1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn văn hóa doanh nghiệp Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng

37 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 194,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vi phạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng Sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia, đến một giai đoạn nhất định sẽ bộc lộ những điểm yếu, những khuyết tật mà khi nhìn nhận lại người ta sẽ thấy những sai lầm trong cách định hướng phát triển. Và cũng trong bối cảnh đó, người ta mới sực nhớ ra rằng, dù làm bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào cũng cần dựa trên nền tảng đạo đức, luân lý để tránh điều ác, tăng cường điều thiện, củng cố lòng nhân ái của mỗi con người.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN 1

GIỚI THIỆU CHUNG

Trang 4

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia, đến một giai đoạn nhất định sẽ bộc lộ nhữngđiểm yếu, những khuyết tật mà khi nhìn nhận lại người ta sẽ thấy những sai lầm trongcách định hướng phát triển Và cũng trong bối cảnh đó, người ta mới sực nhớ ra rằng, dùlàm bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào cũng cần dựa trên nền tảng đạo đức, luân lý để tránhđiều ác, tăng cường điều thiện, củng cố lòng nhân ái của mỗi con người Kinh doanh làhoạt động nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp qua mỗi khâu sản xuất, kinhdoanh Nếu lợi nhuận doanh nghiệp kiếm được phù hợp với luật pháp và đạo đức xã hội

sẽ rất bền vững, và ngược lại, nếu lợi nhuận doanh nghiệp đạt được dựa trên sự “vônguyên tắc” hay vi phạm đạo đức, lợi nhuận đó sẽ không bền vững, sớm hay muộn,những người kiếm lợi bất chính sẽ gánh chịu hậu quả

Diễn biến phát triển của thị trường ngân hàng, từ hệ quả của cuộc cạnh tranh trong hoạtđộng ngân hàng ngày càng trở nên khốc liệt, xã hội bắt đầu lo ngại về hành vi vi phạmđạo đức kinh doanh ở những mức độ khác nhau của các Tổ chức tín dụng (TCTD), ngườiquản lý ngân hàng cũng như cán bộ nghiệp vụ của các TCTD ở những mức độ khác nhau

Và hiện nay, người ta đang tìm nhiều biện pháp khác nhau để ngăn ngừa tình trạng viphạm đạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàng, bởi lẽ, khác so với pháp luật, hành

vi đạo đức được thực hiện và thôi thúc bởi ý thức chủ quan của con người, được thựchiện trên tinh thần tự nguyện và sự đánh giá của dư luận xã hội

2 TỔNG QUAN VỀ ÐẠO ÐỨC KINH DOANH NGÂN HÀNG

Ở mức độ khái quát có thể hiểu, đạo đức kinh doanh là tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc,chuẩn mực, nhờ đó, TCTD tự giác điều chỉnh hành vi của mình với môi trường kinhdoanh sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội và với

sự phát triển một cách bền vững, thể hiện sự tôn trọng của TCTD đối với đối thủ cạnhtranh, người tiêu dùng cũng như toàn xã hội TCTD là doanh nghiệp được thành lập đểthực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Theo quy định của Luật CácTCTD năm 2010, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một

Trang 5

hoặc một số nghiệp vụ sau đây: i) Nhận tiền gửi; ii) Cấp tín dụng; iii) Cung ứng dịch vụthanh toán qua tài khoản Từ định nghĩa này, có thể rút ra đặc thù của đạo đức kinh doanhngân hàng như sau:

Thứ nhất, đạo đức kinh doanh ngân hàng là những quy tắc, chuẩn mực quy định dành cho

các TCTD trong hoạt động kinh doanh Với tư cách là một chủ thể xã hội, TCTD chịu sựtác động đồng thời của nhiều quy tắc, chuẩn mực nhằm hướng đến hành vi kinh doanhcủa TCTD là lành mạnh, có trách nhiệm với xã hội

Thứ hai, việc thực hành đạo đức kinh doanh ngân hàng của TCTD phụ thuộc vào đạo đức

của người quản lý, điều hành của chính TCTD đó Người quản lý điều hành TCTD chính

là lực lượng cụ thể hóa các giá trị cốt lõi của TCTD và đưa nó vào trong thực tiễn thôngqua các quyết định quản lý kinh doanh Ðiều này có nghĩa là, hành vi đạo đức kinh doanhcủa TCTD được thực hiện và đánh giá thông qua hành vi của người quản lý điều hànhTCTD, là tấm gương phản chiếu giá trị cốt lõi của mỗi TCTD

Thứ ba, đạo đức kinh doanh ngân hàng dễ bị tha hóa do tác động của lợi nhuận, lòng

tham và sự chi phối của các nhóm lợi ích hơn so với những lĩnh vực kinh doanh khác

3 NHẬN DIỆN NGUY CƠ VI PHẠM ÐẠO ÐỨC KINH DOANH TRONG HOẠT ÐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Là thị trường mới nổi và đang cố gắng gồng mình đáp ứng những đòi hỏi khắt khe củaquá trình hội nhập quốc tế đã làm cho tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng tăng vớitính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Ngoài vi phạm pháp luật, tình trạng vi phạmđạo đức kinh doanh - tức là những hành vi không bị xử lý bởi các quy định pháp luậtngày càng trở nên phổ biến càng làm cho niềm tin của công chúng vào hệ thống ngânhang ngày càng suy giảm, nguy cơ đổ vỡ trong kinh doanh của hệ thống ngân hang ngàycàng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết

Song hành với việc củng cố, nâng cao ý thức pháp luật trong hoạt động kinh doanh ngânhàng thì việc nhận diện nguy cơ vi phạm đạo đức kinh doanh càng trở nên cấp thiết, bởi

Trang 6

lẽ, chỉ khi nhận diện đúng những nguy cơ vi phạm đạo đức kinh doanh sẽ giúp cho nhàquản trị ngân hàng có được biện pháp xử lý/quản trị tốt nhất.

4. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THỜI GIAN QUAN

Khi các ngân hàng thương mại công bố báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2011, người tathấy bức tranh sáng tối khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các TCTD vớicác loại hình doanh nghiệp khác Nếu như các doanh nghiệp khác loay hoay tìm kiếmnguồn vốn kinh doanh để tránh đứng trước nguy cơ phá sản hoặc thu hẹp quy mô sảnxuất kinh doanh thì các TCTD lại “hân hoan” với nguồn lợi nhuận khổng lồ thu được, nóhoàn toàn trái ngược với những lời kêu “lỗ” hoặc quá khó khăn của cộng đồng doanhnghiệp Ðể tránh những tranh cãi kéo dài không có hồi kết, hang loạt diễn giả đăng đàn

“biện minh” cho con số lợi nhuận của ngân hàng là hoàn toàn “hợp lý” trong điều kiệnnền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Tuy vậy, dù có giải thích thếnào đi chăng nữa, các ngân hàng thương mại cũng rất khó “ăn nói” với dư luận xã hội về

sự chênh lệch này Bởi lẽ, kết quả lợi nhuận của TCTD có được một phần là kết quả củacuộc đua lãi suất huy động từ đầu năm 2011 mà có

Một hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh khác trong lĩnh vực ngân hàng, đó chính là sựtác động của thị trường tín dụng “chợ đen”, thị trường tín dụng phi chính thức đối vớihoạt động kinh doanh của các TCTD (thị trường tín dụng chính thức) Ưu điểm của thịtrường tín dụng “chợ đen”, thị trường tín dụng phi chính thức chính là ở thủ tục cho vayđơn giản, thuận tiện, người cho vay và người đi vay có thể “tiền trao, cháo múc” ngay saukhi thỏa thuận xong những nội dung của quan hệ vay mượn Do đó, thị trường tín dụng

“chợ đen”, thị trường tín dụng phi chính thức đáp ứng ngay lập tức nhu cầu sử dụng vốncủa người dân trong nền kinh tế, nên nó thường được ưu tiên lựa chọn hơn so với thịtrường tín dụng chính thức Tuy nhiên, khi tham gia thị trường tín dụng “chợ đen”, thịtrường tín dụng phi chính thức, người đi vay sẽ phải trả lãi suất cao hơn và có thể bị “siết

Trang 7

nợ” bằng các biện pháp của xã hội đen Do đó, trong con mắt của Nhà nước, thị trườngtín dụng “chợ đen”, thị trường tín dụng phi chính thức thường đồng nhất với nguyên nhâncủa những bất ổn, bất công xã hội.

Bên cạnh đó, cũng cần nhìn nhận một nguy cơ tạo điều kiện cho thị trường tín dụng “chợđen”, thị trường tín dụng phi chính thức có nguồn vốn hoạt động là sự tiếp tay của cán bộtín dụng trong việc giải quyết cho vay đối với những đối tượng hoạt động trên thị trườngtín dụng “chợ đen”, thị trường tín dụng phi chính thức để cho người có nhu cầu vay lại.Nếu tình trạng này không được kiểm soát chặt chẽ sẽ làm gia tăng rủi ro hệ thống, đe dọa

sự phát triển an toàn hệ thống ngân hàng

Trang 8

PHẦN 2

NHÓM CHỦ THỂ

Trang 9

1 TỔNG QUAN : MẶT BẰNG LÃI SUẤT CHO VAY VÀ HUY ĐỘNG VỐN HIỆN NAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG

Năm 2011 : Đầu năm tăng cao nhưng cuối năm đã giảm

Ngày 6/6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã công bố tình hình hoạt động của hệ thốngngân hàng trong tháng 5/2011 Theo NHNN, lãi suất cho vay VND bình quân thực tếkhoảng 18,3%/năm (tăng 3%/năm so với cuối năm 2010) Trong đó, lãi suất cho vay củanhóm ngân hàng thương mại nhà nước khoảng 17,3%/năm (cho vay nông nghiệp, nôngthôn và xuất khẩu khoảng 16,6%/năm, cho vay sản xuất - kinh doanh khác khoảng18,5%/năm); nhóm ngân hàng thương mại cổ phần 19,7%/năm (cho vay nông nghiệp,nông thôn và xuất khẩu khoảng 18,7%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác khoảng19,2%/năm)

Tuy lãi suất huy động tăng cao ở những tháng đầu năm, nhưng từ tháng 9/2011, hầu hếtcác NHTM thực hiện nghiêm túc quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằngVND ở mức không quá 14%/năm Lãi suất liên ngân hàng ở mức cao trong 4 tháng đầunăm nhưng đã giảm từ tháng 5/2011, đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,nông thôn, xuất khẩu từ mức phổ biến 18-21%/năm xuống còn 16-19%/năm

Năm 2012: 6 lần giảm lãi suất huy động và cho vay

Lần đầu tiên vào ngày 13/3, mức điều chỉnh từ 14% về 13%/năm theo yêu cầu giảm lãisuất huy động của Thủ tướng chính phủ

Tiếp đó, đến ngày 11/4, lãi suất huy động cũng giảm thêm 1%, về 12% /năm

Ngày 28/05/2012, Ngân hàng Nhà nước quyết định đưa trần lãi suất huy động - cho vaylần lượt về còn 11% và 14% một năm, đồng thời hạ một loạt lãi suất điều hành

Từ ngày 11/6/2012, trần lãi suất huy động VND đã giảm từ mức 11%/năm xuống còn9%/năm Bên cạnh đó, theo thông tư 19/2012/TT-NHNN được ban hành ngày 8/6/2012,NHNN đã cho phép các NHTM tự quyết định lãi suất huy động kỳ hạn dài (từ 12 thángtrở lên) Đây là một bước đi hợp lý của NHNN, giúp các NHTM tự cân đối được cơ cấutiền gửi theo kỳ hạn của mình

Trang 10

Từ 24/12/2012, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa trần lãi suất huy động giảm xuốngcòn 8%/năm.

Tính đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh liên tục giảmxuống dưới mặt bằng 15% như chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và đang phổ biến ở mức

13 - 14%/năm Trong một số chương trình ưu đãi, lãi suất đối với khách hàng tốt thậmchí chỉ còn ở mức trên dưới 11%/năm Một số doanh nghiệp cho biết khoảng 30% vốnvay của họ đang phải chịu lãi suất 18%/năm và 70% chịu lãi 15% Theo số liệu từ Ngânhàng Nhà nước, lãi suất cho vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại Nhà nước vừaqua từ 11 - 15% và trung, dài hạn từ 14,6 - 16,5% Khối ngân hàng thương mại cổ phần,cho vay ngắn hạn sản xuất kinh doanh thông thường từ 12 - 15% và trung, dài hạn là 16 -17,5% Như vậy, mức lãi suất phổ biến mà doanh nghiệp đang phải trả tính bình quân từ

14 - 16%

Đầu năm 2013 : Lãi suất vẫn ổn định

Trong hai tháng đầu năm 2013, mặt bằng lãi suất thị trường tiếp tục ổn định, ngay cảtrong giai đoạn giáp Tết Hiện nay, lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng phổ biến ởmức 1-2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 thángđến dưới 12 tháng khoảng 7,8-8%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng khoảng 10-11%/năm Lãisuất cho vay cũng ổn định so với cuối năm 2012, lãi suất cho vay bằng VND đối với lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ,doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 9-12%/năm (một số ngân hàng áp dụng lãisuất dưới 9%/năm đối với các khách hàng vay vốn xuất khẩu kèm theo cam kết bán ngoại

tệ cho ngân hàng), lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác phổ biến ở mức11-15%/năm đối với các kỳ hạn ngắn

2 NGUYÊN NHÂN LÃI SUẤT CAO

Tình trạng này được gọi là sập bẫy lãi suất

Tình trạng ngân hàng không thể cho vay khi vốn dư thừa, còn DN thiếu vốn lại không thểvay được gọi là sập bẫy thanh khoản Mặt khác, ngân hàng và và DN đang đứng trước

Trang 11

một tình thế tiến thoái lưỡng nam, ngân hàng chỉ có thể cho vay với lãi suất cao, còndoanh nghiệp chỉ có thể vay với lãi suất thấp.

Lãi suất huy động tăng tất yếu dẫn đến lãi suất cho vay tăng

Các khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại NH hưởng lãi suất kỳ hạn 12 tháng chỉ khoảng 0,68

0,7%/tháng nhưng khi đi vay trong 12 tháng thì phải chịu lãi suất vay đến 1 1,3%/tháng trong phần cộng thêm 0,3 - 0,5%/tháng bao gồm cả các chi phí của NH nhưchi phí cơ sở vật chất, lương nhân viên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc Khoản chênh lệch này còntùy thuộc vào thời gian vay dài hay ngắn, mức độ rủi ro như thế nào

-Thu nhập của hầu hết các NH hiện nay vẫn chủ yếu do hoạt động tín dụng đem lại Chính

vì vậy trong bối cảnh giá cả cứ tăng thì chi phí của các NH bỏ ra tăng hơn trước, buộc

NH phải điều chỉnh tăng lãi suất cho vay

Về phía các NHTM thì cho rằng do môi trường đầu tư lúc này rủi ro cao nên lãi suất chovay phải cao để bù đắp rủi ro

Việc tỷ lệ nợ xấu tăng cao đang khiến các ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng

và quan điểm cho rằng môi trường kinh doanh hiện nay đang ẩn chứa nhiều rủi ro nên lãisuất cho vay phải cao để bù đắp được rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu

3 CÁC CHƯƠNG TRÌNH ƯU ĐÃI LÃI SUẤT

ACB và HD Bank :

Nhằm hỗ trợ khách hàng có nguồn vốn, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, Ngânhàng Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) và Ngân hàng Á Châu (ACB) đãtriển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và kháchhàng cá nhân

Theo đó, từ nay đến 30/4/2013, HDBank dành 1.500 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi từ 12%/năm cho các doanh nghiệp có nhu cầu bổ sung vốn lưu động phục vụ các phương

11-án, dự án sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu Lãi suất ưu đãi được áp dụng cố địnhtrong suốt kỳ hạn vay

Trang 12

Không chỉ được hỗ trợ nguồn vốn tốt, doanh nghiệp còn nhận được các ưu đãi thiết thực

từ các dịch vụ miễn phí do HDBank cung cấp như: dịch vụ quản lý dòng tiền, dịch vụngân hàng trực tuyến, miễn giảm phí dịch vụ thu, chi hộ, miễn phí chi hộ lương cho cán

bộ công nhân viên… Ngoài ra, đội ngũ chuyên viên của HDBank sẽ luôn tận tình hỗ trợdoanh nghiệp hoàn thành các thủ tục, tư vấn những giải pháp tài chính hiệu quả và giảingân nhanh chóng

Gói tín dụng này là một trong những chương trình ưu đãi lớn mà HDBank đang triển khaithực hiện theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm giúp doanhnghiệp tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn

ACB cũng cho biết, từ nay đến ngày 30/3, ACB cũng triển khai chương trình ưu đãi lãisuất vay thấp trong 10 ngày dành cho khách hàng vay hiện hữu của ACB có nhu cầu vaythêm

Theo đó, trong “10 ngày vàng” từ ngày 20 đến 30/3, các khách hàng vay hiện hữu tạiACB khi vay thêm số tiền tối thiểu 300 triệu đồng sẽ được hưởng mức lãi suất rất thấp,chỉ 10,99%/năm đối với các khoản vay cho mục đích sản xuất kinh doanh Chương trình

sẽ đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn của khách hàng là hộ gia đình cá thể, giúp cho kháchhàng nhanh chóng có nguồn vốn giá rẻ để triển khai hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn.Ngoài ra, những khoản vay tiêu dùng, xây dựng, sửa chữa nhà cũng được hưởng mức lãisuất rất thấp chỉ từ 11,99%/năm Đặc biệt, khi khách hàng giải ngân khoản vay mới sẽđồng thời được giảm lãi suất của các khoản vay hiện hữu xuống còn 14,99%/năm./

VietinBank

Gói tín dụng “Xuân phát tài” trị giá 1.000 tỷ đồng của VietinBank dành cho khách hàng

cá nhân, hộ gia đình vay sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi chỉ từ 9%

Kéo dài từ nay đến hết tháng 4/2013, gói tín dụng “Xuân phát tài” trị giá 1.000 tỷ đồngcủa VietinBank đồng hành cùng các cá nhân, hộ gia đình đẩy mạnh hoạt động sản xuấtkinh doanh (SXKD) chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán 2013 với những ưu đãi hấp dẫn

Trang 13

Theo đó, khách hàng cá nhân vay vốn SXKD trong các lĩnh vực như: thương nghiệp,công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp nông thôn, đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy địnhhiện hành của VietinBank được hưởng lãi suất ưu đãi chỉ từ 9%/năm đối với khoản vayngắn hạn và chỉ từ 11%/năm đối với các khoản vay trung, dài hạn Không chỉ ưu đãi vềlãi suất, tham gia chương trình khách hàng sẽ nhận được hỗ trợ tối đa về mặt thủ tục vàquy trình vay vốn từ VietinBank

Đặc biệt, trong khuôn khổ chương trình, VietinBank dành rất nhiều quà tặng Lìxì “Phátlộc kinh doanh” trị giá 680.000 VND cho các khoản vay từ 300 triệu đồng trở lên, thờihạn tối thiểu 3 tháng, giải ngân trước ngày 31/1/2013

Song song với chương trình tín dụng “Xuân phát tài” là chương trình tiền gửi “Xuân phúquý” với trên 450 ngàn giải thưởng có tổng trị giá trên 14 tỷ đồng Thông qua 2 chươngtrình này, VietinBank mong muốn khởi đầu năm 2013 bằng những ưu đãi tốt nhất dànhcho khách hàng, chúc khách hàng có một năm mới an khang, thịnh vượng

Trang 14

PHẦN 3

NHÓM KHÁCH THỂ

Trang 15

1 TÌNH HÌNH CHUNG

1.1Lãi suất cho vay của Ngân hàng quá cao

Trang 16

2012 là năm mà nền kinh tế chịu nhiều tổn hại do hệ thống ngân hàng (NH) bất chấp các

quy định của luật pháp, đẩy lãi suất lên quá cao Khoảng 2 tháng đầu năm 2013, lãi suất ngân hàng có thời điểm lên tới 25%, thậm chí là 30%

Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp có những động thái quyết liệt chưa từng có để lập lạitrật tự kinh doanh trong ngành ngân hàng Đó là những yêu cầu về việc thực hiện nghiêmchỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và đặc biệt là chỉ thị về việc thực hiện đúng trần lãi suất huyđộng Các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng và trần lãi suất là một phần cực kỳ quan trọng

để đáp ứng yêu cầu về chống lạm phát và ổn định vĩ mô Các chỉ tiêu này được ghi rõtrong các nghị quyết điều hành của chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước và thậm chí đãđược luật hóa Đi cùng đó là những yêu cầu về thực hiện và cảnh báo xử lý nếu vi phạm.Tuy nhiên, điều này đã không được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc Kỷ luật vàcao hơn là pháp luật kinh doanh đã bị phá vỡ

Từ 24/12/2012, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa trần lãi suất huy động giảm xuống còn 8%/năm Thế nhưng ghi nhận ở tháng tiếp theo, thị trường lãi suất vẫn diễn biến phức tạp, một số ngân hàng vẫn huy động vượt trần Tiếp đó, khi lãi suất huy động đống loạt giảm, lãi suất cho vay thì vẫn gần như không hạ, kể cả những ngân

hàng đang huy động đúng 8% Với 4 đối tượng ưu tiên là nông nghiệp, nông thôn, xuấtkhẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN nhỏ và vừa thì lãi suất cho vay phải đưa về mức 12% là

điều đương nhiên, còn các DN ngoài 4 đối tượng này thì vẫn phải chịu mức vay cao Sang đến năm 2013, theo Hiệp hội DN TPHCM, nhiều DN nhỏ và vừa hiện vẫn phải vay với mức lãi suất trên 15%/năm, thậm chí một số DN vay lãi suất vẫn từ 18%/năm Chỉ một số ít DN lớn mới tiếp cận được mức lãi suất từ 10%-12%/năm.

Trang 17

Điều đáng ngại là những vi phạm đã thành hệ thống Nhìn lại thời gian qua, các ngânhàng đã thường xuyên không đáp ứng các quy định, từ chuyện lớn như: tăng vốn điều lệ,tuân thủ tăng trưởng chi tiêu tín dụng đến chuyện nhỏ hơn là cho vay bất động sản chứngkhoán cao, thu lệ phí ngoài quy đinh, cho vay sai đối tượng tín dụng ưu đãi Tất cả cácngân hàng đều cùng nhau vi phạm, cùng nhau báo cáo dối và coi đó như "chuyện thườngngày ở huyện", không lo sợ kỷ luật Các vi phạm rất phổ biến, nhưng chỉ xử lý đượcnhững trường hợp "không may bị lộ", còn lại đều có lý do khách quan để tránh né, hoặcthậm chí là không tìm thấy chứng cứ để xử lý Trên thực tế, gần như không ai bị xử lýnên các ngân hàng càng nhờn, càng ngang nhiên vi phạm

Nhìn vào thực tế này, cả những người ngoài cuộc lẫn người trong ngành đều thừa nhận,kinh doanh ngân hàng thời gian qua như một cái "chợ" Trong cái "chợ" đó, mọi kỷ luậtkinh doanh đều có thế dễ dàng bị bỏ qua, đạo đức kinh doanh của các ngân hàng cũng sẵnsàng được đánh đổi bởi những đồng lợi nhuận Lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính đãnhiều lần ngao ngán cho biết, "chợ đen" đang xâm lấn và hình thành ngay trong lòngngân hàng

Thực trạng này không chỉ liên quan đến vấn đề chấp hành pháp luật trong kinh doanh màsâu hơn, đạo đức kinh doanh đang bị xuống cấp nghiêm trọng

1.2Tác động đến Doanh nghiệp

Việc các ngân hàng lộng hành, chạy đua tăng lãi suất huy động, đẩy lãi suất cho vay lêncao đã đưa nền kinh tế vào tình trạng nguy hiểm Đối tượng chịu thiệt hại đầu tiên là cácdoanh nghiệp

DN chỉ chịu được lãi suất vay vốn ở mức nào đấy, cao quá thì khó khăn và cao hơn nữathì phá sản Khi lãi suất quá cao, hàng loạt doanh nghiệp (DN) thoi thóp do không thểtiếp cận vốn Nhiều chuyên gia nhận định: Mức lãi suất năm qua là quá sức chịu đựngcủa các DN Lãi suất cao chính là yếu tố ảnh hưởng đến sự sống còn và kìm hãm sự pháttriển của DN

Trang 18

Tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằnggánh nặng lãi suất mà nền kinh tế đang phải trả cho ngành ngân hàng (NH) hiện rất đáng

lo “Lãi suất cho vay cao khó kích thích doanh nghiệp (DN) đầu tư mở rộng sản xuất,kinh doanh và còn làm tăng nợ xấu đối với DN đang cố gắng phục hồi sản xuất…”

Trước bối cảnh lãi suất không ngừng gia tăng, của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

nhận định: “Hiện nay lãi suất cho vay vẫn đang quá cao, khiến nền kinh tế đang từng bước lâm vào tình thể mất ổn định, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản vì chi phí sản xuất tăng vọt, giá thành leo thang”

Không vay được cũng chết mà vay được cũng chết, đó là tình trạng của các doanh nghiệp

do tín dụng bị siết chặt và lãi suất quá cao hiện nay Nguồn vốn tích lũy kém, lệ thuộcchủ yếu vào vốn ngân hàng (NH) trong khi lãi suất (LS) quá cao, tiền tệ bị siết Đó là lý

do khi NH lâm bệnh, hàng loạt doanh nghiệp đứng bên bờ vực phá sản

Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN TPHCM, cho biết: Khoảng 5 năm trởlại đây, lãi suất luôn là gánh nặng đối với các DN Nếu giai đoạn năm 2009-2010 DN cònsức lực, cầm cự được thì từ năm 2011 trở đi đều chịu đựng không nổi, kiệt quệ… Chỉtrong 2 năm 2011-2012, số lượng DN phá sản, ngừng hoạt động lên đến 100.000 DN vàchưa dừng lại trong những tháng đầu năm 2013

Theo các doanh nghiệp, lãi suất cho vay phải hạ về mức 10%/năm thì doanh nghiệp mới

có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh

1.3Tác động đối với toàn bộ nền kinh tế

Ngày đăng: 17/10/2014, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w