1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức

98 934 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 16,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm giúp HS lĩnh hội tri thức một cách có căn cứ khoa học, phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức thì việc sử dụng MVT và PMDH là rất cần thiết, chính vì lý do trên, chúng tôi

Trang 1

IMO ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang bước vào một thời đại mới Thời đại mà các phương tiện

thông tin, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, mở rộng giao lưu, hiểu biết trên toàn thế giới, học sinh tiếp thu được nhiều

thông tin đa dạng và phong phú bằng sự tự chủ, sáng tạo của mình Trước tình hình

đó, nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu kiến thức khoa học của học sinh và tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt để làm chủ

đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp một cách toàn diện, sâu sắc

Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra

“Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người có

ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học

và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi ” Để đạt

được mục tiêu đề ra, Hội nghị cũng đã chỉ rõ “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp

Giáo dục - Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học ” Kho tàng tri thức vô hạn, mỗi ngày lại có nhiều những thành tựu mới được phát minh Do đó dạy học hiện đại không chỉ là dạy cho học nắm được kiến thức mà cần phải dạy cho học sinh cách tự lực chiếm lĩnh kiến thức, có tư duy sáng tạo và tích cực trong hoạt động nhận thức để phù hợp với

yêu cầu của thời đại

Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, kinh tế thông tin thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học là một điều rất cần thiết Việc dạy học của chúng ta đã và đang từng bước có những đổi mới đáng kể về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức và phương

Trang 2

tiện Quá trình dạy học cần phải phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học, học

sinh có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề Cùng với đó

là việc nghiên cứu sử dụng các phương tiện dạy học (PTDH) nhằm hỗ trợ hoạt

động giải quyết vấn đề đó của học sinh từng bài cụ thể Vai trò của các PTDH

truyền thống còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Bên cạnh đó,

máy vi tính (MVT) và phần mềm máy tính, cụ thể là phần mềm mô phỏng đã và đang được ưa chuộng rộng rãi trong dạy học

Để đảm bảo cho việc thực hiện đổi mới PPDH thành công thì không thể chỉ

bó hẹp trong phạm vi hoạt động của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong các giờ

lên lớp mà phải bao gồm cả đổi mới phương pháp trình bày nội dung dạy học cụ

thể, đặc biệt là đổi mới các thiết bị hiện đại hỗ trợ cho quá trình dạy học Với giai đoạn công nghệ thông tin (CNTT) phát triển và lên ngôi như hiện nay thì người

GV chúng ta cần phải đặc biệt chú ý đến việc tìm hiểu và sử dụng thành thạo các

trang thiết bị hiện đại MVT và các phần mềm dạy học (PMDH) phương tiện hỗ trợ

cho việc dạy học

Đã có sự đổi mới sách giáo khoa và phương pháp dạy học của các trường

THPT trên cả nước Song về PTDH còn thiếu thốn nhất là những thiết bị có ứng

dụng CNTT và PMDH trong giảng dạy các môn học nói chung và môn vật lý nói riêng Qua hiện thực trên để nâng cao chất lượng, mở mang và tiếp cận với các PTDH hiện đại cho học sinh là rất cần thiết

Đặc điểm của các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bác Ninh tuy đã được

cung cấp một số các thiết bị thí nghiệm phục vụ cho việc giảng dạy nhưng số thiết

bị vẫn còn ít, hay việc sử dụng các thiết bị thí nghiệm chiếm mất nhiều thời gian so

với thời gian một tiết dạy Một số thí nghiệm mang tính trực quan chưa cao, ở đây xét cụ thể phần kiến thức chương “Sóng cơ” (vật lý lớp 12 — nâng cao) đây là

chương học có kiến thức rất quan trọng và thực tiễn cao đối với học sinh Khi học chương này học sinh gặp nhiều khó khăn đó là: khó quan sát được dao động của

các phần tử của môi trường, hay sự truyền đi của sóng âm bằng mắt, chủ yếu học

Trang 3

sinh dựa vào hình vẽ và quá trình tiếp thu kiến thức không có sức thuyết phục, nên

để kiểm chứng được tất cả phương án mà học sinh đề xuất như trong giáo án đã đưa ra thì điều đó càng không khả thi trong giờ học

Nhằm giúp HS lĩnh hội tri thức một cách có căn cứ khoa học, phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức thì việc sử dụng MVT và PMDH là rất cần thiết, chính vì lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài

"Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương sóng cơ (vật lý

lớp l2 nang cao) có sử dụng phần mém day hoc cho hoc sinh THPT theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thúc

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức cụ thể chương “Sóng cơ” (vật lý lớp 12 — nâng cao) có sử dụng PMDH theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích của đề tài chúng tôi đã xác định những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu lý luận dạy học hiện đại về việc phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS trong dạy học vật lý

- Nghiên cứu việc sử dụng MVT và PMDH trong dạy học vật lý

- Điều tra thực trạng đạy- học chương “Sóng cơ” (vật lý lớp 12 — nâng cao) theo chương trình vật lý 12 tại các trường THPT Huyện Thuận Thành — Tỉnh Bắc Ninh

- Xây dựng tiến trình dạy học một số bài trong chương “Sóng cơ” (vật lý lớp

12 — nâng cao) theo phương án của đề tài

- Thực nghiệm sư phạm

4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trong tiến trình dạy - học chương “Sóng cơ” theo chương trình vật lý 12 THPT

Trang 4

- Phạm vi nghiên cứu : Sử dụng thí nghiệm mô phỏng các hiện tượng trong

bài “Sự phản xạ sóng Sóng dừng”, và “Sóng giao thoa” (vật lý lớp 12 — nâng cao)

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận về vấn đề phát huy tính tích cực trong

hoạt động nhận thức của học sinh

- Phương pháp điều tra, thực tiễn về việc dạy và học các kiến thức trong

chương “Sóng cơ” (vật lý lớp 12 — nâng cao) trong dạy học ở các trường THPT

- Thực nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thu được khi thực

nghiệm sư phạm, trên cơ sở đó rút ra kết luận của đề tài nghiên cứu

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được một tiến trình dạy học có sử dụng các PMDH một cách hợp lý thì có thể gây hứng thú, phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học

sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở các trường THPT

7 Cấu trúc luận văn

Gồm 3 phan:

- Phan 1: MO DAU

- Phan 2: NOI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề phát huy tính tích cực hoạt động

nhận thức của học sinh trong dạy học có sử dụng PMDH

Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (vật lý lớp 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm mô phỏng theo hướng phát

huy tính tích cực hoạt động nhận thức cho học sinh THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và kiến nghị

- Phân 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY

TÍNH TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC CÓ SỬ DỤNG PHẦN MỀM DẠY HỌC

1.1 Hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học phát huy tính tích cực hoạt

động nhận thức của học sinh

1.1.1 Khái niệm hoạt động nhận thức

Nhận thức là một quá trình ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này

bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực

khác nhau (cảm giác, tri giác, tưởng tượng, tư duy _ ) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hoạt động khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm) [29]

1.1.2 Khái niệm tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

Tính tích cực nhận thức trong hoạt động là một tập hợp các hoạt động nhằm

làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp

thu tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.[28] 1.1.3 Tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng Nhu cầu nhận thức cái mới, nhu cầu vươn lên một trình độ cao hơn là nguồn gốc tính tích cực hoạt động nhận thức của HS Tích cực là một biểu hiện của ý thức khi đã có ý thức thì HS sẽ tích cực, chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống Trong học tập, tính tích cực nhận thức của HS đặc

Trang 6

trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức [28]

1.1.4 Những biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

HS là chủ thể của quá trình học tập, việc học tập chỉ thực sự đạt kết quả cao

nếu HS là người có ý thức chủ động tích cực và sáng tạo Tính tích cực ở đây là thái độ của HS muốn nắm vững kiến thức, hiểu sâu sắc nội dung học tập bằng mọi

cách và cố gắng để vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống Tính tích cực hoạt động nhận thức của HS biểu hiện qua các dấu hiệu sau:

a HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ xung các

câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra

b HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kế những vấn đề GV trình bày chưa đủ rõ

c HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận

thức các vấn đề mới

d HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy

từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học môn học

Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu hiện

về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm

ra lời giải hay cho một bài tập khó Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở HS các lớp dưới, kín đáo ở HS các lớp trên

* Phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức:

Tuỳ theo việc huy động và mức độ huy động các chức năng tâm lý mà người

ta phân ra ba cấp độ tích cực:

- Tính tích cực tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện

Trang 7

- Tính tích cực tìm tòi: Đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm cách độc

lập giải quyết vấn đề, tích cực về mặt nhận thức, óc sáng tạo, lòng khao khát hiểu

biết, hứng thú học tập

- Tính tích cực sáng tạo: là cấp độ cao nhất của tích cực, đặc trưng bằng sự

khẳng định con đường riêng của mình, không giống những con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn mực, để đạt được mục đích Dĩ nhiên mức

độ sáng tạo của HS là có hạn nhưng đó là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về sau này [28]

* Các nguyên nhân của tính tích cực hoạt động nhận thức:

Tính tích cực nhận thức của HS nảy sinh trong quá trình học tập là kết quả của nhiều nguyên nhân; có nhiều nguyên nhân phát sinh trong lúc học tập, có nhiều nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách Nhìn chung, tính tích cực phụ thuộc vào các yếu tố sau: hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khoẻ, môi trường Trong các nhân tố trên, hiện nay việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS chủ yếu đang tập trung vào hình thành va phát triển hứng thú nhận thức của HS vì:

- Nó có thể hình thành ở HS một cách nhanh chóng và bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học

- Có thể gây hứng thú đối với HS ở mọi lứa tuổi

- Điều quan trọng hơn cả là nó nằm trong tầm tay của người GV Người GV

có thể điều khiển hứng thú của HS qua các yếu tố của quá trình dạy học như: Nội

dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức; qua các bước lên lớp: mở bài,

bài giảng mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức; qua mối quan hệ thầy trò

V.V,

Đối với HS, hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình học tập mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách Có hứng

Trang 8

thú học tập làm cho học tập trở thành nguồn vui, hứng thú là yếu tố dẫn tới tự giác

Hứng thú và tự giác là những yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực, độc lập sáng tạo, ngược lại phong cách học tập tích cực và độc lập sáng tạo có ảnh hưởng tới sự phát triển hứng thú và tự giác

1.1.5 Biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS THPT cần phải chú ý đến đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này là: giàu mơ ước, giàu nhiệt huyết, vì vậy thường

đi đôi với sự ham hiểu biết, thích khám phá, chinh phục những điều mới mẻ Ở giai đoạn này, hoạt động học tập có tính chất quyết định xu hướng nghề nghiệp của các em, vì vậy thái độ của các em đối với việc học tập cũng khác với các giai đoạn trước Càng về cuối cấp thái độ của HS đối với các môn học càng trở nên có

tính lựa chọn hơn, ở các em hình thành hứng thú học tập gắn liền với mục đích và khuynh hướng nghề nghiệp

* Một số biện pháp đang được các nhà sư phạm quan tâm:

Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS THPT cần phải chú ý đến

tính chất độc đáo riêng của quá trình nhận thức ở HS và đặc điểm tâm lý lứa tuổi này Vật lý là bộ môn có nhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực hoạt động

nhận thức của HS qua một số biện pháp sau:

- Cho HS biết ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tâm quan trọng của vấn đề

Trang 9

- Sử dụng các thiết bị dạy học, đặc biệt là sự hỗ trợ của PMDH để kích thích hứng thú và tổ chức hoạt động cho HS

- Có các hình thức khen thưởng, động viên kịp thời với HS có thành tích

- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và các tình huống mới, kết hợp với giáo dục hướng nghiệp

- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập

Như vậy, để phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của HS THPT với bộ

môn Vật lý người GV phải xác định động cơ, hứng thú và nhu cầu học tập cho các

em Mặt khác Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm, GV có thể tạo ra những

tình huống bất ngờ kích thích nhu cầu đi tìm nguyên nhân khoa học các tình

huống phải lựa chọn, sử dụng các thí nghiệm một cách khoa học để HS phải chú

ý, tạo hứng thú học tập và bắt buộc tư duy tìm cách giải quyết vấn đề, chính những

điều đó sẽ phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức trong học tập vật lý của HS

1.1.6 Cơ sở khoa học của việc thiết kế hoạt động dạy học kiến thức vật lý theo

hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

Để việc dạy học môn vật lý đạt hiệu quả cao thì trước hết người GV phải tìm hiểu lôgic khoa học, yêu cầu của chương trình, cấu trúc nội dung kiến thức trong tài liệu giáo khoa, điều kiện vật chất, thời gian, trình độ phát triển và đặc điểm của

HS lớp học Đó chính là cơ sở cần thiết để người GV xác định phương án tổ chức, chỉ đạo định hướng học tập trong mỗi tiết học cụ thể Điều đó được thể hiện lần lượt bằng các hoạt động dưới đây của người GV khi thiết kế tiến trình hoạt động đạy học một kiến thức cụ thể:

a Xác định mục tiêu yêu cầu của tiết học

Để xác định được phương án tổ chức, chỉ đạo, định hướng hoạt động học tập của HS trong mỗi tiết học cụ thể, nghĩa là xác định lôgic của quá trình dạy học khi soạn bài người GV phải suy nghĩ trả lời được các câu hỏi sau:

Trang 10

- HS cần lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng gì?

- Con đường để HS chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng đó như thế nào?

- Phải chỉ đạo hành động của HS và định hướng hành động đó như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng đó một cách sâu sắc, vững

chắc, đồng thời đạt được hiệu quả giáo dục?

- Kết quả sau khi học mà HS cần thể hiện ra được là gì?

Câu trả lời các câu hỏi trên chính là mục tiêu của tiết học cần đạt được

b Xác định cấu trúc nội dung và tiến trình xây dựng kiến thức

Việc phân tích cấu trúc nội dung kiến thức vật lý cần dạy đòi hỏi người GV

trả lời được câu hỏi sau:

- Kiến thức cần dạy bao gồm các thành tố nội dung nào? (Có thể là một trong

các thành tố nội dung: Định nghĩa thuật ngữ, sự kiện, thuộc tính, mối liên hệ, quy luật, nguyên lý, phương pháp)

- Tnnh tự lôgic của các thành tố nội dung đó như thế nào? (sắp sếp các thành

tố nội dung đã diễn đạt theo đúng trình tự lôgic của tiến trình nhận thức xây dựng

chúng)

Việc lập sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức đòi hỏi trả lời được các câu hỏi:

- Vấn đề đặt ra như thế nào? (diễn đạt chính xác câu hỏi mà việc giải đáp dẫn

tới thành tố nội dung kiến thức cần xây dựng)

- Câu trả lời tương ứng với mỗi câu hỏi đã đặt ra như thế nào? (Diễn đạt chính xác các thành tố nội dung kiến thức xây dựng được)

- Tiến trình hành động để xây dựng được mỗi thành tố nội dung kiến thức và

toàn bộ chính thể kiến thức là như thế nào? (Xác định chính xác các hành động cần thực hiện và trình tự của chúng)

c Xác định tiến trình hoạt động dạy học cụ thể

Trang 11

Việc xác định phương pháp (tiến trình hoạt động) dạy học cụ thể một kiến thức Vật lý nào đó đòi hỏi GV suy nghĩ, tìm cách giải đáp tốt nhất các câu hỏi sau:

- Kiểm tra, ôn tập hay bổ xung thêm cái gì và như thế nào, để đảm bảo cho học sinh có trình độ tri thức xuất phát cần thiết?

- Lầm thế nào để giác ngộ vấn đề, định hướng mục tiêu hoạt động học?

- Lầm thế nào để lôi cuốn HS tham gia giải quyết vấn đề (thực hiện nhiệm vụ

đặt ra); kiểm tra, định hướng hành động nhận thức cụ thể của HS như thế nào?

- Tổng kết và kiểm tra tri thức như thế nào?

Việc xác định tiến trình hoạt động dạy học cụ thể còn đòi hỏi GV xác định rõ

nguồn truyền đạt thông tin (lời nói, bảng, sách, thí nghiệm, đồ dùng trực quan, các

PMDH .); mức độ độc lập của HS trong quá trình học tập, chiếm lĩnh tri thức (GV trình diễn, hay đòi hỏi HS hành động đáp ứng yêu cầu đặt ra; đòi hỏi HS thu

nhận tái tạo theo cái có sắn, hay đòi hỏi HS phải tham gia tìm tòi, phát hiện, giải

quyết vấn đề); định rõ trình tự lôgic của các hành động dạy và học (bao gồm cả

cách sử dụng PTDH, tiến hành thí nghiệm , trình bày bảng ) [28]

1.2 Vai trò của thí nghiệm vật lý trong tổ chức hoạt động nhận thức của học

sinh [21]

Thí nghiệm Vật lý (TNVL) là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có

thể thu nhận được tri thức mới [21]

1.2.1 Các loại thí nghiệm được sử dụng trong dạy học vật lý

Thí nghiệm vật lý được dùng để dạy học trong trường THPT có hai loại: thí nghiệm biểu diễn (thí nghiệm do giáo viên tiến hành là chính, tuy nhiên có thể có

sự hỗ trợ của học sinh) và thí nghiệm thực tập (thí nghiệm do học sinh tự tiến hành dưới sự hướng dẫn của GV)

Trang 12

- Thí nghiệm biểu diễn được GV tiến hành ở trên lớp, trong các giờ học

nghiên cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của học sinh Thí nghiệm biểu diễn có các loại sau: Thí nghiệm mở đầu, thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng (thí nghiệm khảo sát), thí nghiệm minh họa (kiểm chứng), thí nghiệm củng cố

- Thí nghiệm thực tập của học sinh do học sinh tự tiến hành trên lớp (trong phòng thí nghiệm), ngoài lớp, ngoài nhà trường hoặc ở nhà với các mức độ tự lực khác nhau, thí nghiệm thực tập được chia ra làm ba loại: Thí nghiệm trực diện, thí nghiệm thực hành, thí nghiệm và quan sát vật lý ở nhà

Tóm lại, trong hệ thống thí nghiệm trên đây ta thấy dù thực hiện dưới hình thức nào, phương pháp nào thì thí nghiệm vật lý cũng đóng một vai trò to lớn trong quá trình dạy và học vật lý

1.2.2 Vị trí của thí nghiệm trong tổ chúc hoạt động nhận thức của học sinh

Các loại thí nghiệm vật lý mà chúng tôi trình bày ở trên nằm ở ba pha của tiến trình tổ chức hoạt động nhận thức theo hướng tích cực, tự lực sáng tạo của học

sinh [21]

Ở pha thứ nhất thí nghiệm chủ yếu được dùng để tạo tình huống có vấn dé,

tạo được nhu cầu hứng thú học tập của học sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức, do đó thường ngắn gọn, có hiệu lực ngay mà không quá phức tạp, nên ở pha này giáo viên thường dùng thí nghiệm mở đầu hay học sinh tiến hành thí

nghiệm trong thời gian rất ngắn

Ở pha thứ hai: thí nghiệm được dùng là thí nghiệm nghiên cứu bao gồm cả

hai loại thí nghiệm (thí nghiệm nghiên cứu khảo sát và thí nghiệm nghiên cứu

kiểm chứng).

Trang 13

Ở pha thứ ba: thí nghiệm được dùng để củng cố, nhằm giúp học sinh vận

dụng kiến thức đã học để giải thích, dự đoán hiện tượng, qua đó nắm vững kiến

thức đã học hoặc có thể dùng thí nghiệm quan sát ở nhà

Như vậy, thí nghiệm vật lý giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nó là cơ sở để xây dựng, kiểm chứng kiến thức vật lý Do đó, nó là yếu tố không thể thiếu được trong đạy học vật lý Thí nghiệm kết hợp với sự phân tích lý thuyết làm cho học sinh hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa các khái niệm, định luật khái quát với thực tiễn, làm kiến thức học sinh thu được vững chắc hơn, đồng thời phát triển tư duy vật lý ở học sinh

1.2.3 Các đặc điểm của thí nghiệm vát lý

Các điều kiện của thí nghiệm phải được lựa chọn và thiết lập có chủ định, sao cho thông qua thí nghiệm có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thiết

Mỗi thí nghiệm có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: đối tượng cần

nghiên cứu, phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện

quan sát, đo đạc để thu nhận các kết quả của sự tác động

Các điều kiện của thí nghiệm có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lượng, trong khi các đại lượng khác giữ không đổi

Các điều kiện của thí nghiệm phải được khống chế, kiểm soát đúng như dự định nhờ sử dụng các thiết bị có độ chính xác ở mức độ cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm tối đa ảnh hưởng của các nhiễu

Đặc điểm đặc biệt quan trọng của thí nghiệm là tính có thể quan sát được các biến đổi của đại lượng nào đó do sự biến đổi của đại lượng khác Điều này đạt

được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát,

đo đạc

Trang 14

Có thể lặp lại thí nghiệm tức là với các thiết bị thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm như nhau thì khi bố trí lại hệ thí nghiệm, tiến hành lại thí nghiệm, thì hiện

tượng, quá trình vật lý phải diễn ra trong thí nghiệm giống như ở các lần thí

nghiệm trước đó

1.2.4 Thí nghiệm mô phỏng và thí nghiệm đo [L6]

Một số đặc điểm các thí nghiệm vật lý xây dựng trên máy tính hiện nay

Các thí nghiệm vật lý xây dựng hỗ trợ cho các bài giảng về vật lý được xây

dựng trên máy tính hiện nay chia thành 2 hướng: Thí nghiệm mô phỏng và thí

nghiệm ảo

1.2.4.1 Thí nghiệm mô phỏng nhờ máy vì tính

Trong dạy học vật lý, mô phỏng nhờ máy vi tính có thể xuất phát từ hai cơ sở

khác nhau: hoặc từ các tiên đề hay các mô hình (các phương trình hay các nguyên lí của vật lý) được viết dưới dạng toán học (một cách định lượng) hoặc từ các mối quan hệ có tính chất định tính giữa các đại lượng vật lý thuộc đối tượng

nghiên cứu Tùy theo cơ sở xuất phát khác nhau mà kết quả mô phỏng sẽ khác

nhau Nếu xuất phát từ các tiên đề hay các mô hình được viết dưới dạng toán học (một cách định lượng) thì việc mô phỏng sẽ cho kết quả hoàn toàn định lượng

Nếu xuất phát từ các mối quan hệ có tính chất định tính thì kết quả chỉ mang ý

nghĩa định tính

Loại mô phỏng xuất phát từ các tiên đề hay các mô hình (các phương trình hay các nguyên lí vật lý) được viết dưới dạng toán học, thông qua vận dụng các phương pháp tính toán trên mô hình nhờ máy vi tính được gọi là mô phỏng định lượng hay mô phỏng chính xác Trong loại mô phỏng này, các đối tượng được mô phỏng biến đổi tuân theo đúng các phương trình, nguyên lí vật lý Các ví dụ về mô phỏng chính xác có thể nêu ra ở đây như:

Trang 15

- Dựa trên các phương trình về sự biến đổi hệ thống 3 từ trường do 3 dòng điện xoay chiều của dòng ba pha gây ra mà ta mô phỏng từ trường tổng hợp của 3

từ trường đặt lệch nhau 120” trong không gian Kết quả mô phỏng cho ta từ trường tổng hợp là một từ trường quay đều với độ lớn không đổi (Hình 1)

- Dựa trên các phương trình về sự biến đổi của dòng điện xoay chiều ¡, điện

áp xoay chiều u mà ta mô phỏng sự biến đổi của các đại lượng này nhờ máy vi

tính (Hình 2)

Hình 1: Mô phỏng từ trường quay trong, Hình 2: Mô phỏng sự biến đổi của ¡ và u

động cơ không đồng bộ ba pha dòng xoay chiều

Còn loại mô phỏng dựa trên các mối quan hệ định tính của các đại lượng vật

lý, nhờ các phần mềm mà mô phỏng các mối quan hệ đó, gọi là mô phỏng định

tính hay hay mô phỏng không chính xác Loại mô phỏng không chính xác này thường sử dụng trong các trường hợp:

- Không cần thiết phải mô phỏng chính xác

- Việc mô phỏng chính xác không cho phép với các lí do khác nhau như:

không biết được mối quan hệ định lượng giữa các đại lượng vật lý cần mô phỏng

hoặc có biết được thì việc lập trình mô phỏng cũng hết sức khó khăn, mất nhiều

thời gian

Trang 16

- Ví dụ về loại mô phỏng không chính xác đã được sử dụng trong dạy học vật

lý có thể kể ra ở đây như:

- Mô phỏng quan hệ giữa vận tốc của phân tử khí với nhiệt độ: ở nhiệt độ

càng cao, vận tốc của các phân tử khí càng lớn (Hình 3)

- Mô phỏng về sự biến đổi số đường cảm ứng từ gửi qua thiết diện khung dây dẫn kín: khi đưa thanh nam châm vĩnh cửu tiến vào lòng ống dây, số đường cảm ứng từ gửi qua thiết diện khung dây tăng (Hình 4)

Hình 3: Mô phỏng định tính về quan hệ giữa Hình 4: Mô phỏng định tính về sự biến đổi

vận tốc trung bình của phân tử khí với nhiệt số đường cảm ứng từ gửi qua thiết diện

Với cách phân loại như vậy, ta có hai loại mô phỏng: mô phỏng định lượng (hay gọi là mô phỏng chính xác) và mô phỏng định tính (hay gọi là mô phỏng không chính xác) Trong dạy học vật lý, các chương trình máy tính mô phỏng định

lượng được gọi là phần mềm mô phỏng định lượng (chính xác), các chương trình

máy tính mô phỏng định tính được gọi là phần mềm mô phỏng định tính (không chính xác)

Trang 17

Úng với từng loại phân mềm mô phỏng, trong day hoc vat ly, người ta sử dụng chúng với các mục đích khác nhau

Phân mềm mô phỏng định lượng có thể được sử dụng nhằm hai mục đích

khác nhau:

- Minh họa các hiện tượng, quá trình, trạng thái vật lý của đối tượng nghiên cứu không thể quan sát hay khó tưởng tượng một cách trực quan để học sinh hình dung đúng, chính xác hiện tượng, quá trình, mối quan hệ _ vật lý cần nghiên cứu

- Mô phỏng các hiện tượng, quá trình, trạng thái vật lý của đối tượng

nghiên cứu trong phạm vi mà phương pháp nghiên cứu lí thuyết hay phương pháp

nghiên cứu thực nghiệm chưa thể nghiên cứu được (vì lí do nào đó), để dự đoán

các hiện tượng, quá trình, trạng thái vật lý mới

Còn việc phần mềm mô phỏng định tính trong dạy học vật lý chỉ nhằm mục

đích minh họa các hiện tượng, quá trình, trạng thái vật lý của đối tượng nghiên cứu không thể quan sát hay khó tưởng tượng một cách trực quan, qua đó giúp học sinh hình dung đúng hiện tượng, quá trình, mối quan hệ vật lý cần nghiên cứu

Thí nghiệm mô phỏng bằng máy vi tính có nhiều điểm chung với thí nghiệm

thật Điều đó được chỉ ra ở bảng so sánh sau:

Nghiên cứu trên vật gốc Nghiên cứu trên mô hình

(quá trình, hiện tượng) (về quá trình, hiện tượng)

Công cụ nghiên cứu là thiết bị thí | Công cụ nghiên cứu là máy vi tính,

nghiệm, dụng cụ đo chương trình phần mềm

Các thao tác nghiên cứu: Thay đổi | Các thao tác nghiên cứu: Thay đổi giá trị giá trị các đại lượng để đo giá trị các | các biến số để tính toán giá trị các biến

Trang 18

đại lượng khác trong thí nghiệm - | số khác (thuộc mô hình) nhờ phần mềm

Phân tích, xử lí dữ liệu để đưa ra dự | Phân tích, xử lí dữ liệu để đưa ra dự đoán đoán khoa học hay kiểm chứng một | khoa học hay minh hoạ, mô phỏng một

Như vậy, các thí nghiệm thuộc loại mô phỏng này xét về nguồn gốc, được

xây dựng không xuất phát từ các dữ liệu gốc của các quá trình và hiện tượng xảy

ra thật trong tự nhiên

Do đó: “Tính chân thật của các thí nghiệm này không cao Xét về phương diện nhận thức thì các thí nghiệm mô phỏng này không được sử dụng làm các thí nghiệm nghiên cứu khảo sát cũng như không được dùng làm các thí nghiệm kiểm

tra tính đúng đắn của một giả thuyết khoa học nào đó, chỉ được sử dụng làm các

thí nghiệm minh họa sau khi các qui luật vật lý đó được tìm ra từ con đường lí

thuyết hay con đường thực nghiệm”

Điều khác nhau về bản chất giữa mô phỏng bằng máy vi tính và thí nghiệm

thật là ở các điểm sau:

Mô phỏng nhờ máy vi tính xuất phát từ các tiên đề hay các mô hình (các phương trình hay các nguyên lí ) được viết dưới dạng toán học hoặc xuất phát từ các mối quan hệ định tính giữa các đại lượng, thông qua vận dụng các phần mềm

cài đặt ở máy vi tính để minh hoạ các hiện tượng, quá trình một cách trực quan để

dé quan sát, nghiên cứu hoặc để dự đoán về sự tồn tại một trạng thái, mối quan hệ

có tính qui luật mới trong hiện tượng, quá trình nghiên cứu khi cho các biến số,

các đại lượng trong các phương trình mô tả mô hình thay đổi Các kết quả rút ra

khi nghiên cứu trên các mô hình thông qua các chương trình mô phỏng trên máy

vi tính là các kết quả rút ra trong điều kiện lí tưởng Các điều kiện này được qui

định khi xây dựng nên mô hình Còn thí nghiệm thật xuất phát từ việc nghiên cứu

Trang 19

các quá trình, hiện tượng trong điều kiện thực Các kết quả rút ra trong thí nghiệm thật là các kết quả rút ra trong điều kiện thực

Nhưng đối với hầu hết các thí nghiệm vật lý, người ta lại thường và cần sử

dụng chúng với tư cách là các thí nghiệm hoặc là thí nghiệm nghiên cứu khảo sát, hoặc là thí nghiệm kiểm tra tính đúng đắn của một giả thuyết khoa học nào đó

Vì vậy, cần xây dựng các thí nghiệm vật lý sao cho: phải đảm bảo tính chân thật của các hiện tượng và quá trình vật lý nghiên cứu và phải đảm bảo được tính tương tác của người học đối với đối tượng nghiên cứu

Đó là một trong các yêu cầu về mặt tổ chức quá trình nhận thức của người

học

1.2.4.2 Thực tiên việc phát triển và sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý Tại các nước phát triển việc sử dụng máy vi tính và phần mềm hỗ trợ dạy học được thực hiện từ rất sớm Hiện nay đã rất có nhiều công ty nổi tiếng trên thế giới

về lĩnh vực sản xuất các phần mềm dạy học nhu PHYWE, ELWE, LEYBOLD

(CHLB Đức), hãng PASCO (Mỹ) Các sản phẩm này đã được cung cấp tới nhiều nước trên thế giới, đó là các thiết bị thí nghiệm ghép nối với máy vi tính Ngoài ra, nhiều nước trên thế giới còn nghiên cứu sản xuất các sách giáo khoa điện tử (kèm theo với các sách giáo khoa truyền thống), các sách điện tử có nhiều ưu điểm: khả năng lưu trữ thông tin lớn (một đĩa CD-Rom dung lượng cỡ 700 MB có thể chứa nội dung của 300.000 trang sách), tìm kiếm thông tin trên đĩa nhanh và chính xác, các thông tin lưu trữ trên đĩa rất phong phú và đa dạng, các đĩa này có thể đễ dàng

vận chuyển và độ bên cao Các phần mềm dạy học bộ môn đã được chú trọng phát

triển trên thế giới Thực tiễn ở các nước phát triển cho thấy rằng học sinh có thể

tiếp thu các thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) ở các mức độ khác nhau trong từng cấp học Việc học tập với máy vi tính ở nhiều mức độ khác nhau đều

góp phần tạo điều kiện tốt cho học sinh làm quen với phong cách lao động trong

một xã hội tự động hoá Đối với bộ môn vật lý, nhiều phần mềm dạy học đã được

Trang 20

sử dụng trong các trường học Nâng cao hiệu quả dạy học nhờ việc sử dụng CNTT

vẫn là một hướng cơ bản của công nghệ hoá quá trình dạy học ngày nay

Ở Việt Nam, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới trong hơn một thập niên

qua đã tạo tiên đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào nhà trường Phan mềm dạy học đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường với nhiều mức độ khác nhau và nhiều đề tài như phần mềm phân tích Video, phần mềm Quang hình

học đã được xây dựng Hiện nay ở một số trường đại học sư phạm, cao đẳng sư

phạm, trong chương trình đào tạo, sinh viên vật lý đã được học nhiều học phần về

tin học cũng như các môn ứng dụng CNTT để làm phương tiện dạy học vật lý Đây là bước chuẩn bị đội ngũ giáo viên để có thể sẵn sàng tiếp cận với các phương tiện dạy học mới trong giảng dạy bộ môn vật lý ở nhà trường phổ thông sau khi ra trường Trong các môn học về nghiệp vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy vật lý

đã có các học phân về “Ứng dụng tin học trong dạy học vật lý”, học phần về

đ

“Phương tiện dạy học vật lý” Trong các học phân này đều đã đưa ra các ứng dụng

cụ thể của CNTT trong việc xây dựng, phát triển, hiện đại hoá các phương tiện dạy học như các phần mềm dạy học, các thí nghiệm vật lý có sự trợ giúp của máy vi tính

Những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những kết quả khả quan của việc ứng dụng CNTT vào dạy học trên thế giới và trong nước những năm qua đã khẳng định rằng việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu của CNTT vào việc phát triển, hiện đại hoá các phương tiện dạy học nhằm hiện đại hoá nhà trường, gắn hoạt động

giáo dục với thực tiễn của đời sống xã hội là một đòi hỏi có tính tất yếu ở tất cả

các nước trên thế giới

1.2.4.3 Các yêu cầu của một bài Thí nghiệm thực hành vật lý đo [L7]

Trước hết, thí nghiệm ảo thuộc loại phần mém dạy học nên phải đáp ứng các

yêu cầu của một phần mềm dạy học nói chung.

Trang 21

Thứ hai, bài Thí nghiệm vật lý ảo (TNVL ảo) phải đáp ứng đây đủ những

mục tiêu và nội dung của một bài thí nghiệm vật lý

Thứ ba, với đặc trưng là một bài thí nghiệm vật lý ảo nên trong bài thí

nghiệm, những yêu cầu đối với một thí nghiệm ảo phải thể hiện rõ và đặc biệt phải đảm bảo tính thật và tính tương tác

Thứ tư, phương pháp và hình thức tổ chức một bài thí nghiệm ảo dù là GV (giáo viên) trình diễn hay hướng dẫn HS (học sinh) tự làm các thí nghiệm ảo theo hướng tích cực hóa quá trình nhận thức của HS thì người GV phải thực hiện 3 cong viéc sau:

+ Phải xác định được vị trí của thí nghiệm ảo trong tiến trình bài học, tình huống xuất hiện thí nghiệm ảo trong khuôn khổ phương pháp dạy học mà GV lựa chọn sử dụng

+ Phải xây dựng hệ thống câu hỏi với tư cách là những lệnh điều khiển hoạt

động nhận thức của HS Có 3 loại câu hỏi chính, đó là: câu hỏi định hướng HS

quan sát; câu hỏi định hướng HS tư duy, phát hiện, phán đoán qua hình thức thảo

luận nhóm; câu hỏi định hướng HS xử lý thông tin, tổng kết, rút ra kết luận

+ Có thể sử dụng phối hợp PMDH với các phương tiện dạy học khác khi cần

thiết

Một tiết học thuộc loại hình thành tri thức mới, với việc sử dụng thí nghiệm

ảo, được thực hiện theo trình tự: thông báo vấn đề cần nghiên cứu cho HS, định hướng và chuẩn bị tinh thần cho HS vào quá trình nghiên cứu công việc cụ thể Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, xác định các bước tiến hành thí nghiệm ảo theo kế

hoạch đã xây dựng HS đóng vai trò của nhà nghiên cứu khoa học trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua GV, tác động đến các đối tượng nghiên cứu, khám phá các

mối quan hệ bản chất, nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng, từ đó rút ra kết luận

Thông báo kết quả và kết luận Trong trường hợp GV không trình diễn thí nghiệm

ảo mà để HS tự làm thí nghiệm thì sau khi kết thúc thí nghiệm, HS thông báo kết

Trang 22

quả thí nghiệm, kiểm định giả thuyết đã nêu, phát biểu kết luận GV kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu của HS, khẳng định tính đúng đắn của kết luận Ngoài ra có thể tổ chức loại thí nghiệm này không tại các lớp học truyền

thống, mà thực hiện thông qua một môi trường học tập ảo với các trang thiết bị

phương tiện thông tin hiện đại như: mạng Internet, mạng Lan, máy tính, đĩa CD

1.3 Phân mềm dạy học - Yêu cầu chung đối với phân mềm dạy học

1.3.1 Khái niệm phần mêm dạy học [31]

Phần mềm dạy học (PMDH) là phương tiện chứa chương trình để ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy học theo các mục tiêu đã định

Khác với các phương tiện dạy học khác, PMDH là một dạng vật chất đặc biệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực hiện các thao tác xử lý theo một thuật toán xác định từ trước Các PMDH được lưu trữ trong

các thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính như trong các đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn, không cồng kênh, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấp dẫn Tuỳ thuộc vào từng môn

học cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng để phục vụ cho dạy và học môn đó,

do vậy có các PMDH bộ môn Tuỳ thuộc vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảm nhận có thể phân chia các PMDH thành các loại khác nhau Trong dạy học vật lý có thể phân chia các PMDH thành các nhóm sau:

- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng

- Phần mềm xử lý các số liệu thực nghiệm dùng hỗ trợ cho các thí nghiệm vật lý: thường gọi là phần mêm hỗ trợ thí nghiệm vật lý

- Phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hoá kiến thức của từng phần, từng

chương trong sách giáo khoa

- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh

Trang 23

Các PMDH có thể được sử dụng với mọi chức năng lý luận dạy học Có thể

sử dụng phần mềm trong các giai đoạn sau:

+ Nêu vấn đề nghiên cứu, gợi động cơ học tập tích cực cho học sinh, củng cố

trình độ kiến thức và kỹ năng xuất phát

+ Nghiên cứu nội dung mới

+ Ôn tập các nội dung đã học

+ Luyện tập, củng cố kỹ năng, rèn luyện kỹ xảo cho học sinh

+ Kiểm tra kiến thức học sinh

1.3.2 Những yêu cầu chung đối với PMDH

Phân mềm dạy học (PMDH) thuộc một trong các thiết bị dùng để dạy học, vì vậy một phần mềm dạy học bất kỳ đều phải đáp ứng được các yêu cầu của một thiết bị dạy học Đối tượng sử dụng các PMDH chính là giáo viên và học sinh, do

vậy để PMDH phát huy được hiệu quả nó phải đảm bảo những yêu cầu nhất định

sau:

Tinh khoa hoc

- Các phần mềm dạy học được tạo ra về mục đích là khắc phục các nhược

điểm của phương tiện dạy học truyền thống, ví dụ trong chuyển động ném, rơi, dao động của con lắc lò xo thì hiện tượng xảy ra quá nhanh, dùng phương tiện dạy

truyền thống rất khó khăn, vậy nếu tạo ra phần mềm cho phép dừng quá trình của

chuyển động sẽ giúp cho việc nghiên cứu dễ dàng hơn Vì thế, nội dung dạy học

chứa đựng trong chương trình phải bảo đảm tính chính xác khoa học Các văn bản,

biểu đồ, đồ thị phải chính xác Văn phong trình bày phải rõ ràng, trong sáng, cô

đọng, dễ hiểu

Tính sư phạm và thẩm mỹ

Trang 24

- Các thông tin mà PMDH đề cập đến phải phù hợp với nội dung dạy học mà phần mềm dạy học đó đảm nhận Phần mềm phải có phần giới thiệu để chỉ ra cho

người dùng biết phạm vi sử dụng của nó Cụ thể là: phần mềm dùng để dạy chương nào, bài nào trong chương trình vật lý; phần mềm được sử dụng vào giai

đoạn nào của quá trình dạy học, được sử dụng để nêu vấn đề nghiên cứu, để cung

cấp tri thức mới, để ôn tập tổng kết hay dùng để kiểm tra kiến thức học sinh Các thông tin chứa đựng trong chương trình phải phù hợp với nội dung trong sách giáo khoa vật lý

- Các PMDH phải giúp tăng cường tính trực quan Các văn bản, hình vẽ, đồ thị, biểu bảng, lời nói, phim được trình bày dưới dạng chuẩn, mỹ thuật Nhiều phần mềm dạy học mở có thể được sửa đổi theo ý tưởng của từng người dạy và

người học, ví dụ như các phần mềm cho phép soạn, sửa đổi các câu hỏi trắc

nghiệm (Violet chẳng hạn)

- Đặc biệt, PMDH được xây dựng sao cho hỗ trợ quá trình tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh theo lí luận dạy học hiện đại Tính kỹ thuật

- Trước hết là các yêu cầu về mặt lựa chọn công cụ Một PMDH là sản phẩm

của sự phối hợp khả năng lập trình tốt của nhà tin học với những kiến thức về mặt

sư phạm của người giáo viên vật lý Nếu người giáo viên vật lý có khả năng lập trình trên máy vi tính để viết nên các PMDH thì tốt nhất Bởi vì khi đó người giáo viên sẽ chủ động thiết kế chương trình theo đúng ý đồ tổ chức thi công bài giảng

và do vậy khi vận dụng vào giảng dạy sẽ phát huy được hiệu quả của phần mềm

Trang 25

sư phạm của mình để thể hiện trong bài giảng của mình thông qua PMDH do chính họ xây dựng nên

- Các PMDH phải có độ linh hoạt cao Yêu cầu này thể hiện ở chỗ PMDH

cho phép người sử dụng có thể thay đổi những thông số của chương trình một cách

dễ dàng để giải quyết một nội dung học tập hay một bài tập mới Một PMDH sẽ

trở thành mềm dẻo nếu như nó cho phép lựa chọn những chế độ làm việc khác nhau trên các thế hệ máy khác nhau hay trên các hệ điều hành khác nhau

- Yêu cầu về tổ chức quản lý, tìm kiếm và truy cập thông tin Khi sử dụng

PMDH trong giảng dạy và học tập thì thông thường người dùng phải tìm kiếm thông tin, truy cập đến kho dữ liệu để lấy các thông tin cần thiết phục vụ mục đích

sử dụng của mình Để giải quyết tốt nhu cầu này thì đòi hỏi việc tổ chức quản lý

thông tin trong các phần mềm phải thật khoa học

- Yêu cầu về sự ổn định của các phần mềm Khi sử dụng thì người dùng có thể bấm các phím ngoại lai ngoài ý muốn của người lập trình Do vậy, người lập

trình phải dự kiến được những khả năng này để đưa vào chương trình sao cho

tránh được hiện tượng "treo máy” khi chạy chương trình, bảo đảm chương trình chạy ổn định

- Yêu cầu cuối cùng đối với các phần mềm dạy học là tính dễ sử dụng Trong

phần mềm cần đưa vào các phím nóng (hotkey), các phím tổ hợp, cho phép sử dụng thiết bị chuột để người dùng có thể dễ dàng thực hiện các lệnh và truy cập thông tin

Tính kinh tế

Đối với phần mềm dạy học, ta có thể tạo ra nhiều phiên bản một cách nhanh

chóng, dễ dàng và với chỉ phí rất thấp Ngoài ra còn có thể trao đổi và truyền tải dé dàng qua Internet

1.3.3 Một số hỗ trợ của MTV và các PMDH trong dạy học vật lý [13].

Trang 26

Ngày nay, MVT là một công cụ hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống như: kinh tế, chính trị, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, vui chơi

giải trí, Trong nhà trường cũng vậy, MVT là công cụ hữu hiệu để quản lý hồ sơ,

hỗ trợ việc tổng kết, đánh giá, xếp loại HV, hỗ trợ day hoc, Cu thé trong day học, máy tính ngày càng thể hiển rõ rệt vai trò của nó Bên cạnh những ứng dụng thường thấy trong dạy học các môn học nói chung như: Trình diễn bài giảng, kiểm

tra đánh giá bằng MVT, xử lí và tính toán các kết quả bằng MVT, thì trong dạy

hoc vat ly MVT con được ứng dụng trong các lĩnh vực quan trọng sau:

* Mô phỏng các đối tượng vật lý cần nghiên cứu

* Hỗ trợ cho việc xây dựng mô hình

* Hỗ trợ các thí nghiệm vật lý

* Hỗ trợ cho việc phân tích băng video ghi các quá trình vật lý thực

Do MVT là một thiết bị đa phương tiện có thể ghép nối với các thiết bị khác

trong nghiên cứu vật lý và có tinh nang hết sức ưu việt trong việc thu thập dữ liệu

cũng như trình bày các kết quả rất nhanh chóng, chính xác, đẹp và khoa học, và hơn nữa ngày càng có nhiều phần mềm MVT được xây dựng phục vụ cho học tập

và giảng dạy, cho nên nó đã được sử dụng rất thành công trong các lĩnh vực trên, góp phần giải quyết các khó khăn mà các PTDH trước nó chưa giải quyết trọn vẹn được [13]

1.3.3.1 Sử dụng MVT mô phỏng các đối tượng vật lý cần nghiên cứu:

- Mô phỏng các đối tượng vật lý nhờ MVT theo quan điểm của lý luận dạy

học hiện đại là một PPDH Xuất phát từ các tiên đề hay các kết luận lý thuyết (các phương trình toán học, các nguyên lý vật lý) được viết dưới dạng toán học, các hiện tượng vật lý, thông qua vận dụng các phương pháp tính toán trên mô hình nhờ MVT để giải quyết chủ yếu các nhiệm vụ sau:

* Mô phỏng, minh hoạ một cách trực quan và chính xác các hiện tượng, quá

trình vật lý cần nghiên cứu.

Trang 27

* Mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý để qua đó tìm ra các kiến thức

mới (mối quan hệ mới, quy luật mới, ) bằng con đường nhận thức lý thuyết

Trong quá trình nghiên cứu vật lý ở trường phổ thông, HS rất hay gặp những hiện tượng, quá trình vật lý khó quan sát hoặc không quan sát được Do đó những yếu tố bản chất ở đây thường bị che đi bởi các yếu tố khác Để phát hiện ra các yếu tố bản chất này thường thì HS phải tưởng tượng, GV phải giải thích bằng

việc mô tả bằng lời hoặc bằng các biểu thức toán học Vì thế mà việc xây dựng kiến thức gặp nhiều khó khăn Để giải quyết khó khăn này cần những mô hình mô phỏng trực quan các hiện tượng, quá trình đó, làm bật lên các dấu hiệu bản chất, nếu có điều này thì HS rất dé dàng nắm được kiến thức và có thể tự lực phát hiện

ra các kiến thức mới Để xây dựng được các mô hình này thì MVT và PMDH đặc biệt có ưu thế, nhờ nó ta có thể xây dựng các mô hình tĩnh hoặc động hiển thị một

cách trực quan, chính xác, có thể cho quá trình cần mô phỏng diễn biến nhanh chậm hoặc dừng lại ở một vị trí, thời điểm nào đó một cách dễ dàng Điều đó hết

sức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS

Ngoài khả năng mô phỏng một cách trực quan và chính xác các hiện tượng vật lý, quá trình vật lý, MVT còn có thể tạo điều kiện để đi sâu và tìm ra các mối quan hệ có tính quy luật của các hiện tượng, quá trình vật lý Nhờ vào khả năng tính toán và sử lý các kết quả rất nhanh chóng, thể hiện kết quả dưới dạng biểu đồ,

đồ thị với nhiều cách khác nhau từ đó ta có thể tìm ra quy luật phụ thuộc của các đại lượng và tìm ra kiến thức mới [13]

1.3.3.2 Sử dụng MVT hỗ trợ việc xây dựng các mô hình

Khi nghiên cứu các hiện tượng, quá trình vật lý mới, người ta thường tiến hành quan sát, đo đạc, thu thập phân tích, xử lý số liệu để đi tới nhận thức được các quy luật chỉ phối chúng Trong quá trình này, việc đưa ra các dự đoán về quy luật phụ thuộc giữa các đại lượng và kiểm tra các dự đoán đó là hết sức cần thiết, từ đó

có thể đưa ra các phương trình toán học để mô tả quá trình, hiện tượng đó

Tuy nhiên việc đưa được ra các quy luật phụ thuộc dưới dạng toán học là hết sức khó khăn bởi sự phụ thuộc giữa các đại lượng nghiên cứu thường phức tạp (có khi là phương trình vi phân mà HS chưa biết) Với sự hỗ trợ của MVT và

PMDH thích hợp giúp HS có thể tìm ra được những quy luật này nhờ vào sự kiểm

tra nhanh chóng các dự đoán của HS thông qua các phương trình, đồ thị, số liệu tính toán, Như vậy có thể nói MVT đã hỗ trợ trong việc xây dựng các mô hình

Trang 28

Như vậy với sự hỗ trợ của MVTvà phần mềm MVT thích hợp trong quá trình

tổ chức hoạt động nhận thức của HV đã giúp HS kiểm tra được các giả thuyết của mình, xây dựng được các mô hình và tìm ra quy luật phụ thuộc giữa các đại lượng, øiúp HS nắm vững kiến thức và phát triển tư duy

1.4 Thực trạng của việc sử dụng CNTT trong dạy học vật lý ở các trường

THPT tinh Bac Ninh:

Ngày nay trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trên toàn

thế giới Việc ứng dụng CNTT trong dạy học là rất cần thiết ứng dụng CNTT trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học, nó

có nhiều ưu điểm và thuận lợi hơn so với những PTDH truyền thống Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những bất cập và một số hạn chế và khó khăn cần phải khắc

- Về việc xây dựng hệ thống thông tin, sử dụng CNTT trong dạy học vật lý

- Việc sử dụng các PPDH, cách thức kiểm tra đánh giá của GV, cách soạn giáo án, mức độ và cách sử dụng thiết bị, thí nghiệm trong giờ học vật lý

Trang 29

- Tình hình học tập, khả năng thực hành vận dụng kiến thức của HS, mức độ hứng thú của HS khi sử dụng thí nghiệm thực hay ứng dụng CNTT trong giờ học vật lý

1.4.2 Phương pháp điều tra :

- Gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với ban Giám Giám Hiệu, Tổ trưởng bộ môn và

GV giảng dạy vật lý Sử dụng phiếu phỏng vấn GV, tham khảo giáo án, dự giờ

- Trao đổi trực tiếp với HS và dùng phiếu phỏng vấn HS, tham khảo kết quả

học tập của HS năm học vừa qua

- Tham quan, khảo sát việc sử dụng phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và phòng MVT

1.4.3 Kết quả điều tra :

Kết quả điều tra GV như sau:

-_ Số trường điều tra: 3

- _ Số phiếu điều tra: 14

-_ SốGV hỏi ý kiến: 14

Kết quả điều tra HS như sau:

- Số trường điều tra: 2

- _ Số phiếu điều tra: 145

-_ SốHShỏi ý kiến: 145

Kết quả cho thấy:

+ Về cơ sở vật chất, thiết bị:

- Đa số các trường đã có nhà điều hành, phòng học chức năng, các lớp học đã

có đầy đủ Tuy nhiên một số trường vẫn chưa có phòng thực hành cho các bộ môn

Trang 30

riêng biệt, các đồ dùng thực nghiệm của các bộ môn vẫn để chung một chỗ nên việc lấy các đồ dùng thí nghiệm gặp một số khó khăn nhất định

- Các trường đều có một, hai hoặc ba phòng MVT, mỗi phòng có khoảng 25 đến 30 máy và một số máy phục vụ cho việc quản lý điều hành Một số phòng MVT được kết nối internet, đã được trang bị máy chiếu Projector Các PMDH, phần mềm thí nghiệm ảo phục vụ cho việc giảng dạy chương “Sóng cơ” cũng chưa

- Kết quả điều tra ban đầu tại các trường về việc sử dụng CNTT trong dạy

học vật lý đối với GV phản ánh bằng các số liệu cụ thể sau:

Bảng 1 : Việc sử dụng các thí nghiệm trong dạy học vật lý

2 Sử dụng thí nghiệm mô phỏng trên MVT 1/14 14,3

Bảng 2 : Việc sử dung CNTT trong day hoc vat ly

Thường xuyên | Thỉnh thoảng Chưa sử dụng STT

Sốlượng | % Sốilượng | % Sốiượng | %

Trang 31

sTr Trong dạy học vật lý những lý do nào khiến đồng chí shen ` %

không sử dụng CNTT hoặc không thường xuyên sử dụng trẻ lời

Cơ sở vật chất không đầy đủ (MVT, PMDH, máy chiếu) 9/14 64,3

Huyện Thuận Thành — Tỉnh Bắc Ninh là một huyện còn nghèo và đang phát

triển, đa số HS là con em nông dân Vì vậy, nhận thức của GV và HS về sử dụng

CNTT trong dạy học còn hạn chế Về cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều, một số trường đã có phòng MVT nhưng chưa được nối mạng internet, máy chiếu đã có nhưng ít được sử dụng trong công tác giảng dạy Việc soạn giáo án bằng MVT đã được thực hiện nhưng chưa toàn diện và thường xuyên, giáo viên mất rất nhiều thời

gian soạn bài và phải soạn ở nhà Hơn nữa, với thu nhập lương của GV và giá

MVT như hiện nay thì GV khó có thể mua được một bộ MVT phục vụ cho mình

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để đạt được mục đích của đề tài đã đưa ra, chúng tôi đã nghiên cứu, tổng hợp những lý luận:

- Lý luận dạy học phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

- Vai trò của thí nghiệm vật lý trong tổ chức hoạt động nhân thức của HS

- Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT và PMDH để làm PTDH vật lý

- Khả năng hỗ trợ của PMDH trong việc phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS trong dạy học vật lý

Quá trình học tập của HS thường gặp phải những khó khăn tự sức HS khó có thể vượt qua được, khi đó để hoạt động nhận thức của HS có hiệu quả cần có những phương tiện hỗ trợ phù hợp Đối với những hiện tượng, qúa trình hay dấu

hiệu khó khăn mà HS thường gặp phải, PMDH là một PTDH hỗ trợ tốt để giải

quyết các khó khăn này, nó sẽ giúp ta thể hiện một cách trực quan những gì mà HS khó tưởng tượng, thể hiện tập trung vào các dấu hiệu bản chất để quá trình tìm tòi,

tự lực chiếm lĩnh kiến thức của HS đạt hiệu quả cao Với PMDH được xây dựng

gắn chặt với nội dung kiến thức và tiến trình xây dựng tri thức sẽ hỗ trợ tốt cho

việc dạy học, đặc biệt là các nội dung liên quan đến các ứng dụng kỹ thuật vật lý Điều này rất quan trọng trong việc dạy học phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS

Như vậy, dựa vào các cơ sở lý luận dạy học, cơ sở thực tiễn và tận dụng các

khả năng ưu việt của MVT và PMDH (đặc biệt là các khả năng mô phỏng) cho ta

thấy việc sử dụng các phương tiện hiện đại trong dạy học nói chung và trong dạy học vật lý nói riêng sẽ tạo cơ sở cho việc đưa thêm một số các nội dung mới, đối tượng nghiên cứu mới vào trong chương trình vật lý phổ thông cũng như đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực quá trình học tập của HS trong dạy học vật lý

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn thì người GV phải có sự chuẩn bị công phu

cho mỗi giờ lên lớp bắt đầu từ khâu soạn bài, GV phải có trình độ chuyên môn

Trang 33

sâu, có trình độ sư phạm cao, biết sử dụng các thiết bị hiện đại, óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức một giờ lên lớp có hiệu quả và phát huy được tính tích cực học tập ở HS.

Trang 34

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI THUỘC

CHƯƠNG “SÓNG CƠ” (VẬT LÝ LỚP 12_ NÂNG CAO) CÓ SỬ DỰNG PHẦN MỀM MÔ PHỎNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CHO HỌC SINH THPT

Như chúng ta đã biết, việc vận dụng lý luận dạy học hiện đại vào thực tiễn

dạy học là một việc làm không đơn giản, quá trình này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới một cách đồng bộ cả về nội dung, phương pháp và PTDH, đó là chưa kể tới

thói quen của HS cần phải thay đổi dân dân để thích nghi với một phương pháp học tập mới Để đạt hiệu quả trong quá trình đó, đối với mỗi nội dung kiến thức, trước tiên chúng ta cần vạch ra một tiến trình dạy học cụ thể, sau đó xác định các

khó khăn của HS gặp phải trong quá trình học tập theo tiến trình này, từ đó tìm ra những phương pháp, phương tiện cần thiết để giúp HS giải quyết các khó khăn đó Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu một số kiến thức trong

chương III thuộc chương trình vật lý 12 hiện hành cũng theo nguyên tắc trên Quá trình tổ chức hoạt động nhận thức khi dạy học các kiến thức trong chương này được tổ chức theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức và phát triển trí tuệ HS Các khó khăn gặp phải trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS có thể được giải quyết bằng

nhiều cách, một trong số đó là sử dụng phần mềm mô phỏng sẽ hỗ trợ cho quá

trình này đạt hiệu quả cao

2.1 Phân phối chương trình THPT của chương

2.1.1 Định hướng đổi mới chương trình SGK và PPDH Vật lý THPT

- Chương trình môn Vật lý THPT được xây dựng trên cơ sở chương trình chuẩn Vật lý THPT ban hành quyết định số 16/2006 ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo nên quán triệt tất cả các nguyên tắc, yêu cầu của việc xây dựng chương trình Vật lý THPT từ quan điểm xây dựng chương trình, định hướng đổi mới mục tiêu, nội dụng, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh

giá.

Trang 35

- Chương trình môn Vật lý THPT bảo đảm phù hợp với học sinh của THPT, phù hợp với điều kiện thực tế của THPT (về GV, cơ sở vật chất, trang thiết

bị dạy học, thời gian học )

- Đối với THPT, những kiến thức trong chương trình Vật lý THPT được xem xét và lựa chọn, đảm bảo nguyên tắc: Cơ bản, tính giản, phát huy tính chủ

động sáng tạo và thiết thực cho việc nhận thức đúng các hiện tượng trong tự nhiên,

trong cuộc sống và lao động sản xuất hàng ngày

- Chương trình Vật lý THPT đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống của môn học, tiếp cận được với chương trình THPT Ngoài ra còn nhằm củng cố cho người học những kiến thức cần thiết, phổ thông để sau khi học hoàn thành chương trình có thể tiếp tục học ở các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp

- Khi thay đổi mỗi chủ đề, mỗi GV cần xuất phát từ kinh nghiệm, vốn hiểu

biết và đặc điểm nhận thức của HS như thuyết trình, đàm thoại hay phát vấn nêu

vấn đề.

Trang 36

quyết vấn đề, tạo tình huống để HS phát hiện ra vấn đề (thắc mắc, hoài nghỉ) và tự

phát biểu ý kiến, suy nghĩ của mình

- Rèn luyện từng bước cho HS các kỹ năng thu thập, xử lý và truyền đạt

thông tin Các kỹ năng này dần dân phải trở thành thói quen làm việc khoa học của

ý kiến của người khác

- Tổ chức tham quan học tập, tạo điều kiện để HS quan sát trực tiếp trong tự

nhiên và trong lao động sản xuất hàng ngày

2.1.1.3 Về trang thiết bị dạy học

Vật lý là một trong những môn khoa học thực nghiệm rất cần trang thiết bị dạy học Khi thực hiện chương trình Vật lý mới và sử dụng SGK Vật lý mới GV cần tổ chức cho HS tự tổ chức các thí nghiệm đơn giản để HS tự phát hiện vấn đề,

tự rút ra kết luận, dưới sự hướng dẫn, gợi ý của GV

Đối với các trường THPT nói chung có tương đối đây đủ các thiết bị dạy

học, GV nên tích cực khai thác các thiết bị dạy học sao cho hiệu quả nhất, giúp học sinh có thể tiến hành một số thí nghiệm đơn giản

2.1.1.4 Về đánh giá kết quả học tập

- Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS cần căn cứ vào mục tiêu của môn học, vào chuẩn kiến thức và kỹ năng của từng bài, từng chương, từng lớp

Trang 37

- Mục đích đánh giá không chỉ đánh giá kiến thức trí nhớ của HS, mà còn đánh giá cả kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức đã học không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống Các hình thức và phương pháp đánh giá đa

dạng, bao gồm :

Quan sát, theo dõi HS trong giờ học

Kiểm tra bài cũ

Kiểm tra viết 15 phút, kiểm tra một tiết và cuối học kỳ

Đánh giá kỹ năng, tác phong và thái độ trong thực hành thí nghiệm vật lý của HS qua mỗi bài thực hành đã được quy định trong chương trình

Phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Chú ý bảo đảm đánh giá công bằng, công khai và khách quan

2.1.2 Phân phối chương trình của chương III SGK Vật lý l2 nâng cao

Từ những định hướng đổi mới chương trình SGK và PPDH, dựa vào mục tiêu dạy học môn Vật lý trong nhà trường Việc đổi mới chương trình và SGK phải tạo điều kiện tốt cho việc áp dụng các PPDH

Khối lượng và mức độ kiến thức chương trình Vật lý lớp 12 nâng cao không có những thay đổi lớn so với chương trình CCGD Sự thay đổi chính là yêu

cầu đổi mới PPDH, các PPDH cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng

tạo của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học và rèn luyện năng lực vận dụng kiến

thức vào thực tiễn

Chương “Sóng cơ” thuộc chương III, SGK Vật lý lớp 12- nâng cao gồm

có: 7 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập, 2 tiết thực hành

Tiét |Bài | Tên Bài

23,24 |14 Sóng cơ Phương trình sóng

Trang 38

32 Kiểm tra l tiết

33, 34 Thực hành: Xác định tốc độ truyền âm

Để quán triệt tinh thần việc đổi mới nói trên trong môn Vật lý THPT, một

số định hướng mới có thể thực hiện ngay trong tình hình còn rất nhiều khó khăn

chưa khắc phục được:

+ Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS

+ Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp nặng

về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng

+ Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với học tập hợp tác + Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học

+ Cöi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tâm với việc truyền thụ kiến thức

+ Tăng cường làm thí nghiệm vật lý trong dạy học

+ Đổi mới cách soạn giáo án

2.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh THPT:

Trang 39

2.2.1 Đặc điểm chung của các trường THPT Huyện Thuận Thành - Tỉnh Bắc

Ninh

* Cơ sở vật chất

Các trường đều có nhà chức năng, các lớp học tương đối đây đủ Trong một số năm gần đây các trường THPT trong huyện Thuận Thành đã nâng cấp cơ

sở vật chất rất nhiều Đặc biệt trường THPT Thuận Thành số 1 đã có đủ số phòng

để học một ca Hầu hết các trường đều có đủ các phòng thực hành cho các bộ

môn

* Về trang thiết bị:

Các trường đều đã có phòng đựng thiết bị dạy học, phòng thư viện và

phòng MVT Một số dụng cụ thí nghiệm chưa hợp lí, không có hướng dẫn sử dụng

cụ thể Phòng đựng các thiết bị cho tất cả các bộ môn nên việc lấy đồ thí nghiệm còn gặp khó khăn Bên cạnh đó, số người phụ tá lắp ráp thí nghiệm còn ít và làm

việc theo giờ hành chính nên việc sử dụng đồ dùng thí nghiệm còn gặp nhiều khó

khan

* Về đội ngũ giáo viên:

Đa số các trường đều có đội ngũ giáo viên đạt từ chuẩn trở lên, tâm huyết

với nghề Số giáo viên đạt trên chuẩn ngày càng nhiều Nhìn chung giáo viên còn trẻ nên việc tiếp cận thông tin và sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

không mấy khó khăn

2.2.2 Đặc diểm nhận thức của học sinh THPT

- Địa phương có truyền thống hiếu học, nhân dân rất quan tâm đến tình hình học tập của con em mình Tuy nhiên, do địa phương còn nghèo nên đầu tư cho

giáo dục còn nhiều hạn chế

- Các trường đều có cơ sở vật chất tương đối tốt và đang dân hoàn thiện, các

trường đều có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có năng lực sư phạm và tương đối đây

Trang 40

đủ về số lượng, Giáo viên đa số là người địa phương nên rất ổn định Đa số các em

học sinh đều có sự quyết tâm vươn lên trong học tập

2.3 Tìm hiểu thực trạng dạy học chương Sóng cœ ở các trường THPT

Tinh Bac Ninh

2.3.1 Muc dich diéu tra tim hiéu:

Trong phạm vi của dé bài, chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát thực trạng giảng dạy và học tập chương “Sóng cơ” ở các trường THPT huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh Chúng tôi đã đến các trường THPT' trao đổi trực tiếp với Ban Giám Hiệu, tổ bộ môn và các GV về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương pháp dạy học cách thức kiểm tra đánh giá nhưng chủ yếu là phương pháp dạy của GV và phương

pháp học của HS và việc sử dụng thí nghiệm phục vụ cho bài giảng mà nhà trường

đã có, các thí nghiệm mà GV và HS đã tiến hành khi dạy và học, các thí nghiệm khó và không thể thực hiện được

- Những khó khăn, sai lầm của HS khi học chương này, tìm hiểu, chỉ ra các

nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, sai lầm mà HS thường mắc phải, từ đó đề

ra phương hướng soạn thảo tiến trình dạy học cụ thể

2.3.2 Phương pháp điêu tra tìm hiểu:

Điêu tra GV: Dự giờ, trao đổi trực tiếp, dùng phiếu điều tra, phát triển kết

quả điều tra

Điêu tra HS: Trao đổi với HS, dùng phiếu điều tra, tham khảo bài kiểm tra

của HS, phân tích kết quả điều tra

2.3.3 Kết quả tìm hiểu

* Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học chương Sóng cơ

- Để việc dạy học đảm bảo đúng phương pháp đặc trưng của tiết dạy thì cơ

sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, PTDH cần phải đảm bảo đây đủ, đúng tiêu

Ngày đăng: 18/10/2014, 00:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Thượng Chung, Tô Giang, Trân Chí Minh, Ngô Quốc (2008), V /í 72, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V /í
Tác giả: Lương Duyên Bình, Vũ Quang, Nguyễn Thượng Chung, Tô Giang, Trân Chí Minh, Ngô Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[2]. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên), Vũ Quang (Chủ biên), Nguyễn Thượng Chung, Tô Giang, Trần Chí Minh, Ngô Quốc Quýnh (2008), Vat li 12-sdch giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vat li 12-sdch giáo viên
Tác giả: Lương Duyên Bình, Vũ Quang, Nguyễn Thượng Chung, Tô Giang, Trần Chí Minh, Ngô Quốc Quýnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[6]. Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên), Vũ Thanh Khiết (Chủ biên), Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Tuy, Pham Quy Tu (2008), Vat li 12 nang cao, ẹNXB Giỏo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vat li 12 nang cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Tuy, Pham Quy Tu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[7]. Nguyén Thé Khoi (Téng chi bién), Vi Thanh Khiét (Chi bién), Nguyén Ditc Hiệp, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Túy, Phạm Quý Tư (2008), Vát lí 12 nâng cao — sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vát lí 12 nâng cao — sách giáo viên
Tác giả: Nguyén Thé Khoi, Vi Thanh Khiét, Nguyén Ditc Hiệp, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Túy, Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[11]. PGS. TS Pham Xuan Qué (2000), “May vi tính hỗ trợ trong việc xây dựng các mô hình trong dạy học vật lí, Nghiên cứu Giáo đục, (số 4,9,11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: May vi tính hỗ trợ trong việc xây dựng các mô hình trong dạy học vật lí
Tác giả: PGS. TS Pham Xuan Qué
Nhà XB: Nghiên cứu Giáo dục
Năm: 2000
[12].PGS. TS Phạm Xuân Quế (2002), “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học vật lí phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính và phần mềm dạy học, Tạp chí Giáo dục, (số 4), tr.31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học vật lí phổ thông với sự hỗ trợ của máy vi tính và phần mềm dạy học
Tác giả: PGS. TS Phạm Xuân Quế
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2002
[15]. PGS. TS Phạm Xuân Quế (2006), Các khó khăn và biện pháp giải quyết trong việc xây dựng Courseware đối với các học phần liên quan đến thí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khó khăn và biện pháp giải quyết trong việc xây dựng Courseware đối với các học phần liên quan đến thí
Tác giả: PGS. TS Phạm Xuân Quế
Năm: 2006
[3].Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (2004), Tám !í học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[4]. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng, PGS. TS Phạm Xuân Quế, TS Nguyễn Xuân Thành (2006), Sử dụng thí nghiệm mô phỏng trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, Giáo trình điện tử, Đại học sư phạm Hà Nội Khác
[5]. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hưng, PGS. TS Phạm Xuân Quế, TS Nguyễn Xuân Thành (2006), Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông. Giáo trình điện tử, Đại học sư phạm Hà Nội Khác
[8]. Nguyễn Thế Khôi, Vũ Thanh Khiết (đồng Chủ biên), Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Đình Thiết, Vũ Đình Túy Khác
[9]. Phan Trọng Ngọ (2001), Tâm li học trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[10]. Lê Thị Oanh (1999), Bài giảng chuyên đê phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Hà Nội Khác
[13]. PGS. TS Pham Xuan Qué (2004), Sử dụng máy vi tính trong dạy học vật lí, Bài giảng cao học - Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
[14]. PGS. TS Pham Xuan Quế (2004), “Xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, Tạp chí Giáo dục, (số 83) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1:  Mô  phỏng  từ  trường  quay  trong,  Hình  2:  Mô  phỏng  sự  biến  đổi  của  ¡  và  u  động  cơ  không  đồng  bộ  ba  pha  dòng  xoay  chiều - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 1: Mô phỏng từ trường quay trong, Hình 2: Mô phỏng sự biến đổi của ¡ và u động cơ không đồng bộ ba pha dòng xoay chiều (Trang 15)
Hình  3:  Mô  phỏng  định  tính  về  quan  hệ  giữa  Hình  4:  Mô  phỏng  định  tính  về  sự  biến  đổi  vận  tốc  trung  bình  của  phân  tử  khí  với  nhiệt  số  đường  cảm  ứng  từ  gửi  qua  thiết  diện - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 3: Mô phỏng định tính về quan hệ giữa Hình 4: Mô phỏng định tính về sự biến đổi vận tốc trung bình của phân tử khí với nhiệt số đường cảm ứng từ gửi qua thiết diện (Trang 16)
Bảng  2  :  Việc  sử  dung  CNTT  trong  day  hoc  vat  ly - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 2 : Việc sử dung CNTT trong day hoc vat ly (Trang 30)
Bảng  3  :  Lý  do  GV  ít  sử  dụng  CNTT  trong  dạy  học  vật  lý - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 3 : Lý do GV ít sử dụng CNTT trong dạy học vật lý (Trang 31)
Hình  hiện  lên  cửa  sổ  và  lời  chào  "Welcome  to - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh hiện lên cửa sổ và lời chào "Welcome to (Trang 47)
Hình  2.1:  Hiện  tượng  phản  xạ  sóng  GV:  So  sánh  chiều  chuyển  động  của  sóng  trước  và  sau  khi  gặp  vật  cản  cố  định? - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 2.1: Hiện tượng phản xạ sóng GV: So sánh chiều chuyển động của sóng trước và sau khi gặp vật cản cố định? (Trang 56)
Hình  2.2:  Hiện  tượng  sóng  dừng - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 2.2: Hiện tượng sóng dừng (Trang 57)
Hình  2.3:  H/ện  tượng  giao  thoa  sóng - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 2.3: H/ện tượng giao thoa sóng (Trang 69)
Hình  2.4:  Hiện  tượng  nhiễu  xạ  sóng - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
nh 2.4: Hiện tượng nhiễu xạ sóng (Trang 71)
Bảng  trên  là  kết  quả  khảo  sát  trình  độ  của  HS  các  lớp  TN  và  ĐC. - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng trên là kết quả khảo sát trình độ của HS các lớp TN và ĐC (Trang 75)
Bảng  7:  Kết  quả  kiểm  tra  lần  1 - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 7: Kết quả kiểm tra lần 1 (Trang 83)
Bảng  9:  Phân  phối  tan  suat  lan  1 - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 9: Phân phối tan suat lan 1 (Trang 84)
Bảng  10:  Kết  quả  kiểm  tra  lần  2 - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 10: Kết quả kiểm tra lần 2 (Trang 86)
Bảng  12:  Phân  phối  tân  suất  lần  2 - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 12: Phân phối tân suất lần 2 (Trang 87)
Bảng  11:  Xếp  loại  kiểm  tra  lần  2 - Thiết kế tiến trình dạy học một số bài thuộc chương Sóng cơ (Vật lý 12 nâng cao) có sử dụng phần mềm dạy học cho học sinh trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
ng 11: Xếp loại kiểm tra lần 2 (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w