nhiệt độ trong đất, chênh lệch này làm cho sự vận chuyển các chất dinh dưỡng trong thân cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên có tính kháng xuân kém sẽ bị chết
Tuy nhiên tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội, cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt Loại mùa xuân phục hồi nhanh kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm, cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân tốt và ngược lại Loại có bộ phận trên mặt đất bị chết trong vụ đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại
1.2.4 Đặc tính sinh trưởng
Cỏ hòa thảo sinh trưởng và tái sinh qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt, lúc này tốc độ sinh trưởng chậm
- Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 – 20 ngày, cỏ sinh trưởng và phát triển nhanh
- Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 – 70 ngày, cỏ sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Văn Ân, Võ Văn Trị, 1976) [2]
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời gian thu hoạch hợp lý Tiêu chuẩn thu hoạch căn cứ vào điều kiện sinh trưởng của giống cỏ Thu hoạch non, năng suất sẽ thấp, thu hoạch già giá trị dinh dưỡng phần trên đất quá mau lứa thì dự trữ đường bột tích lũy ở gốc để phát triển thành lá sẽ bị suy kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi
Đối với có Ghinê, thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 – 90cm; cỏ lông Para thu hoạch khi cao khoảng 40 – 50cm; cỏ Pangola, thu hoạch khi cao khoảng 35 – 50cm (L Rham phrây, 1980)
Theo Điền Hưng, 1974 [11] cho biết:
Trang 32- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau cắt khi 30 – 45 ngày
- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 35 –
Cỏ hòa thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm tỷ
lệ cao trong thảm cỏ mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao Khi chế biến, dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao Cỏ
tự nhiên cho 10 – 20 tấn/ha/năm (chất xanh), cỏ trồng thân bò cho 30 – 40 tấn/ha/năm, thân bụi cho 50 – 60 tấn/ha/năm, thân đứng cho 80 – 100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh có thể cho tới 160 – 200 tấn/ha/năm 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 – 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 – 500kcalME
Cỏ hòa thảo có giá trị dinh dưỡng cao Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn,
ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g protein tiêu hóa và 32g lipit trong 1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1 đơn vị thức ăn (Nguyễn Thiện, 2005) [23]
Trang 331.3 Đặc điểm của cỏ voi làm thí nghiệm
1.3.1 Nguồn gốc
Cỏ voi có tên khoa học là Pennisetum purpureum, có nguồn gốc từ châu
Phi nhiệt đới Cỏ voi trồng nhiều ở Indonexia (Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung, 2004) [6]
Có nhiều giống cỏ voi như: Merkecn, Seleccion và King grass Trong đó King grass là dòng được phổ biến ở nước ta cho năng suất cao
Quê hương lâu đời của cỏ voi là vùng Uganda (10 vĩ độ Bắc – 20 vĩ độ Nam) nhập vào Mĩ từ năm 1913, Australia năm 1914, Cuba năm 1917, Braxin năm 1920…Người ta cũng thấy cỏ voi mọc hoang dại trong các thảm cỏ cao, savan bụi, rừng già thuộc Trung Phi hay đầm lầy Tây Phi Ở Việt Nam, cỏ voi được coi là cỏ Huế vì lần đầu tiên lấy giống ở đây đưa ra Bắc (1908) Cỏ voi là loài nhập nội và là một loài cỏ cổ điển thường xuyên có mặt trong tất cả các trang trại thí nghiệm như: Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, nông trường bò sữa Đức Trọng, nông trường bò sữa Phù Đổng…Đến nay trong các
hộ nông dân nuôi bò ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tiến hành trồng cỏ voi, đây là một giống cỏ cho năng suất chất xanh cao trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam và đang được coi là giống cỏ chủ lực được trồng để nuôi trâu bò
1.3.2 Đặc điểm sinh vật học
Cỏ voi thuộc họ hòa thảo, là cỏ lâu năm, thân đứng có thể cao từ 3 – 4m, nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ chân kiềng, hình thành cả thân ngầm phát triển thành búi to, lá hình dải có cả mũi nhọn ở đầu, bẹ lá dẹt ngắn và mềm, lá dài khoảng 30cm, rộng khoảng 2cm, chùm hoa hình chùy giống đuôi chó, ra hoa vào tháng 9 hàng năm, hoa màu vàng nhạt, rễ phát triển mạnh, ăn sâu có khi tới 2m Tỷ lệ lá so với tỉ lệ lá + thân chiếm tới 53% Tỷ lệ lá + thân
so với tổng cộng là 58%, còn các phần ngầm dưới mặt đất chiếm 42% (Yepes
và Alfono 1972) Tỷ lệ lá giảm từ 66; 64; 63; 34; 32 đến 30% qua 2; 4; 8; 10 và
12 tuần tuổi (Viện chăn nuôi, 1976) đối với những mầm tái sinh sau 35; 44 và
Trang 3460 ngày tuổi có chiều cao 126,5; 136,6 và 227,9cm, cao nhất trong cùng một
diện tích thí nghiệm cỏ Ghinê (Panicum miximum), cỏ lông Para (Brachiara mutica), cỏ Pangola (Digitaria decumbens) và Faragua (YsabelReyes, 1972),
(Nguyễn Thiện, 2005) [23]
1.3.3 Đặc điểm sinh thái học
Cỏ voi chịu được khô hạn, không chịu được ngập úng, giai đoạn sinh trưởng chính là trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao, sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng là 25 – 400C, khi nhiệt độ mội trường xuống thấp khoảng 2 – 30C vẫn không bị cháy lá, tương tự khi hạn hán kéo dài hoặc khi nhiệt độ môi trường lên trên 450C, quá trình sinh trưởng và phát triển của cỏ voi bị ngừng Cỏ voi
có thể sinh trưởng ở nơi có độ cao tới 2000m so với mực nước biển Cỏ voi thích hợp nhất với đất màu, giàu dinh dưỡng và thoáng, có tầng canh tác sâu,
pH 6 – 7, không ưa đất cát, đất bùn, úng
Như vậy, cỏ voi thích ứng với nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất vẫn là loại đất màu mỡ và tơi xốp Cỏ voi là loại cỏ mọc rất khỏe, phát triển nhanh, chu kì kinh tế của nó kéo dài từ 4 – 5 năm hay hơn nữa và năng suất tương đối ổn định trong suốt thời gian này
1.3.4 Tính năng sản xuất
Cỏ voi có năng suất rất lớn, từ 100 – 300 tấn/ha/năm (Filipe, 1965) và có thể lên tới 500 tấn/ha/năm (Điền Hưng, 1974) [11] Theo Hacvael – Duclos (1969) năng suất cỏ voi ở Ấn Độ là 105 tấn/ha/năm Nếu không được tưới nước, mỗi năm cắt được 3 - 4 lứa, nếu có tưới nước thu cắt được 5 - 6 lứa Áp dụng biện pháp kĩ thuật hợp lý, cỏ voi có thể thu được năng suất chất tươi cao trong suốt 10 năm mà không cần trồng lại (Trịnh Văn Thịnh)
Thành phần dinh dưỡng trung bình của cỏ voi là: Vật chất khô 20 – 25%; protein thô 7,2 - 9%, xơ thô 25 – 28%
Trang 35Bảng 1.4 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha)
và tỷ lệ chất khô (%) của cỏ voi
(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)
Bảng 1.5 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi
(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)
Bảng 1.6 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa
(Nguồn: Theo Gespo, 1974)
Trang 36Bảng 1.7 Thành phần hóa học và giá trị dinh dƣỡng cỏ voi
% chất khô Protein
thô
Xơ
Mỡ khô
Dẫn suất Không đạm
Tươi, độ cao
80cm (Tanzania) 20,0 9,0 28,6 14,8 1,1 46,5 Tươi, độ cao
cỏ voi xen với các cây họ đậu (Kudzu, Centro, Desmodium) Cỏ voi có thể ủ
chua để dự trữ cho gia súc vào mùa thiếu thức ăn (Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006) [19]
Trang 371.4 Cơ sở đánh giá chất lƣợng các giống cỏ
Chất lượng các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hóa học có trong giống cỏ đó (Nguyễn Văn Thưởng và L.S Sumilin, 1992) Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh phụ thuộc vào giống cây trồng, điều kiện khí hậu, đất đai, kĩ thuật canh tác và giai đoạn sinh trưởng Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một giống cây thức ăn, trên
cơ sở đó giúp các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý, tạo điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt cho gia súc
Trong thực tế, để đánh giá chất lượng các giống cỏ người ta thường tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: Vật chất khô (VCK), protein, đường và chất xơ
Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất cao, % vật chất khô, % protein, % đường cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỷ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu protein được chú ý hơn cả
Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn thường giảm khi cỏ bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ càng già Khi chăn thả liên tục theo những khoảng thời gian liên tục theo những khoảng thời gian liên tiếp bằng nhau, giá trị dinh dưỡng của cỏ có thể ở mức tương đối cao nhưng như vậy năng suất bị giảm đi nhiều
Theo Viện chăn nuôi Quốc gia lượng protein thô trong cỏ hòa thảo Việt Nam trung bình là 9,8% Hàm lượng xơ khá cao (269 – 372g/kg vật chất khô) Khoáng đa lượng và vi lượng ở cỏ hòa thảo đều thấp, đặc biệt nghèo canxi và photpho Trong 1kg chất khô, lượng khoáng trung bình có ở cỏ hòa thảo là Ca: 4,7 ± 0,4g; P: 2,6 ± 0,1g; Mg: 2 ± 0,1g: K: 19,5 ± 0,7g; Mn: 110 ± 9,9mg; Cu: 8,3 ± 0,07mg; Zn: 24 ± 1,8mg; Fe: 450 ± 1,8mg Các giống cây họ đậu bao giờ cũng có giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức ăn hòa thảo, điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả
Trang 38Bảng 1.8 Thành phần hóa học của một số giống cỏ hòa thảo
Trang 39Bảng 1.9 Thành phần hóa học của một số giống cây bộ đậu
(Nguồn: Viện chăn nuôi Quốc gia)
Như vậy hàm lượng Protein trong thức ăn ở cỏ hòa thảo chỉ từ 1,7 – 4,27% trong chất xanh, còn ở cây họ đậu từ 2,2 – 7,0% trong chất xanh
1.5 Những nghiên cứu về năng suất chất xanh
Sản lượng cỏ hòa thảo thay đổi nhiều tùy thuộc vào loài, vùng khí hậu và
kỹ thuật canh tác Đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu
tố này tới năng suất của cỏ hòa thảo, cụ thể:
* Giống cỏ khác nhau sẽ cho năng suất, sản lượng khác nhau
Tại Samford, Queensland, sản lượng hàng năm của giống P.dilatatum là 15.000kg VCK (Davies, 1970) [41]
Trang 40Tại Fiji sản lượng trung bình là 5.313 kg VCK/ha/năm với mức protein thô trong VCK là 9,9% trong thời gian theo dõi 3 năm (Roberts,1970) tại Mỹ sản lượng cỏ này đạt từ 1.230 – 1.200kg vật chất khô/ha/năm (Bennert, 1973) [37]
Kết quả nghiên cứu của CIAT, (1978) tại Quilichao, Colombia, thì giống
cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt sản lượng chất khô trên 42.000kg/ha/năm
với thí nghiệm không bón phân đạm nhưng bón đủ lân và nó là giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp
Cỏ B.ruziziensis có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, nhưng đòi hỏi
lượng phân bón cao Sản lượng vật chất khô có thể đạt từ 10 – 20 tấn/ha/năm,
tỷ lệ protein thô trong VCK từ 9 - 15% (Schultze - Kraft, 1992) [53]
Cỏ B.rizantha cho sản lượng cho sản lượng vật chất khô có thể khác nhau tùy theo điều kiện thâm canh, từ 8 - 20 tấn/ha/năm (Schultze - Kraft, 1992) [54]
Các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Ngọc Hà và cộng sự (1985) [12]; (Nguyễn Ngọc Hà, 1995) [13]; (Khai G.M và cộng sự, 1995) [44] cho biết các giống cỏ hòa thảo trồng tại các vùng ở nước ta có sản lượng biến động lớn, lệ thuộc vào các yếu tố như đất đai, chăm sóc, chế độ bón phân và độ
dài của mùa khô Sản lượng của các giống Brachiaria spp có thể biến động từ 5
- 30 tấn vật chất khô/ha/năm
Theo Trương Tấn Khanh, 2003 [15] thì cỏ Brachiaria humidicola là cỏ
chủ yếu sử dụng để chăn thả trên đồng cỏ lâu năm và để chống xói mòn đất, sản lượng vật chất khô đạt từ 7 – 33 tấn/ha/năm tùy theo khí hậu và đất đai
Như vậy, các giống cỏ khác nhau có sản lượng chất xanh và vật chất khô khác nhau; cùng một giống cỏ nhưng trồng ở các vị trí địa lý khác nhau cũng cho năng suất khác nhau
*Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng cỏ