Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống các vấn đề về lí thuyết dạy học văn bản nhật dụng, thực trạng, nhu cầu, đặc điểm tâm lý và khả năng tiếp nhận khi học các văn bản nhật dụng của
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRIỆU THỊ MAI DUNG
DẠY - HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC
NỘI TRÚ THCS Ở THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRIỆU THỊ MAI DUNG
DẠY - HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC
NỘI TRÚ THCS Ở THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Triệu Thị Mai Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Nhà giáo - Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học tại trường
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở giáo dục và đào tạo Thái Nguyên, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo dạy Ngữ văn các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Triệu Thị Mai Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 9
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tế 9
8 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỚP 7 TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ Ở THÁI NGUYÊN 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Lý thuyết về văn bản nhật dụng 11
1.2 Lý thuyết về dạy học văn bản nhật dụng 15
1.2.1 Về mục tiêu dạy học văn bản nhật dụng 15
1.2.2 Về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng 18
1.2.3 Về hiệu quả của dạy học văn bản nhật dụng 22
Trang 62.1 Giáo viên với việc dạy văn bản nhật dụng ở các trường phổ thông
Dân tôc nội trú 23
2.1.1 Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc dạy học văn bản nhật dụng 24
2.1.2 Thực trạng việc dạy học ở các trường phổ thông Dân tộc Nội trú THCS ở Thái Nguyên 25
2.1.2.1 Về nội dung dạy học văn bản nhật dụng 25
2.1.2.2 Về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng 26
2.1.3 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi thực hiện dạy học văn bản nhật dụng cho HS người Dân tộc thiểu số trong các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú ở Thái Nguyên 29
2.2 Học sinh trường phổ thông Dân tộc Nội trú ở Thái Nguyên với việc học các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7 33
2.2.1 Hứng thú học tập của HS đối với các văn bản nhật dụng 34
2.2.2 Những vướng mắc cần giải quyết của HS khi học các văn bản nhật dụng ở SGK lớp 7 36
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC DẠY - HỌC CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 7 CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THCS Ở THÁI NGUYÊN 42
2.1 Định hướng chung về dạy - học văn bản nhật dụng 42
2.1.1 Nội dung dạy - học 42
2.1.2 Về phương pháp dạy học 44
2.2 Định hướng tổ chức dạy học các văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 cho học sinh trường Dân tộc nội trú ở Thái Nguyên 48
2.2.1 Định hướng tổ chức dạy học văn bản bản “Cổng trường mở ra” (theo Lý Lan, báo Yêu trẻ, số 166 ngày 1-9-2000 48
Trang 72.2.2 Định hướng tổ chức dạy học văn bản “Mẹ tôi” trích “Những
tấm lòng cao cả” Et-môn-đơ đờ A-mi-xi 53
2.2.3 Định hướng tổ chức dạy học văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” - tác giả Khánh Hoài 58
2.2.4 Định hướng tổ chức dạy học văn bản “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh 63
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1 Thiết kế bài học 69
3.1.1 Lý do chọn bài thực nghiệm 69
3.1.2 Thiết kế bài học Văn bản “Ca Huế trên sông Hương” - Tác giả Hà Ánh Minh do luận văn đề xuất 69
3.2 Giáo án và tiến trình dạy học của bài đối chứng 77
3.2.1 Vào bài: 77
3.2.2 Tiến trình bài dạy: 78
3.3 Dạy thực nghiệm 80
3.3.1 Nơi dạy thực nghiệm 81
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 81
PHẦN KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Khái niệm “văn bản nhật dụng” là khái niệm mới được đưa vào
chương trình sách giáo khoa bậc trung học theo hướng đổi mới năm 2000 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Đây là loại văn bản có nội dung đề cập đến những vấn đề, những hiện tượng gần gũi, bức thiết trong cuộc sống con người và cộng đồng xã hội
Mục tiêu của các bài học về văn bản nhật dụng trong sách Ngữ văn mới
là đưa giáo viên và học sinh đến với những vấn đề quen thuộc, gần gũi thường ngày hoặc tiếp cận với những vấn đề của cuộc sống hiện đại đang xảy ra xung quanh môi trường giáo dục Từ đó giúp các em có thêm những cách nhìn về xã hội, bước đầu hòa nhập và thích ứng với cuộc sống hiện đại
Về hình thức, văn bản nhật dụng được lựa chọn trên tiêu chí nội dung,
đề tài, mỗi văn bản được đưa vào chương trình đều thuộc những thể loại hoặc kiểu văn bản với những đặc điểm hình thức khác nhau Vì vậy dạy văn bản nhật dụng đòi hỏi người GV hết sức linh hoạt trong phương pháp dạy học Ngoài việc nắm vững nội dung đề tài còn phải xác định các yếu tố về hình thức thể loại của văn bản để có cách dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giờ học, đáp ứng mục tiêu dạy học
1.2 Học sinh cấp THCS còn nhỏ (từ 12 đến 15 tuổi), ở lứa tuổi này, sự
hiểu biết về các vấn đề về đời sống xã hội của các em còn rất hạn chế Đặc biệt
là học sinh người dân tộc thiểu số miền núi, với những điều kiện văn hóa, phong tục tập quán còn lạc hậu, đời sống kinh tế khó khăn, ít được giao lưu, ít được tiếp xúc với những vấn đề nóng bỏng, bức xúc của xã hội hiện đại Giữa các em với những nội dung đặt ra trong các văn bản nhật dụng còn có những khoảng cách khá xa về tư duy, nhận thức, về tiếng Việt cũng như văn hóa, lịch
sử địa lý… nên việc tiếp nhận có nhiều khó khăn
Làm thế nào để các em có được những nhận thức đúng đắn về các vấn đề
xã hội, biết đánh giá và ứng xử phù hợp trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc
Trang 10sống, xã hội Điều đó phụ thuộc nhiều vào nội dung, phương pháp và hiệu quả dạy học của giáo viên trong đó có việc tổ chức dạy- học các văn bản nhật dụng
1.3 Ở SGK lớp 7 có bốn bài học về văn bản nhật dụng, đề cập đến quyền trẻ em, nhà trường, người mẹ, văn hóa - giáo dục Đây là những vấn đề gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày nhưng cũng khá nhạy cảm Bên cạnh đó, mỗi bài lại thuộc mỗi thể loại khác nhau: bút ký, truyện ngắn, bài báo Việc vận dụng những phương pháp phù hợp trong việc dạy- học văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7 theo đó không phải là dễ dàng đối với cả người dạy và người học
Trên thực tế, vấn đề dạy học các văn bản nhật dụng đã có nhiều nhà khoa học, nhà giáo có uy tín quan tâm nghiên cứu bàn tới đồng thời cũng có những các phương án thiết kế dạy học đã được công bố giúp cho GV và HS những tài liệu tham khảo có giá trị
Tuy nhiên, các phương án dạy học trên đây là cách dạy cho học sinh lớp
7 THCS nói chung chứ chưa xuất phát từ những đối tượng cụ thể Thực tế học sinh ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc do điều kiện sống, phong tục tập quán cùng những khoảng cách trong tiếp nhận văn học khác nhau sẽ đòi hỏi những cách dạy khác nhau Riêng đối với đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số ở các trường Dân tộc Nội trú thì đây là vấn đề đang còn bỏ ngỏ
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống các vấn đề về lí thuyết dạy học văn bản nhật dụng, thực trạng, nhu cầu, đặc điểm tâm lý và khả năng tiếp nhận khi học các văn bản nhật dụng của học sinh lớp 7 là người dân tộc thiểu
số trong các trường Dân tộc Nội trú THCS ở Thái Nguyên, luận văn muốn đề xuất một phương án dạy học các văn văn bản nhật dụng vừa phù hợp với văn bản, với đặc điểm tiếp nhận của học sinh, vừa giúp thày và trò có sự thay đổi thực sự về nhận thức và ứng xử trong cuộc sống hàng ngày
Trang 11Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dạy -
học văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 cho học sinh trường dân tộc Nội trú THCS ở Thái Nguyên”
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho việc dạy học các văn bản nhật dụng trong chương trình SGK lớp 7 và đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn bậc THCS ở miền núi hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Khái niệm văn bản nhật dụng mới được đưa vào chương trình, SGK đổi mới từ năm 2000 với định hướng là tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên
tắc “giúp học sinh hòa nhập với xã hội” Tuy nhiên vì đây là nội dung mới và
khó nên việc tổ chức dạy - học loại văn bản này đã khiến cho không ít giáo viên
và học sinh lúng túng Việc định hướng dạy học văn bản nhật dụng còn mang
tính chất chung chung chưa cụ thể
2.1 Cuốn SGV Ngữ Văn 6 tập 2 (Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi) đã có
những định hướng chung cho việc dạy văn bản Nhật dụng như sau:
Dạy văn bản nhật dụng trước hết là phải “từ cái trước mắt có tính cập
nhật thời sự chỉ ra ý nghĩa lâu dài muôn thuở”… GV cần “cho học sinh liên hệ trực tiếp vấn đề đang học với tình hình địa phương và khi cần có thể sử dụng một số giờ giành cho chương trình địa phương để tiến hành các hoạt động điều tra, thống kê, khảo sát” 5 , “dù có đề cập đến vấn đề thời sự bức thiết đến đâu văn bản nhật dụng đưa vào SGK phải đạt đến một giá trị nghệ thuật nhất định Bởi vậy hoàn toàn có thể dạy văn bản nhật dụng như một văn bản văn học xét về phương diện phân tích từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật cũng như thi pháp thể loại” 5
Ngoài ra, trong các cuốn SGV Ngữ văn từ lớp 6, đến lớp 9 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, các bài dạy văn bản nhật dụng được biên soạn từng
Trang 12bài học cụ thể và bám sát theo hệ thống câu hỏi đã được đề xuất trong sách giáo khoa Theo đó mỗi bài gồm có 3 phần:
I – Mục tiêu cần đạt
II – Những điều cần lưu ý
III – Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy - học
Phần Mục tiêu cần đạt xác định các đơn vị kiến thức trọng tâm về nội
dung và hình thức nghệ thuật của văn bản từ đó định hướng các nội dung chính trong bài học
Phần Những điều cần lưu ý nêu các vấn đề nhật dụng, lý do chọn
giảng dạy các văn bản, gợi ý kiến thức trọng tâm của bài dạy, phân bố thời gian dạy - học
Phần Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học gợi ý 3 hoạt động chính:
Đọc bài văn và hướng dẫn tìm hiểu các chú thích trong SGK; hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài văn và hướng giải quyết các câu hỏi trong sách giáo khoa nhằm đạt mục tiêu đặt ra của bài học; hướng dẫn luyện tập nhằm khắc sâu, mở rộng và nâng cao kiến thức
Có thể coi đây là những định hướng đầu tiên cho việc dạy - học các văn bản nhật dụng
2.2 Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài “Dạy văn bản nhật dụng trong
SGK như thế nào?” đã viết: “Một trong những điểm mới và khó của chương trình Ngữ văn THCS và THPT là việc giảng dạy các văn bản nhật dụng… Do tính chất và đặc điểm của loại văn bản này không giống với các văn bản khác, nên việc giảng dạy cũng cần có một phương hướng tương ứng phù hợp” 38
Trong tài liệu này, sau khi nêu khái niệm văn bản nhật dụng và sự cần thiết phải đưa vào chương trình Ngữ văn loại văn bản này, tác giả đã đưa ra những lưu ý khi dạy các văn bản nhật dụng như sau:
GV nên “tập trung khai thác các vấn đề nội dung tư tưởng đặt ra ở mỗi
văn bản; từ đó mà liên hệ, giáo dục tư tưởng, tình cảm và ý thức cho học sinh”,
Trang 13“nắm chắc đặc điểm, ý nghĩa của các nội dung đặt ra trong mỗi văn bản nhật dụng để hướng dẫn học sinh tự liên hệ, rút ra được bài học cho chính bản thân mình” đồng thời phải “kết hợp dạy các văn bản nhật dụng với chương trình địa phương” 38,tr.127
2.3 Tác giả Hoàng Hữu Bội đã có bộ sách thiết kế bài học Ngữ văn
THCS theo hướng tích hợp Bộ sách được giải thưởng của cuộc thi viết sách bài tập và sách tham khảo theo chương trình mới ở Tiểu học và THCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ sách gồm có 4 cuốn:
+ Thiết kế bài học Ngữ văn 6 theo hướng tích hợp (NXB Giáo dục, 2002) + Thiết kế bài học Ngữ văn 7 theo hướng tích hợp (NXB Giáo dục, 2003) + Thiết kế bài học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp (NXB Giáo dục, 2004) + Thiết kế bài học Ngữ văn 9 theo hướng tích hợp (NXB Giáo dục, 2005) Nội dung các cuốn sách gồm các thiết kế bài học cụ thể của chương trình Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp Đặc biệt cuốn Thiết kế bài học Ngữ văn 7 theo hướng tích hợp tác giả đã thiết kế cụm bài dạy theo ba chặng: chặng 1: Đọc - hiểu văn bản; chặng 2: Tiếng Việt; chặng 3: Làm Văn Theo đó tác giả
cho rằng HS lớp 7 “sẽ học tập được cách thức lập ý để biểu cảm khi tạo lập
văn bản biểu cảm Đồng thời, các tri thức lí thuyết về các phương thức biểu cảm ở phân môn Làm văn sẽ giúp các em khám phá được sự sáng tạo của các tác giả trong các văn bản nhật dụng sẽ học” 20 Tác giả cũng đưa ra một
hướng tiếp cận các văn bản nhật dụng theo các bước sau:
Bước 1: Tiếp xúc bước đầu với văn bản để có một cái nhìn tổng quát về văn bản đó
Bước 2: Xem xét từng phần của văn bản về nội dung và hình thức
Bước 3: Khơi gợi học sinh trao đổi về những vấn đề được tác giả đặt ra trong văn bản đồng thời liên hệ với cuộc sống
2.4 Tác giả Trương Dĩnh, đưa ra thiết kế dạy học Ngữ văn theo hướng
tích hợp qua các cuốn:
Trang 14+ Thiết kế dạy học Ngữ văn 7 theo hướng tích hợp tập 1, 2 (NXB Giáo dục, 2003)
+ Thiết kế dạy học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp (NXB Giáo dục, 2004) Trong các cuốn sách này, cũng với quan điểm dạy học theo hướng tích hợp, theo trình tự phân phối chương trình môn học, tác giả đưa ra phương án
thiết kế dạy học cho từng bài cụ thể
2.5 Tác giả Trần Đình Chung có bộ sách tham khảo gồm các cuốn:
+ Thiết kế hệ thống câu hỏi Ngữ văn 6 (NXB Giáo dục, 2002)
+ Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 7 (NXB Giáo dục, 2003) + Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 7 (NXB Giáo dục, 2004) Lấy lí luận dạy học hiện đại làm định hướng thiết kế, tác giả đã đưa ra thiết kế dạy học từng văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS Hệ thống câu hỏi được triển khai với 3 hoạt động lớn:
- Đọc - hiểu cấu trúc văn bản
- Đọc - hiểu nội dung văn bản
- Đọc - hiểu ý nghĩa văn bản
2.6 Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã biên soạn các tài liệu về đọc - hiểu
văn bản Ngữ văn với các cuốn
+ Đọc - hiểu Ngữ văn 6 (NXB Giáo dục, 2003)
+ Đọc - hiểu Ngữ văn 7 (NXB Giáo dục, 2004)
+ Đọc - hiểu Ngữ văn 8 (NXB Giáo dục, 2005)
+ Đọc - hiểu Ngữ văn 9 (NXB Giáo dục, 2005)
Những cuốn sách này đã cung cấp cho GV về hướng đọc- hiểu từng văn bản trong SGK Ngữ văn THCS, đặc biệt ở phần thực hành đọc- hiểu đã có những gợi ý khá sâu sắc về cách tiếp cận, tìm hiểu văn bản
Theo đó, mỗi bài được cấu tạo theo 3 phần
I – Gợi dẫn
II- Kiến thức cơ bản
Trang 15III – Liên hệ
Nội dung Gợi dẫn của mỗi bài học nhằm mục đích “tạo tâm thế, cung
cấp tất cả những kiến thức công cụ để chiếm lĩnh mục tiêu của bài đọc - hiểu,
đó là các yếu tố về đặc trưng thể loại, các thông tin chủ yếu về tác giả, tác phẩm, đại ý, tóm tắt và xác định lời kể hoặc cách đọc văn bản” 33 Đây là
những kiến thức vô cùng cần thiết giúp cho giáo viên từ đó mà có cách hiểu thấu đáo hơn, cụ thể hơn và đặc biệt là có căn cứ khoa học cho bài dạy của mình
Nội dung Kiến thức cơ bản được hình thành trên cơ sở “lí giải những
vấn đề theo thứ tự hoặc tổng hợp từ các câu hỏi của phần đọc - hiểu văn bản trong sách giáo khoa, thể nghiệm một lô gich các nội dung cần làm rõ khi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản” 33
Nội dung Liên hệ có “kết cấu mở, nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng
khi dạy học Ở đây với các văn bản nhật dụng, tác giả giới thiệu những văn bản
có nội dung tương hoặc gần gũi với bài học để tạo điều kiện so sánh kiến thức;
có thể cung cấp một số nhận định tiêu biểu để tham khảo khi đánh giá về tác giả, tác phẩm; cũng có thể sưu tầm một bài thơ, bài văn viết có tính chất thực hành hoặc mở rộng trường liên tưởng” 33 từ đó giúp các em có ấn tượng sâu
sắc về bài học
2.7 Tác giả Nguyễn Văn Đường thể hiện các bài thiết kế dạy học văn
bản nhật dụng thông qua các cuốn:
+ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6 - THCS (NXB Hà Nội -2012)
+ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 7- THCS (NXB Hà Nội -2012)
+ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8- THCS (NXB Hà Nội -2012)
+ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9- THCS (NXB Hà Nội -2012)
Các thiết kế thực hiện theo nguyên tắc tích hợp và tích cực hóa các hoạt động của học sinh trong các hoạt động dạy học Mạch khai thác văn bản theo
Trang 16hướng tìm hiểu, phân tích cấu trúc văn bản, thông qua các yếu tố nghệ thuật để phân tích nội dung ý nghĩa của văn bản
Tác giả đã đưa ra một hệ thống câu hỏi gợi mở khá phong phú, đa dạng, linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh, có liên hệ, mở rộng
Phần luyện tập thực hành với hệ thống bài tập bổ sung khá phong phú nhằm mở rộng và nâng cao kiến thức của học sinh
Trên đây là các tài liệu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến văn bản nhật dụng và việc dạy học loại văn bản này trong chương trình SGK Ngữ văn THCS Đây đều là những bài viết, thiết kế của những nhà nghiên cứu khoa học, những nhà giáo có uy tín, có tâm huyết đã được công bố và được đa số giáo viên sử dụng như những tài liệu tham khảo quí báu trong dạy - học Ngữ văn nói chung và dạy học văn bản nhật dụng nói riêng Những tài liệu trên đã đem đến cho người viết luận văn những gợi ý thiết thực về hướng đi và cách nhìn khoa học về các văn bản nhật dụng cũng như cách dạy - học loại văn bản này một cách có hiệu quả Với một tinh thần học hỏi, cầu thị người viết luận văn xin được tiếp thu những thành quả khoa học của các nhà nghiên cứu để vận dụng, bổ sung và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh ở các giờ học văn bản nhật dụng trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 7 tại trường một số trường Dân tộc Nội trú THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
4 Mục đích nghiên cứu
Khám phá đặc điểm cảm thụ văn bản nhật dụng của học sinh dân tộc trong các trường Dân tộc nội trú ở Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một phương án dạy học các văn bản nhật dụng ở lớp 7 phù hợp với đặc điểm tâm lý
và nhận thức của học sinh
Trang 175 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết, gồm:
- Lí thuyết về văn bản nhật dụng
- Lí thuyết về dạy học văn bản nhật dụng
5.2 Nghiên cứu trên bình diện thực tiễn, gồm:
+ Giáo viên với việc dạy văn bản nhật dụng
+ HS người dân tộc thiểu số với việc học văn bản nhật dụng trong SGK THCS
5.3 Thực nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích và nghiên cứu lý thuyết về văn bản nhật dụng, về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tế
6.2.1 Khảo sát về khả năng nhận thức, tâm lý, hoàn cảnh của học sinh người dân tộc thiểu số đối với các vấn đề của đời sống và xã hội
6.2.2 Khảo sát kế hoạch bài giảng, các giờ dạy cụ thể để xác định mức độ hứng thú của học sinh, những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy - học văn bản nhật dụng
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thiết kế bài dạy - học và tổ chức dạy thực nghiệm bài “Ca Huế trên sông
Hương” trong chương trình Ngữ văn lớp 7 tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú
Đại Từ và trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Phú Lương theo hướng tích hợp
7 Đóng góp mới của luận văn
Đề xuất một phương án dạy học các văn bản nhật dụng cho HS lớp 7 trong các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS ở Thái Nguyên, theo hướng giải quyết các vướng mắc của học sinh trong việc tiếp cận với văn bản, gắn kết các văn bản nhật dụng với thực tế cuộc sống và học tập
Trang 188 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học văn bản
nhật dụng
Chương 2: Định hướng dạy học các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ
văn lớp 7 cho học sinh dân tộc thiểu số trong các trường Dân tộc Nội trú THCS
ở Thái Nguyên
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Theo chương trình môn Ngữ văn THCS, “Khái niệm văn bản nhật dụng
không phải là khái niệm thể loại, cũng không chỉ kiểu văn bản Nó chỉ đề cập
tới chức năng đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi” 1, tr.38
Cũng theo tài liệu này thì đây là một khái niệm mới được sử dụng trong nhà trường dùng để chỉ các văn bản có nội dung đề cập tới những vấn đề của đời
sống, xã hội vừa quen thuộc gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài trọng đại mang tính nhân loại mà tất cả mọi người quan tâm, hướng tới
Nói đến văn bản nhật dụng là nói đến tính chất của nội dung văn bản Đó
là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, dân số, năng lượng, quyền trẻ em; các tệ nạn xã hội như nghiện hút, thuốc lá,
ma túy, HIV-AIDS….; các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử…; vấn đề chống chiến tranh, hội nhập và phát triển, tương lai của dân tộc, thế giới…, văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản
Nói đến văn bản nhật dụng là nói đến tính cập nhật của loại văn bản này
Đó là khả năng kịp thời đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống xã hội Đó là nội
dung của những nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, những công bố, thông báo, thông điệp của các tổ chức Quốc tế có liên quan đến sự tồn vinh, phát triển hay cảnh báo về những nguy cơ có thể xảy ra đối với nhân loại, là những vấn
đề về tự nhiên, môi trường, xã hội, về cuộc sống và các mối quan hệ thường nhật liên quan đến cuộc sống của con người Xuất phát từ đó mà mỗi văn bản
Trang 20nhật dụng đều đáp ứng một yêu cầu thực tế nào đó của đời sống hiện đại, cung cấp cho người học - học sinh bậc trung học - những hiểu biết cụ thể, chính xác
về một vấn đề đang được toàn thể cộng đồng xã hội quan tâm Từ những hiểu biết đó, học sinh sẽ có những suy nghĩ và hành động phù hợp, góp phần tham gia vào giải quyết các vấn đề ấy tùy theo khả năng của mình Đây là điểm phân biệt giữa việc học các văn bản nhật dụng với việc học các loại văn bản khác trong chương trình môn Ngữ văn
Chẳng hạn như văn bản “Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử” là một tư
liệu quí báu về giá trị lịch sử của cây cầu Long Biên đối với Hà Nội – Việt Nam Trải dài theo thời gian và những thăng trầm của lịch sử đất nước, cây cầu ấy trở thành nhân chứng sống, thành nơi lưu giữ những kỷ niệm đau thương, anh dũng
và hào hùng của dân tộc Hơn thế nữa với một lòng yêu mến, tự hào, cầu Long
Biên trong suy nghĩ và dự cảm của tác giả còn trở thành “nhịp cầu vô hình nơi
du khách, để du khách ngày càng xích lại với đất nước Việt Nam” Bài học về
cầu Long Biên cho học sinh có thêm một căn cứ xác đáng để khẳng định giá trị lịch sử và việc bảo lưu, giữ gìn, duy tu để cây cầu được giữ nguyên hiện trạng
như bây giờ là điều cần thiết; Văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” của tơn, “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”, tư liệu của Sở khoa học và Công
Xi-at-nghệ Việt Nam… không chỉ là những lời cảnh báo đầy ý nghĩa về vấn đề bảo vệ môi trường, mà còn là những thông điệp quan trọng có ý nghĩa toàn nhân loại: con người muốn tồn tại tốt đẹp và bền vững thì phải sống hòa hợp, thân thiện với thiên nhiên môi trường, phải biết bảo vệ đất đai, nguồn nước, không khí trong
lành, muông thú bằng những việc làm hết sức cụ thể… ; “Động Phong Nha” của
Trần Hoàng đưa các em đến với một địa danh du lịch đẹp lộng lẫy, kì ảo và nhiều tiềm năng kinh tế của danh thắng Phong Nha- Kẻ Bàng, từ đó khơi gợi ở các em niềm tự hào về thiên nhiên, đất nước Việt Nam, xác định cho các em thái
độ tích cực trong việc trân trọng, bảo vệ và gìn giữ, tôn tạo vẻ đẹp tự nhiên của
cảnh quan du lịch của đất nước Bài “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh
Trang 21Minh không chỉ là lời giới thiệu đầy hấp dẫn về những làn điệu dân ca xứ Huế
một sinh hoạt văn hóa tinh thần độc đáo vừa tao nhã, duyên dáng vừa uy nghi,
trang trọng với những con người tài hoa, thanh lịch, dòng sông Hương thơ mộng
mà còn đặt ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc với yêu cầu bảo lưu, gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc…
Nếu như các văn bản văn chương nghệ thuật lấy hình thức (kiểu văn bản
và thể loại) làm tiêu chí lựa chọn, thì văn bản nhật dụng được lựa chọn theo tiêu
chí nội dung Nó có thể thuộc bất cứ một thể loại hay một kiểu văn bản nào
Nói như vậy cũng có nghĩa là người ta công nhận sự đa dạng, phong phú
về mặt hình thức của văn bản nhật dụng Theo đó có thể thấy có những văn bản được trình bày dưới hình thức tác phẩm văn chương với ít nhiều hư cấu như
“Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài; các văn bản “Mẹ tôi”
của Et- môn đơ đờ A-mi-xi, “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” của Xi át tơn lại được
thể hiện dưới hình thức bức thư; cũng có khi ta bắt gặp trong số những văn bản
nhật dụng những bài kí vừa xúc động, vừa thú vị đầy chất trữ tình như “Cổng
trường mở ra” của Lý Lan, “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh,
“Động Phong Nha” của Trần Hoàng…; các tác phẩm như “Phong cách Hồ Chí Minh”, “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” lại là những tác phẩm nghị luận
đầy sức thuyết phục với hệ thống lập luận chặt chẽ, mạch lạc Ngoài ra, các văn bản thuộc về báo chí như: xã luận, thông báo, công bố, thông điệp…đều được
sử dụng trong các văn bản nhật dụng
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản nhật dụng cũng được vận dụng khá linh hoạt Người ta ít thấy có những văn bản nhật dụng chỉ sử dụng một phương thức biểu đạt thuần nhất Thường thì mỗi văn bản đều có sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn nhiều phương thức biểu đạt để làm tăng tính thuyết phục cho vấn đề được nói tới trong văn bản Đối với các văn bản nhật
dụng trong chương trình THCS, ngoài văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm
2000” sử dụng phương thức thuyết minh là chủ yếu, các văn bản như: “Mẹ tôi”
Trang 22của E đơ A-mi-xi, “Cổng trường mở ra” của Lý Lan, “Cuộc chia tay của những
con búp bê” của Khánh Hoài dùng phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm; Văn
bản“Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh, “Động Phong Nha” của Trần
Hoàng dùng thuyết minh và miêu tả Ta cũng có thể thấy sự kết hợp khá linh hoạt nhiều phương thức biểu đạt trong các văn bản nhật dụng khác
Mặc dù được lựa chọn theo tiêu chí nội dung nhưng các văn bản nhật dụng được đưa vào SGK bậc trung học cơ sở đều đạt đến một giá trị nghệ thuật nhất định Các văn bản nhật dụng được thể hiện dưới nhiều hình thức thể loại và nhiều phương thức biểu đạt khác nhau nên khi dạy - học các văn bản nhật dụng giáo viên cũng phải khơi gợi và chỉ cho học sinh thấy được sự phù hợp giữa hình thức và nội dung các văn bản giúp các em hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn
Văn bản nhật dụng cung cấp thông tin, phản ánh kịp thời những vấn đề của đời sống xã hội vừa gần gũi, quen thuộc, vừa mang tính nhân loại, liên quan đến sự tồn tại hay phát triển của con người và cộng đồng xã hội Từ đó,
nó có thể tác động tới những tình cảm, suy nghĩ, thái độ của học sinh, đồng thời hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của các em cho phù hợp Vì thế, các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS đều mang ý nghĩa giáo dục cao, đáp ứng
về cơ bản các mô hình về năng lực cần có của học sinh THCS đó là: thích ứng; hành động; cùng chung sống với cộng đồng, khu vực và thế giới; tự học, tự khẳng định mình và có năng lực tự học suốt đời
Tóm lại: văn bản nhật dụng là khái niệm để chỉ những văn bản có trong SGK Ngữ văn bậc trung học với nội dung đề cập đến những vấn đề gần gũi, bức thiết có liên quan trực tiếp đến cuộc sống và cộng đồng xã hội, được trình bày dưới những hình thức văn bản đa dạng, phong phú Văn bản nhật dụng có khả năng giúp học sinh cập nhật thông tin, phản ánh thời sự, tác động và điều chỉnh hành vi trong cuộc sống đồng thời có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện và hình thành các năng lực cần có giúp các em có thêm kỹ năng sống phù hợp với xã hội hiện đại
Trang 231.2 Lý thuyết về dạy học văn bản nhật dụng
1.2.1 Về mục tiêu dạy học văn bản nhật dụng
Trong cuốn Chương trình THCS môn Ngữ văn, Bộ GD&ĐT, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 2001 có nêu “Việc đưa các văn bản nhật dụng là điểm mới trong
chương trình lần này, tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh hòa nhập với xã hội Trong các văn bản nhật dụng có một tỷ lệ nhất định các văn bản có tính địa phương Đây cũng là một cách giúp học sinh hòa nhập với địa bàn sinh hoạt của các em” 1
Sách giáo viên Ngữ văn 6 – tập 2, NXB Giáo dục cũng viết “Có thể còn
phải tiếp tục trao đổi về cách sử dụng thuật ngữ song việc gắn chặt hơn nữa quá trình giảng dạy ở nhà trường nói chung và giảng dạy Ngữ văn nói riêng với thực tiễn đời sống là một yêu cầu vừa hiển nhiên vừa bức thiết” 5
Như vậy, lý thuyết dạy học văn bản nhật dụng xác định rõ mục tiêu của
việc dạy học văn bản nhật dụng trong nhà trường là gắn việc giảng dạy Ngữ
văn với đời sống, từ đó giúp cho học sinh hòa nhập với xã hội và hòa nhập với địa bàn sinh hoạt của các em Cũng từ đó mà các vấn đề được đề cập tới trong
các văn bản nhật dụng vừa mang tính thời sự nhưng đồng thời phải liên quan đến những vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài, đó không chỉ là vấn đề của một quốc gia, một dân tộc mà mang tính nhân loại và thế giới Theo đó, các tác giả
tham gia biên soạn xây dựng chương trình và SGK đã lựa chọn và đưa vào một
số lượng đáng kể các văn bản nhật dụng ở cấp THCS
Cụ thể:
Lớp 6 tập trung vào các vấn đề di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh,
thiên nhiên, môi trường với các văn bản: “Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch
sử” của Thúy Lan, “Động Phong Nha” của Trần Hoàng, “Bức thư của thủ lĩnh
da đỏ” của Xi-át-tơn
Lớp 7 là các văn bản viết về văn hóa giáo dục, nhà trường, người mẹ,
quyền trẻ em, di sản văn hóa với các văn bản “Cổng trường mở ra” của Lý
Trang 24Lan, “Mẹ tôi” trích “Những tấm lòng cao cả” của Et-môn-đơ đơ A-mi-xi,
“Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài, “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh
Lớp 8 tập trung vào các nội dung về dân số, phòng chống các tệ nạn
xã hội như ma túy, thuốc lá, tương lai dân tộc và thế giới Đó là các văn
bản: “Thông tin về ngày trái đất năm 2000” trích tư liệu của Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường, “Ôn dịch thuốc lá” của Nguyễn Khắc Viện,
“Bài toán dân số”của Thái An
Lớp 9 đề cập tới các vấn đề về quyền sống con người, vấn đề bảo vệ sinh thái, hội nhập và phát triển, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc gồm các văn bản:
“Phong cách Hồ Chí Minh” của Lê Anh Trà, “Đấu tranh cho một thế giới hòa
bình” của Gác-xi-a Mác-két và “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” trích từ tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990
Một trong những vấn đề trọng tâm của giáo dục hiện đại là chú trọng phát triển năng lực ở người học, giúp cho học sinh có được kiến thức và sử dụng được các kiến thức đó vào việc tìm hiểu và lý giải các hiện tượng đời sống và thế giới quanh mình, ý thức được các giá trị của cuộc sống từ đó thay đổi tư duy, suy nghĩ, có trách nhiệm và có hành động đúng trong cuộc sống
Việc học các văn bản nhật dụng sẽ giúp cho các em học sinh nhận biết được các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội đang diễn ra xung quanh mình như: thiên nhiên, môi trường, biến đổi khí hậu đang hàng ngày, hàng giờ bị chính con người vô tình hay hữu ý hủy hoại và những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra; vấn đề quyền sống của con người, sự gia tăng dân số, quyền trẻ em, đạo đức xã hội đang bị xâm hại do sự tác động hai mặt của nền kinh tế thị trường, của lối sống hiện đại Qua các văn bản nhật dụng các em như được chứng kiến, được lắng nghe tiếng kêu cứu của các khu rừng đang bị chặt phá, của muông thú, động vật không còn nơi trú ẩn,
Trang 25hậu quả khôn lường của nạn ô nhiễm môi trường, của các tệ nạn xã hội đang đe dọa trực tiếp đến đời sống của con người
Bài học từ các văn bản nhật dụng cũng có khả năng khơi gợi ở các
em những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ và thiêng liêng: tình yêu thương vô
bờ bến mà cha mẹ giành cho con cái; một lối sống, một phong cách sống … được đề cập trong các bài học giúp cho các em có dịp nhìn nhận, đánh giá lại các vấn đề của chính mình mà nếu không được học các em khó có thể nhận ra Em Triệu Đức Nhật - dân tộc Nùng học sinh lớp 7B trường phổ
thông Dân tộc Nội trú THCS Đại Từ sau khi học xong hai bài “Mẹ tôi” và
“Cổng trường mở ra” đã nói rằng “mẹ em rất hiền còn bố thì nghiêm khắc
Em rất sợ bố nhưng bây giờ em hiểu hơn bố nghiêm khắc là vì lo lắng cho
em, muốn em tiến bộ” Em Lý Quan Huy - dân tộc Tày, lớp 7A trường phổ
thông Dân tộc Nội trú THCS Đại Từ có lúc nói “Khi bị bố đánh em rất ghét
bố” đã thổ lộ: “em biết là bố lo cho em mới thế, bây giờ em sẽ cố gắng hơn nữa để học giỏi, chăm ngoan cho bố mẹ được vui”… Đấy là những lời chia
sẻ rất chân thật, thể hiện những thay đổi trong nhận thức của các em, dù là rất nhỏ nhưng rất đáng trân trọng và điều đó cũng cho thấy ý nghĩa tích cực của việc dạy học văn bản nhật dụng trong nhà trường
Những kiến thức học được từ những văn bản nhật dụng giúp các em nhìn rõ hơn, quan tâm hơn tới thực tế cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình và cộng đồng xã hội, đồng thời vận dụng vào các tình huống cụ thể, rèn luyện kỹ năng sống để thích ứng với cuộc sống đa dạng phức tạp trong
xã hội theo hướng tích cực
Những bi kịch trong gia đình: bố mẹ li hôn, gia đình tan vỡ; những nguy
cơ ngoài xã hội: sự gia tăng dân số, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, chiến tranh…bây giờ không còn là những chuyện kín cần phải giữ gìn, che giấu đối với các em nữa Ngược lại cần phải cho các em thấy rõ đó là những vấn đề đang trực tiếp tác động đến sự sống trên trái đất, là những vấn đề mà các em sẽ
Trang 26phải đối mặt trong tương lai…Các em cần phải được trang bị đầy đủ cả về tư tưởng, tâm lý cả về năng lực để có thể thích ứng và giải quyết một cách thấu đáo các tình huống gặp phải trong cuộc sống sau này
Một bài học giáo dục công dân sẽ tác động trực tiếp vào lý trí, đòi hỏi ở học sinh ý thức trách nhiệm của công dân Một tác phẩm văn chương phản ánh đời sống thông qua hình tượng nghệ thuật và tác động đến tình cảm thẩm mỹ của học sinh Các văn bản nhật dụng có khả năng tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm từ đó điều chỉnh suy nghĩ, và hành động của các em một cách hiệu quả nhất Việc đưa các văn bản nhật dụng vào nhà trường là một cách thiết thực giúp giáo viên và học sinh đến gần hơn với cuộc sống, là một cách thiết thực để đưa văn học vào cuộc sống Dạy các văn bản nhật dụng là tập trung làm
rõ các vấn đề nội dung tư tưởng đặt ra ở mỗi văn bản từ đó liên hệ, giáo dục tư tưởng, tình cảm và ý thức cho học sinh trước các vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm
1.2.2 Về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng
Sách giáo viên Ngữ văn 6, tập 1 khi nói về phương pháp dạy học cũng
chỉ rõ: “những điều cần quán triệt nhất đều hàm chứa trong hai chữ tích, “chữ
tích đầu tiên là tích hợp”, “chữ tích thứ hai là tích cực” 4 Tích hợp và tích
cực là hai yêu cầu trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn bản nhật dụng cũng phải đảm bảo các yêu cầu ấy
1.2.2.1 Dạy theo hướng tích hợp
Tích hợp là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ và tác động, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc Trong dạy học Ngữ văn, đó là
sự gắn kết các lĩnh vực tri thức gần nhau giữa các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn nhằm hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, giúp các em có kĩ năng ban đầu về phân tích, cảm nhận và bình giá văn học, hình thành năng lực vận dụng và tổng hợp các kiến thức, kĩ năng ở các bộ
Trang 27môn khác và trong đời sống, từ đó “có ý thức và biết cách ứng xử, giao tiếp
trong gia đình, trong trường học và ngoài xã hội một cách có văn hóa” 4
Cũng như các bài học khác của môn Ngữ văn, việc học các văn bản nhật dụng cũng tạo điều kiện cho HS vân dụng kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong việc dùng từ, đặt câu, diễn đạt để khai thác các yếu tố ngôn ngữ, cũng như các khía cạnh nội dung của văn bản Và ngược lại, từ việc khai thác các yếu tố hình thức nghệ thuật, phương thức biểu đạt của văn bản, các em sẽ có điều kiện vận dụng kiến thức học được trong giao tiếp và tạo lập văn bản
Như ở phần trên đã trình bày, nội dung của các văn bản nhật dụng là những vấn đề thường xuyên được báo, đài đề cập: những nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, những công bố, thông báo, thông điệp của các tổ chức Quốc tế có liên quan đến sự phát triển xã hội hay cảnh báo về những nguy cơ
có thể xảy ra đối với nhân loại… trong đó có những thông tin về lịch sử, chính trị, địa lý, môi trường, luật pháp… Như vậy, tích hợp trong bộ môn ngữ văn không chỉ dừng lại trong phạm vi một môn học mà còn phải mở rộng ra nhiều môn học khác như Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công
dân…“Không thể chỉ khoán vấn đề giáo dục môi trường cho môn Sinh học,
giáo dục truyền thống cho môn Lịch sử, giáo dục pháp luật cho môn Giáo dục công dân… Ngữ văn không thể đứng ngoài cuộc” 5 Như thế việc tích
hợp đối với bộ môn Ngữ văn sẽ đạt hiệu quả cao hơn
Với quan điểm:“từ cái trước mắt, có tính cập nhật và thời sự chỉ ra ý
nghĩa lâu dài, từ cái của một nơi, chỉ ra điều của mọi nơi, từ một phương diện chỉ ra mối liên quan với nhiều phương diện Do chức năng đề tài, tính chất của văn bản, GV có quyền và cần cho HS liên hệ tới một phạm vi rộng rãi mà không quá bị gò bó trong khuôn khổ văn chương Hoàn toàn có thể cho học sinh liên hệ trực tiếp vấn đề đang học với tình hình địa phương”, 5 SGV
Ngữ văn 6 - tập 2 cũng đã cụ thể hóa yêu cầu tích hợp đối với việc dạy- học văn bản nhật dụng Ngoài việc tích hợp ngang, tích hợp giữa các phân môn
Trang 28trong bản thân môn Ngữ văn, việc tích hợp trong dạy học văn bản nhật dụng
đòi hỏi một sự liên hệ rộng rãi, trực tiếp với thực tế đời sống, nhất là nội dung
địa phương Đó là cách thiết thực giúp HS có được những cách nhìn nhận, đánh
giá, khả năng thích ứng đồng thời khơi dậy trách nhiệm của các em với đời sống xã hội nói chung và địa phương nơi các em sống nói riêng
Chẳng hạn với văn bản “Ca Huế trên sông Hương” của Hà Ánh Minh, mục
tiêu của bài là nhằm giới thiệu một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống độc đáo của
xứ Huế Qua cảnh sinh hoạt này mà giới thiệu những vẻ đẹp của cảnh và người xứ Huế, giới thiệu về nguồn gốc, về sự phong phú của các làn điệu ca Huế Bài học được đặt gần với chương trình địa phương và các hoạt động Ngữ văn trong SGK Ngữ văn lớp 7 Hiệu quả của bài học chỉ có thể đạt được khi học sinh biết liên hệ đến các bài học khác trong chương trình; tập hát một vài làn điệu dân ca, sưu tầm và giới thiệu sinh hoạt văn hóa các vùng miền ở địa phương nơi mình ở Chẳng hạn như: Ở Bắc bộ có hát Xoan ở Phú Thọ, hát Chèo ở Thái Bình, hát quan họ ở Hội Lim - Bắc Ninh, hát Then, Sli, Lượn của đồng bào dân tộc Tày - Nùng ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, múa Xòe hoa ở Tây Bắc…Ở Miền Trung
có hát dặm, hát ví, hát phường vải, dân ca Bình Trị Thiên… Ở Nam Bộ có đờn ca tài tử, ca vọng cổ, các điệu lý….Ở Tây Nguyên có lễ hội Cồng chiêng… tạo nên sự
đa dạng phong phú trong bản sắc văn hóa Việt Nam Mỗi sinh hoạt văn hóa đều gắn với phong tục, tập quán của từng địa phương, cần được trân trọng, bảo lưu, gìn giữ Liên hệ và hiểu được điều đó, ấn tượng của các em về bài học sẽ sâu sắc hơn
Không chỉ riêng bài “Ca Huế trên sông Hương” mà hầu như tất cả các
văn bản nhật dụng khác cũng đều gắn rất chặt với các nội dung chương trình địa phương Việc tích hợp khai thác các nội dung địa phương vì thế là một vấn
đề quan trọng trong việc tổ chức dạy học văn bản nhật dụng
2.1.2.2 Dạy theo hướng tích cực
Tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh là trạng thái chủ động, tập trung trí tuệ, tư duy sáng tạo và nghị lực cao trong các hoạt động học
Trang 29tập Cụ thể là hăng hái trả lời các câu hỏi của thầy cô, thích phát biểu ý kiến của riêng mình trước vấn đề nêu ra, hoặc nêu ra các thắc mắc đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ vấn đề, kiên trì hoàn thành các bài tập, chủ động vận dụng các kiến thức
đã học để nhận thức vấn đề mới
Để làm rõ yêu cầu về dạy - học tích cực, Chương trình môn học nhấn
mạnh “Cần làm sao cho học sinh biết chủ động tiếp cận tác phẩm theo hướng
đọc - suy ngẫm - liên tưởng Khả năng đọc – hiểu (bao gồm cả cảm thụ) một tác phẩm văn chương lệ thuộc không ít vào việc có thể trả lời hay không những câu hỏi đặt ra ở những cấp độ khác nhau Mức thấp nhất là chỉ sử dụng những thông tin đã có ngay trong văn bản Đó là trường hợp câu trả lời có sẵn trong bài, là trình độ mới biết đọc trên dòng (on the line) Mức cao hơn là buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong bài Đó là trường hợp phải suy ra câu trả lời từ những đầu mối có sẵn trong văn bản, là trình độ đã biết đọc giữa các dòng (between the line) Cao hơn nữa là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa những cái mà HS đã đọc với thế giới bên ngoài bài học Đó là trình độ biết vượt ra khỏi dòng (beyond the line) Để đọc văn bản Khám phá theo hướng ấy thì HS không chỉ hứng thú, hiểu sâu văn bản mà còn liên hệ được một cách sinh động, tự nhiên việc học văn với những vấn đề của cuộc sống” ” 5
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong các hoạt động học tập, ngoài việc tổ chức thảo luận, viết báo, sáng tác, hoạt động ngữ văn… còn phải chú ý đến bề sâu bằng những việc làm thiết thực của GV nhằm động viên học sinh đào sâu suy nghĩ với những vấn đề cụ thể, ở tất cả mọi khâu,
từ việc chuẩn bị bài, sưu tầm tài liệu, đọc kĩ văn bản và suy ngẫm, giải tỏa những băn khoăn vướng mắc về ngôn từ, hình ảnh, phát biểu trong tổ nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn, cho đến việc tham gia tham quan, ngoại khóa, học tập thực tế theo đặc trưng bộ môn Tất cả các hoạt động trên đều nhằm tổ chức những hình thức học tập phong phú để tạo nên hứng thú học tập cho các em, giúp các em có điều kiện vận dụng kiến thức vào các tình
Trang 30huống cụ thể, bộc lộ những cảm xúc, thái độ đối với đời sống cá nhân, gia đình và xã hội
Học các văn bản nhật dụng, học sinh dám nêu lên những thắc mắc về ngôn từ, đặt ra những câu hỏi về những điều mình băn khoăn suy nghĩ, đề xuất những ý kiến, quan điểm riêng, biết liên hệ nội dung bài học với cuộc sống quanh mình, bày tỏ thái độ, tình cảm yêu, ghét, nhận thấy trách nhiệm của bản thân trong đời sống cộng đồng là các dấu hiệu cho thấy sự chủ động tích cực của các em trong học tập và phần nào thể hiện hiệu quả bước đầu của việc học văn bản nhật dụng
1.2.3 Về hiệu quả của dạy học văn bản nhật dụng
Hiệu quả của việc học văn bản nhật dụng được thể hiện ở sự tác động của các bài học vào tư tưởng tình cảm của học sinh Từ việc giúp cho các em nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của các nội dung đặt ra trong mỗi văn bản nhật dụng, thầy cô giáo hướng dẫn các em tự liên hệ, rút ra bài học cho chính mình
để từ đó có thái độ và hành động đúng trong cuộc sống thường nhật
Chẳng hạn, học bài “Cầu Long biên – chứng nhân lịch sử”, HS lớp 6 sẽ
biết và hiểu có một cây cầu bắc qua sông Hồng, cây cầu ấy đã từng gắn bó, chia
sẻ mọi vui, buồn, đau thương, anh dũng với nhân dân Hà Nội trong suốt hai cuộc chiến tranh và cuộc sống hàng ngày Hiện tại, cây cầu vẫn còn đó như một nhân chứng lịch sử sống động hào hùng Từ bài học này học sinh sẽ liên hệ đến các di tích lịch sử của chính quê hương mình, tìm hiểu và ôn lại những dấu ấn lịch sử oanh liệt của cha ông, tự hào với truyền thống cách mạng trong quá khứ, có trách
nhiệm giữ gìn bảo vệ các di tích lịch sử ấy Với bài học “Bức thư của thủ lĩnh da
đỏ”, từ những suy nghĩ về đất đai cây cỏ, muông thú, thiên nhiên của một thủ
lĩnh người da đỏ cách xa chúng ta một khoảng cách lớn về địa lý, lịch sử, HS biết liên hệ và bộc lộ tình cảm, trách nhiệm với thiên nhiên, xứ sở quê hương
mình Học bài “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”, từ thông điệp “một ngày
không dùng bao ni lông”, học sinh có những trải nghiệm thiết thực trong thực tế
Trang 31đời sống, biết tuyên truyền vận động bạn bè, người thân cùng chung tay hành động bảo vệ môi trường sống trong gia đình, làng xóm, trong trường học và địa phương nơi mình ở, rộng hơn là biết lên án những hành vi xâm hại đến môi trường sống quanh mình…
Những sự thay đổi cơ bản đó trong nhận thức tình cảm và thái độ của các
em đều góp phần thực hiện mục tiêu chung của trường THCS: “Góp phần hình
thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở chuẩn bị cho họ hoặc ra đời hoặc tiếp tục học lên bậc cao hơn Đó là những con người có ý thức
tự tu dưỡng,, biết thương yêu quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng nhân
ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó
là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu
có năng lực cảm thụ các giá trị chân thiện mĩ trong nghệ thuật trước hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ
để tư duy và giao tiếp Đó cũng là những con người muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 4
Trang 32- Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi dạy học văn bản nhật dụng cho HS người Dân tộc thiểu số trong các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú ở Thái Nguyên
Kết quả khảo sát như sau:
2.1.1 Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc dạy học văn bản nhật dụng
Câu hỏi khảo sát: Ý kiến của đồng chí về ý nghĩa của việc dạy học văn
bản nhật dụng trong trường THCS? Đồng chí có đề xuất gì về việc dạy học văn bản nhật dụng trong nhà trường THCS?
Đa số GV khi được hỏi đều cho rằng việc dạy học văn bản nhật dụng trong trường THCS là cần thiết và phù hợp mục đích dạy học hiện đại Nội dung của các văn bản nhật dụng trong chương trình rất phong phú, đa dạng và đem đến một sự mới mẻ và hứng thú đối với việc dạy - học môn Ngữ văn trong nhà trường, làm cho môn Ngữ văn gần với đời sống hơn
Cô giáo Nông Thị Phương, GV trường THCS Hùng Sơn, huyện Đại Từ
nhận xét: “Mỗi văn bản nhật dụng đều mang trong đó một thông điệp về cuộc
sống, dạy học tốt các văn bản này là cách tốt nhất để giúp cho các em HS THCS tiếp cận với những vấn đề của cuộc sống” Cùng quan điểm đó cô Hoàng
Thị Quyến, GV trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS Đại Từ cho rằng:
“Nội dung của các văn bản nhật dụng mang tính giáo dục tư tưởng cao vì nó tác động trực tiếp tới nhận thức và tình cảm của học sinh” Cô Hoàng Thị
Hiền, GV trường phổ thông DTNT THCS Phú Lương cho rằng: “tính cập nhật
của các văn bản nhật dụng sẽ giúp cho học sinh có những kiến thức thực tế về đời sống xã hội, từ đó sẽ các em sẽ có những biến chuyển nhất định trong tư duy, và hành động”
Thầy Cao Xuân Quyền GV trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS Đại
Từ chia sẻ: “Các văn bản nhật dụng trong SGK THCS có nội dung rất phong
phú và mang đến một cái nhìn mới mẻ về môn Văn trong nhà trường Tôi rất hứng thú khi dạy các văn bản này” Xuất phát từ đó, các GV đã có những đề
Trang 33xuất tiếp tục duy trì việc dạy, học văn bản nhật dụng trong nhà trường vì đây là những văn bản có tác dụng trực tiếp đến tư duy, suy nghĩ của học sinh giúp cho các em hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống, từ đó các em sớm có cách nhìn thực
tế hơn về cuộc sống
Cô Đặng Hồng Anh Tổ trưởng tổ chuyên môn trường phổ thông Dân tộc
Nội trú Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng: “Không những nên duy trì mà còn cần
thiết phải tăng thêm số tiết học cho những bài học về văn bản nhật dụng bởi vì sớm cung cấp cho các em kiến thức về đời sống, xã hội các em sẽ sớm có những hiểu biết cần thiết để dễ dàng hòa nhập với cuộc sống hôm nay”
Tuy vậy không phải không có những ý kiến ngược chiều
Thầy Nguyễn Văn Tiến - GV có hơn 30 năm trong nghề cho rằng: “Môn
Ngữ văn trong trường nên hướng tới việc dạy các tác phẩm văn chương hình thành cho các em năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học Các vấn đề nhật dụng chỉ cần tích hợp ở một mức độ vừa phải tránh sự nặng nề, khô khan,
áp lực cho học sinh Việc giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội như môi trường, dân số, văn hóa… nên giành cho môn Giáo dục công dân là đủ”
Như vậy sau 12 năm thực thi chương trình SGK mới đến nay cũng vẫn còn có GV chưa nhận thức đúng đắn về mục đích, ý nghĩa của việc dạy học văn bản nhật dụng trong nhà trường
2.1.2 Thực trạng việc dạy học ở các trường phổ thông Dân tộc Nội trú THCS
ở Thái Nguyên
2.1.2.1 Về nội dung dạy học văn bản nhật dụng
Về nội dung dạy học văn bản nhật dụng, chúng tôi xin trích dẫn lời chia
sẻ của một đồng chí GV đã có 15 năm dạy học ở bậc THCS ở Đại Từ, cô giáo Nông Thị Phương GV – tổ trưởng CM trường THCS Hùng Sơn huyện Đại Từ:
“Chúng tôi cố gắng giúp cho HS nắm được những nội dung chính trong các văn bản, cố gắng hướng dẫn các em liên hệ thực tế, nhưng về cơ bản chúng tôi yêu cầu các em nắm được những kiến thức được thể hiện trong phần ghi nhớ
Trang 34của SGK Còn tác động của bài học đến suy nghĩ và tình cảm của học sinh như thế nào chúng tôi chưa có điều kiện và cũng chưa có sự đánh giá cụ thể vì điều
đó đòi hỏi phải có thời gian”
Đây cũng là ý kiến của đa số GV khi được hỏi đến
Như vậy, trong quá trình dạy học các văn bản nhật dụng, GV đã chú ý đến việc tiếp cận văn bản nhật dụng ở phương diện nội dung, đề tài của văn bản, tức là quan tâm cập nhật những vấn đề của đời sống xã hội đặt ra trong văn bản Đem đến cho học sinh những nhận thức nhất định về đời sống Tuy nhiên việc khơi gợi để các em bộc lộ những suy nghĩ và hành động trong thực
tế còn hạn chế
2.1.2.2 Về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng
Phần này chúng tôi đánh giá dựa trên việc dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm trực tiếp với GV Cụ thể là:
Giáo viên đã có ý thức dạy các văn bản nhật dụng theo hướng tích hợp
và tích cực Tuy nhiên, nhiều giáo viên hiểu về nguyên tắc tích hợp còn mơ hồ
nên còn khá lúng túng cho rằng đó là việc “liên hệ thực tế trong bài giảng”
giống như việc liên hệ trong các bài học về văn bản trong SGK nói chung mà chưa có kế hoạch tích hợp một cách cụ thể trong bài dạy, dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao
Tương tự như thế, quan niệm về tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập cũng còn rất chung chung, nhiều khi đơn giản chỉ là các em tích cực giơ tay phát biểu xây dựng bài, tích cực trả lời câu hỏi của thầy cô đưa ra,
sử dụng nhiều tranh ảnh, băng đĩa, hình ảnh trong tổ chức dạy học Tuy nhiên, vận dụng không khéo nên chỉ tạo ra cái gọi là sự sôi nổi và hứng thú nhất thời
của giờ học, đó là sự tích cực “giả tạo” Việc xây dựng hệ thống câu hỏi gợi
dẫn của giáo viên còn nhiều hạn chế, nhiều khi hỏi chỉ là cái cớ chứ chưa nêu được vấn đề cho học sinh phải tư duy và tham gia vào kiến tạo những đơn vị kiến thức mới
Trang 35Dự giờ “Cuộc chia tay của những con búp bê” của cô giáo Nguyễn Thị
Hải trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Đại Từ chúng tôi đếm được có tới
36 câu hỏi, trong đó có những câu hỏi kiểu như: “Tác giả của văn bản trên là
ai?”, “Hãy quan sát hai bức tranh, hai bức tranh minh họa cho những sự việc nào trong truyện?”, “Tại sao hai anh em phải chia đồ chơi?”, “Đồ chơi của Thành và Thủy gồm có những gì?”… Thiết nghĩ những câu hỏi như thế chỉ
làm cho bài dạy thêm rối và loãng, đương nhiên chất lượng giờ dạy học vì thế cũng không cao
Việc tổ chức cho học sinh tham gia vào quá trình học tập chưa đạt hiệu quả, còn tình trạng giáo viên chỉ quan tâm tới một số học sinh học khá, hay phát biểu mà chưa chú ý đều đến mọi đối tượng học sinh Vì thế, có hiện tượng một số em lấn lướt, nói át các em khác Phần thảo luận của học sinh cũng còn mang tính hình thức chưa thực hiện đúng qui trình thảo luận: chia nhóm, phân công nhiệm vụ, báo cáo kết quả thảo luận… Còn nhiều trường hợp học sinh phát biểu không rõ ràng, không chính xác nhưng GV không sửa chữa, không định hướng lại vì thế nội dung bài giảng bị phân tán
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học như máy chiếu, băng hình và các phương tiện khác còn mang tính hình thức, chiếu lệ Nếu có sử dụng cũng chỉ là trong các giờ thao giảng, có người dự hoặc được báo trước, và hiệu quả chưa cao Việc giáo viên đưa quá nhiều hình ảnh, nhiều đoạn clip… hoặc trình chiếu quá nhanh khiến cho học sinh chưa kịp định hình các nội dung được đưa vào trình chiếu còn rất phổ biến
Giờ dạy“Thông tin về ngày trái đất năm 2000” của cô giáo Hoàng Thị
Quyến GV trường Phổ thông DTNT THCS Đại Từ có tới 15 bức ảnh được trình chiếu nhưng giáo viên chỉ dùng để minh họa, không thuyết minh, không yêu cầu học sinh phân tích nội dung các bức ảnh đó để biến các bức ảnh trở thành dẫn chứng cụ thể cho nội dung dạy học
Trang 36Giờ dạy “Ca Huế trên sông Hương” của cô Triệu Thị Thu Hằng, GV
trường Phổ thông DTNT THCS Đại Từ có đến 15 bức tranh trong đó có 1 bức tranh được trình chiếu đến 4 lần trong 2 slide…
Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng chưa được quan tâm một cách thấu đáo Có những GV khi được hỏi về việc đã đổi mới giờ dạy học
văn bản nhật dụng như thế nào đã thành thật chia sẻ: “Trừ những giờ thao
giảng, thực tập chuyên môn sẽ được đầu tư thêm chút ít còn lại chúng tôi dạy các văn bản nhật dụng như những văn bản khác trong SGK”, tức là cũng
chưa có gì đổi mới
Trong quá trình dự giờ một số bài dạy văn bản nhật dụng chúng tôi nhận thấy cơ bản giáo viên đều đi theo một mô hình chung như sau:
1 Lời vào bài
2 Bài mới:
*.Tìm hiểu chung về văn bản: trong đó có tìm hiểu về tác giả, xuất xứ
tác phẩm, phân chia bố cục, nội dung của từng phần trong bố cục văn bản
* Tìm hiểu văn bản: - tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt
- Hướng dẫn học sinh liên hệ bài dạy với thực tiễn Câu hỏi đặt ra thường
là: thông qua văn bản tác giả muốn gửi gắm điều gì?
* Luyện tập:
- Cho học sinh đọc to phần ghi nhớ trongGK
- Hướng dẫn làm các bài tập trong phần câu hỏi luyện tập ở SGK
Thông thường, đến phần luyện tập thì đã hết giờ Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập một cách chiếu lệ và giao bài về nhà
Trang 37Như vậy, việc tổ chức các hoạt động dạy học đối với văn bản nhật dụng hiện nay còn rất chung chung, xơ cứng, thiếu linh hoạt, hiệu quả dạy học mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ của vấn đề nhật dụng đặt ra trong văn bản
Nguyên nhân của thực trạng nêu trên là do vốn hiểu biết về văn bản nhật
dụng của giáo viên còn hạn chế, kiến thức thực tiễn còn nghèo, tài liệu tham khảo ít, chủ yếu phụ thuộc vào hướng dẫn của SGV Mặt khác, trong giáo viên vẫn còn một số không nhỏ có tâm lý dạy cho xong, dạy cho qua chương trình nên việc chuẩn bị bài dạy không vượt qua kiến thức từ SGV, sách Thiết kế GV chưa tích cực đổi mới phương pháp mà giảng dạy theo lối cũ mang tính áp đặt, công thức chưa thực sự gây được hứng thú cho học sinh
Tóm lại, việc dạy-học văn bản nhật dụng là một trong những cách thức
đổi mới chương trình theo hướng gắn kết tri thức trong văn bản với thực tiễn đời sống, giúp cho giờ học môn Ngữ văn trở nên hứng thú, hấp dẫn và có tác dụng thiết thực hơn đối với học sinh Song, mặc dù đã đưa vào chương trình dạy học được nhiều năm cho đến nay vẫn còn có những GV chưa bắt kịp với sự đổi mới nội dung chương trình, chưa dành thời gian và sự đầu tư thỏa đáng cho các bài dạy - học văn bản nhật dụng dẫn đến chất lượng bài dạy và kết quả học tập của học sinh còn rất hạn chế, nhất là đối với các nơi vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc miền núi
2.1.3 Những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi thực hiện dạy học văn bản nhật dụng cho HS người Dân tộc thiểu số trong các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú ở Thái Nguyên
Khi được hỏi về những khó khăn gặp phải trong dạy học văn bản nhật
dụng đa số GV cho rằng khó khăn lớn nhất đối với giáo viên là nội dung
trong các văn bản được học thường là những vấn đề khá nhạy cảm hàng ngày vẫn được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng ví dụ như con cái ngược đãi cha mẹ, nạn bạo hành đối với trẻ em, trẻ em lang thang
cơ nhỡ, gia đình tan vỡ do việc li hôn của các cặp vợ chồng, các tệ nạn xã
Trang 38hội mà hệ lụy của nó đã tác động không nhỏ đến đời sống con người… Trong những năm gần đây, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa và hội nhập, bên cạnh chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội… cũng phải kể đến một bộ phận không nhỏ những tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, HIV-AIDS đã
có tác động trực tiếp đến đời sống của người dân ở nơi đây mà đặc biệt là cuộc sống của nhân dân các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn Không ít học sinh của các trường Dân tộc Nội trú cấp huyện có những hoàn cảnh đặc biệt do hậu quả của những tệ nạn xã hội mang đến Riêng ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS Đại Từ có đến 20/176 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như bố mẹ ly hôn, mồ côi cha mẹ, bị bỏ rơi ngay từ khi mới chào đời, phải sống với ông bà, chú, bác, cô, cậu… thiếu thốn tình thương và sự chăm sóc của bố mẹ Tất cả những điều kể trên đã có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng nhận thức, khả năng giao tiếp, ý thức xã hội cũng như cách ứng xử của các em
Một khó khăn nữa đó là nhận thức của HS còn rất hạn chế, giữa các em với những vấn đề được đề cập tới trong các văn bản nhật dụng còn những khoảng cách khá xa về ngôn từ, tư duy, lịch sử, địa lý, văn hóa…kiến thức từ các bài học đa phần vẫn chỉ là thầy cô hướng dẫn là chính chứ học sinh chưa
thực sự tích cực chủ động trong quá trình học tập
Trong quá trình dạy học, qua khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có một số khó khăn khi dạy học văn bản nhật dụng cho học sinh dân tộc thiểu số là:
* Khả năng tư duy của HS có nhiều hạn chế:
Như ở trên đã trình bày, học sinh trường Dân tộc Nội trú là người dân tộc thiểu số cư trú ở những vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn Ở đó mật độ dân cư thưa, trình độ dân trí thấp, các em ít được va chạm, ít có những giao lưu hiểu biết ngoài xã hội Phần lớn các em rụt rè, e
Trang 39ngại, sống khép kín, ít hòa đồng Điều đó ảnh hưởng tới khả năng suy luận, phán đoán cũng như tư duy của các em nhất là khả năng phân tích, tổng hợp Ở
các em có một đặc điểm nổi bật đó là ngại suy nghĩ, dễ thừa nhận điều người
khác nói, ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa, diễn biến hoặc hậu quả các
sự việc hiện tượng Đây là một trở ngại không nhỏ trong việc tiếp nhận bài học
từ các văn bản nhật dụng
Chẳng hạn khi được hỏi có thích học văn bản nhật dụng không thì em Triệu Phương Thảo - học sinh lớp 7B trường Phổ thông Dân tộc Nội trú
THCS Phú Lương trả lời rằng “em không thích học văn bản nhật dụng vì
thấy khó hiểu quá nhất là những bài như “Ôn dịch thuốc lá”, “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”, “Ca Huế trên sông Hương”, em không thể nghĩ nhiều như thế”… Với câu hỏi “Văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê nói với chúng ta về vấn đề gì?”, 22/30 em học sinh của lớp 7B trường phổ thông
dân tộc Nội trú THCS Đại Từ đều có cùng một câu trả lời “gia đình là một tổ
ấm quan trọng của mỗi chúng ta, không thể vì bất cứ điều gì mà làm tan vỡ mái ấm gia đình” Tất nhiên đây là câu trả lời đúng Nhưng chỉ có thế thì
chưa đủ, học sinh nếu biết suy luận thì có thể nêu nhiều vấn đề khác ví dụ như: tình cảm anh em ruột thịt đáng trân trọng của Thành và Thủy hoặc vấn
đề Quyền trẻ em, hay trách nhiệm của những người làm cha, làm mẹ… Nhưng vì đây là điều mà cô giáo đã giảng và chốt lại sau bài học, là điều được đưa vào trong phần ghi nhớ của SGK nên các em đã nhớ và nhắc lại y
nguyên như là một thông điệp duy nhất của bài học
* Vốn tiếng Việt của HS còn nghèo nàn: cụ thể là vốn từ còn ít, cách
dùng từ, đặt câu, diễn đạt của các em còn rất hạn chế Đây là một trở ngại khá lớn trong khả năng tiếp nhận nội dung các văn bản nhật dụng
Ngôn ngữ là công cụ của quá trình tư duy và phát triển trí tuệ của con người Ở một người nào đó ngôn ngữ càng phát triển phong phú thì khả năng tư duy càng rõ ràng, theo đó việc diễn đạt những điều suy nghĩ sẽ được mạch lạc
và sâu sắc
Trang 40Văn bản nhật dụng, với đặc điểm của nó là chuyển tải những thông điệp
về cuộc sống xã hội nên có không ít những khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành,
từ ngữ địa phương … để giải thích một cách thấu đáo, rõ ràng các khái niệm, từ ngữ ấy cho các em học sinh người dân tộc thiểu số với vốn tiếng Việt còn nghèo nàn, nặng về thổ ngữ, phát âm không chuẩn không phải dễ dàng gì Mặt khác, khi tham gia vào các hoạt động học tập, học sinh phải đọc, phải phát biểu
ý kiến, trình bày quan điểm, tranh luận…đương nhiên như thế cách diễn đạt sẽ không đạt được mức độ rõ ràng, trong sáng được
Em Đỗ Phương Minh học sinh lớp 7B trường Dân tộc Nội trú Nguyễn
Bỉnh Khiêm thay vì phải viết “Hai anh em Thành và Thủy đã phải chia tay
nhau với những giọt nước mắt đau đớn” đã diễn đạt: “Vấn đề của hai anh em phải chia tay nhau của Thành và Thủy với những giọt nước mắt lẫm liệt” Đây
cũng là lỗi phổ biến mà học sinh trong trường Dân tộc nội trú thường mắc phải
* Còn nhiều trở ngại từ khoảng cách khá xa về lịch sử, về địa lý trong tiếp nhận:
Trong số các văn bản được chọn lựa đưa vào chương SGK, có những văn
bản viết về lịch sử từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như “Cầu Long Biên –
chứng nhân lịch sử”; văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của tác
giả G Mac-két ở lớp 9 được viết sau chiến tranh thế giới thứ hai…Nhưng vì đang được sống trong một đất nước hòa bình, chiến tranh là một cái gì đó rất xa
lạ mà đầu óc của các em không thể hình dung được, việc làm cho các em hiểu
về vai trò và ý nghĩa lịch sử của vấn đề đặt ra trong văn bản là khó khăn không nhỏ đối với giáo viên Với vốn sống và sự hiểu biết ít ỏi của mình học sinh khó hình dung được những vấn đề đặt ra trước đây hàng thế kỷ hoặc cách mình tới nửa vòng trái đất Vì thế trong quá trình tổ chức dạy học phải làm thế nào san bằng được những khoảng cách đó mới hy vọng có được hiệu quả cao Cây cầu Long Biên - Hà Nội làm sao phải trở thành một nhịp cầu nối từ hiện tại tới quá khứ của dân tộc Giá trị lịch sử của cây cầu ở chỗ: là một chứng nhân lịch sử