1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh của ba nhà văn trẻ (Trên cứ liệu ba tác phẩm Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Bên dòng sầu diện của Nguyễn Đình Tú, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân Thủy)

100 807 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 17,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có ít nhiều công trình, bài viết đề cập đến tiểu thuyết về đề tài chiến tranh những năm gần đây nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết của

Trang 1

NGUYEN BiCH NGỌC

TIEU THUYET VE DE TAI CHIEN TRANH

CUA BA NHA VAN TRE

(Trên cứ liệu ba tac pham MAU RUNG RUONG cia Dé Tién Thụy, BEN DONG SAU DIEN cia Nguyén Dinh Ti, BIEN XANH MAU LA

cua Nguyén Xuan Thuy)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình

của gia đình, thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình

Tôi xin bay to long biết ơn chân thành và sự kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thanh Tú - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt qua trình hoàn thành luận văn này Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi

những vấn đề vô cùng bỗ ích và luôn tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi học tập

và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tô Lí luận văn học, khoa Ngữ Văn và Phòng Sau dai hoc — Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã

tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận văn

Nguyễn Bích Ngọc

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và do bản thân khai thác và do sự chỉ bảo tận tình của người hướng dẫn, không sao chép bắt kì tài liệu nào

Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm Tác giả luận văn

Nguyễn Bích Ngọc

Trang 4

1 Lí đo chọn đề tài c1 Lịch sử A SE EE1111111171711111111711111111111111 1121 1e crxee

XV00I(0:i6 0i 0 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu -¿++e++xe+cxxe+rxserrxerrrvee

2

3

4

by 30, 10900 1)0i: 0ì 1

6 Đóng góp của luận Văn - - ch HT TH HT HH ng nung

7 Cấu trúc luận văn tk SE EEkSEEEEEEEEESEESEESEESEEEEEEErkerkerksrrsree

CHƯƠNG I1: NHÀ VĂN, TIỂU THUYÉT VÀ CHIẾN TRANH

1.1.Những vấn đề chung về tiểu thuyết 2-22 5£ +Ee+xecrxerrerree

1.2 Các thế hệ nhà văn viết tiêu thuyết về đề tài chiến tranh -

1.2.2.Từ 1986 đến nay 2- 22s c2 SE 3 1211021111111.112 11x 1x

1.3.Tiểu thuyết trong việc miêu tả chiến tranh . -¿- s2 sz+++++se2

CHƯƠNG 2: BA TIỀU THUYÉT - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN

2.1.Hiện thực chiến tranh St +Sx9EE£EE+EEESEEEEEEEESEEeEerkerkerkerkererrrre

2.1.1.Cuộc sống chiến tranh trong thời đánh Pháp . -+-

2.1.2.Cuộc sống thời hậu chiến -2- 2© ++2+++EEEvEEEvEEErrkerrreerrree

2.1.3.Cuộc sống nơi đảo Xa -:-2sc 22s E2 kEEEE121211 111 E1Errrkerrkee 2.2 Than phan 0x0i0i1) 011 2.2.1.Con người là nạn nhân của chiến tranh ¿s+©sz£cse+ 2.2.2.Con người — những tính cách phức tạp, những số phận

2.2.3 Con người làm chủ cuộc sống -.2- 22 +e+2+E+£EE+rxesrxesrveee

Trang 5

3.1.Các mô hình không gian cơ bản - ¿+ 5s +s+ se s+x+sxeeeeereereereererree 42

3.1.1 Không gian chiến trường . -©+©c+e+crxevereeerreerrreerrree 42

3.1.2.Không gian hiện thực đời thường . - 5< + 5+ + s+es+eseesseeex 46 3.1.3.Không gian lãng mạn đầy chất thơ -¿«¿©e++cxsccse+ 51 3.1.4 Khong gian tam linh, huyén thoai cececcecesesseeseesessesseeseesees 56

3.2.Nghệ thuật xây dựng nhân Vật - + S5 St rrn 57

3.2.1 Nhân vật người lính — hình tượng trung tâm 56 3.2.1.1.Người lính với những suy tư, trăn trở

3.2.1.2.Người lính đối mặt với những bi kịch cuộc sống

3.2.1.3.Người lính trong đời thường

3.2.2 Nhân vật người nông dân

3.2.3 Nhân vật người phụ nữ

EZZ Noi i6 20 79

3.3.Ngôn ngữ và giọng điệu đặc trưng -+sc se sssseerrerrerrrrrrerree 80 3.3.1 Ngôn ngữ thông TỤC - s3 vn HH HH HH nghe, 82 3.3.2.Ngôn ngữ giàu cảm xúc được cá thê hóa -2-©5c+ccsccccee 86 3.3.3.Một giọng điệu mới: cảm thương - - +5 ssssxxsxsssssseeee 88

KẾT LUẬN G-G- St kEESEE E11 E1121111107171111111711111 171111 Excry 91 TÀI LIỆU THAM KHHẢO 6c 9S E‡EEEEeEEEEEEEEEEEEEEEEEEkerkrrreerkrrk 93

Trang 6

- Chúng tôi chọn tiểu thuyết là thẻ loại để nghiên cứu vì: “Tiểu thuyết là

tác phâm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không

gian và thời gian”(Từ điển thuật ngữ văn học) Theo M.Bakhtin, “tiểu thuyết

là thể loại duy nhất đang sinh thành và chưa hoàn kết” Do thường xuyên tiếp

xúc với “cái hiện tại chưa hoàn thành”, nên tiểu thuyết, bên cạnh việc không

ngừng mở rộng sức chứa, củng cố các đặc điểm thi pháp của thê loại , còn kịp thời bao quát, chuyển tải những vấn đề lớn lao của hiện thực đời sống, do vậy nó còn cập nhật những vấn đề mang ý nghĩa thời sự

- Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn biến chuyển, do đó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyên của bản thân hiện thực Có thể coi đây là thé loại lực lưỡng mà nhanh nhạy trong việc tái

hiện những vấn đề lớn lao của hiện thực đời sống

- Chiến tranh nhìn từ góc độ nhân tính tự nhiên là một hiện tượng bất thường, bởi trước nay nó luôn đem lại cho cá hai bên tham chiến sự thù hận

và những mất mát, đau thương Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mĩ của dân tộc ta đã đi qua nhiều năm nhưng nỗi đau trong lòng người vẫn

âm ỉ khôn nguôi và cho đến hôm nay, chiến tranh vẫn đang có nguy cơ hiện

hữu, có thể nó sẽ xảy ra ở một hoàn cảnh khác, không gian khác và có thể

khác cá về tính chất Vì vậy, chiến tranh vẫn luôn là một trong những đề tài hấp dẫn đề nhiều cây bút trong trong và ngoài quân đội suy ngẫm, khám phá, tái hiện và sáng tạo Không chỉ có những cây bút, những nhà văn trong thời

chiến mới có thể viết và hiểu về thời chiến mà còn có cả những cây bút trẻ

sống trong thời kì hòa bình vẫn có thể viết về chiến tranh, tái hiện lại chiến

tranh một cách chân thực và sâu sắc.

Trang 7

thuyết, đặc biệt là đợt tổng kết năm 2009 Góp phần vào dòng chảy của văn học viết về đề tài chiến tranh, có thể kể đến các tiểu thuyết: Màu rừng ruộng

(Đỗ Tiến Thụy), Bên đòng Sẩu Diện (Nguyễn Đình Tú), Biển xanh màu lá

(Nguyễn Xuân Thủy) Đây là ba tác phẩm cung cấp thêm những cái nhìn, tiếng nói, có thể chưa phải là mới mẻ nhưng đáng trân trọng về hai cuộc chiến tranh đã qua và công cuộc bảo vệ đất nước hôm nay Những tác phẩm này

giúp chúng ta phần nao thay được sự vận động của văn học Việt Nam hôm

nay nói chung và tiêu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng

- Chiến tranh và người lính vẫn là đề tài có sức hút mạnh mẽ trong sáng

tác của các nhà văn quân đội Đã có ít nhiều công trình, bài viết đề cập đến

tiểu thuyết về đề tài chiến tranh những năm gần đây nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết của các nhà văn mặc áo lính nhưng chưa từng cầm súng trực tiếp đánh giặc Bởi vậy, lựa chọn

đề tài Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh của ba nhà văn trẻ, người viết muốn phần nào đưa ra cái nhìn khái quát, hệ thống về tiểu thuyết đề tài chiến tranh những năm gần đây, đặc biệt là đi sâu vào những tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ này

2 Lịch sử vấn đề

- Đã có một số bài viết mang tính giới thiệu về văn học chiến tranh và

các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh, cụ thể về ba tác phẩm Madu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân Thủy, Bên dòng Sâu Diện của Nguyễn Đình Tú của các tác giả Nguyễn Thanh Tú (Bên dòng Sâu Diện — cách tiếp cận chiến tranh của các nhà viết trẻ), Đoàn Minh

Tâm (Tiểu thuyết của các cây bút trẻ, đọc và cảm nhận) trên các báo, tạp

chí như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ Gần đây, có một số công trình

Trang 8

nhân vật (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Hà Nội 201 I)

Luận văn này đã cho chúng ta thấy hệ thống nhân vật của các tiểu thuyết được quan tâm một cách riêng rẽ, có đánh giá một cách hệ thống về phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật trong từng tác phẩm Lê Thị Hạnh trong Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 — 2009 về đề tài chiến tranh (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 2011) đã phần nào nhận diện và cắt nghĩa những đổi mới về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam về dé tài chiến tranh, dĩ nhiên, có đề cập đến ba tiểu thuyết trên Ngoài ra có thể kế đến các bài viết mang tính gợi ý như Cách tiếp cận chiến tranh của người viết trẻ, eVan, 2011 nhìn ở góc độ giọng điệu cho rằng Bên dòng Sâu Diện đã góp phần làm mới thể loại tiểu thuyết viết về chiến tranh bằng chất giọng cảm thương, điều mà trước đó ít xuất hiện Bài Đề tdi

chiến tranh: Món nợ dài cuả các nhà văn, Phạm Thành Chung, Văn hóa Thể

thao, Công An Nhân dân, 2008 cho thấy, để có những trang viết vừa hay vừa chân xác về hai cuộc chiến tranh thần thánh mà dân tộc ta đã trải qua, đòi hỏi

các nhà văn Việt Nam phải hội tụ trong mình nhiều yếu tố: Không chỉ là tài

năng, mà còn phải có thêm một cách nhìn minh triết

Trong một bài trả lời phỏng vấn Nguyễn Đình Tú cho biết, Bên dòng

Sâu Diện được in ở NXB Quân đội Nhân dân, khi anh biết nó được ¡n thì sách

đã xuất xuống đơn vị, không thể nào mua thêm được ngoài 10 cuốn sách biếu của tác giả Vì thế sách không có mặt ngoài thị trường, và đương nhiên, báo chí cũng như rất nhiều bạn đọc yêu quý văn Nguyễn Đình Tú không hè biết

đến cuốn tiểu thuyết này của anh Bạn đọc có thể đặt ra câu hỏi vì đây là cuốn

tiểu thuyết viết về một đề tài quá nghiêm túc - chiến tranh - mà nó bị bạn đọc thờ ơ nên không thê có mặt ngoài thị trường?

Trang 9

tháng chưa xa; phần 3- Hiện hữu, đã nói lên một kết cấu hiền lành tuân theo trật tự thời gian Trong các phần lại được chia thành các chương rõ ràng, mỗi

chương được triển khai theo một chủ đề, rành mạch

Trong bài viết Điểm nhìn nghệ thuật trong tiếu thuyết Nguyễn Đình Tú,

Trần Tố Loan nhận xét: “Ở Bên dòng Sâu Diện, trường nhìn của nhà văn đặt vào thị tran An Lac - thi tran Nét Mat Buồn nằm lọt thỏm giữa núi Cô Hồn và

dòng Sầu Diện, trong đó, có những không gian nhỏ hơn như Xóm Đáy, xóm Khơ me, phố Phủ Từ Trong không gian ám ảnh và có tên gọi gắn với huyền

thoại tự tạo Ấy, nhà văn kể câu chuyện về cuộc đời nhân vật Minh Việt từ khi

ra đời đến lúc già cả Và theo bước chân hành quân của Minh Việt, không gian mở rộng tận Sài Gòn nhưng không thật ấn tượng”

Về điểm nhìn thời gian, trục thời gian trong các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú thường là hiện tại-quá khứ hoàn thành-quá khứ-hiện tại

tiếp diễn Bên dòng Sâu Diện mở đầu bằng sự chào đời của Minh Việt, tiếp đó

là câu chuyện về những ngày đã xa của Nguyên Bình, Mến ; những tháng

ngày chưa xa của Việt, bè bạn, người thân rồi trở về hiện tại Trong hồi ức

của bó Việt, có câu chuyện về tudi học trò, ngày đầu tham gia cách mạng, gặp lại người bạn học Tuấn Thành, cuộc gặp gỡ với Mến-mẹ của Minh

Việt Tiếp đó, Minh Việt ké lại những chặng đường, những bước ngoặt lớn

của đời mình cho đến giây phút anh đứng ở núi Cô Hồn nhìn về An Lạc, nghĩ

đến quá khứ

Trong bài viết Sắc màu nhân gian trong tiểu thuyết “Màu rừng ruộng” Bùi Công Thuấn phân tích: “Cảm giác khó chịu về mặt ngôn ngữ đầy ứ lên, ngán ngắm Rừng và Ruộng là hai không gian khác nhau Tiếng Việt chưa hề

có sự ghép đôi như thế bao giờ Chỉ có những từ như “ruộng đồng, ruộng đất,

Trang 10

ruộng làm giảm sự chú ý của người đọc khi họ tiếp cận với nhiều cuốn sách khác chăng?

Sau cái cảm giác ngán ngắm lúc đầu, tôi thử nhập thân vào câu chữ của Màu rừng ruộng Và tôi kinh ngạc về sự cuốn hút của ngòi bút Đỗ Tiến

Thụy Màu rừng ruộng là cuốn tiểu thuyết hấp dẫn Hấp dẫn và thú vị đến

lại trở về xin ông Ét học cày Anh bị ông ta từ chối Người cha đau đớn báo

“Con ơi! Làm trai phải hùng tâm tráng chí núi rộng sông đài, chứ bằng lòng ở nhà như thế khác nào kiếp ếch, có ềnh oang cho lắm cũng chỉ vang động được đáy ao làng” Vĩnh lại đi thi và rớt đại học lần nữa Nỗi tủi nhục chồng chất

Người tình âm thầm của Vinh là chị Miền (hơn Vinh 10 tuổi) bị ép duyên lấy

ông Ét làm Vinh đau đớn tuyệt vọng, anh tình nguyện đi khám tuyến bộ đội Đoàn quân của anh trở lại chiến trường xưa ở Tây Nguyên để tìm hài cốt đồng

đội trên núi Saman, tìm hài cốt phi công Mỹ Ở đây Vinh chứng kiến bao

nhiêu sự việc của người lùn Rơ Mâm làng Sập Khi tìm được mộ hài cốt

những người lính đặc công năm xưa bị Mỹ sát hại, Vinh lại trũng mìn chết ở

tuổi hai mươi Trước khi nhắm mắt, Vinh nói với anh Tắn - người đội trưởng

đội quy tập K20 - ước vọng được chôn ở Khu Rừng Say” Đây là bài phân tích khá sâu, có chính kiến rõ ràng về một tác phẩm cụ thê

Trang 11

tiểu thuyết hôm nay quan tâm đến việc xây dựng hình tượng người lính như những số phận cá nhân hơn là với hình tượng của một người anh hùng Con người không chỉ là nhân chứng cho các biến cố lịch sử mà chính các biến có

ấy trở thành phương tiện để các nhà văn khám phá bản chất, số phận nhân

vật” Điều này đúng với tiểu thuyết Ä⁄àu rừng ruộng, có Vinh - nhân vật

chính trong Mầu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, ra trận là một sự chạy trốn

Anh chạy trốn khỏi nỗi buồn, nỗi xót xa khi người con gái anh thương mến đi lấy chồng Mà lại là lấy một ông chồng già đã có 8 đứa con Đám cưới diễn ra

khi bà vợ cả vừa mất, còn đắp chiếu để đấy: “Vâng, tôi muốn đi khỏi cái làng

Bùi tin hín ngột ngạt Trong mọi con đường ra đi không con đường nào danh

dự bằng con đường đi lính” Vinh đã nghĩ như thế

Bài viết “Người lính đảo trong Biển xanh màu lá của Huong Nhai in trên mục Văn hóa - Nghệ thuật - báo Làng Việt nhận xét: “Nhà văn Nguyễn Xuân Thủy đã viết cuốn sách mang tên Biển xanh màu lá nhằm giới thiệu với độc giả cả nước những nét đẹp về Trường Sa Chúng ta sẽ tìm thấy những số

phận, cuộc đời của những người chiến sỹ, cán bộ, quân dân đang sinh sống,

làm việc, bảo vệ vùng đất thiêng liêng Trường Sa, Hoàng Sa Những cuộc sống có thực của các chiến sỹ trên đảo mang nét tự nhiên, mộc mạc, vui buồn

với biết bao kỉ niệm là những mảnh ghép cuộc sống đẹp về người lính được

nhà văn ghi chép viết lại trong tâm trạng đầy cảm xúc

Tác phẩm là những phác họa rõ nét về người lính vùng đảo, mang thông điệp: Hãy hướng về những người lính đảo và làm đẹp thêm hình ảnh của họ bằng những việc làm có ý nghĩa”

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết: “Tiểu thuyết Biển xanh màu lá viết

vê sô phận của cán bộ, chiên sĩ, quân dân dang sinh sông, làm việc và bảo vệ

Trang 12

còn có cả những người dân đảo”

Như vậy có thể nói, chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về ba tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ mà chúng tôi đã nêu trên Đây vừa là cơ hội, vừa là khó khăn cho chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu

các vấn đề đặc sắc của các tiểu thuyết này từ hai phương diện cơ bản là nội

dung và hình thức biểu hiện

3 Mục đích nghiên cứu

Triển khai luận văn, chúng tôi hướng tới mục đích:

- Tìm hiểu cái nhìn, quan niệm của các nhà tiểu thuyết trẻ viết về chiến tranh hôm nay (chúng tôi quan niệm các nhà văn trẻ là những người ở độ tuổi dưới bốn mươi), qua đó, chỉ ra sự khác biệt giữa hai thế hệ sáng tác về cùng

một đề tài

- Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của ba tiểu thuyết, cắt nghĩa thành công của các tác giả về đề tài này, chỉ ra và lý giải mối quan hệ giữa vốn sống thực tế và đối tượng phản ánh (các nhà văn này chưa

hề trực tiếp cầm súng đánh trận)

Trên cơ sở đó, góp phần chỉ ra sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh từ sau 1975, nhấn mạnh hơn ở giai

đoạn từ 2004 - nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng: Ba tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ

Trang 13

các luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ các nhận định đưa ra Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá để có cái nhìn bao quát những vấn dé cua tác phẩm, đồng thời đưa ra những ý kiến chủ quan của người viết

- Phương pháp so sánh: chúng tôi cũng tiến hành so sánh thế loại tiểu thuyết với các thể loại văn học khác trong cùng một thời kì, so sánh tiểu

thuyết viết về đề tài chiến tranh trước đổi mới và sau đổi mới, đối chiếu về

mặt nội dung và hình thức thê hiện để từ đó thấy được ý đồ sáng tác cùng tư

tưởng của nhà văn

- Vận dụng hướng nghiên cứu thi pháp học, phong cách học

6 Đóng góp của luận văn:

- Đóng góp về mặt lí luận: Trên cơ sở phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của ba tác phẩm trên luận văn góp phần chỉ ra sự vận động về mặt thể

loại của tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh sau 1975 đặc biệt là

giai đoạn từ 2004 đến nay

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp thêm

tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại đặc biệt là

thể loại tiêu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng

7 Cầu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đấu và Kết luận, luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Nhà văn, tiểu thuyết và chiến tranh

Chương 2: Ba tiểu thuyết — nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Ba tiểu thuyết — nhìn từ phương diện nghệ thuật

Cuối cùng là Thư mục Tôi liệu tham khảo.

Trang 14

1.1 Những vấn đề chung về tiểu thuyết

Ở phương Tây, tiểu thuyết có mầm mống ban đầu từ các tác phẩm tự sự, thường là thể loại anh hùng ca, đó là những tiểu thuyết kị sĩ với những biến cố

và tình huống phi thường Về nguồn gốc của thể loại, các nhà nghiên cứu, mà

tiêu biểu là V.Biêlinski đã rất có lý khi cho rang tiéu (huyết hình thành khi

vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ÿ

thức" và "đời sống cá nhân bắt luận thế nào cũng không thé là nội dụng của anh hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết

Thế kỷ 20 tiêu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng đối nghịch nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực với khuynh hướng hiện thực phê phán hoặc khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, hướng sáng tác mới của M Proust, J Joyce, F Kafka lại cho thấy một loạt các nguyên tắc tiểu thuyết vốn đã thành truyền thống trước kia bị biến đổi: độc thoại nội tâm bao trùm tác phẩm như một thủ pháp của tiểu thuyết

dòng ý thức; sự xáo trộn liên tục các bình diện thời gian và không gian, các

mảng đời sống hiện thực hòa quyện cùng huyền thoại, xuất hiện người kế chuyện không toàn năng khi trong lời kế có cả cái biết và cái không biết, cái

khách quan lẫn chủ quan Các vấn đề về "ngôi" và "thời" của lời trần thuật và

các "điểm nhìn" trần thuật trở thành chìa khóa cho việc đọc tiểu thuyết theo

khuynh hướng phức điệu, đa thanh Bên cạnh đó, các trào lưu tư tưởng đương thời như hiện tượng học, thuyết phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền, hậu thực dân cũng góp phần tạo ra những đạng thức như phản tiểu thuyết, tiêu thuyết mới, hoặc làm nảy sinh tư tưởng về

nhân vật biến mắt, hoặc tiểu thuyết cáo chung v.v

Trang 15

Ở Việt Nam, tiêu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn

xuôi trung đại như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quải, Thanh Tong di thao,

Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả thé ky 14-16 đã đặt những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tổ truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Tượng kinh

ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hỗ và

đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu

thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc

sắc Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sông động bức tranh xã hội

rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi tương tự tiểu

thuyết thời Minh-Thanh tại Trung Hoa Yếu tố đời tư và mạch tự sự trong các

truyện Nom khuyết danh và hữu danh đương thời như Hoa điên, Nhị độ mai, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiểu cũng ít nhiều góp phần thúc đây sự phát triển của thê loại

Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thế loại hiện đại Cùng phong trào

Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiễn vượt

bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nối tiếng

của 7ự Lực văn đoàn, những người đã thúc đây sự hình thành thể loại như Nhất

Linh, Khái Hưng, Thạch Lam và những nhà văn hiện thực phê phán như Ngô

Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng

Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đáo (Nguyễn Huy Tưởng,

Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên

Ngọc) Ít nhiều tiểu thuyết sử thi Việt Nam có thành tựu với đề tài hoành

tráng và dung lượng đồ sộ, mà một trong số đó là Ve bờ của Nguyễn Dinh

Trang 16

Thi, Sóng Ngẩm của Nguyên Hồng Sau 1986, lich sử tiểu thuyết Việt Nam

sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh,

có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con người và có dấu hiệu manh nha hệ

hình văn chương hậu hiện đại về mặt nghệ thuật biểu hiện

Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài, chủ

đề hoặc theo sở trường của người viết Thậm chí người ta còn cho rằng, về

nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thức thê loại hoàn kết, bởi vì nó là

"sử thi của thời đại chúng ta", tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng

ngày hàng giờ đối thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa

với cái thực tại dang dở "chưa xong xuôi", cái thực tại đang thành hình, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại Tuy thường gặp những kết cấu chương

hồi, kết cầu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cầu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến v.v

tiêu thuyết vẫn không chịu được những chế định chặt chẽ, nó không có quy

phạm có định và người viết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có

để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cầu khác nhau

Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu

thuyết lấy nghệ thuật kế chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm Thông

thường ở tác phẩm xuất hiện người kế chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kế lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy sự ton tai của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kế

chuyện của tiêu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thé

thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được "san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm

Trang 17

Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn

và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiêu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tôi đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình

Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không

những chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà

còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật cái ác, cái bi bên cạnh cái hài v.v

Ở phương diện cuối cùng, tiêu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp Nó có thê dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế),

kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của

những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu

khắc (sự cân xứng, chỉ tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức màn hiện

thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm

học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng

khác.v.v Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể loại, như Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể

loại tiểu thuyết-kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca-trữ tình, Roman

Roland với tiểu thuyết-giao hưởng v.v

Riêng với tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở nước ta, có cả những tác gia sống trong thời chiến viết về chiến tranh và có cả những tác giả sống trong thời bình cũng viết về chiến tranh Tất cá đều muốn có cái nhìn riêng

về đề tài chiến tranh sau 1975, đặc biệt là những tiêu thuyết gần đây như:

Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân

Trang 18

Thủy và Bên dòng Sâu Diện của Nguyễn Đình Tú mà chúng tôi sẽ đề cập đến

ở các phần sau

1.2 Các thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh

1.2.1 Từ 1975 đến 1986

Từ 1945-1975 là một giai đoạn lịch sử ghi dấu những biến đối vô cùng

lớn của dân tộc Hiện thực chiến tranh cách mạng, có thể nói là sôi động, hào hùng và hoành tráng nhất trong lịch sử chiến tranh vệ quốc và có thê nói chưa bao giờ tỉnh thần cộng đồng dân tộc lại khơi dậy trong mỗi con người Việt

Nam mạnh mẽ đến như vậy Những đặc điểm lịch sử này chính là nguyên

nhân trực tiếp ảnh hưởng đến hướng đặt bút của các nhà văn — nhà tiểu thuyết

Tiểu thuyết ở giai đoạn này chủ yếu là ca ngợi, cổ vũ sự tự tôn của dân

tộc, lòng yêu nước của con người Việt Nam Bên cạnh đó tiểu thuyết phản ánh

cuộc sống mới, con người mới, xây dựng hình mẫu con người Việt Nam mới

Từ 1975-1986 một loạt các tiểu thuyết như: Vùng đời của Hữu Mai,

Những tẩm cao của Hồ Phương, Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận VI Đội ngũ đông đảo các nhà văn đã cho ra đời những tiểu thuyết khá ấn tượng: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu); Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Tri Huân); Đất miền Đông (Nam Hà); Đá irắng (Nguyễn Trọng Oánh); Năng đồng bằng (Chu Lai); Người lính mặc thường phục (Mai Ngữ); Sao đổi ngồi (Chu Văn)

Trong bài viết: Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của các nhà văn cầm súng (VNQĐ, 4/1995), Tôn Phương Lan đã có sự khái quát về hình tượng người lính trong tiểu thuyết thời kì 30 năm kháng chiến chống thục dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược cũng như do cần đổi mới ở thời kì sau

1975: “Viết về đề tài chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng, hình tượng anh bộ

đội trong các sáng tác văn xuôi của thời kì chống Mĩ đã hiện ra với vẻ đẹp lộng lẫy mang tính chất sử thi Chúng ta đã tiến hành chống xâm lược của một

Trang 19

siêu cường quốc Nếu không có phẩm chất tốt đẹp kia thì chúng ta không thê

làm nên chiến thắng song dù là cuộc sống trong chiến tranh thì cuộc sống đồ vẫn có những quy luật nhất định-quy luật của cuộc đời Những mặt trái của con người, của đời sống chiến tranh chưa được đề cập đã trở thành những hạn chế Đó là lí do khiến cho sau 1975, văn xuôi viết về chiến tranh cũng vẫn do những nhà văn mặc áo lính đảm nhận đã nhanh chóng tìm sự hòa nhập chung vào sự đối mới của văn học và người chiến sĩ viết văn lại bước vào một sự thử thách mới của bản lĩnh nghèẻ nghiệp họ sẽ nhìn chiến tranh trong thời bình như thế nào dé vẻ đẹp lộng lẫy của chiến tranh hòa với vẻ đẹp của sự giản dị, đời thường

1.2.2 Từ 1986 đến nay

Đây là thời kì văn học đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc Giai đoạn

này các thê loại phát triển vô cùng phong phú và đề tài chiến tranh không còn

giữ vị trí độc tôn nhưng hình tượng người lính vẫn là hình tượng phổ biến

trong văn học

Văn học giai đoạn này gắn liền với nhu cầu “nói thẳng, nói thật” trong quá trình đổi mới tư duy và về cơ bản tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm truyền thống

Sau 1986 thì điều kiện đã cho phép chúng ta nhìn thăng vào bản chất khốc liệt của chiến tranh để miêu tả, khám phá, phát hiện và sáng tao (An may

dĩ vãng - Chu Lai; Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Đất trắng và Mây cuối chân trời - Nguyễn Trọng Oánh ) Ở ngày hôm nay, tiêu thuyết về đề tài chiến tranh còn vận dụng cá cách kể bi kịch hóa trần thuật, kế về cuộc chiến

bằng cái nhìn bi kịch Nhà văn miêu tả chỉ tiết những cái chết bi thương: “Lửa

cháy, đạn nổ, đạn vạch đường rừng rực, chói lòa, nhằng nhịt trước mặt

Những người chạy, người ngã vật xuống, máu xối ruột lòi, những mảnh thi thể cả ta cả địch văng lên trong ánh lửa” (Những bức tường lửa) Có những

Trang 20

cái chết cháy vì bom na pan đã biến những người lính (Thoan, Đại) từ những thanh niên đẹp, cường tráng thành “những cục đen sì nham nhở nằm trên mặt đất”: “Đại có vẻ còn nhiều da thịt hơn nhưng vì thế mà trông nó lại càng đáng

sợ Bộ răng của nó trắng nhởn, chia ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là hai cái hốc thô 16, một dòng nước sền sệt đen từ đó rỉ ra như nước mắt” (Những bức tường lửa) Các nha tiéu thuyết đã đề cho nhân vật - người trong cuộc suy nghĩ về chiến tranh: “Chiến tranh dài quá! Hy sinh mất mát nhiều quá!” (Lâm trong Khúc bị tráng cuối cùng), “bom đạn mù trời, cuộc đời đo bằng gang tắc” (Toản trong Thượng Đức) Sự ác liệt tàn bạo của chiến tranh làm cho con người sống trái với lẽ tự nhiên, nó cướp đi những khao khát bán năng

bình thường nhất, giản dị, đơn sơ nhất Một mảnh đối thoại sau tưởng như vô tình nhưng lại tố cáo mạnh mẽ sự khủng khiếp của chiến tranh

Về cảm hứng, bên cạnh cảm hứng sử thi của tiểu thuyết viết về chiến tranh nói chung và tiểu thuyết trong giai đoạn này nói riêng mang thêm cảm hứng nhân bản và cảm hứng bi kịch Nếu trước đây, với cảm hứng sử thi, văn

học chủ yếu quan tâm đến con người tư cách xã hội, với tư cách là động lực

cách mạng, thì giờ đây, trong sự đối mới của quan niệm hiện thực và quan niệm về con người, tiểu thuyết đặt con người trong mối quan hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân con người làm chất liệu soi ngắm mọi giá trị

Tiểu thuyết ở giai đoạn này, con người ở cả hai phía ta và địch đều được

khám phá và thể hiện khá toàn diện Họ được soi ngắm ở cả hai phía, ánh

sáng và bóng tối, sự cao cả và sự thấp hèn, cả phần mạnh mẽ và yếu đuổi Soi ngắm ở nhiều góc độ như thế nên con người được trả về với bản chất đích thực của nó Ngay cả những con người dũng cảm, kiên cường, mưu trí cũng

có những giây phút mềm lòng trước sự khốc liệt của chiến tranh, thậm chí hoài nghi chiến tranh

Trang 21

Nếu trước 1986, tiểu thuyết vẫn chủ yếu nhìn con người cá nhân ở góc

độ xã hội, thì sau 1986 tính toàn diện về con người đã được bộc lộ và thể hiện trong tác phẩm Đó là cá tính nhiều mặt, nhiều dáng vẻ của con người ở tư cách cá nhân, cá thể Khuynh hướng ca ngợi phẩm chất những con người giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, con người mang đậm phẩm chất tâm hồn Việt, dần nhường chỗ cho sự nhìn nhận con người dưới góc độ đời tư mang

tính chất “phi sử thi hóa” (Trần Đình Sử)

Sau 1986, con người không chỉ được mỗ xẻ ở vấn đề đạo đức nhân cách trong mối quan hệ với sự kiện lịch sử mà còn được nhìn dưới nhiều góc độ, ở

cả con người tự nhiên, con người xã hội, con người tâm linh Qua mỗi đề tài,

chủ đề về con người, nhà văn đã phát huy cái đa điện, đa tầng vừa gai góc

trần trụi, vừa thẳng thắn chân thành, vừa băn khoăn suy tư, vừa hoài nghi tự

vấn, vừa lo lắng hoang mang trước “phần nhân tính dư thừa chưa được thể hiện” (M Bakhtin) của con người Đó cũng là một hành trình nghệ thuật khó

khăn đòi hỏi các nhà tiêu thuyết phải luôn tự đổi mới thể loại

Có thể nói rằng, tiểu thuyết Việt Nam còn đang ở trong giai đoạn vận động, phát triển, hướng về phía trước Chúng ta có quyền đặt một niềm tin:

mỗi tiêu thuyết là một cách đào sâu hơn về cõi người, cõi đời để đạt được một

tầm sâu cho nhận thức vé cdi nhân sinh

1.3 Tiểu thuyết trong việc miêu tả chiến tranh

Tiểu thuyết là một thể loại văn học phủ hợp với nhiều đề tài trong đó có

đề tài chiến tranh Có thể nói, trong sự phát triển 50 năm của văn học hiện đại Việt Nam, mảng văn học về đề tài chiến tranh với nhiều thể loại: thơ ca, truyện ngắn, truyện vừa, kịch, kí, tiểu thuyết chiếm vị trí rất quan trọng cả về

số lượng lẫn chất lượng Tiêu thuyết đường như đã phát huy được lợi thế về

dung lượng khi tiếp cận mảng hiện thực trải dàn trên một không gian rộng lớn

Trang 22

kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyên tới đồng bằng, gắn với khoảng thời gian 40 năm chiến tranh

Cam hứng sử thí luôn găn liền với tiêu thuyết viết về chiến tranh được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề

lớn lao quyết định vận mệnh chung

Cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những nhân vật đậm chất lý tưởng, tôa chiếu ánh sáng lý tưởng soi rọi, hướng bạn đọc đi về phía cái cao cả, cái anh hùng Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh, nhân vật người anh hùng

và người lính luôn là nhân vật trung tâm của tác phẩm Nhân vật anh hùng sử thi luôn hiện diện song hành cùng sức mạnh thê chất và tài năng, phẩm chất đạo đức, là người anh hùng toàn thiện toàn mỹ và trở thành “khuôn vàng thước

ngọc” về vẻ đẹp vật chất và sức mạnh đạo đức của con người thời đại Tiểu

thuyết sử thi thường có một kết cấu hoành tráng với nhiều kiểu kết cấu khác

nhau: kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lí, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến;

với đầy du toàn bộ những yếu tố, thành phần được sắp xếp, gắn kết với nhau; với sự logic giữa nội đung và hình thức Tất cả đều hướng đến sự hoàn thiện

cho thể loại tiêu thuyết nói chung và tiêu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng

Bên cạnh cảm hứng sử thi, tiểu thuyết hôm nay còn có cả cảm hứng bi kịch, cảm hứng thế sự_ đời tư, cảm hứng diễu nhại Nhưng trong cái dàn nhạc đa âm sắc ấy, giọng điệu sử thi vẫn là giọng điệu chủ âm Dưới đây chúng tôi xin sơ

lược giới thiệu ba tiểu thuyết mà chúng tôi lấy đó làm đối tượng nghiên cứu

Tác phẩm Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy không hắn là một tiểu thuyết hoàn toàn viết về chiến tranh, nhưng tác giả đã có gắng mang lại cho cuốn sách pháng phất hào khí lịch sử chiến đấu của dân tộc trong quá khứ là cuộc kháng chiến chống Mỹ Qua cuộc đời của Vinh, máng vỡ của những ký

ức, buồn, đẹp lẫn lộn hay mảnh vỡ của những giấc mơ tuổi trẻ, sự tàn khốc của chiến tranh hiện lên rõ nét Điểm lôi cuốn nhất ở quyền tiểu thuyết đầu

Trang 23

tay của Đỗ Tiến Thụy chính là sự miêu tả chân thực, sống động, đủ mang đến

cho độc giả nhiều cảm xúc: Hân hoan, xao xuyến trước vẻ đẹp của tình yêu, của ruộng đồng Xúc động trước sự chân thành và những giấc mơ phiêu bồng của tuổi trẻ chưa thành hiện thực

Biển xanh màu lá là một nhan đề khá biểu cảm và lạ Biển, bản thân

nó đã biểu trưng cho một màu sắc riêng, một vẻ đẹp riêng Đây là một thực

tế ở Trường Sa được tác giả Nguyễn Xuân Thủy tái hiện lại qua câu chuyện của mình Ở Trường Sa có rất nhiều vùng biển nước màu xanh lá cây, do độ sâu và nền san hô trắng phía đáy được ánh nắng phản chiếu tạo nên màu sắc

kỳ lạ, nhìn rất quyến rũ Nhưng Biển xanh màu lá cũng còn có ý nghĩa khác,

đó là biển trong mắt người trẻ, cách nhìn của người trẻ, của lính trẻ về cuộc

sống, về lý tưởng, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Cảm hứng bi kịch trong tác phẩm Bền đòng Sẩu Diện được thê hiện rõ nét qua sự oanh liệt của những người lính tham gia chiến tranh và cả những đau thương mà những người lính phải gánh chịu sau chiến tranh Nguyễn Đình Tú đã đặt các nhân vật phát triển trong một thời gian mang tầm sử thị, trong không gian đặc tả với cái nhìn về người lính hiện ra từ nhiều chiều khiến người đọc cảm nhận rõ nét về chiến tranh và những gì còn lại sau chiến tranh

Tiểu kết:

Nhìn chung tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh và người lính đã bộc lộ được những ưu thế của mình trên văn đàn và đã có những có gắng, bút phá, dịch chuyền trên con đường đổi mới để đáp ứng những nhu cầu của bạn đọc

Các nhà văn đã chú ý miêu tả nhiều và sâu hơn đến tâm lí nhân vật, vào

cái thế giới bên trong của mỗi con người Có thê nói rằng các tiểu thuyết viết

về đề tài chiến tranh và các nhà văn hầu như đã xác định được thiên chức của

mình trong việc phản ánh đời sống, đưa văn học trở về đúng với đặc trưng cơ bản của nó, và văn học ngày càng trở nên đời hơn, người hơn

Trang 24

CHƯƠNG 2

BA TIỂU THUYÉT - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIEN NOI DUNG

2.1 Hiện thực chiến tranh

Nguyễn Minh Châu trong bài “Viết về chiến tranh” cũng khẳng định:

“Hình như trong ý niệm sâu xa của con người Việt Nam chúng ta hiện thực của văn học đôi khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang ước mơ ” Như vậy hiện thực trong tiêu thuyết chiến tranh là gì? Liệu có phải là sự tàn khốc mà nó để lại trong mỗi con ngườii chúng ta dù là có tham gia chiến tranh hay không

Chiến tranh dù là ở đâu thì nó luôn luôn diễn ra khốc liệt với bao hiện

thực đau thương của con người trong chiến tranh Đó là cuộc chiến không cân sức giữa con người và vũ khí hiện đại của bọn để quốc, những khô đau, mat mát, hy sinh gian khổ mà con người phải chịu trên chiến truong va day dit

âm thầm hơn là bi kịch số phận của họ khi chiến tranh kết thúc Tất cả là những điều các tác giả viết về đề tài chiến tranh muốn viết, muốn hiểu được nó

2.1.1 Cuộc sống chiến tranh trong thời đánh Pháp

Cùng một đề tài chiến tranh nhưng mỗi nhà văn lại có cách viết riêng Người thì viết về sự tàn khốc, sự hủy diệt của chiến tranh, người thì viết về sự

ác liệt, đữ đội của những chiến dịch

Vấn đề đầu tiên có thể nói đến đó là cuộc sống trang chiến tranh thời

đánh Pháp Trong tác phẩm Bên đòng Sâu Diện của tác giả Nguyễn Đình Tú

cuộc sống trong chiến tranh được tác giả miêu tả vô cùng khốc liệt: “Bong

“doang doang u chéo” Sung tw trong nha Lua Vang khac ra lửa chỉu chiu Anh Hong đang đi bỗng nhảy dựng lên, giật giật mấy cải, hai tay chới với như có rút súng ra lại vừa như muốn bám víu vào một cái gì đó Chân anh

vừa nhự muôn bước lại vừa như cô trụ lại cho vững Chiếc mũ vải trên đâu

Trang 25

anh bị hất bay đi Đầu anh Hỗng lúc này như một quả dưa nứt, máu trộn với một thứ dịch như cháo loãng ưa ra ” [36, tr 21] Sự hy sinh của nhân vật

Hồng là một sự bất ngờ và tạo cho ta cảm giác sợ hãi đến rợn người Nếu nói

nơi đâu tàn khốc và đau thương nhiều nhất thì đó là trong chiến tranh

Còn với những trận đánh và những tình huống bất ngờ của nó: “7 giờ 55 phút trận đánh bắt đầu Tiếng bộc phá nổ ở phía kho xăng cùng voi vét sang hắt lên nền trời là tín hiệu cho các mũi tiễn công đông loạt khai hỏa

Trung đội trưởng Nguyên Bình khi tiễn quân vào đền Bà Sùng không ngờ tới khả năng đội Ngự lâm quân công giáo có thể vượt dải đầm ruộng chỉ trong vài phút bằng ca nô do người Pháp trang bị Khu đầm này thông ra với

song Sâu Diện lực lượng trinh sát cảu bộ đội An Lạc không tính đến chiếc

ca nô vẫn nằm như một con sư tử ngủ trên mặt đâm sâu nhà thờ lực lượng

phục kích bị vây hãm Trung đội của Nguyên Bình bị đánh tạt sườn, đành chững lại, không phát triển, thọc sâu được nữa, phải mất gần 1 tiếng sau mới

tạm day lui được lực lượng dân binh cua Cha Phang Muc tiêu Bà Sùng đành

phải bỏ ngỏ, đến khi tổ chức tắn công tiếp thì trời đã gần sang Nguyên Bình

lệnh cho toàn trung đội rút lui, anh cùng một tổ ở lại vùa chặn địch vừa rút

sau Rút ra tới giữa thị trấn thì Nguyên Bình trúng đạn Thiết giáp của Pháp dang nghéu nghén bo đi bò lại trên con đường dẫn ra bến đò Lăng Tiên Phía kho xăng và kho vũ khí tiếp tục dội lên những quảng lửa đỏ cùng những tiếng

nỗ lúc rời rạc, lúc liên hồi Cuộc tập kích đã thành công, đúng như kế

hoạch ” [36, tr 54-56]

Tuy là thành công nhưng sau mỗi trận chiến là những vết thương cả về thể xác lẫn tâm hồn của con người đều bị một nỗi ám ảnh ghê sợ đó là sự khốc liệt của chiến tranh

Cái điều cơ bản nhất mà tiểu thuyết Bên dòng Sâu Diện của tác giả

Nguyễn Đình Tú hướng tới là nói về số phận của con người Hầu như các

Trang 26

nhân vật trong Bên dòng Sâu Diện đều bị chỉ phối, ảnh hưởng, tác động bởi

chiến tranh Nhìn ở góc độ này, tác phẩm là sự tố cáo, lên án chiến tranh mà

kẻ thù tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại đã gieo xuống mảnh đất yêu thương này Những trò chơi hồn nhiên của trẻ em có tội tình gì mà bị bom thù phá nát Cái tên An Lạc mang khát vọng về sự bình yên, sung sướng mà lại chẳng hề “an lạc” vì sự cướp bóc, chém giết, đốt phá của lũ giặc, hết Pháp rồi

đến Mỹ Viết về con người trưởng thành, được tôi luyện bản lĩnh, ý chí trong

chiến tranh hoặc là nạn nhân của chiến tranh thì đã có rất nhiều người khai

thác, tìm hiểu Không muốn lặp lại, Nguyễn Đình Tú đã tiếp cận ở góc độ chiến tranh lam tha hod con ngudi ma biểu hiện rõ nhất qua nhân vật Nguyên Bình Trong một trận đánh với quân Pháp ở vùng đất Lãng Tiên, trung đội trưởng Nguyên Bình bị thương nặng rồi lạc đơn vị, may mắn được một cô gái (Mến - mẹ đẻ của Minh Việt) cứu sống và cưu mang chạy chữa cho đến khi

lành khỏi vết thương Nguyên Bình ra đi dé lại cho ân nhân của mình cái thai

dang dan lớn lên Thế mà đến ngày hoà bình Nguyên Bình nhẫn tâm từ chối

ặp gỡ người vừa là ân nhân cứu mạng vừa là vợ và cự tuyệt giọt máu của mình

Xét về bản chất, Nguyên Bình không phải là người xấu, bằng chứng là trước đó, trong chiến tranh anh ta là một người lính đũng cảm, sau chiến tranh anh ta là một cán bộ cần mẫn, chăm chỉ, và là một người chồng, một người cha chu đáo với vợ con Nhưng vì sao lúc đó anh ta lại là kẻ tha hoá khốn nạn như vậy? Hãy đặt con người ấy vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, quân ta đang chuân bị trở về vùng địch đã từng tạm chiếm để tiếp quản, người Pháp đang xúi giục giáo dân bỏ nhà cửa đất đai theo Chúa vào Nam, cũ mới đang nhập nhoà lẫn lộn, địch ta chưa thể phân biệt rõ ràng, nếu Nguyên

Bình nhận vợ con tức là tự thú nhận tội gian dối tổ chức, nguy hiểm hơn là tội có

quan hệ mật thiết với “người của phía bên kia” vì Mến là giáo dân rất gần gũi

với cha Phăng - một kẻ phản động đội lốt tôn giáo Dĩ nhiên, nếu bị kết tội

Trang 27

Nguyên Bình sẽ mất hết mọi quyền lợi chính trị, con đường công danh đang

rộng mở sẽ trở nên tăm tối Và anh ta đã chấp nhận là kẻ phản bội tình yêu, kẻ cạn tàu ráo máng chịu phán xử của toà án lương tâm đề được yên thân Thì ra chiến tranh không chỉ là máu lửa, là sự tàn phá, mất mát mà nó còn len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống để phá hoại những hạnh phúc bình thường nhất

của con người, có khi bắt người ta phải trở thành kẻ tha hoá khác với bản chất

của mình, mà trường hợp Nguyên Bình là một ví dụ

Cuộc sống thời chiến tranh thật khốc liệt, đữ dội, ranh giới giữa sự sống

và cái chết thật mỏng manh, mọi con người đều hối hả, lo âu nhưng không run

sợ: “Cháy rồi! Cháy rồi!” Bỗng có tiếng hô của ai đó bật ra từ dưới hồ trú

ẩn cá nhân Tiếng hô ấy ngay lập tức kéo thành một chuỗi hò reo vui mừng Nhưng những tiếng reo hoan hỉ ấy không kéo dài được lâu Trên trời vẫn sẫm sập những bắt trắc và chỗ này, chỗ kia của thị trấn vẫn bùng lên những cột

khói hình nắm trước khi xòe ra như một đám mây đen Minh Việt lao vào

dòng người tiếp đạn đang hồi hả dưới chân hào quang ụ pháo “Bê năm hai! Kìa bê năm hai! ” Những tiếng kêu ngạc nhiên, cả chút lo âu ập vào tai Minh Việt

- Sdp cdu Lang Tiên rồi!” [36, tr 189-191]

Chiến trường là nơi đối đầu giữa ta và địch, nơi diễn ra các trận đánh

Song dù có ác liệt đến dâu chăng nữa thì chiến trường trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn là một chiến trường “đẹp”, ở đó con người Việt Nam hiện lên với vẻ đẹp anh hùng lí tưởng, con người thể hiện trí thông minh tuyệt vời, một niềm tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng và thành công của sự nghiệp cách mạng mà mình đang theo đuổi

2.1.2 Cuộc sống thời hậu chiến

Cuộc sống của con người sau chiến tranh hiện lên trong Ä⁄àu rừng ruộng mang màu sắc cảm thương rõ nét Ở sự miêu tá bữa cơm, không như cảnh chi Dậu ngày xưa nhưng đọc lên sao mà x6t xa: “Noi cơm toàn săn lát đen sỉ, chỉ

Trang 28

có một bát gạo đồ chon von vào giữa Chị Sự khéo tay dùng đũa cả khoét lấp

một bát cho bà, còn thì đánh lộn lên Một hạt cơm công mười lát sẵn Bà nội

không đành lòng, nhanh tay đồ bát cơm trắng vào nỗi rồi giành đũa cả đánh lần để chỉ Sự không kịp can Bà bảy hai tuổi rồi ,, răng không còn một chiếc, vậy mà vẫn móm mém cười:

- Nhai sắn vừa thơm vừa bùi, ăn cơm không nhạt lắm!

Nhìn bà trêu trạo nhai sắn, Vinh lén quay đi dấu nước mất ” [34 tr 7]

Mở đầu tác phẩm là một bữa cơm trong nồi chỉ có một bát cơm còn đâu

là độn toàn sắn đen, thức ăn là của chuối mà “sáng nay mẹ sai Vinh đi đào củ chuối” Cuộc sống của người dân thời hậu chiến đến cơm còn không có mà

ăn, cái đói bao phủ cả làng Bùi như một đám mây đen nặng triĩu nước đang chực trút xuống cuộc sống của con người

Hòa bình liệu có thể xóa nhòa tất cá? Cuộc sống của con người trong

thời hậu chiến được tác giả Đỗ Tiến Thụy viết cuốn tiểu thuyết đầu tay có tên

Màu rừng ruộng trên hai cảm hứng chủ đạo là nông thôn và người lính Chia

sẻ về quan điểm "tác phâm xứng tầm của văn học đề tài chiến tranh" này Đỗ Tiến Thụy có nói: “Tôi nghĩ, những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh sẽ phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt trong cơ chế thị trường Những người viết

về chiến tranh sẽ ít đi nhưng chất lượng nghệ thuật trong tác phẩm buộc phải tăng lên Thay vì trông chờ vào sự tiếp sức từ những tô chức nhà nước bỏ tiền đầu tư cho sáng tác đề rồi sách in ra "ngủ ngon" trong các thư viện, nhà văn

sẽ phải tự thân vận động để tiếp cận đề tải, tìm tòi nghệ thuật thể hiện mới nếu

không muốn bị độc giả quay lưng Tôi sinh ra trong chiến tranh, gia đình tôi mấy thế hệ là người lính, 4 người chú của tôi là liệt sĩ, mấy người nữa là thương binh; bản thân tôi là lính, thường xuyên tiếp xúc với những câu chuyện chiến tranh Tất cả tạo thành một bầu khí quyên chiến tranh bao

quanh tôi từ bé cho đến giờ, nên lẽ dĩ nhiên khi viết tôi phải chọn viết về cái

Trang 29

mình hiểu nhất, thế thôi "Hiện thực" không chỉ là những gì mình tai nghe mắt

thấy Nếu nó chỉ là những gì mình chứng kiến theo nghĩa vật chất có thê "tiêu hết" thì còn chỗ nào cho trí tưởng tượng của nhà văn? Tôi quan niệm hiện thực giống như một "đường băng" nghệ thuật Từ "đường băng" ấy những ý tưởng sáng tạo sẽ cất cánh Còn "bay" được đến đâu lại tùy thuộc vào tài năng của mỗi nhà văn

Cuộc sống thời hậu chiến và những con người bước ra từ chiến tranh dường như không thể bắt kịp với những thay đổi của cuộc sống Sau chiến tranh hàng chục năm trời, hành trình hòa nhập với cuộc đời, với đời sống của con người bình thường là một điều khó khăn Con người mong muốn một

cuộc sống ấm no, hạnh phúc khi chiến tranh đã kết thúc nhưng sự tàn phá và

dư âm của chiến tranh không thể một sớm một chiều có thê xóa bỏ được và để

vượt qua con người phải tìm cho mình một hướng đi đúng đắn với ý chí kiên cường và vững vàng

2.1.3 Cuộc sống nơi đảo xa

Sau chiến tranh, đất nước đi vào thời kì hòa bình thống nhất Thế nhưng

chiến tranh chưa thé 1a câu chuyện của ngày hôm qua, vẫn còn đó những đống hoang tàn đồ nát, những di chứng của chiến tranh, và biết bao ngốn ngang của thời hậu chiến Hậu quả, mặt trái của cuộc chiến vẫn đeo bám, in dấu trên từng gương mặt, số phận

Vậy thì sự trăn trở của những nhà văn trẻ viết tiểu thuyết về đề tài chiến

tranh là gì? Liệu họ có phải trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp cận trực tiếp với

sự tàn khốc của chiến tranh thì họ mới có thể hiểu và viết về chiến tranh hay như thế không?

Khác với các nhà văn như Nguyễn Đình Thi với Xung kích, Võ Huy Tâm với Vùng mỏ, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên v.v Những tiêu thuyết là

đã làm sống lại hình ảnh của cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng của

Trang 30

toàn đân ở nhiều địa phương, trên nhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh khó

khăn thử thách Giai đoạn này là giai đoạn tôn vinh các anh hùng dân tộc với

sự đũng cảm và những chiến thắng của họ Nhưng ở ngày hôm nay thì khác Một tác phẩm viết về cuộc sống của người lính trên đảo Biển xanh màu

lá của Nguyễn Xuân Thủy đã phản ánh một cách toàn diện cuộc sống của những người lính gìn giữ biên cương trên đảo Trường Sa “ đây là một trong

ba đảo cấp một trong quần đảo, và đảo này có diện tích lớn nhất Đảo không đến nỗi trơ trọi lắm, tuy nhiên không có cây to hay cổ thụ Toàn đảo chỉ rộng khoảng hai cây số vuông là cùng Còn bồn bề là biển xanh” [35, tr.27]

“Quang “cháy” và Mạnh mỗi đứa mang một chiếc que sắt phi sáu, dài

đến một mét, nhọn hoắt, một đầu uốn cong thành tay câm Mỗi đứa xách một

chiếc đèn nạp pin Quang mặc quân sóoc, đi dép, còn mạnh thay mảnh bao tải bọc chân lúc đi biển banùg hai chiếc dép khác chủng loại, chiếc màu xanh, chiếc màu đỏ nhìn rất buôn cười Phương đi theo Quang vòng veo quanh các đường hào, hang hốc, bụi cây bão táp một vòng mà chưa tiêu diệt được mục tiêu nào Có gặp mấy con nhưng nó chạy nhanh quá chui tọt vào các khe giữa các tảng san hô, khe đá kè hào trồn mất Quang và Phương vòng về khu vực bếp ăn và bể nước, thấy có tiếng kêu oe óe như tiếng trẻ con khóc, liên tục và khẩn thiết nghe rợn cả người Thằng Mạnh đang loay hoay ở đầu khe giữa bể nước và tường nhà, một tay ấn chặt xiên một tay bấm đèn pin vào khe hở Thấy bọn Quang đến nó kêu toáng lên:

- Nhanh lên, lại đây giúp em với Em này to quá, nhanh lên Mẹ kiếp, xiên đúng đùi

- Thế là xong tháng chín Còn ba em nữa là đủ năm ” [35, tr 71-74] Câu chuyện bắt chuột tưởng chừng là việc đơn giản, việc ngoài lề nhưng

đó là chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ của người lính trên đảo

Và khi những người lính đảo nhớ người yêu: “Quang “cháy” lại có cách nhớ người yêu kiểu khác Chủ nhật nào nó cũng vẽ Một tập giấy A4, một nắm

Trang 31

bút chì từ cỡ HB đến 5B, một cuốn sách “Tự học vẽ” và một viên tẩy là hành

trang của nĩ khi ra đáo Nĩ thường vẽ các người mẫu thời trang, diễn viên điện ảnh trên các tạp chí hoặc từ mở tranh ảnh của ai đĩ trong phịng Máy chục tờ đủ các gương mặt, các kiểu dáng người đẹp mà nếu khơng cĩ ghi chú thì chang ai biết đấy là Mai Thu Hién, Hong Nhung hay Thanh Lam Manh

‘ngo dong’ thi co nguoi ban la chiéc dan bdu Manh đã dự thi vào Nhạc viện

Hà Nội nhưng bị trượt ” [35, tr 134-135]

Những người lính sống trên đảo với điều kiện tự nhiên vơ cùng khắc nghiệt: “Và giơng bão đã đến thật rồi Cả bẫu trời như đồ ụp xuống Vẫn vũ Thét gào Nước biển sơi lên, dựng thành những cột sĩng dập tung vào nhau ở

trên khơng Bụi nước bay mù mịt Mặt biển như một chảo dẫu sơi cuong bao

Từng bụi cây trên đảo như co cụm lại, dẹp mình xuống run rấy, sợ hãi Bã ù

ù kéo đến Chiếc vịi rằng di chuyển với vận tốc chĩng mặt To dân lên lừng lững phía biển Mọi người chua hết bàng hồng thì Tùng “tốc” lại kêu lên nhự thức tỉnh: Nĩ di chuyển về phía mình Mọi người như chợt tỉnh, tram trưởng tiễn vội hơ khẩu lệnh: Tìm chỗ ẩn nấp Chiéc voi rong ram rằm đồ bộ lên đảo, chạm bờ rơi, khơng cịn nước để cuốn nĩ kéo theo cả một xốy nước lên bờ rồi mắt dạng, lập túc những bụi cây như cĩ một bàn tay vơ hình tím lấy xốy trịn mà vặt, và ngay lập tức mọi người lại thấy nĩ hiện hữu dọc bờ

kè Đồng xi măng bị cuốn lên cùng đá hộc xốy tít cao đến chục mét, cịn trên

đĩ là những chiếc vỏ bao bị cuốn quay trịn nhìn nhỏ như những phong bì thư Cột lốc xốy xoay một lúc bỗng nhiên tốc độ giảm dân Lúc đĩ cả trạm mới nháo nhào, những tiếng kêu thất thanh Mọi người chạy bổ về phía Quang “cháy "và Mạnh Các bộ phận khác cũng ào kín sân bĩng Mười lăm phút sau Mạnh mới tỉnh Ngơ ngác một lúc nĩ mới nhớ lại mọi chuyện May

là chân tay người ngợm khơng việc gì Sau đĩ là một cơn mưa lớn chưa

từng thay ” [35, tr 291-294].

Trang 32

Thiên nhiên vô cùng hung bạo với sức mạnh của nó đã làm cho những người lính trên đảo chưa hết ngạc nhiên đã đến sự sợ hãi Cuộc sống khắc nghiệt như vậy nhưng họ vẫn luôn sống và chiến đâu hết mình đề bảo vệ Tổ quốc

Trong gian lao, những người lính đảo xa vẫn chắc tay súng và "chờ giặc tới" vì họ luôn vững niềm tin, yêu Tổ quốc và mang trong mình phẩm chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ Niềm tin tưởng, niềm lạc quan ngời lên từ nụ cười, qua giọng nói, hành động của những người lính Cười trong gian lao thử thách

và những hiểm nguy của cuộc kháng chiến trường kỳ Niềm lạc quan ấy không chỉ được sưởi ấm bằng một con tim, một khối óc mà còn được truyền lửa qua các thế hệ người lính gìn giữ và bảo vệ biên cương, bảo vệ từng mảnh đất, từng mét vuông mặt biển của Tổ quốc

Những ấn tượng sâu sắc để lại trong lòng người đọc là khí phách của người lính đáo, họ vượt lên trên tất cả những thiếu thốn về lương thực và nguồn nước ngọt, vượt qua những cơn lốc xoáy và gió giật mạnh, khi thì rét run người với cái lạnh khi thì cái nóng rám đa của vùng biển đảo Và trong tat

cả những khó khăn ấy, điều khó khăn nhất là các anh phải vượt qua chính bản thân mình Giữa mênh mông chông chênh của biển khơi, sự bao la vô hạn của

không gian khiến người ta cảm thấy chơi vơi và cô đơn hơn bao giờ hết

Tuy vậy, những người lính ấy đã biến niềm nhớ nhung, niềm yêu thương gia đình thành động lực dé hoàn thành tốt nhiệm vụ Bởi ngày đêm họ đã và đang đem sự bình yên cho Tổ quốc, cho cả dân tộc, trong đó có người thân của chính các anh Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, những chàng trai không những đem đến niềm tự hào, niềm hạnh phúc cho những người thân yêu mà cả dân tộc cũng hạnh phúc nhờ sự yên bình mà các anh mang lại Phân ánh và miêu tả, tái hiện được những điều ấy, chúng tôi cho rằng Biển xanh màu lá đã thành công

Trang 33

2.2 Thân phận con người

2.2.1 Con người là nạn nhân của chiến tranh

Trong cả hai thời kì chiến tranh và sau chiến tranh con người đều phải gánh chịu những gì tàn khốc và ác liệt nhất của chiến tranh Trong chiến tranh, số phận con người đặt trong “Mộ( cảm giác sợ hãi lẫn dọc người Nguyên Bình, tập trung về mang tai Đánh nhau là thé này w? Trong những lần tập luyện ở chân núi Cô Hôn, Nguyên Bình chỉ thấy sự lắm láp của đất cát, sự nhễ nhại của mô hôi chứ chưa thấy máu bao giờ, chưa thấy cái đầu bị bửa đôi nó ra làm sao ” [36, tr 22] Chiến tranh cho con người thấy những gì

họ chưa bao giờ thấy, nghe những gì họ chưa bao giờ nghe Những hình ảnh, tiếng động đó không trở thành những kỉ niệm đẹp với những ai đã tham gia chiến tranh

Còn khi chiến tranh đã kết thúc những điều đáng sợ đó không trôi đi như dòng chảy của thời gian mà nó làm thay đổi con người, trở thành nỗi ám ảnh

của tất cả mọi người: “Chàng trai Minh Việt khỏe đẹp của phố Tứ Phú ngày

nào giờ đã thay đổi quá nhiều Chính Minh Việt cũng không nén nổi sự buồn túi khi nhìn dáng hình mình trong gương Minh Việt phải rời tàu lên trạm xá

của xí nghiệp Rồi từ trạm xá lại chuyển sang bệnh viện Bạn bè thủy thủ tới

thăm Đến khi dừng sốt, thân nhiệt quay trở lại ba mươi bảy độ thì Minh Việt

phải mang trên mình một hình hài khác Tóc Minh Việt đã bạc hết Tất cả các

bắp thịt trên người anh bay biến di đâu cả Một chàng trai Bắc Kỳ không còn trẻ nhưng chưa già, chưa vợ con, xa gia đình, không người thân lại ốm yếu bệnh tật ” [35 tr 232-233] Minh Việt đã phải mang trên mình di chứng chất độc màu đa cam do chiến tranh gây ra Di chứng, những gì còn lại sau chiến tranh sẽ không bao giờ mờ đi mà nó theo con người ta suốt cuộc đời

Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết, mà qua đó

người đọc có thê tìm thấy “bộ mặt con người” Nó là chiếc cầu nối giữa “cuộc

Trang 34

đời thực” với “cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết Nói như Booth, “nhân

vật là sự thể hiện con người, chứ không phải chỉ là việc xây dựng hình thức bằng lời” Qua thế giới nhân vật, người đọc sẽ tìm thấy những vấn đề nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm, muốn sẻ chia Vì “nhân vật là yếu tố mang

theo cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người”

Xét ở khía cạnh làm mới ở hình tượng nhân vật người lính, Ä⁄âu rừng ruộng có những chỉ tiết thật lãng mạn: “Những đường cày thẳng tắp như kẻ chỉ của Vinh khiến bao người trên đê trầm trồ Chị Miễn nghe ôn ào, bỏ cả

việc ra xem Chị xuống hẳn bãi xem Vinh cay Mắt chị nhìn rất lạ:

-_ Vinh định trồng gì?

- Hoa hông!

Vĩnh trả lời chị trong khi vẫn rướn mình theo đường cày

- Chi hoi that ma Vinh lai dua

- Em noi that day chứ Em sẽ trồng một vườn hoa hong that to cho chi

xem” [34, tr 73]

Ước mơ của nhân vật Vinh về một thế giới mới đẹp như một vườn hoa hồng là niềm khao khát không chỉ của riêng Vinh mà là của tất cả mọi người khi hòa bình lập lại trên quê hương đất nước mình

Hay đơn giản chỉ là ước mơ của Quang “cháy” (Bên dòng Sâu Diện) khi đối mặt với cái chết: “Cõi mơ đã đưa Quang đến một thế giới khác Nơi ấy không có chiến tranh, không có tranh giành, không có chủ quyên, không có ranh giới Tất cả những cư dân sống hòa thuận, cảnh sinh trù phú, êm đêm với những nàng tiên cá thướt tha trong bộ váy áo kiêu sa Thế giới mà ai đặt chân đến đó sẽ không thể quay về nơi trước đó mình đã sống” [35, tr 329] Một giấc mơ về một miền đất không bao giờ có thực lại là niềm an ủi cuối cùng trước khi hy sinh của một người lính đảo khiến người đọc không khỏi phải suy ngẫm về cuộc sống, về thân phận của con người

Trang 35

Trong thời chiến, do hoàn cảnh con người tự nhiên không được bộc lộ,

thay vào đó chỉ là con người chiến đấu, con người xã hội được hiện diện như

một hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Chiến tranh vốn dĩ là cái

không bình thường, nó tước đoạt đi những điều bình thường nhất của con người Vì thế, sau thời bình con người tự nhiên (qua bản năng sống và bản năng dục vọng) được trả về theo đúng nghĩa khiến hình tượng người lính

được nhìn lại với những tính chất, màu sắc, thái cực khác nhau trong mỗi

quan hệ giữa ký ức chiến tranh với cuộc sống đời thường hôm nay: “Các người không trải qua chiến tranh nên các người không thể hiểu được đâu! Chiến tranh có muôn vàn nổi đớn dau, mắt mát, nhưng cải đớn đau nào giống tôi không? Hơn hai mươi thằng lính quần quại nằm giữa những làn đạn quất

Chết là đương nhiên Chết hai, ba lần ấy chứ Đã chết rồi lại phải bật nẩy lên

vì đạn không ngừng xia tới Cho đến lúc tất cả chỉ: còn là những cái thây nát bấy, súng địch mới ngừng ” [34., tr 197] Những kí ức chiến tranh không bao giờ có thẻ quên với ông Bồn và kế cả với những người được nghe câu

chuyện ông Bồn kể cứ trở đi trở lại trong trí nhớ của bạn đọc

2.2.2 Con người - những tính cách phức tạp, những số phận trái ngang

Nhân vật chị Miền trong tác phẩm Äàu rừng ruộng chỉ vì muốn thay đổi cuộc đời mình, không muốn phải ở mãi xó nhà quê đó, mà chị dâng hiến

thân mình cho anh Sản lái xe Vinh đã không tin nỗi vào mắt mình khi thấy người chị mình vẫn yêu mến sao lại làm việc đó?:

* Tĩnh ơi! Chị muốn đi khỏi cái làng này Em không hiểu à? Sao em dai thé? Nghe chị noi, Vinh như kẻ ngủ mê sực tỉnh Ù; sao ta dại thế? Vinh thấy mình như một chú nghé ngơ ngác nhấp nhỉnh cánh mũi ướt ròng Nước mắt chị Miền nhỏ xuống gáy Vinh nóng hồi Vinh ngửi thấy có mùi đất cao lanh trộn mùi men vẽ Đêm ấy Vinh nằm mơ, giấc mơ luôn chấp chới khuôn mặt chị Miễn Giấc mơ khiến Vinh rung mình, thấy có một thứ gì đó thảo thoát ra

Trang 36

khoi co thé bang hang như máu rút ” [34, tr 65] Vinh không thê tưởng

tượng nôi, Vinh rợn tóc gáy khi nghĩ về sự thay đổi của con người, đặc biệt là

một “thần tượng” như chị Miền Vinh không hiểu từ đâu và vì sao con người

lại phải sa ngã, tha hóa như vậy Vì cuộc sống khắc nghiệt với con ngừời, vì

con người không chịu đựng được những gì cuộc sống tạo nên, vì họ muốn

làm chủ số phận của mình nên họ phải thoát ra, họ vùng vay, ho lam tất cả

những gì có thê đề thoát khỏi cái cuộc sống mòn môi, vô vị

Trong dòng nhật kí Phương (Biển xanh màu lá) viết về bỗ mình: “Bá ạ!

Bây giờ thì con đã ở nơi đây, con đã ra di để tìm một chân lí, nhưng sao bố

ơi, chang lẽ điều đó lại là vô vọng? Thế hệ chúng con sinh ra trong thời bình, không có tiếng súng, không có chiến tuyển, thậm chí chẳng hình dung ra chiến trường nó thế nào Chúng con sống và học tập đấu tranh nhằm chiến đấu với một kẻ thù không rõ hình hài, không hề xuất hiện nhưng chúng con vẫn được giáo dục phải cảnh giác nó, phải đề phòng nó Đôi lúc con thấy

điều đó thật xa xôi, chẳng thể nắm bắt Con đã có mặt ở nơi đây, nơi tận

cùng của những khó khăn, của thử thách mong tìm ra chính mình, và con vẫn

đang tìm kiếm điều đó Liệu có thấy không hả bó?” [35, tr 38] Phương, một người lính ra đảo với lòng nhiệt huyết và tinh thần chiến đấu bảo vệ bờ cõi,

non sông, đất nước Sự “mong tìm ra chính mình” không chỉ Phương mới có suy nghĩ này, đây là điều tất cá những người lính trên đảo đều mong muốn

Họ mơ ước được chiến đấu bảo vệ Tổ quốc như cha ông họ đã làm trong

chiến tranh Họ đang cố gắng tìm ra mục đích của họ bằng việc liên hệ hiện tại trong hòa bình với cuộc song trong quá khứ chiến tranh Họ sẽ thành công

vì họ là những con người sống với niềm tin vào chính mình, họ tin họ sẽ làm

chủ được cuộc sống và số phận của họ, tin vào những điều họ làm cho đất nước mình.

Trang 37

Con người dù ở trạng thái nào, bất kỳ ở đâu, luôn là điều quan tâm chính

của mỗi nhà văn Tiểu thuyết lịch sử cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, nó vẫn đi tìm những mạch ngầm về con người ở những tính chất tiêu biếu để viện giải cuộc sống Vẫn là những vấn đề của lịch sử nhưng

chúng lại là chiếc cầu nối từ quá khứ đến hiện tại về những vấn đề xã hội,

nhân văn và sự sinh tồn của con người Tiểu thuyết đã biến lịch sử thành những thang giá trị cuộc sống mà con người hiện tại quan tâm, mở ra chân trời khám phá mới, phù hợp với tư duy của con người hiện đại trong cảm thức truy vấn những sự thực của lịch sử

Bước vào thời hiện đại - hậu hiện đại, khi nhân loại hoài nghi lý trí và

hoài nghi thánh thần, cũng là lúc văn học “thoải mái trộn lẫn cái thường nhật

với cái hoang đường” để lý giải cho mọi niềm tin vào trí tưởng tượng và vào

lý trí đã bị phá sản hoàn toàn Đặc biệt khi con người trở nên bơ vơ cô đơn

(nhân vật Lý trong tác phẩm Bên dòng Sẩu Diện): “ Lý lại tự tỉ về nhan sắc

của mình nên hầu như không có bạn Lý lần tránh đám con trai phố Tứ Phủ mới ngày nào còn chung những trò chơi con trẻ với Lý Lý rất sợ những lời xì xào, chê bôi của đám thanh niên mới lớn này.”

Trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn trẻ, họ chú trọng đến tính chất

“dỊ biệt” của con người Đó là những nhân vật chính là Vinh, Minh Việt sinh

ra và lớn lên trong chiến tranh, tham gia chiến đấu và cảm nhận chính xác sự tàn khốc của chiến tranh

Với một loạt các nhân vật như chị Miền, cô Mến, chi Vi Lay, cái Lý, cái

Cói, bà Quản, ông Ét, ít nhiều đều mang tính chất khác lạ của con nguoi Đây là bức chân dung “di biét” cua nhân vật bà Quản (Bên dòng Sâu Diện):

“Bà Quản vừa xấu, vừa thô, tính tình lại đồng bóng, thế mà dính vào ong Mat roi không sao dứt ra được ” [36 tr105].

Trang 38

“ nhìn bà người ta có thể liên tưởng đến một mụ phù thủy Bà có dáng

đi huỳnh huych như vác gạo trên vai (nhưng khi hướng dẫn đảm con hoa múa thì lại rất điệu đàng, uyễn chuyển), có làn da dày như áo mưa, mặt thô, mắt trắng, bàn tay, bàn chân ráp như vỏ dứa (thế mà nấu ăn lại rất ngon, làm cỗ

rất hoạt), có giọng nói khan khan, rên rên trong cổ, lại thô, lại tục, lại cứ như

xói vào tai người ta (thế mà nghe bà nói chuyện ai cũng há hốc mỗm ra) Mưng ở với bà càng lâu càng thấy bà là người phụ nữ nhân hậu ” [36, tr 111]

Nhân vật bà Quản là một nhân vật không được nhắc đến nhiều lắm trong

tác phẩm nhưng có thể nói đây là nhân vật điển hình cho con người với vẻ bề ngoài thô kệch, xấu xí nhưng lại có một tắm lòng tốt bên trong

Họ không phải là mặt trái của xã hội mà có khi chỉ là một góc khuất của

xã hội và đang được tiểu thuyết hướng đến để phản ánh Các nhà tiêu thuyết

đang cố gắng khám phá cuộc sống của những con người bất hạnh, một phần của xã hội hôm nay Trong những con người này vẫn luôn mong muốn khát khao tận hưởng những cảm giác cuộc đời mang lại trong sự an bình, tình yêu, hạnh phúc và sẻ chia

Con người “lệch lạc” về tinh than cho thấy khung quan niệm về nhân vật

bị phá vỡ một cách rõ nhất trong tiểu thuyết sau 1986, đặc biệt trong những năm gần đây Các nhà tiêu thuyết trẻ cố gắng hướng đến xây dựng nhân vật

có sự phức tạp, tuy bề ngoài đị dạng nhưng lại có cả một thế giới tinh thần phong phú bên trong (cậu Chột - Bền dòng Sâu Diện, thằng Đốp — Màu rừng ruộng ) Bên trong tính cách một con người có thê chứa cả mặt rắn rết lẫn

rồng phượng Đây cũng là điều tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới lật xới để bộc lộ

tính đa diện trong quan niệm về con người (nhân vật Tiến, Vũ, Mạnh, Tùng - Biển xanh màu lá)

Tiểu thuyết hiện đại đang đi tìm cho mình bức chân đung cuộc đời con người đầy phong phú, phức tạp, luôn hàm chứa tính da trị với cái nhìn thẳng

Trang 39

thắn và trung thực, sáng tạo và tìm tòi của các nhà văn Các nhân vật đều được khám phá ở mọi khía cạnh với đầy đủ các chức năng của mình, không còn những kiểu nhân vật phi thường mà đó là những cá thể phi hiện thực, cá biệt, luôn soi chiếu vào nhau Điều này khiến “mỗi tiểu thuyết trở thành một

“tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng cá nhân của con người, với những vang

âm của một tinh thần nhân bản sâu xa và mạnh mẽ” Với ước mơ được làm

một diễn viên mà: “Ảnh mắt Lý tràn ngập niềm vui” hay Vinh tưởng tượng ra: “A, ngài Martin đã trúng nghị sĩ quốc hội Ngài vẫn nhắc việc bảo lãnh cho Vĩnh sang học một trường đại học bên Mỹ Vinh nghĩ sao về việc này?” [34, tr 359] Nhưng trong giấc mơ của mình: “Vinh vẫn đứng Mặt cúi xuống Vinh không đáp, trong lòng đang có sự giằng xé Một tiếng nói từ trái tìm thúc giục: Hãy yêu nhau đi, chúng ta là những con người! Nhung lại

có một tiếng nói khác , tiếng nói của lí trí giằng dai kéo lại: Hãy biết phận mình Juny thì như thể, mình thì như vây không thể có sự bình đẳng Juny càng khêu gợi, nỗi mặc cảm trong Vĩnh càng dâng lên” [34 tr 379]

Vì sao Vĩnh luôn mơ ước có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và khi Vinh

có cơ hội để tìm đến một cuộc sống mới, có cơ hội để làm chủ cuộc sống, quyết định số phận của mình Vinh lại không thực hiện nó ngay mà lại mặc cảm, lại chùn bước như vậy? Vinh lo ngại mình không xứng với những điều tốt đẹp đó hay thật lòng Vinh còn nghĩ đến nhiệm vụ của mình trên quê hương đất nước mình? Hư hư thực thực khiến người đọc suy nghĩ nhiều hơn

về con người của nhân vật Vinh

Đói, nghèo, lạc hậu là ba điểm nhấn trong bức tranh làng quê mà Đỗ Tiến Thụy miêu tá Làng quê trong Màu rừng ruộng là làng quê của thời điểm những năm đầu công cuộc cải cách ruộng đất, của những năm tháng toàn nông thôn gia nhập phong trào hợp tác xã (thời điểm chưa có khoán Mười) Những điểm bắt hợp lý của phong trào đã đây nông thôn và người nông dân

Trang 40

Việt Nam vào tình trạng “thắt lưng buộc bụng” theo cả hai nghĩa Và vì vậy, cái đói, cái nghèo vẫn là người bạn đồng hành với người nông dân như đã

từng làm bạn với bao thế hệ cha ông họ từ trước đến giờ Cái đói, cái nghèo ở

thời điểm này chưa đến mức khủng khiếp như làm con người ta chết đói,

không ngại ngần từ bỏ nhân cách, phẩm giá để đồi lấy miếng ăn như giai đoạn

1930-1945 nhưng cũng thật ghê gớm Đấy là cái thời mà bao đứa trẻ như Vinh thường xuyên phải chịu cái đói vàng con mắt vì những bữa cơm độn

khoai, độn sắn, thức ăn chính là chuối non, đu đủ không đủ lấp đầy cái dạ day

như không đáy của tuổi mới lớn; là cái thời mà người nông dân ước mơ tới cảnh cơm ba bữa với thịt cá đàng hoàng, tới cái xe Phượng hoàng đi học, tới quần áo lành lặn; thời mà đãi đằng nhau, một chầu bánh rán đã thấy làm sang; mang cho nhau một con cá chép, dăm cuốn sách đã lấy làm quý Bằng hàng loạt những chỉ tiết kế trên, Đỗ Tiến Thụy đã tái hiện lại phần nào hình ảnh của nông thôn Bắc bộ nói riêng và đất nước nói chung một thời chưa xa còn chìm trong khó khăn thiếu thốn

Cải đói, cái nghèo thường đi kèm với sự lạc hậu Trong Màu rừng ruộng,

sự lạc hậu, ấu trĩ của người nông dân được thể hiện chủ yếu qua cuộc đời của

ông Ét và chị Miền Một người đàn ông tuổi đã ở cái tuổi “tri thiên mệnh” mà

vẫn còn cay cú vì những lời chế giễu không có con trai, ăn cỗ phải ngồi mâm

dưới để rồi bắt vợ phải đẻ, đẻ mãi Đẻ cho đến khi ông thoát khỏi cái tiếng

“bố đĩ” mới thôi Để rồi vợ ông qua đời khi sinh cho ông đứa con gái thứ

chín Trước sức ép của gia đình, đòng họ, ông đành bỏ xác người vợ nằm chơ

vơ trong căn nhà dột nát để cưới chạy tang đặng tìm cho được đứa chống gậy sau này Bên cạnh khát vọng có con trai một cách mù quáng của ông Ét và gia tộc là những suy nghĩ thiển cận của chị Miền Một người con gái xinh đẹp đã từng dám đánh đôi sự trinh trắng của mình cho người lái xe để thoát khỏi cái

làng Bùi nghèo nàn đơn điệu ấy lại không đủ kiên quyết đến cùng, chấp nhận

Ngày đăng: 17/10/2014, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Nguyễn Thị Bình, N?ững đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau Sách, tạp chí
Tiêu đề: N?ững đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
[1]. A.Blach, Vài suy nghĩ về cái goi la tiéu thuyét hậu hiện đại (Nguyễn Trung Đức dịch), Tạp chí Văn học số 5, 1901 Khác
[2]. Nguyễn Thị Kiều Anh (chủ biên), // luận về thể loại tiếu thuyết trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thé ki XX, Nxb Công an Nhân dân, 2010 Khác
[3]. Lại Nguyờn Ân (chủ biờn), 7150 Êhuật ngữ văn học, ẹxb đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 Khác
[5]. Nguyễn Thị Bình, Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2, 2007 Khác
[6]. Nguyễn Minh Châu, Tuyến tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006 Khác
[7]. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, Luận văn Thạc Sĩ Khoa Học Ngữ văn, Hà Nôi, Trường Đại học Đà Nẵng, 2003 Khác
[8]. Đặng Anh Đào, Đổi mới ghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2001 Khác
[9]. Hà Minh Đức (chủ biên), Lí Luận văn học, Nxb Giáo Dục, 2001 Khác
[10]. Nguyễn Thị Duyên, 7¡ iéu thuyét vé dé tai chién tranh Viét Nam 2004- 2008, Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 2009 Khác
[11]. Hồ Thế Hà, Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh — những giả trị và sáng tạo chưa kết thúc, 2008. Tạp chí sông Hương số 205 Khác
[12]. Đào Thị Hiên, Sự /hể hiện nhân vật người lính trong một sỐ tiểu trhuyết và truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi thời kì đổi mới, Luận văn Thạc Sĩ Ngữ văn, Hà Nội, 2002 Khác
[13]. Nguyễn Hòa, Lối rẽ nhỏ trên dạm dài chiến tranh, Tạp chí Văn Nghệ Quân đội, 2001 Khác
[14]. Nguyễn Thái Hòa, Những vấn dé thi pháp của truyện, Nxb Giáo Dục, 2000 Khác
[15]. Chu Lai, Nhân vật người lính trong văn học, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1995 Khác
[16]. Chu Lai, Viét vé chiến tánh — đôi điều suy ngắm, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 2004 Khác
[17]. Tôn Phương Lan, Chiến tranh qua những tác phẩm văn xuôi được giải, Tạp chí Văn học, 1994 Khác
[18]. Tôn Phương lan, Tiểu thuyết về chiến tranh viết sau 1975, Tạp chí Văn học, 1980 Khác
[19]. Phong Lê, Tiểu thuyết chiến tranh — nhìn từ hôm nay, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 2010 Khác
[20]. Iu.Lotman, Cấu irúc văn bản nghệ thuật, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm