1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Văn Hóa Doanh Nghiệp Cà phê giả và cà phê thật

25 721 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 732,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn Văn Hóa Doanh Nghiệp Cà phê giả và cà phê thật Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có chứa chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê được rang lên, từ cây cà phê. Cà phê được sửdụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên Ethiopia.

Trang 1

Phần 1: Nhóm chủ thể - Cơ sở sản xuất cà phê giả

LỜI MỞ ĐẦU

Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có chứa

chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê được rang lên,

từ cây cà phê Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá

ra từ vùng cao nguyên Ethiopia

Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới Không giống như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát, mặc dù người dân Mỹ uống nó như thức uống giải khát Nhiều người uống nó với mục đích tạo cảm giác hưng phấn Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hoá học Mỹ Joe Vinson thuộc Đại học Scranton thì cà phê là một nguồn quan trọng cung cấp các chất chống ôxi hóa (antioxidant) cho cơ thể, vai trò mà trước đây người ta chỉ thấy ở hoa quả và rau xanh Những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị ung thư ở người

Cà phê có thể đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp mang hạt sang trồng lẻ tẻ từ các thế kỷ 17, 18 nhưng chính thức và quy mô thì phải đến khi người Pháp chiếm được Việt Nam từng phần và đặt nền bảo hộ lên toàn cõi (1884)

Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857 Kể

từ đó người dân Việt Nam đã biết hưởng thức cà phê thơm ngon và qua quá trình thời gian, khẩu vị người Việt là uống cà phê phải đậm, đặc, đen, sánh, có bọt và có mùi hương … mà cà phê nguyên chất (là cà phê thiên nhiên 100%) thì không đáp ứng đa số

Trang 2

1 Nguyên nhân xuất hiện “café giả” trên thị trường:

1.1 Thiếu nguyên liệu cà phê

Trong những năm 1990, Việt Nam thiếu nguyên liệu cà phê trầm trọng, để thỏa mãn cơn ghiền của những người yêu thích café, các nhà rang xay đã sử dụng bắp, đậu

và các loại hạt khác để thay thế một phần café Ngoài ra, để tạo gu riêng, một số phụ gia

khác như rượu, bơ, hạt cau, thậm chí cả nước mắm được cho vào cà phê Hiện tượng này kéo dài đã tạo nên gu cà phê tạp trên thị trường cà phê rang xay

1.2 Trung Nguyên gián tiếp đẩy ly cà phê Việt không đúng bản chất thực của

cà phê nguyên chất

Trung Nguyên đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da

và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên Trung Nguyên đã

xử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương

Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói Điều đáng nói là khi ly cà phê Trung Nguyên được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được

1.3 Văn hóa, thói quen của người Việt khi uống cà phê

 Văn hóa người Việt uống cà phê ở quán chứ không mua về pha tại nhà

 Nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng nhưng do thói quen thưởng thức

dễ dãi của người dân Việt, chuyển qua uống đá, Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên

 Ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml

 Người tiêu dùng Việt Nam quen uống café có mùi hương như hương bắp hoặc đậu nành, đen, đắng, đặc…trong một thời gian dài nên không phân biệt được cà phê thật và giả

Trang 3

 Do người tiêu dùng rất lâu đã quen dùng cái gọi là “cà phê ” với mùi thơm nồng, màu đen đậm và có vị đắng nên bây giờ họ không còn nhớ hương vị cà phê nguyên thủy với vị nhạt nhẹ, màu nâu trong, vị đắng nhẹ đặc trưng của nó nữa, nên có một thực tế là

họ sẽ chê và không sử dụng sản phẩm cà phê nguyên chất

 Đa số người dân Việt Nam nghĩ rằng cà phê “chuẩn” là phải đen, càng đen càng tốt, hương thơm phải mạnh mẽ, nồng nàn Uống cà phê đen (đen nóng hoặc đen đá) thì phải càng đắng càng tốt nước cà phê phải thật sánh, sền sệt Uống nâu đá thì cà phê phải

“bám đá”, “bám thìa”, “bám thành cốc”… Nếu một ly cà phê không có đủ độ đắng, mùi hương, và độ sánh thì người tiêu dùng lại nghĩ đó mới chính là ly cà phê giả Chính vì suy nghĩ lệch lạc của khách hàng cũng như nhu cầu đó mà các nhà sản xuất cà phê đã cho ra đời các sản phẩm cà phê pha tạp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng

Đó như là một quy luật cung - cầu của thị trường; có “cầu” ắt sẽ có “cung”

1.4 Siêu lợi nhuận

Nhân cà phê có giá lên đến 50 - 55 ngàn đồng/kg Mỗi 1 kg nhân cà phê chỉ pha chế được 0,7 kg cà phê bột Tuy nhiên, giá bán 0,7 kg cà phê bột “xịn” chỉ khoảng 60 –

65 ngàn đồng/kg Với việc mua cà phê nhân cộng với phụ gia thì các lò xay không có lãi Cuối cùng họ làm cà phê giả để kiếm lời

Giao cho các quán giá khoảng 30.000 đồng/kg, lời gấp 5 lần so với chế biến bằng

cà phê thật Lợi nhuận quá cao nên sau 5 năm làm ăn, các chủ lò dễ dàng tậu nhà lầu, xe hơi Mỗi chủ lò loại vừa có khoảng trên một trăm quán "ruột" ở khắp địa bàn Saigon và các tỉnh lân cận như: Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai

1.5 Sự lỏng lẻo của cơ quan quản lý nhà nước

Trang 4

Ngoài ra, những loại chất phụ gia bán tràn lan trên thị trường, khi được hỏi về kinh nghiệm làm cà phê thì đa số đều được tư vấn rằng cần phải dùng những chất phụ gia gì chứ không ai tư vấn bán cà phê nguyên chất Do cục quản lý thị trường không quản lý những chợ bán phụ gia này nên chủ lò sản xuất cà phê vẫn cho rằng điều đó là hợp pháp

2 Nguyên liệu làm “café giả” (café pha tạp)

 Ngoài nguyên liệu cà phê hạt thiên nhiên thì một trong những nguyên liệu được sử dụng trong công nghệ làm cà phê pha tạp là trộn thêm đậu nành, bắp Tuy nhiên, loại nguyên liệu này sau khi rang có độ đắng rất thấp Chính vì vậy, các chủ lò rang xay phải tìm các phụ gia để làm tăng độ đắng cho bắp như các loại caramel đắt tiền Do đó, giá thành của loại cà phê pha tạp này cũng bị đẩy lên cao Cuối cùng, các chủ lò xay rang tìm đến các loại đậu nành

 Các chủ lò tìm đến đậu nành không chỉ vì loại ngũ cốc này có giá rẻ hơn rất nhiều so với cà phê Đậu nành sau khi rang cháy đen có vị đắng rất gắt mà không cần phải pha trộn thêm các chất làm đắng

 Để có thể chế biến pha trộn đậu nành thành cà phê để thu lợi nhuận, các lò xay thường tìm mua các loại đậu nành từ Malaysia, Campuchia, Canada Tuy nhiên, đậu nành Capuchia (nành Miên, cách gọi của dân rang xay cà phê) có vị đậm (ngọt, đậm đà)

và có mùi thơm không khét như các loại đậu nành khác nên được dùng nhiều hơn cả

 Nguồn của loại dùng trong pha chế cà phê chủ yếu là từ Trung Quốc, tập kết tại

“Chợ hóa chất” Kim Biên, Tp.HCM

 Ngoài việc bán hóa chất, nhiều cửa hàng ở chợ Kim Biên còn bán loại bao bì mẫu dùng để đựng cà phê Nhiều nhất là khu vực đường Trang Tử (phường 14, quận 5) Ở đây thiết kế sẵn cả chục loại bao bì cực kỳ bắt mắt, rất đẹp với đủ trọng lượng khác nhau Hầu hết cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ thường đến đây để lấy hàng Giá bao bì mẫu khoảng 140.000 đồng/kg Thông thường, các cửa hàng này chỉ nhận làm mẫu với số lượng từ 5kg bao trở lên Mua bao xong chủ nhân muốn in tên gì lên trên cũng được, chỉ cần đem đến tiệm, chớp nhoáng là xong…

Trang 5

3 Quy trình làm “café giả” (café pha tạp)

 Sau khi tiến hành các bước cho cà phê hạt tự nhiên xong thì đầu tiên, đậu nành sẽ được đổ vào lò rang ở nhiệt độ 200 độ C đến khi lên màu đen đặc Sau đó, chất tạo màu caramel, vốn là đường công nghiệp sẽ được đổ vào trộn chung với đậu nành đã chín

 Mục đích của động tác này là để tạo màu và vị ngọt ban đầu và phá vị đắng “gắt” cho cà phê giả Caramel trộn vào đậu nành rang cháy đen ở nhiệt độ cao cũng đồng nghĩa với việc caramel được đun lại lần thứ hai

 Sau khi caramel đổ vào khoảng mấy phút, các chủ lò rang tiếp tục rắc đường hóa học “Made in China” vào để tăng vị ngọt Hỗn hợp trên được trộn đều để caramel khô lại

 Tiếp đến đổ hỗn hợp ra một khay lớn để thực hiện công đoạn biến đậu nành thành cà phê bằng phụ gia, hương liệu Sau khi cà phê giả được làm nguội, bơ công nghiệp và các loại dầu sẽ được các “chuyên gia” chế vào đậu nành

 Sau đó sử dụng mùi là phụ gia không thể thiếu Tùy theo “lò”, người ta có thể dùng dầu cải, dầu dừa Để phá mùi đậu nành và có hương cà phê, các lò phải đổ một lượng lớn bột béo xuất xứ từ Trung Quốc Loại bột này được bày bán tràn lan trong các cửa hàng hương liệu trong chợ Kim Biên, đường Nguyễn Trãi… với giá rẻ mạt Sau đó, tùy theo yêu cầu của khách hàng thì thêm các loại tinh sữa của Pháp để tạo vị bùi, tinh Sô tạo mùi dài lâu trên bao bì, tinh Singapo, tinh ca cao và các loại hóa chất tạo bọt Lúc

đó, các chủ “lò” đã nắm trong tay loại cà phê “thượng hạng”

 Khâu cuối cùng là trộn cà phê rang xay hạt nguyên chất và cà phê rang xay pha trộn

Trang 6

4 Lợi nhuận khi làm “cà phê giả”

 Công thức tính giá vốn cà phê giả: C giả = c1 + c2 + c3.a (x’ + x y) (2)

 Trong đó:

- c1, c2 là chi phí sản xuất và chi phí hóa chất;

- c3 là đơn giá nguyên liệu café thật, a là tỷ lệ thu hồi của cà phê

- x là tỷ lệ giả

- x’ là tỷ lệ nguyên liệu thật còn lại

- y là tỷ lệ giữa đơn giá chất độn so với đơn giá nguyên liệu thật

 Công thức (2) cho thấy khi tỷ lệ độn tăng, hoặc/và giá nguyên liệu thay thế giảm thì giá vốn giảm Mức giảm của giá vốn ngày càng tăng mạnh hơn khi tỷ lệ độn tăng dần và/hoặc khi giá nguyên liệu thay thế giảm dần Để dễ hình dung, bạn đọc có thể xem các ví dụ sau:

 Ví dụ 1: Giá cà phê nguyên liệu là 42.000đ/kg Một kg cà phê rang xay cần 1,3 kg cà phê nguyên liệu Chi phí sản xuất khác là 5.400 đồng Giá vốn cà phê xay nguyên chất

là 42.000đ x 1,3 + 5.400 đ = 60.000 đồng/ kg Nếu bán với giá trước thuế là 80.000 đồng/kg, lợi nhuận gộp là khi làm cà phê thật sẽ là 80.000đ : 60.000đ - 1 = 33,3%

 Ví dụ 2: Chất độn là đậu nành, giá 18.000đ/kg Nhà sản xuất sử dụng đậu nành để thay thế 50% cho cà phê nguyên liệu Đậu nành cũng có tỷ lệ thu hồi tương đương cà phê Hóa chất tạo hương vị cà phê cần sử dụng là 300đ Chi phí sản xuất khác cũng là 5.400 đồng Giá vốn khi đó là: 18.000đ x 0,65 + 42.000đ x 0,65 + 300 đ + 5.400 đ = 44.700đ Lợi nhuận gộp là 80.000đ : 44.700đ - 1 = 78,9%

 Ví dụ 3: Nếu chất độn cũng là đậu nành, giá 18.000đ/ kg Tỷ lệ độn là 100% nên lượng hóa chất nhiều hơn, mất 1000đ Chi phí sản xuất khác cũng là 5.400 đồng Giá vốn khi đó là: 18.000đ x 1,3 + 500 đ + 5.400 đ = 29.800đ Lợi nhuận gộp là 80.000đ/ 29.800đ – 1 = 168,4%  Siêu lợi nhuận

Trang 7

5 Hình thức bỏ mối

 Bỏ mối cho các quán nước nhỏ, quán cóc ở ven đường…ở các huyện ngoại thành của TPHCM như Củ Chi, Bình Chánh và những vùng giáp ranh như Long An, Đồng Nai…

 Có 5 công ty ở vùng ven được liệt vào hàng “đại gia”, mỗi ngày, mỗi công ty tung ra thị trường ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Bình Phước khoảng trên dưới 10 tấn đậu nành dưới vỏ bọc “cà phê đặc biệt” Các công ty này bỏ mối hai loại hàng: loại đậu nành và bắp đã tẩm xong hóa chất và loại cà phê bột “đểu” Theo một

“trùm” rang cà phê thâm niên 10 năm ở Hóc Môn, chỉ tính 5 công ty kể trên, mỗi ngày cung cấp ra thị trường hàng chục tấn cà phê đểu đóng gói trong những bao bì sang trọng Còn các cơ sở nhỏ lẻ ở khắp các kphường xã thì cũng cung cấp từ 1 đến 3 tấn/ngày

 Nhiều chủ sản xuất cà phê giả sẵn sàng đầu tư cho những quán cà phê mới mở toàn

bộ đầu máy, tivi cho đến bàn ghế Chủ quán chỉ cần nhận hàng đều đều, đủ 500 kg cà phê thì toàn bộ những gì được đầu tư sẽ thuộc về chủ quán Chưa kể các chủ lò còn khuyến mãi quà, lịch cho quán mỗi dịp Tết lễ để tăng sức cạnh tranh

Trang 8

về các thành phần pha chế cà phê nên các cơ sở sản xuất cà phê pha tạp xuất hiện từ đó Nhưng vì một số cơ sở quá tham lợi nhuận vì sản xuất cà phê pha tạp đem lại lợi nhuận rất cao nên đã sử dụng các hóa chất độc hại để làm café pha tạp nhưng tiểu nhóm chúng tôi đứng khía cạnh là cơ sở đã sản xuất cà phê pha tạp nhưng không là cơ sở vì quá ham lợi nhuận mà sử dụng các chất hóa chất độc hại mà chỉ là cơ sở pha trộn thêm các chất phụ gia vào cà phê nguyên chất để giảm giá thành

Bạn là người uống cà phê và cũng giống như khẩu vị người Việt nói chung, người dân Sài Gòn nói riêng thì bạn sẽ có cách nhìn nhận khách quan tại sao cơ sở sản xuất của tiểu nhóm tôi lại sản xuất café pha tạp (không cho hóa chất độc hại của Trung Quốc) Và đó là lý do tiểu nhóm chúng tôi muốn gửi đến các bạn yêu thích uống cà phê

Trang 9

Phần 2: Nhóm khách thể: Doanh nghiệp sản xuất cà phê thật và người tiêu dùng

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường thành phố Hồ Chí Minh đang có đến gần 2.000 thương hiệu cà phê bột đóng gói, từ những cơ sở có vốn chỉ vài trăm nghìn đồng cho đến các công ty với hàng trăm công nhân làm việc Có những cơ sở mặt bằng chỉ vài mét vuông, kinh doanh theo kiểu đến các lò rang mua cà phê về xay, đóng gói với một nhãn hiệu "mạnh ai nấy nghĩ" rồi mang đi bỏ mối cho các quán cà phê lớn nhỏ, nhiều nhất là các quán cà phê

"cóc" lề đường

Thực trạng cà phê giả đang ảnh hưởng rất lớn đến người tiêu dùng và ngành cà phê Việt Nam Vì vậy để tìm hiếu những tác động này, chúng ta cùng phân tích những

nội dung sau:

 Phương pháp chế biến cà phê nguyên chất: Phương pháp chế biến khô, chế biến nửa ướt và chế biến ướt

 Nhận biết – phân biệt cà phê nguyên chất: phân biệt trước khi pha, khi đang pha, sau khi pha và phân biệt thông qua trãi nghiệm của chính bạn

 Lý do người tiêu dùng khó phát hiện được cà phê giả

 Tác hại của cà phê giả: đối với người tiêu dùng, người trồng cà phê và đối với doanh nghiệp sản xuất cà phê thật

 Kiến nghị: đối với cơ quan quản lý, người tiêu dùng, và doanh nghiệp chế biến cà phê

Trang 10

1 Phương pháp chế biến cà phê nguyên chất:

Trong thời gian qua, cà phê nước ta phát triển nhanh về diện tích nhưng chưa quan tâm khâu chế biến nên dẫn tới hậu quả là chất lượng về hương vị tuy đạt nhưng giá thành thấp so với các nước trong khu vực vì khâu chế biến không được coi trọng Nâng cao năng lực chế biến để vừa tăng được chất lượng, lại vừa tăng giá thành xuất khẩu là một việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay

Hiện nay, trong ngành cà phê nước ta đang tồn tại 3 phương pháp chế biến cà phê chính, đó là chế biến khô, chế biến nửa ướt và chế biến ướt

1.1 Phương pháp chế biến khô

Phương pháp chế biến khô hiện là phương pháp phổ biến nhất hiện nay nhờ có nhiều ưu điểm là đơn giản, chỉ có một công đoạn chính là làm khô quả cà phê tươi đến một mức độ nhất định rồi dùng máy xát loại bỏ các lớp vỏ thịt bọc ngoài để lấy nhân Chế biến khô có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao nếu nguyên liệu đầu vào đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và trong điều kiện thời tiết thuận lợi Nhưng phương pháp chế biến này còn bộc lộ nhiều nhược điểm là phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thời tiết, tốn nhiều công phơi đảo, thời gian chế biến kéo dài trên 15 ngày và đòi hỏi diện tích sân phơi lớn

Trang 11

1.2 Phương pháp chế biến nửa ướt:

Phương pháp chế biến nửa ướt cũng được người trồng cà phê sử dụng khá phổ biến nếu trời khô ráo và có nắng Chế biến nửa ướt là xát dập quả cà phê gồm cả quả chín lẫn quả xanh mà không cần dùng nước, sau đó đem phơi khô Phương pháp chế biến này có ưu điểm là rút ngắn thời gian phơi từ 40% - 60% so với phương pháp chế biến khô, tuy nhiên mặt hạn chế của phương pháp chế biến này là sản phẩm khó đạt chất lượng cao, dễ bị nấm mốc, tỷ lệ hạt nhân bị đen nhiều nếu gặp thời tiết không thuận lợi

1.3 Phương pháp chế biến ướt

Phương pháp chế biến ướt được xem là phương pháp chế biến tốt nhất, hiện đại nhất hiện nay nhờ tiết kiệm được diện tích sân phơi, rút ngắn thời gian phơi sấy, khi sử dụng phương pháp chế biến này, dây chuyền chế biến hiện đại cho phép loại các quả xanh, quả khô và các tạp phẩm khác ra khỏi nguyên liệu chế biến nên sản phẩm có chất lượng cao và đồng đều hơn so với 2 phương pháp chế biến trên Tuy nhiên, phương pháp chế biến này đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, tốn nhiều điện, nước, tốn chi phí đào tạo nhân lực để vận hành và tốn chi phí để xử lý nguồn nước thải trong quá trình chế biến nếu không rất dễ gây ô nhiễm đến môi trường

2 Nhận biết – phân biệt cà phê nguyên chất:

Cà phê là một loại hạt rất đặc biệt và khác biệt, có thể dễ dàng phân biệt cà phê nguyên chất và không nguyên chất, bột cà phê với bột của các loại hạt ngũ cốc khác

2.1 Phân biệt trước khi pha – nhận biết bột cà phê nguyên chất

Trang 12

khác và từ đó thể tích (hay khối lượng) của 1 kg bột cà phê luôn luôn lớn hơn thể tích của bột các loại ngũ cốc rang

2.1.2 Độ xốp của bột cà phê

Nhìn theo cảm quan, bột cà phê nguyên chất rất nhẹ, có độ xốp, tơi và rời Bột của hạt ngũ cốc khác thường dính lại, ít tơi bong hơn Ngoài ra, hạt cà phê rang rất giòn,

có cấu trúc sợi cellulose đồng đều, dễ vỡ và vỡ đều trong cối xay, nên bột cà phê xay ra

có độ xốp, mịn tương đối đồng đều Trái lại các loại hạt đậu, bắp rang, khi xay bột độ mịn không đồng đều nên không có độ tơi xốp như bột cà phê nguyên chất

2.1.3 Độ ẩm của bột cà phê

Bột cà phê nguyên chất ít ngậm nước, không có nhiều độ ẩm Bột các loại ngũ

cốc khác thường giữ nước và có độ ẩm cao hơn Hơn nữa, do hạt đậu và bắp không có mùi thơm của cà phê, nên nhà sản xuất trộn thêm hóa chất, hương liệu cà phê tổng hợp, nhân tạo vào trước khi xay ra bột Do đó, bột cà phê pha tạp có vẻ ẩm ướt, thậm chí vón cục khi được tẩm nhiều caramen tạo màu, khác hẳn với bột cà phê nguyên chất rất khô

và tơi xốp

2.1.4 Màu của bột cà phê

Khi rang đến nhiệt độ và thời gian thích hợp…bột cà phê có màu nâu đậm (Nếu

hạt cà phê rang chưa đến nhiệt độ và thời gian nổ lần 1 thì bột có màu vàng sáng vị chua, và mùi nồng) Hạt bắp rang để độn vào cà phê thường có màu đen đậm Còn đậu nành rang và xay ra bột có màu nâu đậm đục, ngã vàng đục, hoàn toàn không giống màu nâu đậm của bột cà phê Nếu bạn nhìn thấy bột trong 1 bịch chứa có màu nâu đậm ngả vàng, thể tích nhỏ, nhưng cầm nặng tay là tỷ lệ đậu nhiều Bột có màu đen thui thể tích cũng nhỏ là có trộn nhiều bắp

2.1.5 Mùi của bột cà phê

Nếu quen thuộc, bạn không khó để nhận ra mùi thơm rất dễ chịu, hấp dẫn và rất

đặc trưng của bột cà phê nguyên chất Bột đậu nành có mùi gắt, hòa quyện với hương liệu bốc lên một mùi thơm nặng nề chứ không dịu dàng như mùi nguyên thủy của cà phê rang

Ngày đăng: 17/10/2014, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w