Định hướng và giải pháp phát triển thương mại Điện tử ở Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT & THUẬT NGỮ 1
LỜI MỞ ĐẦU 2 U CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ INTERNET VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 4
1.1 Tổng quan về Internet 4
1.1.1 Khái niệm Internet 4
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Internet 4
1.1.3 Ứng dụng của Internet 5
1.2 Tổng quan về thương mại điện tử 5
1.2.1 Khái niệm về thương mại điện tử 5
1.2.1 Đặc trưng của thương mại điện tử 7
1.2.2 Lợi ích của thương mại điện tử 8
1.2.3 Hạn chế của thương mại điện tử 10
1.2.4 Tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới 11
CHƯƠNG 2 13
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 13
2.1 Hạ tầng Internet và CNTT: 13
2.1.1 Hạ tầng Internet: 13
2.1.2 Công nghệ thông tin 15
2.2 Pháp lý: 16
2.3 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp 19
2.3.1 Tổng quan tình hình ứng dụng CNTT và thương mại điện tử 19
2.3.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp 20
2.3.3 Nguồn nhân lực cho CNTT và thương mại điện tử trong doanh nghiệp 24
2.3.4 Các công ty thiết lập trang web thương mại điện tử 26
Trang 22.4 Một số dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử: 33
2.4.1 Trang web cung cấp dịch vụ trung gian mua bán 33
2.4.2 Dịch vụ thanh toán điện tử 34
2.5 Những thách thức chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam đến năm 2010 37
CHƯƠNG 3 39
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 39
3.1 Xu hướng phát triển thương mại điện tử tới 2010 39
3.2 Định hướng phát triển thương mại điện tử đến năm 2010 39
3.4 Giải pháp phát triển TMĐT ở Việt Nam đến năm 2010 45
3.4.1 Đẩy mạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền về TMĐT 45
3.4.2 Phát triển nguồn nhân lực cho thương mại điện tử 47
3.4.3 Hỗ trợ đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp lớn 49
3.4.4 Đẩy nhanh việc tạo lập môi trường pháp lý 49
3.4.5 Các cơ quan chính phủ phải nhanh chóng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ TMĐT và chủ động, tích cực tham gia thương mại điện tử 51
3.4.6 Đầu tư cho thương mại điện tử 53
3.4.7 Về hạ tầng kỹ thuật và viễn thông 53
3.4.8 Giải pháp cho doanh nghiệp 54
3.4.9 Thanh toán điện tử 55
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG - BIỂU
Bảng 1: Số người sử dụng Internet trên 10.000 dân 14
Bảng 2: Các nước dẫn đầu về vi phạm bản quyền năm 2003 18
Bảng 3: Nhóm đối tượng điều tra chung phân theo ngành nghề kinh doanh 19
Bảng 4: Nhóm đối tượng có trang web phân theo ngành nghề kinh doanh 20
Bảng 5: Cơ cấu đầu tư CNTT trong các doanh nghiệp 23
Bảng 6: Tỷ lệ trang web phân theo nhóm sản phẩm/dịch vụ 26
Bảng 7: Tỷ lệ trang web có các tính năng thương mại điện tử 28
Bảng 8: Các hình thức quảng bá trang web của doanh nghiệp 29
Bảng 9: Tỷ trọng chi CNTT trong tổng chi phí hoạt động hàng năm 30
Bảng 10: Ước tính mức đóng góp vào tổng doanh thu của ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp 31
Biểu 1: Hình thức truy cập trang web của các DN nói chung 21
Biểu 2: Hình thức truy cập Internet của các DN có trang web 22
Biểu 3: Tỷ trọng chi phí CNTT trong tổng chi phí hoạt động hàng năm 23 Biểu 4: Các hình thức đào tạo CNTT trong doanh nghiệp 25
Biểu 5: Tỷ lệ trang web phân theo năm thành lập 27
Biểu 6: Tỷ lệ trang web tên miền Việt Nam và quốc tế trong từng thời kỳ 28
Trang 4MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT & THUẬT NGỮ
- TMĐT : (Electronic Commerce) Thương mại điện tử
- CNTT : Công nghệ thông tin
- B2B : (Business to Business) Giao dịch giữa công ty với công ty
- ISP : (Internet Service Provider) Nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet
- IXP : (Internet Exchange Provider) Nhà cung cấp dịch vụ kết nối
Internet
- TCP/IP : (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) Giao thức
kiểm soát truyền tin giữa các máy tính trên Internet
- ISDN : (Intergrated Services Digital Network) Mạng số các dịch vụ tích
hợp
- Leased line : Thuê bao Internet với địa chỉ IP tĩnh
- VSAT : (Very Small Aperture Terminal) Hệ thống truyền thông qua vệ
tinh
- WiFi : (Wireless Fidelity) Công nghệ kết nối không dây
- GPRS : (General Packet Radio Service) Tiêu chuẩn truyền thông vô
tuyến
- PKI : (Public Key Infrastructure) Công nghệ hạ tầng khóa công khai
- FOSS : (Free and Open Source Software) Phần mềm nguồn mở và
miễn phí
- LAN : (Local Area Network) Mạng cục bộ
- WAN : (Wide Area Network) Mạng diện rộng
- UNCTAD : (United Nations Conference on Trade and Development)
Hội nghị Mậu dịch và Phát triển Liên hiệp quốc
UNCITRAL:
- (United Nations Commission on International Trade Law) Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Ra đời vào những năm đầu thập niên 90, Internet được xem như một thành tựu nổi bật trong lĩnh vực công nghệ thông tin của thế kỷ 20 Các ứng dụng của Internet ngày càng rộng rãi, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, trở thành nền tảng cho thương mại điện tử phát triển
Từ năm 2000 đến nay, thương mại điện tử thế giới đã tăng trưởng với tốc độ đáng kinh ngạc 70%/năm Năm 2004, tổng doanh số thương mại điện tử toàn cầu vượt quá 5.000 tỷ USD Hiện nay, Mỹ là nước đứng đầu trong lĩnh vực thương mại điện tử Trong khu vực, Singapore và Thái Lan
là 2 quốc gia phát triển thương mại điện tử từ trước 1997 (thời điểm nước
ta chính thức mở cổng Internet) Hiện nay 100% doanh nghiệp Singapore
và khoảng 80% doanh nghiệp Thái Lan đã tham gia thương mại điện tử Cho tới năm 2005 thương mại điện tử đã hình thành ở Việt Nam và đã bước đầu góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của một số doanh nghiệp Nhà nước đã vạch ra chủ trương, đường lối chung mở đường cho thương mại điện tử phát triển Một số hoạt động nghiên cứu và triển khai
đã được các cơ quan nhà nước cũng như các doanh nghiệp tiến hành Tuy nhiên môi trường pháp lý cho thương mại điện tử chưa hình thành, nguồn nhân lực còn rất thiếu và yếu, hạ tầng kỹ thuật cho thương mại điện tử chưa thuận lợi
Ngoài ra theo bảng đánh giá mức độ sẵn sàng ứng dụng thương mại điện tử năm 2005 của EIU, với 3.06 điểm, Việt Nam vẫn đứng hàng thứ
15 trong khu vực, không thay đổi so với năm 2004, nhưng đứng hàng 61 trên thế giới, tụt 1 bậc so với năm 2004
Chính vì những vấn đề nêu trên, em đã chọn đề tài:
“Định hướng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam đến năm 2010”
Mục đích nghiên cứu:
Trang 6Hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về Internet và thương mại điện tử, nghiên cứu, phân tích thương mại điện tử trên thế giới và xu hướng phát triển
Tổng kết, đánh giá sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam đến năm 2005
Định hướng và đề xuất giải pháp để phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam đến năm 2010
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Các công ty trên thế giới và Việt Nam có ứng dụng thương mại điện
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp lịch sử: nghiên cứu cách triển khai thương mại điện tử ở các nước trên thế giới để rút ra kinh nghiệm ứng dụng cho các công ty trong nước
Sử dụng phương pháp mô tả: thu thập các nguồn dữ liệu trên Internet, tiến hành phân tích, sắp xếp có hệ thống, khái quát về các vấn đề mang tính mới ở Việt Nam
Kết cấu đề tài:
Đề tài được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về Internet và thương mại điện tử
- Chương 2: Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
trong thời gian qua
- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển thương mại điện tử ở
Việt Nam đến năm 2010
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ INTERNET VÀ
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Internet
Sự kiện Liên Xô phóng thành công tên lửa Sputnik năm 1957 được xem như nguyên nhân gián tiếp của sự xuất hiện Internet Bởi vì, một phần sau sự kiện này, Bộ Quốc Phòng Mỹ đã tài trợ cho một nhóm sinh viên từ nhiều trường Đại học và Viện nghiên cứu của Mỹ để tham gia chương trình nghiên cứu về một cách thức truyền thông mới Kết quả nghiên cứu là sự ra đời của mạng ARPA (The Advanced Research Project Agency – tên của tổ chức tài trợ chi phí nghiên cứu cho chương trình này) Sau đó, mạng này được các trường Đại học cùng nhau phát triển để trở thành một mạng chung cho các trường Đại học, gọi là ARPAnet – ông tổ của Internet ngày nay Ban đầu, mạng này được các trường Đại học sử dụng, sau đó Quân đội cũng bắt đầu tận dụng, và cuối cùng Chính phủ Mỹ quyết định mở rộng việc sử dụng mạng cho mục đích thương mại và cộng đồng
Đến năm 1990, Tim Berners-Lee (người Anh) phát minh ra WWW (World Wide Web - Mạng toàn cầu) và các phương thức truyền thông
Trang 8làm cơ sở cho WWW Nhờ vào WWW, kho tàng tri thức của nhân loại đã được đưa lên mạng để chia xẻ cho mọi người trên khắp thế giới, việc kinh doanh cũng trở nên thuận tiện hơn khi mà khoảng cách vật lý đã bị WWW thu hẹp lại, ví dụ ta có thể ngồi ở nhà và thoải mái duyệt qua hiệu sách với hàng trăm nghìn quyển của Amazon và đọc tóm tắt của các quyển mà ta quan tâm v.v… Và nhờ vào WWW, ngày nay các doanh nghiệp có thể trưng bày sản phẩm, đưa thông tin về mình lên mạng cho các đối tượng khách hàng ở các nước trên thế giới xem một cách vô cùng thuận tiện và hiệu quả về mặt chi phí
1.1.3 Ứng dụng của Internet
Duyệt web, tìm kiếm thông tin, thăm các bảo tàng, trường học, cập nhật tin tức, truy cập các thư viện, đọc các tác phẩm văn học, tải phần mềm tiện ích, giải trí, nghe nhạc, xem phim, chơi game, email, hội thảo, tán gẫu, mua sắm, v.v
Ngoài ra, Internet đang ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, là môi trường lý tưởng cho sự xuất hiện một hình thức kinh doanh mới, đó là thương mại điện tử (Electronic Commerce, E-Commerce)
1.2 Tổng quan về thương mại điện tử
1.2.1 Khái niệm về thương mại điện tử
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thương mại điện tử nhưng tựu trung lại có hai quan điểm lớn trên thế giới xin được nêu ra dưới đây Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu
về Thương mại điện tử của UNCITRAL: Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ
Trang 9thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của thương mại điện tử
Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo)
Tóm lại, theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bán hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng Có thể nói
Trang 10rằng thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình
cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet
Khái niệm về thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc đưa ra là: thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ
là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet
Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex
1.2.1 Đặc trưng của thương mại điện tử
So với các hoạt động Thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
• Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước
• Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu
• Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của
ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực
• Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường
Trang 111.2.2 Lợi ích của thương mại điện tử
Đối với doanh nghiệp
Thương mại điện tử nên được xem là một công cụ hỗ trợ thương mại truyền thống trong bối cảnh Việt Nam hiện nay Thật vậy, ở Việt Nam hiện nay chưa có đơn vị kinh doanh nào hoàn toàn “ảo”, có nghĩa là các hoạt động kinh doanh hoàn toàn dựa trên mạng Internet:
• Quảng bá thông tin và tiếp thị cho một thị trường toàn cầu với chi phí cực thấp: chỉ với vài chục đô-la Mỹ mỗi tháng, doanh nghiệp đã có thể đưa thông tin quảng cáo đến với vài trăm triệu người xem từ các nơi trên thế giới Đây là điều mà chỉ có thương mại điện tử làm được Thử so sánh với một quảng cáo trên báo Tuổi Trẻ với vài triệu độc giả, mỗi lần quảng cáo doanh nghiệp phải trả ít nhất 50 đô-la Mỹ, còn nếu có một trang web của mình, doanh nghiệp có thể quảng cáo thông tin 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, và lượng độc giả là hàng trăm triệu người từ mọi nơi trên thế giới Chi phí cho trang web mỗi tháng ước tính (kinh tế nhất) là: 5 đô-
la Mỹ chi phí lưu trữ trực tuyến (hosting), 10-20 đô-la Mỹ trả cho chi phí quảng cáo (liệt kê địa chỉ web trên một dạng danh bạ doanh nghiệp điện tử)
• Dịch vụ tốt hơn cho khách hàng: với thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể cung cấp catalogue, brochure, thông tin, bảng báo giá cho đối tượng khách hàng một cách cực kỳ nhanh chóng, tạo điều kiện cho khách hàng mua hàng trực tiếp từ trên mạng v.v… Nói tóm lại, thương mại điện tử mang lại cho doanh nghiệp các công cụ để làm hài lòng khách hàng, bởi trong thời đại ngày nay, yếu tố thời gian thực sự là vàng bạc, không ai có đủ kiên nhẫn phải chờ đợi thông tin trong vài ngày Hơn nữa, ngày nay chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ là những yếu tố rất quan trọng trong việc tìm và giữ khách hàng Nếu không xử lý yêu cầu thông tin của đối tượng quan tâm một cách nhanh chóng, họ sẽ không
Trang 12kiên nhẫn chờ, trong khi đó có biết bao đối thủ cạnh tranh đang săn đón
họ
• Tăng doanh thu: với thương mại điện tử, đối tượng khách hàng của doanh nghiệp giờ đây đã không còn bị giới hạn về mặt địa lý, hay thời gian làm việc Doanh nghiệp không chỉ có thể bán hàng cho cư dân trong thành phố, mà còn có thể bán hàng trong toàn bộ Viêt Nam hoặc các nước khác Không ngồi chờ khách hàng tự tìm đến với mình mà tích cực
và chủ động đi tìm khách hàng cho mình Vì thế, chắc chắn rằng số lượng khách hàng sẽ tăng lên đáng kể dẫn đến doanh thu nhảy vọt Đó là điều
mà doanh nghiệp nào cũng mơ ước Tuy nhiên, chất lượng và giá cả sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp phải tốt, nếu không, thương mại điện
tử cũng không giúp gì được cho doanh nghiệp
• Giảm chi phí hoạt động: với thương mại điện tử, doanh nghiệp không phải tốn kém nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, đông đảo nhân viên phục vụ, cũng không cần phải đầu tư nhiều cho kho chứa Chỉ cần khoảng 10 triệu đồng xây dựng một trang web bán hàng qua mạng, sau
đó chi phí vận hành trang web mỗi tháng không quá một triệu đồng Nếu trang web của doanh nghiệp chỉ là trưng bày thông tin, hình ảnh sản phẩm, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí in ấn brochure, catalogue
và cả chi phí gửi bưu điện những ấn phẩm này Và đặc biệt nếu làm hàng xuất khẩu, doanh nghiệp có thể ngồi ở nhà và tìm kiếm khách hàng qua mạng, không cần phải tốn kém nhiều cho những chuyến đích thân “xuất ngoại”
• Lợi thế cạnh tranh: việc kinh doanh trên mạng là một “sân chơi” cho
sự sáng tạo, nơi đây, doanh nghiệp tha hồ áp dụng những ý tưởng hay nhất, mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v… Và một khi tất
cả các đối thủ cạnh tranh đều áp dụng thương mại điện tử, thì phần thắng
sẽ thuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra nét đặc trưng cho doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ của mình để có thể thu hút và giữ được khách hàng
Trang 13Đối với cá nhân hay cộng đồng:
Thương mại điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho cá nhân như:
• Quyền chọn lựa dịch vụ, sản phẩm để có thể an tâm khi mua (vì thương mại điện tử buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả, dịch vụ nên cuối cùng là người tiêu dùng có lợi)
• Truy cập nguồn thông tin, kiến thức phong phú, bổ ích
• Được hưởng lợi ích từ cộng đồng trực tuyến – như những người bạn
“ảo” sẵn sàng giúp nhau khi một ai đó có nhu cầu cần được hỗ trợ
Đối với quốc gia
Thương mại điện tử sẽ góp phần rất lớn vào việc phát triển nền kinh tế quốc gia, phục vụ lợi ích cộng đồng (chủ yếu là thông tin, kiến thức, dịch vụ) để giúp Việt Nam nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, sớm sánh vai cùng các nước trong khu vực
1.2.3 Hạn chế của thương mại điện tử
- Cơ sở hạ tầng: Đây là thách thức lớn nhất đối với một nước kém
phát triển, cũng là thách thức đối với các nước phát triển khi muốn chuyển giao công nghệ hoặc muốn làm ăn với các nước kém phát triển
- An toàn:
• Đối với cá nhân: Khi những thông tin cá nhân như số thẻ tín dụng, tên tuổi, địa chỉ, v.v được gửi đi qua Internet, tin tặc có thể đánh cắp chúng ngay trên đường đi bất cứ lúc nào
• Trong giao dịch: Trong giao dịch thương mại điện tử, người mua và người bán hoàn toàn không biết gì về nhau, dẫn đến gian lận thương mại hoàn toàn có thể xảy ra
• Thẻ tín dụng chùa: Đây là một vấn nạn nhức nhối hiện nay, nhưng vẫn chưa có cách giải quyết triệt để Khi hacker sử dụng số thẻ tín dụng của một người nào đó mua hàng, nạn nhân sẽ mất tiền trong tài khoản Nếu may mắn không mất tiền, nghĩa là người mua thu hồi lại được tiền, người bán sẽ là người chịu thiệt thòi, vì một mặt họ bị mất hàng, mặt
Trang 14khác họ phải hoàn lại tiền cho ngân hàng cộng với tốn một khoản phí chuyển tiền thường là 4%
- Pháp lý: Việc áp dụng nền pháp lý thông thường sang thương mại
điện tử gặp khó khăn về nhận thức, kỹ thuật, niềm tin và đạo đức
- Thư rác: Trong nghiã thông thường, thư rác được dùng để chỉ các
loại thư có nội dung quảng cáo hay các loại hàng miễn phí cho để dùng thử, loại hàng thường thấy nhất là các loại phần mềm trên các CD được gửi tới nhiều địa chỉ gia đình hay cơ sở thương mại Khái niệm "rác" đến
từ ý nghiã là những lá thư này thường bị loại bỏ hơn là có được sự lưu tâm của ngưòi nhận
Năm 2003, trên thế giới có khoảng 50% e-mail là thư rác Báo cáo của Hội thảo Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp Quốc cho thấy thiệt hại
do thư rác gây ra khoảng 20,5 tỷ USD
1.2.4 Tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới
- Thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới
Tuy nhiên, sự khác biệt trong ứng dụng thương mại điện tử giữa các nước phát triển và đang phát triển rất lớn Các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử toàn cầu Gần đây một số nền kinh tế ở châu Á như Hàn quốc hay Đài loan đã vươn lên vị trí cao trong bảng xếp hạng ứng dụng thương mại điện tử toàn cầu
- Về nhận thức
Thương mại điện tử đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với các doanh nghiệp và hầu hết người dân tại các nước phát triển và đang dần dần trở nên quen thuộc với các doanh nghiệp của các nước đang phát triển Doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ các cơ hội của thương mại điện tử và quan tâm tới việc xây dựng các mô hình kinh doanh thương mại điện tử, đưa thương mại điện tử thành một phần không thể tách rời của chiến lược phát triển doanh nghiệp
Trang 15- Về nguồn nhân lực cho thương mại điện tử
Mức độ phổ cập công nghệ thông tin (CNTT) đang tăng nhanh, nhiều trường đại học đã có chương trình đào tạo chuyên ngành về thương mại điện tử Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, đã chú trọng tới việc đào tạo cán bộ về thương mại điện tử Hoạt động quảng cáo, bán hàng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông qua mạng Internet đã trở thành một hoạt động không thể tách rời khỏi thành công của nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế giới
- Về xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho thương mại điện tử
Có sự chênh nhau khá rõ rệt trong việc xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho thương mại điện tử giữa các nước phát triển và đang phát triển Các nước đang phát triển hiện còn ở giai đoạn xây dựng chiến lược CNTT quốc gia, chủ yếu quan tâm các vấn đề về hạ tầng CNTT cơ bản, phát triển nguồn nhân lực, bản địa hóa ứng dụng thương mại điện
tử, xây dựng chuẩn và bước đầu xây dựng khung pháp lý cho thương mại điện tử Trong khi đó các nước phát triển đã hình thành chiến lược phát triển thương mại điện tử từ thập kỷ trước và cơ bản đã xây dựng được môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử
- Về hạ tầng CNTT và truyền thông
Phần lớn các nước phát triển đã xây dựng được hạ tầng tiên tiến về CNTT và truyền thông với tỷ lệ cao các máy tính được nối mạng LAN, WAN và Internet tốc độ cao Hơn thế nữa, các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, tiếp tục thống lĩnh công nghệ phần mềm Trong những năm gần đây song song với sự mở cửa khá nhanh thị trường viễn thông, hạ tầng CNTT và truyền thông của các nước đang phát triển đạt được nhiều tiến
bộ, số người sử dụng Internet tăng nhanh, tuy nhiên về tổng thể thì khoảng cách về hạ tầng CNTT và truyền thông giữa hai nhóm nước này còn cách nhau rất xa
- Về bối cảnh kinh tế xã hội
thương mại điện tử phát triển thuận lợi nhất ở những nước mà xã hội mang tính mở, các quan hệ kinh doanh dựa trên chữ tín, nhà nước đã cung cấp những dịch vụ công cần thiết liên quan tới thương mại và đóng vai trò chất xúc tác cho thương mại điện tử, cộng đồng doanh nghiệp năng động và đã có kinh nghiệm ứng dụng CNTT Ngoài ra, quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở hợp tác thường xuyên và chặt chẽ giữa các doanh nghiệp đã trở thành tập quán kinh doanh trong xã hội và văn hoá tiêu dùng của người dân và văn hoá doanh nghiệp đã được hình thành với những tiền đề vững chắc
Trang 16CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
QUA
2.1 Hạ tầng Internet và CNTT:
2.1.1 Hạ tầng Internet:
- Tổng số trang web của các doanh nghiệp tại Việt Nam đã đạt tới con
số 17.500 vào cuối năm 2004
- Thuê bao Internet đạt trên 2 triệu, số IP đã cấp là 0,45 triệu, và 35.000 thuê bao truy nhập Internet sử dụng băng thông rộng
- Kết nối quốc tế thông qua 6 hướng với tổng dung lượng tăng từ 1038 Mbps vào tháng 12/2003 lên 1892 Mbps vào tháng 12/2004 Đối với kết nối trong nước, từ năm 2003 các doanh nghiệp IXP đã thực hiện kết nối đồng cấp thông qua Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
- Có 6 doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) là VNPT, Viettel, FPT, SPT, ETC và Hanoi Telecom Có 15 doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, trong đó có 7 doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ cho khách hàng là VNPT, FPT, SPT, Netnam, Viettel, OCI và Hanoi Telecom
- Theo VNNIC, cuối năm 2004 tổng số thuê bao Internet đạt khoảng trên 2 triệu và số IP đã cấp là 0,45 triệu, thuê bao chủ yếu là dial-up Dịch
vụ truy nhập Internet băng rộng đã được cung cấp từ năm 1997 với nhiều loại hình như ISDN, Leased Line, VSAT nhưng số khách hàng vẫn không nhiều và chủ yếu là doanh nghiệp do nguyên nhân chính là giá cước cao Từ giữa năm 2003 khi VNPT đã cung cấp dịch vụ ADSL tới nay đã có thêm 3 nhà cung cấp dịch vụ này cho khách hàng là FPT, Viettel và SPT, hiện có khoảng 35000 thuê bao truy nhập Internet sử dụng băng thông rộng Các loại hình dịch vụ truy nhập Internet mới như WiFi và GPRS cũng bắt đầu phát triển
Trang 17- Số người sử dụng Internet đạt khoảng 6,2 triệu, mật độ người sử dụng Internet đạt khoảng 7,4% Nếu so với số người sử dụng Internet vào cuối năm 2003 là 3,2 triệu người thì có thể thấy trong năm 2004 số người
-(Nguồn: VNNIC và Tổ chức viễn thông quốc tế - ITU) Cùng với số thuê bao và số người sử dụng Internet, số tên miền Internet phản ánh mức độ phổ cập Internet và hơn thế là mức độ ứng dụng Internet trong các hoạt động kinh tế, xã hội
- Theo VNNIC, số tên miền Việt Nam đã tăng từ 2300 vào tháng 12/2002 lên 5510 vào tháng 12/2003 và 9037 vào tháng 12/2004 Như vậy tốc độ tăng trưởng tên miền vn năm 2004 khoảng 64%
- Tuy nhiên sự tăng trưởng này chưa phản ánh sự tăng trưởng chung của số tên miền và số trang web của các doanh nghiệp Việt Nam vì chưa tính tới các tên miền quốc tế Căn cứ trên số tên miền vn, thông tin về tên miền quốc tế tại http://www.webhosting.info, ý kiến của các nhà chuyên môn tại một số công ty cung cấp dịch vụ web hosting, v.v có thể ước tính tổng số doanh nghiệp có trang web vào cuối năm 2004 khoảng 17.500
(Hầu hết doanh nghiệp sử dụng Internet cho mục đích kinh doanh tiến hành trao đổi thông tin và các giao dịch qua email, truy cập vào các trang web và thiết lập trang web của mình Các trang web là nơi tiến hành hầu
Trang 182.1.2 Công nghệ thông tin
- Theo Báo cáo Toàn cảnh CNTT Việt Nam năm 2004 (7/2004) của Hội Tin học Thành phố Hồ Chí Minh, tốc độ tăng trưởng thị trường CNTT Việt Nam năm 2003 là 28.8% và đạt 515 triệu USD, bao gồm 410 triệu USD phần cứng và 105 triệu USD phần mềm và dịch vụ, xuất khẩu được 730 triệu USD, bao gồm 700 triệu USD phần cứng và 30 triệu USD phần mềm Số máy tính tiêu thụ trên thị trường lên tới 1 triệu chiếc với máy tính có thương hiệu chiếm khoảng 20% Số nhân lực làm phần mềm tăng 150%, năng suất làm phần mềm đạt tới 10000 USD/người/năm
- Theo TS Nguyễn Minh Dân, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ Bộ Bưu chính viễn thông (Bài trình bày tại Khóa đào tạo “Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách phát luật cho thương mại điện tử” do
Bộ Thương mại phối hợp với Dự án Canada về hỗ trợ thực thi chính sách (PIAP) tổ chức tại Hà Nội ngày 4-7 tháng 4/2005), tổng giá trị các mặt hàng điện tử, CNTT tiêu thụ trong năm 2004 đạt 1,3 tỷ USD, tăng 38,5%
so với năm 2003, trong đó nhóm sản phẩm CNTT và điện thoại di động chiếm tỷ trọng 45,6%, tương đương 592,8 triệu USD Tổng giá trị xuất khẩu linh kiện điện tử, máy tính trong năm 2004 đạt hơn 1 tỷ USD, tăng khoảng 60% so với năm 2003 Công nghiệp phần mềm đạt doanh thu 150 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt trên 30 triệu USD
- Từ những con số trên, có thể ước tính sơ bộ giá trị thị trường CNTT Việt Nam 2004 đạt mức 713 triệu USD, bao gồm 593 triệu USD phần cứng và 120 triệu USD phần mềm và dịch vụ, tăng 38,4% so với năm
Trang 192.2 Pháp lý:
Môi trường pháp lý chưa phù hợp
- Trước đây, UNCTAD đã chỉ ra trong giai đoạn đầu của thương mại điện tử tại các nước đang phát triển thì hạ tầng viễn thông và Internet yếu kém là nguyên nhân chủ yếu cản trở việc ứng dụng thương mại điện tử, nhưng sau đó môi trường pháp lý không thích hợp lại trở thành lực cản lớn nhất đối với sự phát triển của thương mại điện tử
- Trong năm 2004 các cơ quan nhà nước đã tích cực xây dựng nhiều
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm nhanh chóng tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, đồng bộ và phù hợp với các quy định quốc tế
Đó là Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội với dự thảo Luật Giao dịch điện tử, Bộ Thương mại với dự thảo Luật Thương mại sửa đổi, Bộ Tư pháp với dự thảo Bộ Luật Dân sự sửa đổi, Bộ Bưu chính Viễn thông với dự thảo Nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực điện tử, v.v và mặc dù các cơ quan nhà nước này đã cố gắng rất lớn nhưng chưa có văn bản pháp quy nào được ban hành và đi vào cuộc sống
- Không những không ban hành được các văn bản pháp quy mới mở đường cho thương mại điện tử phát triển, đặc biệt là văn bản thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử, năm 2004 còn chứng kiến sự chấm dứt xây dựng Pháp lệnh thương mại điện tử làm thất vọng nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư mạnh vào thương mại điện tử
- Năm 2004 cũng cho thấy sự chậm tiếp thu ý kiến của một số cơ quan ban hành chính sách đối với những quy định không phù hợp với cuộc sống được ban hành từ những năm trước Hai trường hợp điển hình là Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT về quản lý trang web có hiệu lực từ năm 2002 và Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT về quản lý tên miền có hiệu lực từ năm 2003
Trang 20Luật Giao dịch điện tử
- Đầu năm 2004, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khởi động Dự án xây dựng Luật Giao dịch điện tử (GDĐT) Tới cuối năm 2004, Ban Soạn thảo đã hoàn thành Dự thảo
- Nếu kế hoạch xây dựng Luật GDĐT được thực hiện tốt thì cuối năm
2005 Quốc hội sẽ thông qua Luật này Đây được coi là thời điểm lịch sử của các giao dịch điện tử tại Việt Nam, bao gồm các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thương mại Luật GDĐT sẽ thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử được sử dụng trong các quan hệ dân sự, thương mại và hành chính; đồng thời cụ thể hoá các quy định áp dụng cho hợp đồng điện tử và các giao dịch điện tử của khối cơ quan nhà nước Tổ chức, cá nhân sẽ yên tâm khi tiến hành các giao dịch điện tử, vừa giảm các chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian xử lý và vẫn có thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi của mình một khi có tranh chấp xẩy ra
Chữ ký điện tử và chứng thực điện tử
- Đây là văn bản rất quan trọng đối với việc đảm bảo an toàn, bảo mật cho các giao dịch điện tử (trong đó có thương mại điện tử) Văn bản này hiện do Bộ Bưu chính Viễn thông chủ trì xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp
lý cho việc phát triển thị trường dịch vụ chứng thực điện tử qua việc thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký số trong các giao dịch điện tử
- Mặc dù Việt Nam chưa chính thức có quy định pháp lý về việc cung cấp dịch vụ chữ ký số và chứng thực điện tử nhưng một số công ty đã năng động trong việc nghiên cứu và đưa vào ứng dụng công nghệ này
Thanh toán điện tử
- Thanh toán điện tử tại Việt Nam đang trong giai đoạn thử nghiệm ứng dụng, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới với Dự án "Hiện đại hoá ngân hàng và các hệ thống thanh toán", được khởi động từ tháng 5/1994, bắt đầu thực hiện từ năm 1997 và hoàn thành giai đoạn I vào cuối năm
Trang 21Sở hữu trí tuệ
- Tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam vẫn ở mức cao
và chưa có sự tiến bộ đáng kể nào so với năm 2003 Theo báo cáo năm
2003 và 2004 của Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) và IDC, năm 2002 tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam là 94% - đứng đầu trong danh sách các nước có tỷ lệ cao nhất, năm 2003 Việt Nam cùng Trung Quốc có tỷ lệ vi phạm là 92% và tiếp tục đứng đầu danh sách trên
Bảng 2: Các nước dẫn đầu về vi phạm bản quyền năm 2003
Ukraine 91% (Nguồn: First Annual BSA and IDC
Global Software - Piracy Study 07/2004)
- Ngày 29/1/2004, Bộ Công an đã ra Quyết định số 71/2004/QĐ-BCA
về việc ban hành Quy định về đảm bảo an toàn, an ninh trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam.Quyết định 71 thể hiện quan điểm thắt chặt quản lý nhà nước đối với các loại hình dịch
Trang 222.3 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp
2.3.1 Tổng quan tình hình ứng dụng CNTT và thương mại điện tử
- Hiện có khoảng 65% số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ở Việt Nam tập trung tại ba thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo số liệu của Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ Kế hoạch Đầu
tư, tháng 2/2005), và ba thành phố này hiện chiếm hơn 90% dung lượng kết nối Internet của toàn quốc (Báo cáo hiện trạng ứng dụng CNTT tại Việt Nam và các vấn đề có liên quan đến Luật Giao dịch diện tử - Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội)
- Theo khảo sát của bộ thương mại về tình hình ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp trên ba địa bàn này, kết quả xử lý thông tin từ 530 phiếu hợp lệ thu về như sau:
- Mẫu phiếu thứ nhất với 500 phiếu phát ra nhằm thu thập thông tin về tình hình ứng dụng CNTT và thương mại điện tử trong các doanh nghiệp nói chung Đối tượng điều tra được chọn theo phương thức lấy mẫu, thuộc nhiều quy mô và loại hình doanh nghiệp khác nhau, hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh khá đa dạng từ cơ khí, xây dựng, nông lâm thủy sản cho đến công nghiệp nhẹ và dịch vụ Kết quả thu được 303 phiếu từ các doanh nghiệp được phân bổ theo ngành nghề kinh doanh như sau
Bảng 3: Nhóm đối tượng điều tra chung phân theo ngành nghề kinh doanh
Điện tử viễn thông
Công nghiệp nhẹ
Thủ công
mỹ nghệ
Dịch vụ Khác
Tỷ lệ
Trang 23- Mẫu phiếu thứ hai với 300 phiếu phát ra tập trung điều tra những doanh nghiệp đã thiết lập trang web nhằm quảng bá, xúc tiến bán hàng và
hỗ trợ giao dịch mua bán ở các mức độ khác nhau Các doanh nghiệp được chọn làm đối tượng khảo sát phải là những đơn vị đã có hoặc đang trong quá trình xây dựng trang web
Bảng 4: Nhóm đối tượng có trang web phân theo ngành nghề kinh doanh
Với sự phân bổ khá đa dạng về quy mô và ngành nghề kinh doanh, hai nhóm đối tượng điều tra nêu trên sẽ phản ánh một bức tranh mang tính đại diện cho tình hình ứng dụng CNTT và thương mại điện tử của các doanh nghiệp tại ba thành phố
2.3.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp
2.3.2.1 Kết nối Internet
- Kết quả khảo sát 303 doanh nghiệp thuộc nhóm thứ nhất cho thấy một tỉ lệ khá cao đã có những đầu tư bước đầu về ứng dụng CNTT, với 82,9% doanh nghiệp được hỏi có kết nối Internet và 25,32% đã thiết lập trang web
- Xét thực tế các công ty được điều tra đều tập trung ở những thành phố lớn, nơi hạ tầng CNTT và viễn thông phát triển hơn những địa phương, có thể ước tính tỉ lệ kết nối Internet của doanh nghiệp trên toàn
Điện tử viễn thông
Công nghiệp nhẹ
Thủ công
mỹ nghệ
Trang 24- Đây là một bước tiến lớn về trình độ tiếp cận CNTT của doanh nghiệp trong năm 2003-2004 so với năm 2002, khi chỉ khoảng 30% doanh nghiệp được kết nối Internet và không đến 10% doanh nghiệp có trang web riêng giới thiệu về dịch vụ và các hoạt động của doanh nghiệp mình (Báo cáo hiện trạng ứng dụng CNTT tại Việt Nam và các vấn đề có liên quan đến Luật Giao dịch điện tử - Tiến sỹ Mai Anh, thành viên Ban soạn thảo Dự án Luật Giao dịch điện tử của Quốc hội)
Biểu 1: Hình thức truy cập trang web của các doanh nghiệp nói chung
- Nhìn vào tỷ lệ các hình thức truy cập Internet của hơn 500 doanh nghiệp được điều tra (300 doanh nghiệp thuộc nhóm thứ nhất và hơn 200 doanh nghiệp thuộc nhóm thứ hai), có thể giải thích một trong những yếu
tố đưa đến sự tăng trưởng nhanh chóng về tỷ lệ kết nối Internet trong năm 2003-2004 là sự ra đời của dịch vụ ADSL 53,93% các doanh nghiệp
có kết nối Internet trong nhóm doanh nghiệp điều tra tổng quan cho biết
họ truy cập Internet bằng ADSL, và tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp có
Trang 25Biểu 2: Hình thức truy cập Internet của các doanh nghiệp có trang web
- Ngoài ra, việc giảm giá 12 loại cước viễn thông và Internet từ ngày 1/4/2003 với mức giảm bình quân từ 10% đến 40% cũng là yếu tố khích
lệ các doanh nghiệp dành một phần chi phí hoạt động thường niên để đầu
tư cho kết nối viễn thông, một tiền đề quan trọng của việc ứng dụng phát triển CNTT và thương mại điện tử trong tương lai
2.3.2.2 Cơ cấu đầu tư CNTT
- Kết quả điều tra tổng quan tình hình ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp cho thấy tỷ trọng chi CNTT trên tổng chi phí hoạt động thường niên vẫn còn rất thấp 63,19% các công ty được khảo sát chi dưới 5% cho việc triển khai ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, và chỉ khoảng 6,59% số công ty cho biết đang dành trên 15% chi phí hoạt động thường niên để đầu tư cho CNTT, bao gồm cả chi phí viễn thông, đầu tư phần mềm, bảo dưỡng hệ thống, và đào tạo ứng dụng CNTT
Trang 26Biểu 3: Tỷ trọng chi phí CNTT trong tổng chi phí hoạt động hàng năm
- Phân tích sâu hơn tình hình đầu tư ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp được khảo sát, có thể thấy cơ cấu đầu tư hiện vẫn còn mất cân đối, với tỷ trọng đầu tư bình quân cho phần cứng là 61,6% trong khi phần mềm chỉ chiếm 29,2% và đào tạo chiếm 12,3% tổng đầu tư CNTT của doanh nghiệp
Bảng 5: Cơ cấu đầu tư CNTT trong các doanh nghiệp
Khoản mục đầu tư Tỷ trọng bình quân Tổi thiểu Tối đa
- Mặc dù mức đầu tư 29,2% dành cho phần mềm đã cho thấy một tiến
bộ đáng kể so với tỷ lệ 21% của năm 2003, đây vẫn là tỷ lệ tương đối thấp nếu so với mức bình quân của thế giới trong năm 2003 là 49% Hiện tượng này phản ánh một thực tế:
- Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa chú trọng đúng mức đến đầu
tư phần mềm và đào tạo kỹ năng cho người lao động, mặc dù đây là những yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật CNTT nói chung cũng như ứng dụng CNTT nói riêng trong từng doanh nghiệp
Trang 27- Tình trạng vi phạm bản quyền ở Việt Nam rất cao, các phần mềm thường được cung cấp từ những nguồn không chính thống nên chi phí thấp
2.3.3 Nguồn nhân lực cho CNTT và thương mại điện tử trong doanh nghiệp
- Tỷ lệ 12,3% đầu tư CNTT dành cho đào tạo mới chỉ nói lên phần nào thực trạng phát triển nguồn nhân lực ứng dụng CNTT và thương mại điện
tử trong doanh nghiệp, bởi đây là con số tính bình quân cho tất cả các đơn
vị tham gia khảo sát Trong thực tế, tỷ lệ phân bổ chi phí đào tạo giữa các doanh nghiệp có sự chênh lệch khá lớn, phản ánh sự phát triển không đồng đều trong nhận thức của doanh nghiệp đối với vấn đề này 28,4% doanh nghiệp được hỏi, chiếm hơn 1/4 nhóm đối tượng khảo sát, không
có bất cứ hình thức đào tạo CNTT nào cho đội ngũ nhân viên của mình Với những doanh nghiệp bắt đầu có nhận thức về tầm quan trọng của nguồn nhân lực CNTT, việc đào tạo cũng chưa mang tính chuyên nghiệp hoặc đi vào quy củ Hơn 40% đơn vị được hỏi cho biết hình thức đào tạo
kỹ năng CNTT duy nhất cho người lao động là đào tạo tại chỗ Chỉ một
tỷ lệ rất ít doanh nghiệp kết hợp được một cách bài bản các hình thức đào tạo khác nhau như mở khoá huấn luyện, gửi nhân viên đi học, và đào tạo theo công việc
- Trình độ CNTT của người lao động trong các doanh nghiệp còn tương đối sơ đẳng Tỷ lệ nhân viên biết sử dụng máy tính trong hơn 300 đơn vị được khảo sát bình quân là 51%, mục đích sử dụng máy tính thường chỉ dừng ở mức soạn thảo văn bản, chỉ có 64% đơn vị cho biết đã bước đầu ứng dụng CNTT vào phục vụ một số hoạt động tác nghiệp như tài chính kế toán, quản lý cán bộ… Mức độ nhận thức và triển khai đào tạo như trên chưa thể đáp ứng được nhu cầu nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp Từ kết quả khảo sát, có thể nhận thấy một mối tương quan khá rõ rệt giữa tỷ lệ nhân viên biết sử dụng máy tính với hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp Những đơn vị không triển khai bất
Trang 28Biểu 4: Các hình thức đào tạo CNTT trong doanh nghiệp
Ngoài hoạt động đào tạo, việc bố trí cán bộ chuyên trách về CNTT cũng là một chỉ tiêu phản ánh mức độ nhận thức và trình độ tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy 32,9% công ty bước đầu đã có cán bộ chuyên trách về CNTT, một tỷ lệ hợp lý trong tương quan 25,3% doanh nghiệp có trang web và 82,9% doanh nghiệp được kết nối Internet Tuy nhiên, để tạo động lực tăng trưởng mạnh về số lượng trang web trong những năm tới, đồng thời đưa việc ứng dụng thương mại điện tử đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thực tế cho doanh nghiệp, thì lực lượng nhân sự nòng cốt đóng một vai trò thiết yếu Tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về CNTT phải vượt trên tỷ lệ doanh nghiệp có trang web một khoảng cách đủ xa để tạo
ra được lực đẩy cần thiết Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nên quan tâm lựa chọn mô hình kinh doanh và cơ cấu tổ chức hợp lý cho việc tham gia thương mại điện tử Hiện nay, mới có 16,5% doanh nghiệp đã xác định hoặc đang bắt tay vào triển khai dự án phát triển ứng dụng thương mại điện tử cho đơn vị mình
Trang 292.3.4 Các công ty thiết lập trang web thương mại điện tử
Tình hình chung:
Trong số 230 doanh nghiệp có trang web được khảo sát, những doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra hàng hóa chiếm tỷ lệ 20%, còn lại chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Phân bổ ngành nghề của những doanh nghiệp sản xuất cũng khá tập trung, với hai phần ba số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dệt may và thủ công mỹ nghệ, một phần ba trong lĩnh vực nông lâm thủy sản hoặc cơ khí điện máy Con số này phản ánh một hiện tượng thực tế là các doanh nghiệp dịch vụ, không kể quy mô, đang trở thành lực lượng năng động nhất triển khai ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của mình
Bảng 6: Tỷ lệ trang web phân theo nhóm sản phẩm/dịch vụ
Trang 30Biểu 5: Tỷ lệ trang web phân theo năm thành lập
- Nhìn vào cơ cấu trang web phân theo tên miền Việt Nam và tên miền quốc tế của các doanh nghiệp được khảo sát, có thể nhận thấy tỷ lệ trang web tên miền Việt Nam đang có xu hướng giảm đi Trong số các trang web thành lập từ năm 2003 đến nay, chỉ có 32,76% đăng ký tên miền vn, giảm hơn 1/4 so với tỷ lệ 45,9% của những trang web thành lập trước năm 2003 Các doanh nghiệp được phỏng vấn cho biết mặc dù trang web tên miền vn có độ an toàn cao hơn (không phải chịu khả năng tên miền
bị hacker chiếm dụng), nhưng thủ tục đăng ký rất phức tạp và tốn thời gian Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp lo ngại tên miền Việt Nam dễ bị phát hiện và kiểm soát trong trường hợp Bộ Văn hóa Thông tin muốn xiết chặt quy định về quản lý cấp phép trang web Do đó, xu thế phổ biến hiện nay
là doanh nghiệp sẽ chọn mua tên miền quốc tế và các công ty cung cấp dịch vụ thiết kế web cũng thường tư vấn cho khách hàng của mình đăng
ký một tên miền com hoặc net